Cách trung tâm thị trần huyện lỵ Phong Thổ 12 km về phía Đông Nam,Mường So là 1 trong 17 xã của huyện Phong Thổ và hiện là nơi cư trú của các dântộc Thái, Kinh, Giáy và một số thành phần
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Lý do xây dựng đề án
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quantrọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và pháthuy văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại các tệ nạn xã hội, tạonguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Nhận thức rõ vaitrò to lớn của gia đình trong việc xây dựng con người, xây dựng xã hội mới, Ðảng
và Nhà nước ta đã khẳng định xây dựng gia đình là vấn đề lớn, hệ trọng của dântộc Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ,
Ðề án Phát triển gia đình Việt Nam bền vững cũng như việc ban hành các luật, cácchính sách đối với gia đình đã thể hiện quyết tâm đó của Đảng, Nhà nước ta đốivới vấn đề này
Cách trung tâm thị trần huyện lỵ Phong Thổ 12 km về phía Đông Nam,Mường So là 1 trong 17 xã của huyện Phong Thổ và hiện là nơi cư trú của các dântộc Thái, Kinh, Giáy và một số thành phần dân tộc khác; trong đó dân tộc Tháichiếm đa số với 73% dân số, cư trú ở 10 trong tổng số 11 bản của xã Mặt khác,dân tộc Thái là cư dân bản địa nên nói đến Mường So là nói đến dân tộc Thái vớinền văn hóa phong phú và độc đáo của họ
Cùng với các xã/phường/thị trấn của tỉnh Lai Châu và cả nước, Đảng bộ,Chính quyền và nhân dân các dân tộc xã Mường So nói chung, dân tộc Thái xãMường So nói riêng đã và đang tích cực bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc mình Phong trào “TDĐKXDĐSVH”, trong đó xây dựngGĐVH được Đảng bộ xã Mường So xác định là hạt nhân cốt lõi của phong trào.Vấn đề xây dựng GĐVH cũng đã được nhấn mạnh trong các Nghị quyết của các
kỳ đại hội Đảng bộ xã, đặc biệt, từ sau khi Nghị quyết số 13/NQ-TU ngày 7 tháng
Trang 25 năm 2007 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu về đẩy mạnh xây dựng,nâng cao hiệu quả và chất lượng đời sống văn hóa ở cơ sở trong giai đoạn tới; Nghịquyết số 90/2007/NQ-HĐND ngày 17 tháng 7 năm 2007 của Hội đồng nhân dântỉnh Lai Châu về việc Thông qua Đề án “Đẩy mạnh xây dựng, nâng cao hiệu quả
và chất lượng đời sống văn hóa cơ sở trong giai đoạn tới”; Quyết định số UBND ngày 01 tháng 6 năm 2009 của UBND tỉnh Lai Châu V/v Kiện toàn BCĐphong trào “TDĐKXDĐSVH”, công tác xây dựng GĐVH của tỉnh Lai Châu nóichung, xã Mường So nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn
635/QĐ-Tuy nhiên, do mặt trái của cơ chế thị trường cùng với lối sống thực dụng tônthờ đồng tiền, các sản phẩm văn hóa độc hại bên ngoài tràn vào cùng với các tệ nạn
xã hội đang tấn công mạnh mẽ vào các gia đình Từ đó, tình trạng tảo hôn, sốngthử không đăng ký kết hôn, quan hệ tình dục, nạo phá thai trước hôn nhân gia tăng.Nhiều giá trị đạo đức gia đình đang xuống cấp Các tệ nạn xã hội như ma túy, mạidâm, cờ bạc, rượu chè bê tha và đại dịch HIV/AIDS đang len lỏi thâm nhập vàocác gia đình làm băng hoại các giá trị gia đình và những truyền thống văn hóatốt đẹp của dân tộc
Như vậy, có thể thấy, công tác xây dựng GĐVH ở xã Mường So đang đứngtrước những thách thức lớn đòi hỏi phải tìm ra được mô hình mới, hiệu quả hơn.Trong đó, việc kế thừa những giá trị gia đình truyền thống, phù hợp với đặc điểmvăn hóa tộc người kết hợp với những giá trị mới phù hợp là một hướng đi mangtính đột phá Các giá trị này nếu được nghiên cứu, phân tích trên cơ sở khoa học sẽgóp phần tích cực vào công tác xây dựng GĐVH dân tộc Thái xã Mường So hiệnnay, đồng thời góp phần giữ gìn và phát huy vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc
trong quá trình phát triển và hội nhập Với lý do đó, tôi chọn đề tài “Xây dựng mô hình Gia đình văn hóa dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh
Trang 3Lai Châu giai đoạn 2016 – 2020” làm đề án tốt nghiệp lớp Cao cấp lý luận chính
Nâng cao ý thức, trách nhiệm về gia đình cho các thành viên trong việc giữgìn, phát huy và bảo vệ sự phát triển của gia đình để gia đình thực sự phát triển cả
về vật chất, tinh thần, làm động lực cho sự phát triển KT-XH của địa phương, gópphần xây dựng và phát triển văn hóa gia đình mang đậm đà bản sắc dân tộc Thái tại
xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
2.2 Mục tiêu cụ thể
Phấn đấu đến năm 2020, đạt một số tiêu chí như sau:
- 100% gia đình dân tộc Thái xã Mường So có đời sống kinh tế ổn định, bảođảm vệ sinh môi trường, có công trình vệ sinh, xây dựng chuồng gia súc xa nhà
- 100% gia đình dân tộc Thái xã Mường So chấp hành nghiêm chỉnh chínhsách, pháp luật của Nhà nước, hương ước
- Từ 80% - 85% gia đình dân tộc Thái xã Mường So bảo tồn và phát huy cácgiá trị gia đình; từ 70 – 75% gia đình dân tộc Thái xã Mường So gìn giữ và pháthuy các giá trị truyền thống văn hóa tộc người
- Từ 70 – 75% gia đình dân tộc Thái xã Mường So không còn các phong tụctập quán lạc hậu, thực hiện nếp sống chi tiêu có kế hoạch; 100% trẻ em trong độ
Trang 4tuổi được đến trường; 100% gia đình dân tộc Thái xã Mường So kế thừa truyềnthống đoàn kết tương trợ cộng đồng, giúp đỡ nhau sản xuất, đời sống.
3 Giới hạn của đề án
- Đối tượng của đề án: xây dựng mô hình gia đình văn hóa dân tộc Thái.
- Phạm vi không gian: Đề án được nhiên cứu và thực hiện tại xã Mường So,
huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Giới hạn thời gian: đề án thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2020.
Trang 5“những yếu tố căn bản cấu thành sự vật Nhờ các yếu tố này có thể dựng lại sự vậttheo một nguyên tắc chung nhất, khiến sự vật không bị biến đổi mặc dù nó vẫn baochứa được những khác biệt đa dạng của điều kiện cụ thể” [11, tr 141]
- Gia đình
Gia đình được định nghĩa bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau Trong xã hộihọc, khái niệm gia đình được hiểu là một nhóm xã hội đặc thù hoặc một thiết chế
xã hội, một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết
thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau vềtrách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp được nhà nước thừa nhận và bảo
vệ Tiếp cận gia đình từ góc độ thiết chế xã hội, gia đình là một thiết chế gắn liềnvới hôn nhân để đảm bảo chức năng tái sản xuất, duy trì nòi giống Những thànhviên trong gia đình liên kết bởi cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi
- Gia đình văn hóa
Tiêu chuẩn GĐVH thực hiện theo quyết định tại điều 29 Luật Thi đua, khenthưởng được ban hành theo Quy chế công nhận danh hiệu "Gia đình văn hóa"
(GĐVH) của Bộ trưởng VH-TT ngày 23/6/2006 Nội dung cụ thể gồm:
Trang 61 Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương;
2 Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trongcộng đồng;
3 Tổ chức lao động, sản xuât, kinh doanh, công tác, học tập nhằm đặt năngsuất, chất lượng và hiệu quả
1.1.2 Mô hình gia đình văn hóa dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
1.1.2.1 Vài nét về dân tộc Thái tại xã Mường So, huyên Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
Dân tộc Thái xã Mường So thuộc nhóm Thái Trắng và là dân tộc chủ thể của
xã Mường So Tính đến tháng 12/2015, toàn xã Mường So có 11 bản với 1.298 hộ,5.594 nhân khẩu, gồm 6 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm đa số với 3.827 nhânkhẩu (chiếm 73% dân số toàn xã) Dù có những khác biệt so với người Thái Đen
và các nhóm Thái Trắng ở các địa phương khác nhưng văn hóa của họ vẫn “chungmột dòng chảy” trong mạch nguồn văn hóa Thái với 4 đặc trưng cơ bản: văn hóathung lũng; kỹ thuật tiền công nghiệp; thiết chế xã hội dựa trên tổ chức bản,mường; tư tưởng và tri thức folklore manh nha bác học
Dân tộc Thái xã Mường So đã định cư lâu đời ở thung lũng Mường So màu
mỡ, ven sông Nậm Na và các con suối Nậm So, Nậm Lùm và Nậm Pạt… được baobọc bởi các dãy núi Pú Đăng Pâu, Pú Khọ Nhọ… nên sớm có truyền thống canhtác ruộng nước và sáng tạo ra hệ thống thủy lợi gồm mương, phai, lái, lín (lốc), cọnđộc đáo và hiệu quả Ngoài ra, trồng trọt nương rẫy, chăn nuôi, săn bắt, hái lượm,đánh bắt cá, thủ công gia đình và trao đổi hàng hóa cũng đóng vai trò quan trọng
Trang 7trong kinh tế truyền thống Ngựa và thuyền đuôi én trước kia là những phương tiệngiao thông phổ biến.
Dân tộc Thái xã Mường So có ba quan hệ họ hàng là: ải noọng, lúng ta vànhinh sao, xuất phát từ hình thái hôn nhân thuận chiều Tiểu gia đình phụ quyền làhình thức phổ biến
Đám cưới của dân tộc Thái xã Mường So có nhiều nghi thức cho thấy tàn dưmẫu hệ còn đậm nét, đặc biệt là tục ở rể Khi sinh nở, trước cửa nhà sản phụthường treo một tấm phên đan mắt cáo với một cục than và một cành cây xanh đểngăn "ma ác" hay "hồn" khách lạ làm hại hồn sản phụ và trẻ sơ sinh Tang ma cónhiều nghi thức để người chết là tiếp tục "sống" ở thế giới bên kia, đặc biệt là tụcchia của cho người chết
Dân tộc Thái xã Mường So từ lâu đã định cư thành từng bản, nhiều bản hợpthành mường Mỗi bản đều có ranh giới rất cụ thể, có khu rừng, ruộng đất, rừngcấm, bãi tha ma, nguồn nước riêng Nhà sàn được dựng theo những quy định chặtchẽ Khi dựng nhà, việc dựng cột chính và dọn sang nhà mới gắn với vai trò củaông cậu
Trang phục đàn ông dân tộc Thái xã Mường So tương tự trang phục nam giớinhiều dân tộc ở miền núi phía Bắc (áo cánh ngắn xẻ ngực, quần chân què cạp látọa, cả quần và áo đều được may bằng vải bông nhuộm chàm) Phụ nữ mặc áo màutrắng cổ may hình chữ V Nẹp ngực áo đính hàng khuy bạc hình bướm, ve sầu…Khăn đội đầu có màu trắng trơn; váy đen, thắt lưng bằng vải bông hoặc tơ tằm màuxanh hoặc tím nhạt Túi đeo vai bằng vải bông trắng và pha lẫn những đường kẻxọc màu tối
Thức ăn chính của dân tộc Thái xã Mường So trước kia là cơm nếp, nhưnghiện nay họ ăn cơm tẻ là chủ yếu Cách chế biến chủ yếu bằng cách luộc, đồ hoặc
Trang 8ăn sống, ăn tái (gỏi) Các vị chua cay, chát và các món "nậm pịa", cá, các mónnướng rất được ưa chuộng.
Dân tộc Thái xã Mường So tin vào sự tồn tại của các lực lượng siêu nhiên.Trên trời có Then Luông cai quản trời đất, vạn vật Ở trần gian chỗ nào cũng cócác ma cai quản như ma ruộng, ma rừng, ma suối, ma nhà… Để cầu mong bình an,thịnh vượng, trước kia, vào đầu xuân, họ tổ chức xên mường, xên bản, xên hươn…cúng ma bếp, tổ tiên… Trong năm, họ có các nghi lễ nông nghiệp như lễ đón lúamới, lễ ăn cơm mới…
Từ lâu, dân tộc Thái xã Mường So đã sáng tạo ra 36 điệu "xòe" (múa) và trởthành một trong 4 trung tâm “xòe” Thái của nước ta (gồm: Mường So - Lai Châu;Mường Chiến - Sơn La; Mường Lay - Điện Biên; Mường Lò - Yên Bái) Ngoài ra,Mường So còn là một trong những cái nôi của “tính tẩu” hai dây – loại đàn đượclàm từ vỏ quả bầu đắng đặc trưng của miền núi Cùng với “xòe” và “tính tẩu”, điệu
“khắp” hồn nhiên, da diết cũng một nét đẹp trong văn hóa nghệ thuật của dân tộcThái xã Mường So
1.1.2.2 Mô hình gia đình văn hóa dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh LaiChâu
Tiêu chuẩn một GĐVH dân tộc Thái xã Mường So bao gồm 5 nội dung cụ thểnhư sau:
Một là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So có đời sống kinh tế ổn định, bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh Các hộ gia đình thực hiện định canh, định cư, có đời
sống kinh tế ổn định Mỗi hộ gia đình đều phải có công trình vệ sinh, xây dựngchuồng gia súc xa nhà
Hai là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, hương ước của bản, đảm bảo an ninh, trật tự và an
Trang 9toàn xã hội Các GĐVH phải thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình Tích cực
tham gia tổ tự quản, tổ hòa giải, tham gia vận động những người mắc các tệ nạn xãhội (cờ bạc, ma túy, mại dâm…) từ bỏ tệ nạn; vận động các gia đình khác bài trừ
mê tín dị đoan; gương mẫu và vận động các gia đình khác thực hành tiết kiệmtrong chi tiêu, nghi lễ, nhất là các nghi lễ cưới và tang ma
Ba là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So là nơi bảo tồn và phát huy các giá trị gia đình để mỗi gia đình thực sự là một “tổ ấm”, là “hậu phương” vững chắc cho mỗi thành viên Phải khai thác triệt để bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong
truyền thống gia đình, bao gồm các chức năng của gia đình (sinh sản, kinh tế, giáodục, tâm lý – tình cảm và bảo vệ - chăm sóc sức khỏe) cũng như nếp sống gia đình(mối quan hệ vợ chồng hòa thuận, truyền thống kính già yêu trẻ, truyền thống dânchủ, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau và mối quan hệ tốt đẹp với các nàng dâuchàng rể)…
Bốn là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So là nơi gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa tộc người để mỗi gia đình trở thành một “thành trì” vững chắc chống lại sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai Các di sản văn hoá vật thể
được gìn giữ trong gia đình bao gồm: kiến trúc và bố trí không gian nhà cửa, nơithờ cúng tổ tiên (bên nội, bên ngoại), trang phục, ẩm thực Các di sản văn hoá phivật thể được gìn giữ trong các gia đình bao gồm các phong tục tập quán, tínngưỡng dân gian, văn nghệ dân gian, các tri thức về bí quyết ẩm thực, chữa bệnh…Trong các nghi lễ gia đình như cưới xin, vào nhà mới nên tổ chức văn nghệ dângian (ca, múa, nhạc truyền thống)
Năm là, GĐVH dân tộc Thái xã Mường So không còn các hủ tục, các phong tục tập quán lạc hậu để mỗi gia đình trở thành một “đòn bẩy” cho sự phát triển của mỗi thành viên và của cả cộng đồng, phù hợp với sự phát triển của xã hội Các
GĐVH không còn nếp sống chi tiêu thiếu kế hoạch, nếp sống không đảm bảo vệ sinh,
Trang 10tập quán thả rông gia súc, coi trọng cái lợi trước mắt.v.v ; không thực hành các hủ tục
mê tín dị đoan, trẻ em trong độ tuổi được đến trường Các GĐVH phải kế thừa truyềnthống đoàn kết tương trợ cộng đồng, các gia đình giúp đỡ nhau sản xuất, đời sống; Như vậy, mô hình GĐVH dân tộc Thái xã Mường So được cấu thành bởi hainhóm yếu tố khác nhau:
- Nhóm yếu tố thứ nhất là các yếu tố về KT-XH Nhóm này bao gồm các yếu
tố về đời sống kinh tế ổn định, bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh; chấp hànhnghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước, hương ước của bản, đảm bảo anninh, trật tự và an toàn xã hội Chỉ khi KT-XH được đảm bảo thì văn hóa vàGĐVH mới được củng cố, duy trì và phát huy
- Nhóm yếu tố thứ hai là các yếu tố về văn hóa Nhóm này bao gồm các yếutố: truyền thống văn hóa gia đình, truyền thống văn hóa tộc người, bài trừ các hủtục lạc hậu Chỉ khi các giá trị văn hóa truyền thống được kế thừa và phát huy, các
hủ tục và tệ nạn xã hội được bài trừ thì GĐVH mới có nền tảng vững chắc để xâydựng và phát triển
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý
1.2.1 Cơ sở chính trị
Gia đình luôn được Đảng ta quan tâm vun đắp và phát triển, đặc biệt là từ khithực hiện công cuộc đổi mới đất nước Từ Đại hội VI của Đảng năm 1986 đến cácđại hội và nghị quyết hội nghị trung ương về sau, gia đình được đề cập đến như làthành tố bảo đảm thành công của các nhiệm vụ cách mạng Đảng khẳng định giađình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chế độmới, nền kinh tế mới, con người mới
Tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII), Đảng ta xác định: “Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có
Trang 11lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội Đẩy mạnh phong trào “TDĐKXDĐSVH”; ngăn chặn việc phục hồi các hủ tục, khắc phục tình trạng mê tín đang có xu hướng lan rộng trong
xã hội” [4, tr 126].
Đại hội X của Đảng, năm 2006, tiếp tục khẳng định: “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [4, tr 170, 103 - 104].
Như vậy, qua các kỳ Đại hội kể từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn coi giađình không chỉ đơn thuần là nơi con người - mỗi thành viên của xã hội được sinh
ra, chức năng của gia đình không chỉ để sản sinh ra con người, duy trì nòi giống,
mà hơn thế, gia đình là một tế bào cấu thành nên xã hội và mang đặc trưng của xãhội Việt Nam theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa
Đến Đại hội XI, Đảng ta đã có sự phát triển nhận thức mới về gia đình, đó
là: No ấm, tiến bộ, hạnh phúc là những điều kiện cơ bản, quan trọng để gia đình
phát triển lành mạnh Muốn có một “tế bào lành mạnh”, một “nền tảng vững chắc”thì phải xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc
Như vậy, qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, trong bốicảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu và toàn cầu hóa hiện nay, Đảng ta ngày càngnhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của gia đình với tư cách là “tế bào” vững chắccủa xã hội, là môi trường lành mạnh để xây dựng nguồn lực con người; coi xâydựng GĐVH là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong chiến lượcphát triển KT-XH
Trang 121.2.2 Cơ sở pháp lý
- Thông báo số 26-BT/TW ngày 09/5/2011 Kết luận của Ban Bí thư về việc sơkết Chỉ thị số 49-CT/TW về “Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa”;
- Nghị định số 02/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 của Chính phủ quy định vềcông tác gia đình;
- Nghị quyết số 81/NQ-CP ngày 04/12/2012 ban hành kế hoạch hành độngthực hiện Thông báo Kết luận số 26-TB/TW ngày 09/5/2011 của Ban Bí thư (khóaIX) về việc sơ kết Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 21/02/2005 của Ban Bí thư về “xâydựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về Ngày Gia đình Việt Nam;
- Quyết định số 629/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 phê duyệt Chiến lược phát triểngia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
- Quyết định số 3391/QĐ-BVHTTDL ngày 01/10/2009 của Bộ VHTT&DL vềviệc phê duyệt “Đề án Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình ViệtNam giai đoạn 2010 – 2020”;
- Quyết định số 2744/QĐ-BVHTTDL ngày 26/7/2012 của Bộ VHTT&DL vềviệc phê duyệt Chương trình phối hợp chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện
“Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”;
- Hướng dẫn số 1316/BVHTTDL-GĐ ngày 15/4/2013 của Bộ VHTT&DL vềviệc Hướng dẫn thành lập BCĐ công tác gia đình;
Trang 13- Nghị quyết số 13/NQ-TU ngày 7 tháng 5 năm 2007 của Ban Chấp hànhĐảng bộ tỉnh Lai Châu về đẩy mạnh xây dựng, nâng cao hiệu quả và chất lượngđời sống văn hóa cơ sở trong giai đoạn tới;
- Hướng dẫn số 331/HD-BCĐ ngày 29 tháng 7 năm 2008 của BCĐ Phongtrào “TDĐKXDĐSVH” tỉnh Lai Châu V/v Thực hiện Cuộc vận động “sạch bảnmường, tốt ruộng nương” trong phong trào “TDĐKXDĐSVH” trên địa bàn tỉnhLai Châu;
- Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 2 tháng 7năm 2014 của UBND tỉnhLai Châu Ban hành Quy định thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việctang và lễ hội trên địa bàn tỉnh Lai Châu
- Quyết định số 845/QĐ-UBND ngày 17 tháng 01 năm 2013 của UBNDhuyện Phong Thổ V/v Kiện toàn BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH” huyệnPhong Thổ;
- Quyết định số 1092/QĐ-BCĐ ngày 14 tháng 5 năm 2014 của phong trào
“TDĐKXDĐSVH” huyện Phong Thổ V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt độngcủa BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”;
- Quyết định số 921/QĐ-BCĐ ngày 15 tháng 4 năm 2016 của BCĐ phong tràoTDĐKXDĐSVH” huyện Phong Thổ V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt độngcủa BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”
- Quyết định số 16/QĐ-UBND ngày 21 tháng 01 năm 2013 của UBND xãMường So V/v Kiện toàn BCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH” xã Mường So;
- Quyết định số 252/QĐ-BCĐ ngày 14 tháng 5 năm 2014 của phong trào
“TDĐKXDĐSVH” xã Mường So V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động củaBCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”;
Trang 14- Quyết định số 921/QĐ-BCĐ ngày 15 tháng 4 năm 2016 của BCĐ phong tràoTDĐKXDĐSVH” xã Mường So V/v Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động củaBCĐ phong trào “TDĐKXDĐSVH”.
Ngày 15-3-1975, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ VHTT&DL) và Hội Liênhiệp phụ nữ Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch về việc đẩy mạnh cuộc vậnđộng xây dựng Gia đình văn hoá mới (Nay là Gia đình văn hoá) với 3 tiêu chuẩngia đình văn hoá mới được đặt ra là: Xây dựng gia đình hoà thuận, dân chủ, bìnhđẳng, tiến bộ, hạnh phúc; Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch: Sản xuất, tiêu dùng tiếtkiệm, đoàn kết xóm giềng tốt; Thực hiện đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước
Từ năm 1975-1985, Phong trào phát triển rộng khắp trong toàn quốc Trongthời kỳ đổi mới, thay đổi cơ chế từ bao cấp sang hạch toán, khiến cho nguồn chicho phong trào giảm sút, ngành Văn hoá - Thông tin, cơ quan thường trực củaBCĐ Nếp sống mới Trung ương vẫn cố gắng duy trì phong trào nhưng kết quả cóhạn chế nhất định
2 Nội dung thực hiện của đề án
Trang 15Dù còn nhiều khó khăn nhưng những năm qua, kinh tế xã Mường So đã cóbước chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế đạt cao luôn ở mức hai con số (năm
2015 đạt 14%), thu nhập bình quân/người năm 2015 đạt 12,8 triệu đồng Tuynhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa có sự chuyển biếnmạnh sang sản xuất hàng hoá
Sự hình thành và phát triển của xã Mường So gắn liền với lịch sử phát triểncủa vùng Tây Bắc, của dân tộc Thái trong mối đoàn kết thống nhất với các dân tộcanh em, đặc biệt là với dân tộc Việt (Kinh)
2.1.2 Khái quát về gia đình dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu hiện nay
Cho đến thời điểm hiện nay (năm 2016), về kiểu gia đình, số lượng gia đìnhhạt nhân (một cặp vợ chồng và các con của họ) hiện nay chiếm tỷ lệ đáng kể.Trong tổng số 1.400 hộ gia đình ở xã Mường So thì có tới 770 hộ gia đình thuộckiểu gia đình hạt nhân (chiếm 55,0%) Tuy nhiên, ở 7 bản dân tộc Thái, tỷ lệ trungbình khoảng 30% [Xem phụ lục: Biểu 2] Như vậy, các tiểu gia đình ở dân tộc Tháivẫn chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với các dân tộc Kinh, Giáy… nhưng theo đánh giá của
Trang 16người dân nơi đây thì con số này lớn hơn rất nhiều so với 20 năm về trước cho thấyhiện tượng hạt nhân hóa gia đình trong cộng đồng dân tộc Thái xã Mường So đang
có xu hướng gia tăng Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là sự pháttriển của kinh tế hộ gia đình cùng với các chính sách của Đảng, Nhà nước về phânchia đất canh tác cho các hộ cũng góp phần tạo điều kiện cho việc tách hộ, hìnhthành các gia đình hạt nhân
Về quy mô hộ gia đình, trong tổng số 1.400 hộ gia đình ở xã Mường So có tới
799 hộ có từ 1 đến 4 nhân khẩu (chiếm 57,07%; ở 7 bản Thái, con số này là35,03%), 481 hộ gia đình có từ 5 đến 6 nhân khẩu (chiếm 60,20%; ở 7 bản Thái là51,95%), 120 gia đình có từ 7 đến 10 nhân khẩu (chiếm 8,57%; ở 7 bản Thái là13,02%) [Xem phụ lục: biểu 3] Số lượng nhân khẩu trong mỗi gia đình giảm cónhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng hơn cả là do sức lao động đượcgiải phóng và ý thức về quyền tự chủ, tự quyết của các tiểu gia đình ngày càng lớn.Quy mô gia đình thu hẹp còn dẫn đến độ tuổi của các thành viên trong gia đìnhcũng đang được “trẻ hóa” Tỷ lệ các gia đình trẻ tương đương với tỷ lệ số hộ giađình có từ 1 – 4 nhân khẩu và phần lớn số hộ có từ 5 – 6 nhân khẩu
Về nghề nghiệp, bên cạnh những hoạt động kinh tế truyền thống là ruộngnước và canh tác nương đất dốc, hiện nay ngày càng nhiều gia đình dân tộc Thái xãMường So tham gia vào các hoạt động kinh doanh hàng hóa (chủ yếu là buôn bánnhỏ) và trồng các loại cây công nghiệp như cao su, chè hay các loại cây hàng hóanhư đố tương, ngô… Với những nghề nghiệp mới, họ đã có thêm những nguồn thunhập góp phần gia tăng phân tầng xã hội trong cộng đồng Việc kiếm sống, tạo thunhập trong các gia đình dân tộc Thái xã Mường So vẫn là trách nhiệm của hai vợchồng (hoặc bố mẹ) và không còn sự phân công lao động theo giới rạch ròi nhưxưa (nam làm những việc ngoài xã hội, nữ làm ruộng, làm nương, nội trợ và chămsóc con cái) mà vợ chồng trong các gia đình đều có cơ hội kiếm thêm thu nhập và
Trang 17chia sẻ công việc gia đình Tuy phần lớn các gia đình vẫn dựa vào nguồn thu chủyếu từ các hoạt động nông nghiệp truyền thống, nhưng đã xuất hiện một bộ phận
có thu nhập từ lương (cán bộ) và buôn bán (tiểu thương)
Về trình độ dân trí, ngoại trừ một số phụ nữ cao tuổi, còn hầu hết người Thái
ở Mường So ngày nay đều biết; đặc biệt thanh thiếu niên người Thái hiện nay đượcgia đình quan tâm nhiều hơn đến việc học hành Nhờ đó, tỷ lệ trẻ em theo học cáclớp bậc phổ thông cơ sở đạt 100%; bậc phổ thông trung học đạt 96%; số người cótrình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đang theo học các cấptương đương là 207 người, trong đó người Thái chiếm 64% [Nguồn: Báo cáo tìnhhình phát triển kinh tế xã hội xã Mường So năm 2015, phương hướng năm 2016].Nếp sống gia đình dân tộc Thái hiện nay vẫn bảo lưu được một số nét đẹptruyền thống như phong tục thờ cúng tổ tiên với những nghi lễ chung của các thànhviên của đại gia đình Mặc dù đã tách hộ thành các gia đình hạt nhân (tiểu giađình), có nơi ở riêng nhưng nhiều gia đình dân tộc Thái xã Mường So vẫn giữphong tục sinh hoạt chung của đại gia đình Các công việc như cưới xin, tang ma,dựng nhà hay giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn vẫn được duy trì thường xuyêngiữa các thành viên trong đại gia đình Trong một số công việc quan trọng của giađình như đám cưới, đám tang,… người đứng đầu đại gia đình vẫn có vị trí quantrọng
2.2 Thực trạng gia đình văn hóa dân tộc Thái tại xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu những năm qua
2.2.1 Đời sống kinh tế và vấn đề vệ sinh môi trường
Kinh tế của xã Mường So những năm qua đã có bước chuyển biến tích cực,tăng trưởng luôn ở mức hai con số (năm 2015 đạt 14%) Năm 2015, thu nhập bìnhquân/người toàn xã đạt 12,8 triệu đồng Tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm
Trang 182015 là 1.470,2 tấn; bình quân lương thực đầu người 360 kg Toàn hiện có xã có
1024 xe máy, 611 nhà xây, 324 máy say sát, 1568 ti vi, 320 máy cày mini [Nguồn:UBND xã Mường So cung cấp tháng 9/2016] Đời sống nhân dân không ngừngđược cải thiện Từ mức đói nghèo rất cao (25% hộ đói, 68% hộ nghèo) năm 1990,đến nay toàn xã chỉ còn 30% hộ nghèo và không còn hộ đói Các hộ gia đình đều
có chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm Các hộ gia đình đều phát quang bụi rậm,dọn vệ sinh đường giao thông, khơi thông cống rãnh thoát nước 1 lần vào sáng thứbảy hàng tuần…
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, đời sống kinh tế ở xã Mường So vẫncòn nhiều hạn chế Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa có sựchuyển biến mạnh sang sản xuất hàng hoá Năm 2015, tỷ trọng giá trị ngành nông
- lâm nghiệp, thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản xuất của chiếm60,9%; trong khi đó các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm 12,6%;thương mại, dịch vụ cũng chỉ đạt 26,5%
Mặc dù sản xuất nông nghiệp trồng trọt cho đến nay vẫn là nguồn thu chủ yếucủa đại bộ phận các hộ gia đình dân tộc Thái xã Mường So nhưng do nhiều nguyênnhân nguồn thu này hiện đã giảm sút đáng kể
Một là, dân số gia tăng khiến cho diện tích ruộng nước của các hộ gia đình
giảm Bình quân hiện nay, diện tích ruộng trồng lúa nước của xã là 160 ha Với1.314 nông hộ (chiếm 93,86% dân số), bình quân mỗi hộ gia đình chỉ có 0,12 haruộng Ruộng ít nên mặc dù Nhà nước đã đầu tư hệ thống kênh mương thủy lợitương đối hoàn chỉnh, hàng năm đều hỗ trợ các nông hộ giống, phân bón và thuốcbảo vệ thực vật, nhưng sản lượng lúa thu hoạch cũng chỉ đảm bảo cho các nông hộ
đủ ăn, không dư thừa để bán như trước
Hai là, chính sách giao đất giao rừng được thực hiện ở xã Mường So từ năm
1996 cùng với dân số gia tăng khiến cho canh tác luân khoảnh đến nay không thực
Trang 19hiện được do nương rẫy bạc màu Hiện cả xã Mường So không còn hộ nào trồnglúa nương, mặc dù ở mỗi bản vẫn có từ 30 – 40% số nông hộ trồng cây hàng hóatrên nương (ngô, lạc, đậu tương, khoai, sắn…) một phần đáp ứng nhu cầu của giađình, một phần để bán nhưng do sản lượng ít nên thu nhập cũng không đáng kể.
Ba là, việc đền bù giải phóng mặt bằng cho một số dự án nhưng người dân
không được hướng dẫn chuyển đổi nghề nghiệp, không được dạy nghề, khôngđược bố trí công ăn việc làm… khiến cho nhiều nông hộ bị thu hồi đất canh tác,mặc dù có tiền đền bù giải phóng mặt bằng nhưng đến nay đã tiêu hết tiền (xâynhà, mua sắm đồ dùng đắt tiền…), trong khi số đất canh tác còn lại rất ít
Bốn là, hoạt động buôn bán ở Mường So khá nhộn nhịp, hầu hết các gia đình
dân tộc Thái xã Mường So đều tham gia các hoạt động buôn bán và làm dịch vụnhưng chỉ là buôn bán nhỏ và làm thuê Trong khi Mường So là trung tâm KT-XHcủa toàn bộ các xã vùng thấp huyện Phong Thổ, chợ Mường So là nơi trungchuyển hàng hóa từ biên giới về, từ miền xuôi lên nhưng lại chủ yếu do các thươnglái từ miền xuôi lên thực hiện
2.2.2 Việc thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, hương ước của bản
Mường So là miền đất có truyền thống cách mạng, dân tộc Thái Mường So cótinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm (thổ binh Mường So đã từng tham giatrong hàng ngũ quân đội của vua Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh xâm lược vàtrừng trị chúa Thái Mường Lay là Đèo Cát Hãn theo giặc; tham gia phong trào CầnVương chống Pháp; nuôi giấu cán bộ Việt Minh và tham gia chiến dịch Điện BiênPhủ…) Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật trong cộng đồng dân tộc Thái Mường
So nói chung, trong các gia đình dân tộc Thái xã Mường So nói riêng hiện nay vẫnrất hạn chế Điều tra 50 chủ hộ gia đình dân tộc Thái xã Mường So về mức độ hiểubiết của một số bộ luật, luật như Bộ luật dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật
Trang 20hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật đất đai, Luật cư trú.v.v…cho thấy chỉ có 8người tham gia công tác xã hội (đây là những đảng viên, cán bộ đoàn thể ở bản) cónghe nói về các bộ luật, luật đó (chiếm 16%) và có đến 100% các chủ không biếtcác nội dung cơ bản của một số bộ luật, luật Họ chỉ biết một số quy định của luậtgiao thông đối với người điều khiển mô tô, xe gắn máy do đây là phương tiện đi lạiphổ biến hiện nay Như vậy, đại bộ phân nhân dân dân tộc Thái ở xã Mường Sohiện nay vẫn sống theo tập quán pháp (những quy định về sở hữu, ứng xử… đãđược các thế hệ trao truyền thực hiện) Thực trạng trên là bởi những nguyên nhânsau:
Một là, nhận thức của lãnh đạo các cấp, ngành từ tỉnh, huyện, xã về vai trò của
luật pháp, bộ máy và công tác tuyên truyền pháp luật chưa đầy đủ Từ việc nhậnthức chưa đầy đủ dẫn đến công tác chỉ đạo và giám sát thực hiện nhiệm vụ tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn còn buông lỏng, phó mặc cho cấpdưới (tư pháp, văn hóa, các đoàn thể, trưởng bản, bí thư chi bộ bản…) trong khitrình độ hiểu biết pháp luật của hầu hết cán bộ cấp dưới về pháp luật cũng rất hạnchế (ngoại trừ cán bộ tư pháp);
Hai là, trong một thời gian ngắn, Nhà nước ta đã ban hành gần 100 bộ luật và
luật, gần 1.000 văn bản dưới luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Vìvậy, ngay cả cán bộ tư pháp xã cũng chỉ nắm được một số luật trong phạm vi hẹp:hành chính, kinh tế, hình sự, dân sự… Lãnh đạo Đảng, Chính quyển, Mặt trận vàcán bộ các ngành ngoài luật cũng chưa nắm vững luật (đây cũng là tình trạng ở cấphuyện và tỉnh) Vì vậy, việc người dân dân tộc Thái xã Mường So không hiểu luật
và trong nhiều trường hợp vô tình vi phạm pháp luật trở thành một thực tế diễn rathường xuyên
Ba là, trình độ dân trí của dân tộc Thái xã Mường So từ độ tuổi trung niên trở
lên thấp, một số phụ nữ cao tuổi còn mù chữ nên không có khả năng tiếp cận với
Trang 21các bộ luật và luật qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua các kênh tuyêntruyền khác của các cơ quan chức năng tại địa phương.
Bốn là, đội ngũ cán bộ tuyên truyền pháp luật còn thiếu và yếu Cơ sở vật chất
và phương pháp tuyên truyền lạc hậu, chưa tập trung vào các vấn đề nóng bỏng ởđịa phương như đất đai, môi trường, truyền đạo trái pháp luật, buôn lậu, cờ bạc, matúy, mại dâm… Công tác phối hợp liên ngành trong tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật còn lỏng lẻo, nặng tính hình thức
2.2.3 Việc bảo tồn và phát huy các giá trị gia đình truyền thống
Gia đình truyền thống dân tộc Thái xã Mường So có nhiều giá trị tốt đẹp Đó
là quan hệ giữa các thành viên bao giờ cũng theo chuẩn mực kính trên nhườngdưới Ông bà cha mẹ yêu thương con trẻ, con cái trưởng thành nuôi dưỡng, chămsóc ông bà, cha mẹ già Các gia đình ứng xử với nhau theo tinh thần “lá lành đùm
lá rách” đến mức “một nhà còn gạo thì cả bản không sợ đói” được xem là một tiêuchuẩn đạo đức xã hội Những giá trị văn hóa về lòng nhân ái, vị tha, đức kính giàyêu trẻ, tình nghĩa vợ chồng gắn kết keo sơn, lòng hào hiệp mến khách, cách giaotiếp lịch sự, lễ phép, mềm mỏng trong quan hệ giữa người với người…
Tuy nhiên, hiện nay, nhiều giá trị gia đình truyền thống dân tộc Thái xãMường So đang mai một Do sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và cácyếu tố hiện đại thông qua các luồng băng đĩa, truyền thông đại chúng, đặc biệt làInternet làm hình thành nhiều tư tưởng, thói quen sinh hoạt mới phần nào ảnhhưởng đến các chuẩn mực truyền thống của gia đình Đó là sự quan tâm, tráchnhiệm chăm sóc gia đình giữa các thành viên có sự giảm sút, xuất hiện những tưtưởng cá nhân, đòi hỏi đáp ứng những lợi ích cụ thể, trước mắt Các nghi lễ giađình đang có xu hướng đơn giản hóa, thậm chí một số nghi lễ đã thay đổi và bị ảnhhưởng mạnh của văn hóa đô thị và kinh tế thị trường Các vật phẩm truyền thống
để mừng đám cưới, mừng nhà mới, chia buồn với tang gia trong đám tang (lợn, gà,
Trang 22rượu, gạo, vải may mặc…) hầu hết được thay bằng tiền mặt hoặc các vật dụng hiệnđại.
Bên cạnh đó, một số tập quán lạc hậu còn tồn tại và biến tướng do sự tác độngcủa những điều kiện mới khiến cho truyền thống gia đình dân tộc Thái đang diễnbiến theo chiều hướng xấu và ngày càng phức tạp; biểu hiện trên những mặt sau:
Một là, “sống thử” (sống chung khi chưa/không kết hôn) và quan hệ tình dục
trước hôn nhân ngày càng bị dư luận xã hội phê phán thì ở dân tộc Thái lại đượcnhìn nhận như một lẽ bình thường Tập quán dân tộc Thái cho phép quan hệ tínhgiao tiền hôn nhân Khi con gái đến tuổi dậy thì được phép tiếp bạn tình qua đêm
để tâm sự Luật tục chỉ cấm chửa hoang, nếu mắc phải thì phạt rất nặng Chính vìthế mà xưa kia dân tộc Thái Mường So có những bài thuốc tránh thai cổ truyền từthảo dược thiên nhiên sẵn có trong vùng và rất hiệu quả để rồi mẹ truyền cho con,con truyền cho cháu… đời nối đời… nên trong cộng đồng dân tộc Thái ít ai mắctội chửa hoang Hiện nay, hình thức xử phạt này không còn nhưng việc “trộm yêu”thì vẫn tồn tại khá phổ biến Và những phụ nữ, thiếu nữ có thai ngoài ý muốn nếukhông “hợp thức hóa” cái thai bằng hôn nhân thì thường tìm đến các cơ sở nạo hútthai tư nhân để “giải quyết”
Hai là, tuy nhu cầu về lao động cơ bắp trong các gia đình dân tộc Thái Mường
So đã giảm nhưng việc phải có con trai để nối dõi và thờ cúng cho đến nay vẫn lànhu cầu thường trực trong ý thức của hầu hết người Thái nơi đây Điều tra 50 hộgia đình dân tộc Thái xã Mường So cho thấy vẫn có tới 38 hộ đã và đang đặt ramục tiêu phải sinh bằng được con trai (chiếm 76%) và trên thực tế, trong năm
2015, cả xã Mường So có tới 9/33 gia đình sinh con thứ ba (chiếm 27,3%), trong
số này có 4 gia đình hiện đang là cán bộ, đảng viên Ngày nay, với sự “hỗ trợ” của
y học hiện đại, việc “để” hay “bỏ” đứa con tùy thuộc vào thai nhi là trai hay gái ởMường So đã dẫn đến sự mất cân bằng giới tính Tỷ suất giới tính của trẻ sơ sinh
Trang 23qua 5 năm (2011 – 2015) ở xã Mường So trung bình là 122 bé trai/100 bé gái[Nguồn: Điều tra thực địa tại xã Mường So, tháng 9/2016].
Ba là, tập quán dạy dỗ con cái theo cơ chế mềm dẻo (chỉ khuyên bảo, không
đánh mắng và ít giám sát) vẫn phổ biến trong các gia đình dân tộc Thái Mường So.Nhưng hiện nay, cơ chế thị trường; quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; sựphát triển tâm, sinh lý của trẻ ngày càng diễn ra nhanh; sự phát triển như vũ bãocủa truyền thống đại chúng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin… một mặt tạo
ra những thời cơ và vận hội mới cho các gia đình dân tộc Thái ở Mường So nângcao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần, nhưng mặt khác, nó kéo theo nhữngnguy cơ khôn lường do những thông tin xấu, phản văn hóa, không có lợi cho sựphát triển nhân cách tuổi trẻ, mà trong đó có những vấn đề vượt khỏi tầm kiểm soátcủa gia đình như mại dâm, nghiện hút…
2.2.4 Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người
Từ sau Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, cùng với các địa phương trêntoàn quốc, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân xã Mường So đã tích cực tham giabảo tồn và khôi phục được nhiều di sản văn hóa, trong đó nhiều di sản văn hóa đặcbiệt có giá trị như di tích đền thờ Nàng Han (gắn với phong trào chống ngoại xâmthời phong kiến), di tích lịch sử hang Thẳm tạo (gắn với phong trào Cần Vương),
di tích hang kháng chiến Nà Củng (kho quân lương, đạn dược và bệnh viện dãchiến trong chiến dịch Điện Biên phủ); di sản Nghệ thuật Xòe Thái; di sản Nghi lễ
và trò chơi kéo co; các lễ hội dân gian: Then Kin Pang, Kin Lẩu Khẩu Mẩu, KinKhẩu Mớ.v.v… Nhờ đó, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân có nhiều khởisắc
Tuy nhiên, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộcThái ở xã Mường So hiện nay cũng chỉ mang tính hình thức, thiếu thực tế Cán bộvăn hóa chưa ngang tầm nhiệm vụ Các lễ hội được tổ chức, các di tích được trùng
Trang 24tu chủ yếu được đầu tư kinh phí từ ngân sách nhà nước và các cơ quan chức năngđứng ra tổ chức (trước kia do dân góp công, góp của và tự tổ chức thực hiện)nhưng do không nắm vững phương pháp thực hiện nên các di tích được trùng tutheo khuôn mẫu của miền xuôi, các lễ hội được tổ chức theo kiểu phong trào khiếncho các lễ hội, các di tích bị biến dạng, mất bản sắc
Trong mấy chục năm trở lại đây, nhất là trong thời kỳ đổi mới, các bản dântộc Thái xã Mường So đã thay đổi Do nhu cầu phát triển về KT-XH, địa bàn cưtrú trải rộng hơn so với trước Nhà ở truyền thống của dân tộc Thái xã Mường Socũng có nhiều thay đổi Cả xã hiện có 611 nhà xây, trong đó số nhà xây trong cộngđồng dân tộc Thái chiếm khoảng 40% Trong các bản Thái, những ngôi nhà xâytheo kiểu nhà ống (nhiều nhà xây 2 – 3 tầng) xen kẽ với những ngôi nhà sàn truyềnthống gây mất mỹ quan, làm biến dạng không gian bản Thái cổ truyền
Trang phục truyền thống cũng có nhiều thay đổi Nghề dệt nổi tiếng của dântộc Thái xã Mường So từng bước thiếu vắng trong sinh hoạt thường ngày (trừ một
số gia đình dệt vải để may các sản phẩm truyền thống bán cho khách du lịch nhưngkhách du lịch đến với xã Mường So đang ngày một thưa vắng dần) Trang phụctruyền thống của nam giới hầu như đã thay đổi cơ bản, chỉ phụ nữ mới giữ đượctrang phục truyền thống nhưng chất liệu, màu sắc, kiểu dáng, hoa văn đã thay đổilàm mất đi vẻ đẹp vốn có của bộ trang phục và đặc biệt là làm mất bản sắc tộcngười trong trang phục truyền thống
2.2.5 Việc bài trừ các phong tục tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã hội
Những năm qua, nhiều phong tục tập quán lạc hậu trong cộng đồng dân tộcThái xã Mường So đã được bài trừ có hiệu quả như không còn tập quán thả rônggia súc, gia cầm, các gia đình đều có công trình vệ sinh, các thiếu nữ không còntắm trần, trẻ em được học hành, người già được chăm sóc, người bệnh được khámchữa ở các cơ sở y tế…