1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề án Quản lý tài sản công tại Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật, Bộ Công an

67 831 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 314,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhà nước; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trongnước và ngoài nước cho Nhà nước [19].- Theo giáo trình tổ chức và nhân sự hành chính nhà nước thì: Công s

Trang 1

PTĐL Phương tiện đi lại

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Tài sản nhà nước là một bộ phận của nguồn tài nguyên quốc gia, đóng vaitrò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốcphòng, nên cần phải quản lý và sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức,chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả Tài sản công trong lực lượng CAND là tài sảnthuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước quản lý và định đoạt Tài sản công tronglực lượng CAND được nhà nước giao cho Bộ Công an trực tiếp quản lý và thựchiện chức năng quản lý nhà nước, lực lượng CAND có trách nhiệm bảo tồn,phục vụ cho sự nghiệp giữ gìn an ninh, trật tự xã hội

Tài sản công trong lực lượng CAND phải được quản lý chặt chẽ, sử dụngtiết kiệm và có hiệu quả nhằm biến tiềm năng từ tài sản công này trở thànhnguồn lực đảm bảo phục vụ chiến đấu Cùng với quá trình đổi mới trong thờigian qua, công tác quản lý tài sản công trong lực lượng CAND đã có những tiến

bộ đáng kể Tuy nhiên, việc quản lý, sử dụng tài sản vẫn mang nặng tính hànhchính bao cấp, quản lý chưa chặt chẽ, sử dụng vẫn còn có lãng phí

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý tài sản công tại Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an” đang được coi là một trong những là vấn đề có ý

nghĩa, cần được nghiên cứu xem xét cả về lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan nghiên cứu

Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an là cơ quan hậu cần, kỹ thuậtcủa Bộ Công an có chức năng tham mưu giúp Đảng ủy Công an Trung ương và

Bộ trưởng về công tác hậu cần, kỹ thuật trong Công an nhân dân; trực tiếp tổchức đảm bảo hậu cần, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công tác chiến đấu và xâydựng lực lượng Công an nhân dân Bên cạnh đó, Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật,

Bộ Công an còn có nhiều nhiệm vụ mà Đảng Công an Trung ương và Bộ trưởnggiao cho, trong đó là việc tổ chức quản lý tài sản Nhà nước

Đã có bài viết nghiên cứu về tài sản công, nhưng chưa có đề tài nghiêncứu về nội dung và phương pháp luận của việc quản lý sử dụng tài sản công tạiTổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an

Trang 3

Có thể kể ra một số nghiên cứu về quản lý tài sản công ở Việt Nam dướinhiều khía cạnh khác nhau như:

- Trong đề tài: “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý TSC giai đoạn 2010”, 2000, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội, [69] PGS.TS

2001-Nguyễn Văn Xa đã đánh giá thực trạng tình hình quản lý, sử dụng toàn bộTSC (trong đó có TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam) từ năm 1995 đếnnăm 2000, từ đó đề ra những giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý TSCtrong khu vực HCSN đến năm 2010 Tuy vậy, do yếu tố thời gian, hệ thống sốliệu của đề tài đã trở nên lạc hậu, mặt khác trong đề tài này, việc nghiên cứu cơchế quản lý TSC giữa CQHC và ĐVSN chưa được tách bạch

- Trong đề tài: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp, 2002, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội” TS Phạm Đức

Phong đã tập trung chủ yếu nghiên cứu về cơ chế quản lý TSC đối với các tàisản phục vụ trực tiếp cho hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoahọc công nghệ, y tế, văn hoá thể thao, là khâu đột phá của công nghiệp hoá vàhiện đại hoá đất nước Song, trong công trình này, tác giả cũng chưa quantâm đánh giá hiệu quả, hiệu lực của cơ chế quản lý TSC tại các ĐVSN

- Luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Mạnh Hùng về TSC và sử dụng TSC ở Việt Nam hiện nay, 2005

- Luận văn Thạc sĩ kinh tế của La Văn Thịnh về “Sử dụng tại sản công khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt nam thực trạng và giải pháp, 2006” Với

hệ thống số liệu khá phong phú, các tác giả đã đánh giá tình hình quản lý TSCtrong khu vực HCSN ở Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2005, từ đó đề ranhững giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả,

Trang 4

tiết kiệm TSC trong khu vực HCSN đến năm 2010 Nhưng hiện nay việc phâncấp quản lý nhà nước về TSC trong khu vực HCSN nhằm cải cách thủ tục hànhchính, phát huy tính tự chủ, xác định rõ trách nhiệm của người quản lý, ngườitrực tiếp sử dụng TSC, của chính quyền các cấp trong quản lý TSC đang đặt ranhư một vấn đề cấp thiết Tuy nhiên tại các công trình nêu trên chưa nghiên cứusâu về vấn đề này.

- Luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Thị Lan Phương về “Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý, sử dụng trụ sở làm việc của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam”, 2006.

- Luận văn thạc sỹ của Trần Diệu An về “Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc của cơ quan hành chính ở Việt Nam”, 2006

- Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Thị Kim Liên, "Hoàn thiện quản lý tài sảncông đối với cơ quan hành chính sự nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang", 2014

Các luận văn trên đi sâu phân tích những vấn đề lý luận cơ bản đối với mộtloại tài sản cụ thể trong khu vực HCSN đó là TSLV và từ thực trạng quản lý đã

đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý TSLV trong khu vựcHCSN ở Việt Nam

Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu đề cập đến việc quản lý TSC trongkhu vực HCSN khá nhiều Các công trình đã nghiên cứu ở nhiều góc độ, đề cậpđến nhiều khía cạnh khác nhau về thực trạng và có nhiều những giải pháp đượcđưa ra nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý TSC Song nhìn chung các công trình nêutrên chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý TSC của Tổng cục Hậu cần-

Kỹ thuật Bộ công An

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 5

- Phân tích thực trạng về công tác quản lý sử dụng tài sản công tại Tổngcục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an.

- Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý sử dụng tài sản côngtại Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý sửdụng tài sản công tại Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Thế nào là Tài sản công? Các cách phân loại tài sản công?

- Tại sao phải phân loại tài sản công, việc phân loại đó nhằm mục đích gì?Tài sản từ khi hình thành đến khi kết thúc phải được giaỉ quyết như thế nào? (Baogồm thanh lý, điều chuyển, tiêu hủy….)

- Thực trạng công tác quản lý tài sản công tại đơn vị như thế nào?

- Tại sao phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý sử dụng tài sản công tạiTổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an?

- Làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác quản lý sử dụng tài sản công?

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý sử dụng tài sản công tại Tổngcục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an Tuy nhiên, khái niệm tài sản công là mộtkhái niệm rất rộng có tính tương đối và được hiểu theo những nghĩa khác nhautùy thuộc vào qui định, mô hình quản lý của từng khu vực, xã hội và mô hìnhkinh tế Tài sản công bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau, đề tài chỉ tập trungvào công tác quản lý các tài sản: tài sản làm việc, phương tiện đi lại và các tàisản khác có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên

Trang 6

+ Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng và đánh giá công tác quản lý

sử dụng tài sản công tại Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an từ năm 2010cho đến nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp chặt chẽ phương pháp tổng hợp và phân tích kết hợp khảosát thực tế với lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để phân tích, đánh giá thực trạngtình hình quản lý tài sản công tại Tổng cục Đồng thời đề tài sử dụng phươngpháp thống kê, điều tra nhằm phản ánh đầy đủ tình hình thực tế, phục vụ cho việcphân tích, tổng hợp từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả côngtác quản lý sử dụng tài sản công tại Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an

7 Nội dung của Luận văn

Bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:

Chương 1: Những vấn đề chung về tài sản công và quản lý tài sản công Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tài sản công trong giai đoạn từ năm2010-2015 tại Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an

Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý tài sản công tại Tổng cục Hậu cần

- Kỹ thuật, Bộ Công an

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN CÔNG

VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

1.1 Khái niệm và phân loại tài sản công

1.1.1 Khái niệm về cơ quan hành chính

Cơ quan hành chính (CQHC) nhà nước là: “Một loại cơ quan của nhànước thực hiện quyền hành pháp bao gồm chức năng lập quy và chức năng hànhchính” (Luật Quản lý, 2008, tr 13) Hệ thống các CQHC bao gồm:

Cơ quan lập pháp: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơquan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập

Trang 7

pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại; nhiệm

vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh; những nguyên tắc chủ yếu về

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của

bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Quốc hội thựchiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Các cơquan của Quốc hội gồm: Uỷ ban thường vụ quốc hội, Hội đồng dân tộc và các

Uỷ ban của Quốc hội Hội đồng nhân dân được quy định là cơ quan quyền lựcđịa phương không có quyền lập pháp

Cơ quan tư pháp: Là các cơ quan có quyền phán xét tính hợp hiến, hợppháp của các quyết định pháp luật và sự phán quyết về hành vi phạm tội, tranhchấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Hệ thống cơ quan tư pháp gồm các

cơ quan thuộc toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

Cơ quan hành pháp: Đó là các cơ quan thực hiện quyền hành pháp nhànước, quản lý chung hay từng mặt công tác, có nhiệm vụ chấp hành pháp luật vàchỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà nước Hệ thống các cơ quanhành pháp bao gồm: Các cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở trung

Trang 8

ương như Chính phủ, Bộ, Ngành; cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở địaphương là Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp và các CQHC giúp việc có chứcnăng quản lý nhà nước ở địa phương nhằm bảo đảm sự thống nhất quản lý củangành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở (như cơ quan tài chính,giáo dục, y tế, tài nguyên - môi trường, xây dựng.) Các cơ quan chuyên mônchịu sự chỉ đạo và quản lý của UBND đồng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo vềnghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên.

1.1.2 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập

Đơn vị sự nghiệp công lập là: “Đơn vị do Nhà nước thành lập để hoạtđộng công lập, thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụnhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân” (LuậtQuản lý, 2008, tr 330)

Các ĐVSN hoạt động trong các lĩnh vực như: giáo dục đào tạo, y tế, vănhoá, thông tin, thể dục thể thao, nông lâm ngư nghiệp, thuỷ lợi và các ĐVSNkinh tế khác Theo quy định tại Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, cácĐVSN gồm 2 loại: ĐVSN công lập tự đảm bảo kinh phí hoạt động và đơn vị sựnghiệp chưa tự đảm bảo chi phí hoạt động

+ ĐVSN đảm bảo kinh phí hoạt động là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bùđắp toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, NSNN không phải cấp kinh phíhoạt động thường xuyên cho đơn vị

+ ĐVSN công lập tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động là đơn vị cónguồn thu hoặc không có nguồn sự nghiệp chưa tự trang trải chi phí hoạt độngthường xuyên, NSNN cấp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động thườngxuyên cho đơn vị

1.1.3 Khái niệm về tài sản và tài sản công

Trang 9

1.1.3.1 Tài sản cố định (TSCĐ) là các tài sản Cơ quan giao cho các

Phòng, ban quản lý sử dụng và những tài sản dùng chung cho hoạt động cơ quan

có giá trị từ 5.000.000đ trở lên và có thời gian sử dụng trên một năm và nhữngtài sản dụng cụ quản lý tuy có giá trị dưới 5.000.000đ nhưng do tính chất đặcbiệt nên Nhà nước quy định những tài sản đó cũng là tài sản cố định bao gồm:

- Tài sản là nhà cửa vật kiến trúc: Nhà làm việc, các công trình xây dựnggắn liền với nhà như bể nước, sân, tường rào, cổng ngõ

- Phương tiện vận tải: Xe ôtô, và các loại phương tiện vận tải khác

- Máy móc thiết bị quản lý: Máy vi tính, máy in, máy photo, các thiết bịlắp đặt kèm theo máy vi tính như ổn áp lưu điện, loa, máy chiếu, máy Scan, máychụp ảnh các loại máy lạnh, máy đếm tiền, máy quay phim, đầu máy vidio, tivi,máy điện thoại các loại, tủ lạnh

- Các loại tài sản quản lý khác: Két sắt, quạt các loại, ấm điện nấu nướccác loại

- Loại tài sản đồ gỗ, giả gỗ: Các loại tủ, bàn ghế làm việc, bàn để vi tính,bàn ghế hội họp, bục nói chuyện, các kệ lưu trữ hồ sơ và các tài sản khác mà cơquan giao cho các bộ phận phòng ban quản lý sử dụng

- Những tài liệu quan trọng phục vụ cho công tác chuyên môn

- Phần mềm quản lý của các Phòng, ban chuyên môn được Cơ quan muatrang bị cài đặt để phục vụ quản lý

- Các tài sản khác phục vụ cho công tác quản lý của cơ quan Các nguồnhình thành nên tài sản cố định:

+ TSCĐ mua sắm từ nguồn kinh phí ngân sách, coi như ngân sách cấp;+ Kinh phí do ngân sách cấp kế hoạch hàng năm

Trang 10

TSC là tài sản thuộc sở hữu công cộng hay còn gọi là tài sản thuộc sở hữutoàn dân ở các nước Xã hội chủ nghĩa Tại các nước Xã hội chủ nghĩa, Nhà nướcđại diện quyền lợi cho toàn dân nên là người đại diện sở hữu đối với toàn bộnhững tài sản thuộc sở hữu toàn dân Do đó khái niệm TSC và tài sản nhà nước

là đồng nhất

- Ở Việt Nam, theo Hiến pháp năm 2013, TSC bao gồm:

Đất đai, rừng, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồnlợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xínghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học,

kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luậtquy định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân [16]

- Theo Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005:

Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai rừng tự nhiên,rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi sông hồ, nguồn nước, tàinguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên vùng biển, thềm lục địa và vùng trời,phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc cácngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốcphòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định [17]

- Theo Điều 3 Luật thực hành, tiết kiệm chống lãng phí thì:

Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc cónguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, baogồm nhà, công trình công cộng, công trình kiến trúc và tài sản khác thuộc sở hữu

Trang 11

nhà nước; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trongnước và ngoài nước cho Nhà nước [19].

- Theo giáo trình tổ chức và nhân sự hành chính nhà nước thì: Công sảngồm tất cả các tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước,lợi ích của toàn dân [12,204]

Từ những cách hiểu nêu trên, có thể hiểu: TSC là những tài sản được đầu

tư, mua sắm từ nguồn NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN; tài sản được các tổchức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ, đóng góp, hiến, tặng, cho Nhà nước;tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật; tài sảncủa các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao cho Nhà nước; đất đai, tàinguyên trong lòng đất, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ NSNN, núi,sông hồ, nguồn nước, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời;tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia mà pháp luậtquy định là của Nhà nước; phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanhnghiệp hoặc đầu tư ra nước ngoài được Nhà nước giao cho tổ chức, cá nhântrực tiếp quản lý, sử dụng theo chế độ quản lý chung của Nhà nước và chịu sựkiểm tra giám sát của Nhà nước trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản

TSC trong khu vực HCSN là một bộ phận TSC mà Nhà nước đã giao chocác CQHC, ĐVSN và các tổ chức quản lý, sử dụng phục vụ cho hoạt động củatừng cơ quan, đơn vị theo chức năng nhiệm vụ được giao Do có vị trí đặc biệtquan trọng, nên TSC trong khu vực HCSN không ngừng được Nhà nước duy trì,củng cố, đầu tư phát triển cả về số lượng, chủng loại và mức độ hiện đại Vớinhững nội dung đã trình bày trên đây, có thể khẳng định: TSC trong khu vựcHCSN là những tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn NSNN hoặc có nguồngốc NSNN; tài sản được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tài trợ, đónggóp, hiến, tặng, cho Nhà nước; tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước theoquy định của pháp luật; tài sản của các chương trình, dự án kết thúc chuyển giaocho Nhà nước mà Nhà nước giao cho từng CQHC, ĐVSN và các tổ chức trựctiếp quản lý, sử dụng để phục vụ hoạt động của từng cơ quan, đơn vị, tổ chứctheo chức năng, nhiệm vụ đã được Nhà nước giao

Trang 12

Như vậy, TSC trong khu vực HCSN là một loại hàng hoá do các CQHC,ĐVSN và các tổ chức quản lý; tạo ra dịch vụ công phục vụ nhân dân, đáp ứngcho các nhiệm vụ công; quản lý theo cơ chế công (quy định bởi Hiến pháp,Luật và các văn bản dưới Luật) và theo quan điểm đạo đức công (phi lợi nhuận,bình đẳng, ổn định, hiệu quả) TSC trong khu vực HCSN rất phong phú, đadạng, có loại xác định được giá trị, có loại vô giá, đa số là tài sản hữu hình; cũng

có loại là tài sản vô hình

1.1.4 Phân loại tài sản công:

Để nhận biết và từ đó định ra các biện pháp quản lý và sử dụng có hiệu quảvới từng loại tài sản, tài sản công có thể được phân chia theo các tiêu thức chủyếu sau:

Để nhận biết và có biện pháp quản lý có hiệu quả, TSC trong khu vựcHCSN được phân loại theo các tiêu thức như sau:

* Phân loại theo công dụng của tài sản: TSC trong khu vực HCSN thể hiệnqua sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1: Phân loại tài sản công trong khu vực HCSN theo công dụng của tài sản.

(Nguồn giáo trình tài chính công)

Trang 13

Theo sơ đồ nêu trên thì: Trụ sở làm việc bao gồm:

- Khuôn viên đất: Là tổng diện tích đất do CQHC, ĐVSN và các tổ chức trựctiếp quản lý, sử dụng được Nhà nước giao, nhận chuyển nhượng hoặc do tiếpquản từ chế độ cũ được xác lập sở hữu Nhà nước theo quy định của pháp luật

- Nhà công sở: Là nhà cửa, vật kiến trúc và công trình xây dựng khác gắn liềnvới đất thuộc khuôn viên TSLV Nhà công sở bao gồm: Công sở của CQHC ởtrung ương và địa phương, công sở phục vụ công (bệnh viện, trường học, nhàthi đấu, phòng thí nghiệm ), cơ quan nghiên cứu, báo chí, phát thanh truyềnhình của Nhà nước Nhà công sở bao gồm các bộ phận: bộ phận làm việc, bộphận công cộng và kỹ thuật, bộ phận phụ trợ và phục vụ

- Vật kiến trúc gồm: Giếng khoan, giếng đào, sân chơi, hệ thống cấp thoátnước

- Phương tiện đi lại bao gồm: Xe ô tô từ 16 chỗ ngồi trở xuống, xe chở khách,

xe ô tô tải, xe ô tô chuyên dùng như: xe cứu thương, xe cứu hoả, xe chở tiền,

xe phòng chống dịch, xe phòng chống lụt bão, xe hộ đê Xe máy Tàu xuồng,

ca nô Máy móc, thiết bị và các tài sản khác bao gồm:

Máy móc, thiết bị là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị trang bị cho cán bộ,công chức để làm việc và phục vụ hoạt động của CQHC, ĐVSN như: máy mócchuyên dùng, thiết bị công tác, thiết bị truyền dẫn, dây truyền công nghệ, nhữngmáy móc đơn lẻ

Thiết bị, dụng cụ quản lý là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tácquản lý hoạt động của CQHC, ĐVSN như: máy vi tính, thiết bị điện tử, dụng cụ

đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi

Trang 14

Các loại tài sản khác như: tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật, vườn cây lâunăm, súc vật nuôi để thí nghiệm hoặc nhân giống (vườn cà phê, vườn chè, vườncao su, vườn cây ăn quả và gia súc các loại)

* Phân loại theo cấp quản lý: TSC trong khu vực HCSN thể hiện qua sơ đồ 1.2

Sơ đồ 1.2: Phân loại tài sản công trong khu vực HCSN theo cấp quản lý

(Nguồn giáo trình tài chính công)

Theo sơ đồ 1.2 TSC trong khu vực HCSN gồm:

- Tài sản công do Chính Phủ quản lý bao gồm: TSC do các Bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc CP, cơ quan khác ở trung ương quản lý

- TSC do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý(gọi chung là UBND cấp tỉnh): bao gồm TSC do các CQHC, ĐVSN và các tổ

Trang 15

chức thuộc cấp tỉnh quản lý

- TSC do UBND cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quản lý (gọichung là UBND cấp huyện): bao gồm TSC do các CQHC, ĐVSN và các tổchức thuộc cấp huyện quản lý

- TSC do UBND cấp xã, phường, thị trấn quản lý (gọi chung là UBND cấp xã)bao gồm: TSC do các CQHC, ĐVSN và các tổ chức thuộc cấp xã quản lý

* Phân loại theo đối tượng sử dụng tài sản: TSC trong khu vực HCSN thể hiệnqua sơ đồ 1.3

Sơ đồ 1.3: Phân loại tài sản công trong khu vực HCSN theo đối tượng sử dụng tài sản.

(Nguồn giáo trình tài chính công).

Theo sơ đồ trên thì, TSC trong khu vực HCSN chia thành:

- TSC dùng cho hoạt động của các CQHC nhà nước gồm: tài sản làm việc(TSLL), nhà công vụ, phương tiện đi lại (PTĐL), máy móc, thiết bị và các tài

Trang 16

sản khác trực tiếp phục vụ hoạt động của CQHC nhà nước Là cơ quan côngquyền nên các CQHC nhà nước được NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạtđộng (gồm cả kinh phí mua sắm, sửa chữa tài sản) Về nguyên tắc, các CQHCđược bình đẳng sử dụng tài sản phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao.Việc quản lý tài sản phải tuân thủ theo chế độ, chính sách quản lý chung củaNhà nước như: tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài tản, chế độ báo cáo, mua sắm,bán thanh lý tài sản đồng thời phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhà nướctrong suốt quá trình sử dụng Nhà nước quản lý toàn diện đối với tài sản doCQHC nhà nước sử dụng, ở tất cả các khâu theo vòng đời tồn tại tài sản gồm:đầu tư, mua sắm, bố trí sử dụng, mục đích sử dụng, báo cáo thống kê, kiểm kê,chuyển đổi công năng, thanh lý tài sản Về nguồn kinh phí mua sắm: chỉ có mộtnguồn duy nhất đó là NSNN Trong quá trình sử dụng, giá trị hao mòn của nhữngtài sản này được xem là yếu tố chi phí tiêu dùng công

- TSC dùng cho hoạt động của các ĐVSN là những tài sản mà nhà nước giao chocác ĐVSN trực tiếp sử dụng để thực hiện các mục tiêu sự nghiệp phục vụ pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Loại này gồm: đất, nhà, công trình xây dựng vàvật kiến trúc thuộc cơ sở hoạt động của ĐVSN như: trường học, bệnh viện, nhàvăn hoá, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu; Ở Việt Nam hiện nay, có 2 loại hìnhĐVSN là: ĐVSN công lập tự chủ tài chính và ĐVSN công lập chưa tự chủ tàichính TSC tại các ĐVSN phần lớn là tài sản chuyên dùng, sử dụng mang tính đặcthù ở từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động Theo chế độ hiện hành, kinh phí đầu tưmua sắm tài sản của ĐVSN có thể có nhiều nguồn khác nhau như: Nguồn NSNN,nguồn thu sự nghiệp hoặc các nguồn huy động khác do ĐVSN trực tiếp huy động

và chịu trách nhiệm trước pháp luật Do đó, các ĐVSN có quyền tự chủ cao hơnCQHC nhà nước trong việc quản lý, sử dụng tài sản, nhất là những tài sản mà đơn

vị mua săm bằng nguồn kinh phí không thuộc NSNN Bên cạnh đó, theo chủtrương đẩy mạnh xã hội hoá các lĩnh vực sự nghiệp, nhà nước đã áp dụng thựchiện cơ chế khoán chi cho các ĐVSN Đơn vị được quyền tự quyết định và tự chịutrách nhiệm về việc: đầu tư mua sắm, sử dụng, khai thác tài sản, thanh lý tài sảnphục vụ đổi mới dây truyền công nghệ đơn vị theo nhu cầu hoạt động của mình.Trong quá trình sử dụng, giá trị của tài sản giảm dần Phần giá trị giảm dần đóđược xem là yếu tố chi phí để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công, một yếu tố cấu

Trang 17

* Phân loại theo đặc điểm hao mòn của tài sản: TSC trong khu vực HCSN baogồm:

- Tài sản hao mòn: Là tài sản khi qua sử dụng bị hao mòn qua thời gian như:máy móc thiết bị, PTĐL

- Tài sản không bị hao mòn: Là tài sản khi qua sử dụng mà cơ bản vẫn giữ đượchình dạng ban đầu như: đất đai, cây lâu năm

1.1.5 Đặc điểm và vai trò của tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp

1.1.5.1 Đặc điểm của TSC

TSC trong khu vực HCSN có những đặc điểm chủ yếu, đó là:

- Quyền sở hữu và quyền sử dụng TSC trong khu vực HCSN có sự táchrời,nghĩa là quyền sở hữu tài sản thuộc về Nhà nước, còn quyền sử dụng đượcthực hiện bởi từng CQHC, ĐVSN và các tổ chức

- Về mục đích sử dụng: TSC trong khu vực HCSN được sử dụng phục vụhoạt động của các CQHC, ĐVSN và các tổ chức phục vụ lợi ích chung của đấtnước, của nhân dân

- Về chế độ quản lý: Nhà nước là chủ thể quản lý TSC trong khu vựcHCSN, ở tầm vĩ mô TSC được quản lý thống nhất theo pháp luật của nhà nước, ở

Trang 18

tầm vi mô TSC được Nhà nước giao cho các CQHC, ĐVSN và các tổ chức quản

lý, sử dụng theo quy định, chế độ của Nhà nước CQHC, ĐVSN và các tổ chứcđược giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, sử dụng TSC lại không phải là người cóquyền sở hữu tài sản; do đó nếu không quản lý chặt chẽ dẫn đến việc sử dụngTSC lãng phí, thất thoát

- TSC trong khu vực HCSN rất đa dạng và phong phú, được phân bố rộngtrên phạm vi cả nước; mỗi loại tài sản có tính năng, công dụng khác nhau vàđược sử dụng vào các mục đích khác nhau, được đánh giá hiệu quả theo nhữngtiêu thức khác nhau; TSC nhiều về số lượng, lớn về giá trị và mỗi loại tài sản lại

có giá trị sử dụng khác nhau, thời hạn sử dụng khác nhau…TSC có loại không

có khả năng tái tạo được phải bảo tồn để phát triển; do đó việc quản lý đối vớimỗi loại tài sản cũng có những đặc điểm khác nhau

- Giá trị của TSC trong khu vực HCSN giảm dần trong quá trình sử dụng;phần giá trị giảm dần đó được xem là yếu tố chi phí tiêu dùng công (đối với cácCQHC); được xem là yếu tố chi phí để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công (đối vớicác ĐVSN)

TSC trong khu vực HCSN là một bộ phận của tài sản quốc gia, là tiềm lựcphát triển đất nước như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã khẳng định: “Tài sảncông là nền tảng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làmcho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân” [39, tr.29] Vai trò củaTSC trong khu vực HCSN có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh: kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục ở đây, luận án chỉ đề cập đến vai trò kinh tếcủa nó Theo đó TSC trong khu vực HCSN có những vai trò chủ yếu sau:

Trang 19

nước bị sụp đổ khi không còn kiểm soát được quyền lực công, trong đó có quyềnlực về TSC Thông qua cuộc cách mạng xã hội, quyền lực công chuyển dịch sangtay nhà nước mới Nhà nước mới ra đời tiếp quản và sử dụng ngay toàn bộ cơ sởvật chất của nhà nước tiền nhiệm làm cơ sở sinh tồn của mình Trên nền tảng vậtchất này, Nhà nước triển khai các hoạt động thuộc chức năng của mình để kiểmsoát, quản lý kinh tế -xã hội của đất nước Mọi hoạt động của các cơ quan nhànước từ trung ương đến cơ sở, gắn liền với việc sử dụng TSC trong khu vựcHSCN Với phạm vi rộng lớn, phong phú về chủng loại, đa dạng về công dụng TSC trong khu vực HCSN trực tiếp giúp cho hoạt động của toàn bộ bộ máy nhànước thực hiện được trôi chảy liên tục và thông suốt Công năng của từng tài sảnliên tục phát huy tác dụng góp phần làm nên thành quả hoạt động của nhà nước.TSLV chính là nơi hiện diện của chính quyền nhà nước, nơi làm việc hàng ngàycủa các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước - nơi diễn ra các giao dịch của nhà nướcvới dân chúng, nơi quyền lực của nhà nước được thực thi Nếu không có TSLVthì nhà nước không thể triển khai thực hiện được các hoạt động của mình, theo đóquyền lực nhà nước cũng không thể thực hiện được Mặt khác, TSC trong khuvực HCSN là nhân tố quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động

sự nghiệp nhằm giúp các ĐVSN cung cấp các sản phẩm dịch vụ công với chấtlượng cao cho con người Nó là điều kiện vật chất để đào tạo con người có trithức, có năng lực khoa học; để thực hiện nghiên cứu khoa học và áp dụng cácthành tựu khoa học vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Nước ta là nướcnông nghiệp tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với yêu cầu phải rútngắn thời gian, phải có bước nhảy vọt về công nghệ

Trong quá trình hoạt động, nhiệm vụ không ngừng củng cố, xây dựng vàphát triển cơ sở vật chất kỹ thuật đước xem là nhiệm vụ sống còn, có tính quy luậtđối với mọi Nhà nước Tiêu chí về mức độ hiện đại, tiện ích, quy mô về TSC đượccoi là nhân tố đánh giá như sức mạnh, hiệu quả hoạt động của một nhà nước Cóthể nói rằng, Nhà nước khó có thể hoàn thành nhiệm vụ quản lý, phát triển kinh tế

- xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước khi chỉ có trong tay một nguồn lựccông là cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu Với ý nghĩa đó, muốn nâng cao hiệuquả hoạt động của nhà nước thì bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, khuôn khổ pháp lý

Trang 20

thì Nhà nước còn phải không ngừng đầu tư phát triển TSC trong khu vực HCSN

cả về quy mô, số lượng và chất lượng theo hướng ngày càng hiện đại, tiên tiến

- Tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội

Sự phát triển xã hội, chủ yếu do 3 yếu tố: Lao động, tri thức và quản lý,trong đó vai trò quản lý Nhà nước ngày một tăng Bởi lẽ, một mặt quản lý là tổchức lao động; mặt khác, quản lý là phải tạo ra khả năng phát triển tri thức Điềuquan trọng của quản lý Nhà nước là sự kết hợp tri thức với lao động để hoàn thiệnquản lý hơn nữa và thúc đẩy xã hội phát triển Vì vậy, quản lý nhà nước biểu hiệntrước hết ở chính những tác động có ý thức vào các quá trình phá triển xã hội, vào

ý thức con người, buộc mọi người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng vàcác mục tiêu đã định

Nhà nước thực hiện chức năng kinh tế thông qua các hoạt động nhằm đảmbảo cho quá trình sản xuất xã hội được tiến hành bình thường, hướng quá trìnhsản xuất xã hội tới những mục tiêu đã định trước Cùng với việc phải xây dựng,hoàn thiện cơ chế kinh tế theo hướng thúc đẩy, giải phóng mọi nguồn lực tậptrung cho sản xuất ra của cải vật chất để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thì hoạtđộng của bộ máy nhà nước phải được đổi mới, cải cách theo hướng gọn nhẹ, hiệulực và hiệu quả, thông suốt từ trung ương đến cơ sở Với vai trò là nền tảng vậtchất đảm bảo cho nhà nước hoạt động, TSC trong khu vực HCSN giữ vị trí hếtsức quan trọng Một mặt, TSC trong khu vực HCSN là phương tiện để truyền tảithông tin, sự lãnh đạo điều hành quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước, đồng thời

là công cụ để thực hiện ý trí của nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát duy trì sự ổnđịnh và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu đã địnhtrước Mặt khác, chúng ta đều đã biết rằng quá trình sản xuất xã hội chỉ có thểdiễn ra được bình thường khi có sự quản lý thường xuyên, liên tục của nhà nước.Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay thì tác động của hoạt động quản lý nhànước đối với quá trình sản xuất xã hội của một quốc gia càng lớn hơn bao giờ hết.Thực tiễn cho thấy, khi hoạt động quản lý nhà nước kém hiệu quả, đặc biệt ởnhững nước xảy ra mất ổn định về chính trị thì ngay lập tức nền kinh tế rơi vào

Trang 21

suy thoái, thậm chí khủng hoảng Với ý nghĩa đó, có thể khẳng định: TSC trongkhu vực HCSN là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội.

1.2 Vai trò và các nguyên tắc cơ bản quản lý tài sản công trong lực lượng công an nhân dân.

1.2.1 Vai trò quản lý Nhà nước đối với tài sản công

- Để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản công của mình, Nhà nước phải pháthuy vai trò quản lý đối với tài sản công để buộc mọi người được giao quyền sửdụng tài sản công phải bảo tồn, phát triển nguồn tài sản công và sử dụng nguồn tàisản công tiết kiệm, có hiệu quả Nhà nước phải thực hiện vai trò kiểm tra kiểm soátquá trình hình thành, sử dụng, khai thác và xử lý các tài sản công, cụ thể là:

+ Nhà nước phải có nguồn tài chính để đầu tư cho việc hình thành và pháttriển tài sản công

+ Người được giao sử dụng tài sản phải làm theo ý chí của người chủ sở hữutài sản công - Nhà nước

+ Nhà nước phải thực hiện kiểm tra, giám sát, thu hồi tài sản sau xử lý

- Để thực hiện vai trò quản lý Nhà nước đối với tài sản công, phải sử dụngcác hình thức phương tiện quản lý sau:

+ Phải xây dựng các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý tài sản:

+ Sử dụng các cơ chế kinh tế để quản lý tài sản

+ Phải phân định rõ phạm vi, nội dung quản lý giữa cơ quan thực hiện sựquản lý Nhà nước với cơ quan trực tiếp quản lý sử dụng tài sản

1.2.2 Nguyên tắc cơ bản quản lý TSC trong lực lượng CAND

1.2.2.1 Quan niệm về quản lý nhà nước đối với tài sản trong Công an nhân

dân

Tài sản công trong Công an nhân dân là những tài sản được Nhà nước giaocho Bộ Công an bằng hiện vật, quyền sử dụng đất, bao gồm cả tài sản viện trợ củacác Chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế, tài sản do tổ chức cá nhân trong vàngoài nước biếu tặng và các tài sản khác được xác lập sở hữu nhà nước hoặc

Trang 22

những tài sản công giao ngân sách để đầu tư, xây dựng mua sắm tài sản, bao gồm

cả nguồn kinh phí do ngân sách địa phương hỗ trợ và nguồn kinh phí do các tổchức trong và ngoài nước tài trợ

Quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt đượcmột mục đích của người quản lý

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lựcNhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duytrì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện nhữngchức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ

tổ quốc XHCN

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước,được sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhànước Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trongquản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

Tóm lại, thì quản lý nhà nước đối với tài sản công là một hệ thống các quanđiểm, chủ trương quản lý tài sản công; là việc sử dụng các công cụ quản lý, cáchthức tổ chức, đưa ra những nguyên tắc, mục tiêu để thực hiện quản lý tài sản côngmột cách tiết kiệm, hiệu quả

Quản lý nhà nước đối với tài sản công trong Công an nhân dân là những tưtưởng chỉ đạo, các phương hướng hành động xuyên suốt quá trình quản lý, sử dụngtài sản công của Bộ Công an từ việc xác định mục tiêu, lựa chọn các giải pháp trên

cơ sở huy động, sử dụng tối ưu các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định

1.2.2.2 Mục tiêu quản lý tài sản công trong Công an dân dân

Cũng như các hoạt động khác, quản lý nhà nước đối với tài sản công trongCông an nhân dân khởi đầu với việc xác định mục tiêu Đó chính là trạng tháimong đợi, cần có của Bộ Công an cũng như Nhà nước trong việc quản lý tài sảncông Các mục tiêu chỉ ra phương hướng, yêu cầu về số lượng, chất lượng cho cáchoạt động quản lý nhà nước đối với tài sản công trong Công an nhân dân nhằmgiải quyết các vấn đề như: đáp ứng tối đa nhiệm vụ an ninh xã hội, sử dụng nguồn

Trang 23

lực tài sản công một cách tiết kiệm, hiệu quả… Những mục tiêu này phải thể hiệnmột cách tập trung những biến đổi về chất và lượng của việc quản lý tài sản côngtrong Công an nhân dân Trong hệ thống mục tiêu có mục tiêu lớn (mục tiêu tổngthể), mục tiêu nhỏ (mục tiêu bộ phận); mục tiêu trung gian, mục tiêu cuối cùng;mục tiêu định tính, mục tiêu định lượng… Do đó, việc chọn đúng hệ thống mụctiêu là vấn đề quan trọng trong quản lý nhà nước đối với tài sản công trong Công

an nhân dân

1.2.2.3 Nhiệm vụ công tác quản lý tài sản công

- Đáp ứng kịp thời các yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dưungj lực lượngCAND chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo đúng chỉ đạo của Đảng Ủy

CA Trung ương và Lãnh đạo Bộ Công an

- Quản lý chặt chẽ các nguồn kinh phí và tài sản, đảm bảo sử dụng tài sảnđúng mục đích, đúng kế hoạch, tiết kiệm và hiệu quả

- Thông qua quá trình phân phối và giám đốc về tài chính, tài sản, góp phầnhoàn thiện qui chế, thúc đẩy hoàn thành tốt chương trình, kế hoạch công tác,nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị cũng như trong toàn lực lượng CAND

1.2.2.4 Nguyên tắc cơ bản trong quản lý tài sản công

- Tuân thủ các qui định, qui chế và quản lý công sản do cơ quan quản lý Nhànước- Bộ Tài Chính và Bộ Công an ban hành

- Quản lý tài sản công phải tập trung, thống nhất tại một đầu mối và là quitrình khép kín từ xây dựng kế hoạch, hình thành, sử dụng, kết thúc

- Phải nắm được thựuc trạng, thực lực, đảm bảo yêu cầu cần, đủ, phục vụcác hoạt động thường xuyên và đột xuất, phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch,đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu và xây dựng lực lượng

1.3 Nội dung quản lý tài sản công trong lực lượng Công an nhân dân

Theo Olga Kaganova and James Mckellar thì: “Quản lý nhà nước đối vớiTSC có thể được định nghĩa là quá trình đưa ra quyết định và thực hiện liên quanđến việc mua, sử dụng và thanh lý tài sản” [71,2]

Trang 24

Xuất phát từ vai trò, chức năng của Nhà nước và đặc điểm của TSC, theoquan điểm của NCS thì: quản lý nhà nước đối với TSC trong khu vực HCSN là sựtác động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước đối với TSC trongkhu vực HCSN nhằm đảm bảo TSC được đầu tư xây dựng mới, mua sắm, quản lý,

sử dụng, xử lý một cách hiệu quả, tiết kiệm

1.3.1 Nội dung quản lý TSC trong khu vực HCSN nói chung, lực lượng CAND nói riêng

Quản lý TSC là thực hiện quản lý quá trình hình thành; khai thác, sử dụng

và quá trình kết thúc tài sản Nội dung cụ thể như sau:

1.3.1.1 Quản lý quá trình hình thành TSC trong khu vực HCSN

Khi cơ quan được thành lập, cùng với quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổchức bộ máy, biên chế cán bộ công chức; cơ quan được cấp một số tài sản gồm:TSLV, PTĐL và các tài sản khác Bên cạnh tài sản được cấp, cơ quan được đầu

tư xây dựng mới, mua sắm tài sản từ nguồn NSNN hoặc các nguồn khác đượcphép sử dụng theo quy định của pháp luật Quá trình này gồm hai giai đoạn: quyếtđịnh chủ trương và thực hiện đầu tư, mua sắm TSC Sau khi có chủ trương; việcđầu tư, mua sắm tài sản được thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư xây dựng

cơ bản và quy định về mua sắm TSC do TTCP quy định Toàn bộ tài sản này đượcquản lý theo quy chế do cơ quan xây dựng trên cơ sở chế độ của Nhà nước quyđịnh và đặc thù hoạt động của cơ quan

Bổ sung tài sản: hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ được giao đơn vị lập kếhoạch bổ sung tài sản; việc bổ sung tài sản hàng năm được thực hiện như sau:Mua sắm từ nguồn NSNN hoặc các nguồn khác được phép sử dụng theo quy địnhcủa pháp luật; tiếp nhận tài sản từ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân khác hoặc thu hồi

từ các dự án đã kết thúc

1.3.1.2 Quản lý quá trình khai thác, sử dụng TSC trong khu vực HCSN

Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hết vai trò của TSC.Quản lý khâu này là thực hiện quản lý TSC theo mục đích, chế độ, tiêu chuẩn,định mức; quản lý quá trình thu hồi, điều chuyển, bán tài sản từ đơn vị này sangđơn vị khác; quản lý việc bảo dưỡng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản nhằm duy

Trang 25

trì hoạt động của TSC, đảm bảo cho việc sử dụng TSC có hiệu quả, tiết kiệm, đápứng được nhu cầu công tác của các CQHC, ĐVSN; nội dung khâu này tập trungvào một số vấn đề sau: (i) giao tài sản cho các đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệmtrực tiếp quản lý, sử dụng (ii) xây dựng và ban hành nội quy, quy chế quản lýTSC (iii) mở sổ sách kế toán theo dõi tình hình biến động của TSC.(iv) thựchiện chế độ kê khai, đăng ký, báo cáo, kiểm kê đột xuất và định kỳ TSC theo quyđịnh của pháp luật (v) kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình quản lý, sử dụngTSC (vi) bảo dưỡng, sửa chữa TSC theo yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm sử dụng.(vii) điều chuyển, bán, chuyển đổi sở hữu TSC.

1.3.1.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng TSC trong khu vực HCSN

TSC trong khu vực HCSN đưa vào sử dụng sau một thời gian nhất định đều

có quá trình kết thúc để thay thế bằng tài sản khác (trừ đất đai và một số côngtrình có tính chất tài sản lâu bền khác) Khi TSC hết thời gian sử dụng, đã haomòn hết hoặc hư hỏng không còn sử dụng được thì phải được tiến hành thanh lý

để thu hồi phần giá trị có thể thu hồi được cho NSNN và đồng thời đó cũng là căn

cứ để chuẩn bị đầu tư, mua sắm tài sản mới

1.3.2 Cơ chế quản lý nhà nước đối với tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp

Cơ chế quản lý kinh tế là phương thức mà Nhà nước sử dụng để tác độngvào nền kinh tế, định hướng nền kinh tế vận động theo các mục tiêu đã xác định

Cơ chế quản lý kinh tế do chủ thể quản lý, thông qua hệ thống tổ chức, bộ máyquản lý đề ra được quy chế hoá theo quy trình ban hành các văn bản quản lý và sửdụng nó để tác động vào đối tượng quản lý là cơ cấu kinh tế, cũng tức là nền sảnxuất xã hội, do đó nó mang tính chủ quan nhưng đòi hỏi phải phù hợp với cácđiều kiện khách quan cụ thể

Từ những phân tích trên đây về khái niệm, bản chất cơ chế, cơ chế quản lýkinh tế; khái niệm, bản chất của TSC trong khu vực HCSN, theo NCS cơ chếquản lý TSC trong khu vực HCSN là một bộ phận của cơ chế quản lý kinh tế baogồm hệ thống các quan điểm, yêu cầu về quản lý; là sự vận dụng những đòi hỏi

Trang 26

NỘI DUNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TSC TRONG KHU VỰC HCSN

Quan ñiểm, chủ trương quản lý TSC trong khu vực HCSN Các mục tiêu Quản lý TSC trong khu vực HCSN Các nguyên tắc quản lý TSC trong khu vực HCSN Các công cụ quản lý TSC trong khu vực HCSN

của các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế xã hội nhằm đưa ra mụctiêu, nguyên tắc, cách thức tổ chức và những điều kiện đảm bảo để thực hiệnquản lý TSC trong khu vực HCSN tiết kiệm, hiệu quả

Từ các khái niệm và quan điểm được phân tích trên đây, theo NCS nội dung

cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN thể hiện qua sơ đồ 1.3:

Sơ đồ 1.3: Nội dung cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN

Trong sơ đồ 1.3 cho thấy, nội dung cơ chế quản lý TSC trong khu vựcHCSN bao gồm:

1.3.2.1 Hệ thống các mục tiêu quản lý TSC trong khu vực HCSN:

Cũng như các hoạt động khác, quản lý nhà nước đối với TSC trong khu vựcHCSN khởi đầu với việc xác định mục tiêu Đó chính là trạng thái mong đợi, cần

có của Nhà nước trong việc quản lý TSC trong khu vực HCSN Các mục tiêu chỉ

ra phương hướng, yêu cầu về số lượng, chất lượng cho các hoạt động quản lý nhànước đối với TSC trong khu vực HCSN nhằm giải quyết những vấn đề như:

nguồn lực đầu tư mua sắm TSC từ NSNN có hạn, song nhu cầu sử dụng TSC củacác CQHC, ĐVSN lại rất lớn Những mục tiêu này phải thể hiện một cách tậptrung những biến đổi về chất và lượng của việc quản lý TSC trong khu vựcHCSN Trong hệ thống mục tiêu có mục tiêu lớn (mục tiêu tổng thể), mục tiêu

Trang 27

nhỏ (mục tiêu bộ phận); mục tiêu trung gian, mục tiêu cuối cùng, mục tiêu địnhtính và mục tiêu định lượng Do đó, việc chọn đúng hệ thống mục tiêu là vấn đềquan trọng trong quản lý nhà nước đối với TSC trong khu vực HCSN.

1.3.2.2 Các nguyên tắc, chuẩn mực quản lý nhà nước đối với TSC trong khu vực HCSN:

Các nguyên tắc, chuẩn mực quản lý nhà nước đối với TSC trong khu vựcHCSN là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các cơ quan quản lýTSC và các CQHC, ĐVSN trực tiếp quản lý tài sản phải tuân theo trong quá trìnhquản lý TSC trong khu vực HCSN Các nguyên tắc, chuẩn mực quản lý nhà nướcđối với TSC trong khu vực HCSN do con người đặt ra nhưng không phải do sự suynghĩ chủ quan mà phải tuân thủ các đòi hỏi khách quan; do vậy, các nguyên tắc,chuẩn mực quản lý phải phù hợp với mục tiêu quản lý, phải phản ánh đúng cáctính chất và quan hệ quản lý và phải đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phảiđược đảm bảo bằng pháp luật

Xuất phát từ 6 nguyên tắc tổ chức và hoạt động chung của mọi Nhà nước: i) Ưu tiên chính trị- nhằm bảo vệ và phát triển quyền lực chính trị và Nhànước, lợi ích của các thế lực nắm giữ quyền lực nhà nước trong xã hội

ii) Huy động được sự tham gia của đông đảo nhân dân vào công việc quản lýcủa Nhà nước

iii) Tập trung dân chủ

iv) Pháp chế xã hội

v) Tiết kiệm, hiệu quả

vi) Kết hợp quản lý ngành và lãnh thổ Quản lý nhà nước đối với TSC trongkhu vực HCSN cần có các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: đòi hỏi việc quản lý TSC trong khu vực

HCSN phải tiến hành đạt kết quả mong muốn với mức chi phí và tổn thất hợp lýnhất trong phạm vi có thể Tiết kiệm, hiệu quả phải đạt được sự thống nhất của 2yêu cầu:

Trang 28

+ Kinh tế: đòi hỏi việc đầu tư, mua sắm tài sản đầu vào cho các CQHC,ĐVSN phải có chất lượng, với mức giá thấp nhất và được cung ứng kịp thời nhất.+ Hiệu quả: đòi hỏi số lượng và chất lượng thu được của việc quản lý TSCtrong khu vực HCSN phải lớn nhất trong khả năng có thể so với chi phí và tổnthất bỏ ra.

Nguyên tắc pháp chế xã hội: đòi hỏi tổ chức quản lý TSC trong khu vực

HCSN phải dựa trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước

Nguyên tắc công khai, minh bạch: đây là yêu cầu chính đáng của dân chúng

và các cơ quan quản lý TSC đòi hỏi cho biết các CQHC, ĐVSN và các tổ chứcđầu tư mua sắm TSC như thế nào? Hiệu quả sử dụng ra sao? Ai là người chịutrách nhiệm về những vấn đề đó?

Nguyên tắc tập trung dân chủ (phân cấp quản lý): đòi hỏi sự phân cấp phải

đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa các chủ thể tham gia vào việc quản lýTSC trong khu vực HCSN theo đó: CP thống nhất quản lý nhà nước về TSCtrong khu vực HCSN (thông qua luật pháp, chiến lược và các công cụ điều tiết vĩ

mô khác) Sử dụng phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệmcủa các Bộ, ngành, UBND các cấp, các CQHC, ĐVSN và các tổ chức trong việcquản lý TSC (thông qua các hình thức uỷ quyền và trao quyền)

1.3.2.3 Các công cụ quản lý TSC trong khu vực HCSN

Để đạt được các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp,khích lệ, động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vàomục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụquản lý.“Công cụ quản lý là những phương tiện, những giải pháp của chủ thểquản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hoà, phối hợp hoạt động của conngười và cộng đồng người trong việc đạt được mục tiêu quản lý đề ra” [45;20]

Trang 29

Giữa chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu cần đạt được có mốiquan hệ chặt chẽ thể hiện qua sơ đồ 1.5.

Đối tượng quản lý TSC trong khu vực HCSN đa dạng, phong phú, nên đểđạt được mục tiêu quản lý đòi hỏi Nhà nước phải có hệ thống các công cụ quản lýthích hợp gồm:

- Công cụ tổ chức - hành chính:

Các hình thức tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức quản lý TSCtrong khu vực HCSN: tổ chức bộ máy quản lý TSC trong khu vực HCSN đều thựchiện theo mô hình phân cấp quản lý hành chính nhà nước từ trung ương đến địaphương:

+ Nhà nước (trung ương) là chủ thể quản lý nhà nước đối với việc quản lýTSC trong khu vực HCSN, là cơ quan đại diện quyền sở hữu, có trách nhiệm caonhất đối với việc quản lý TSC trong khu vực HCSN

+ Các cơ quan chức năng quản lý nhà nước TSC đối với trong khu vựcHCSN bao gồm:

Các Bộ ngành chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với TSC trong khuvực HCSN theo uỷ quyền của CP như: BTC, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xâydựng

Các Bộ, ngành khác ở trung ương và UBND các cấp chịu trách nhiệm quản

lý TSC trong khu vực HCSN thuộc phạm vi quản lý

Các CQHC, ĐVSN trực tiếp quản lý, sử dụng TSC trong khu vực HCSN

Trang 30

- Công cụ kinh tế: gồm hệ thống quy hoạch và các đòn bẩy kinh tế như

ngân sách, đầu tư, định giá v.v

- Công cụ thông tin, tuyên truyền, giáo dục: là hệ thống thông tin về TSC

trong khu vực HCSN, hệ thống đào tạo tập huấn cho các cán bộ công chức làmcông tác quản lý TSC; hệ thống thông tuyền truyền cho các đối tượng trực tiếpquản lý, sử dụng TSC trong khu vực HCSN

- Công cụ đặc thù theo từng lĩnh vực: công cụ kỹ thuật, nghiệp vụ đặc trưng

cho lĩnh vực quản lý: ví dụ như quản lý TSLV gồm: đo đạc, lập bản đồ địa chính,quy hoạch thiết kế, tiêu chuẩn xây dựng

- Công cụ khác: thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ quản lý

TSC và hệ thống các chế tài xử lý vi phạm chế độ quản lý TSC trong khu vựcHCSN

1.3.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý tài sản công trong lực lượng CAND

- Theo Quyết định số 600/QĐ-BCA(X11) ngày 20/5/2005 của Bộ trưởng BộCông an thì Cục Kế hoạch và đầu tư (H31) trực thuộc Tổng cục Hậu cần là đơn vịngành dọc cao nhất của Tổng cục Hậu cần chịu trách nhiệm tổ chức quản lý tài sảncông được Bộ giao cho Tổng cục Phạm vi quản lý được tiến hành trên toàn quốc,dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục Hậu cần và cơ quan quản lý Nhà nước vềtài sản công là V22 (Vụ Tài Chính).Trên cơ sở Quyết định số 600/QĐ-BCA(X11),Tổng cục Hậu cần đã ra quyết định số 116/2006/QĐ-H11 ngày 23/1/2006 giao choPhòng Kế toán tài vụ và Quản lý tài sản là đơn vị nghiệp vụ chuyên trách làm côngtác quản lý tài sản công

Trang 31

- Quyết định số 4047/QĐ-BCA ngày 11/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Công anqui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Hậucần – Kỹ thuật, trong đó Phòng Kế toán tài vụ và Quản lý công sản (H55) trựctiếp trực thuộc Tổng cục, lúc này Phòng được tách ra khỏi Cục kế hoạch đầu tư(H31 nay là H43).

Đến ngày 05/01/2010, Bộ trưởng Bộ Công an đã ra quyết định số BCA qui định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phòng Kếtoán –Tài vụ và quản lý công sản, trong đó Phòng được phân chia thành các 04Đội Đội Quản lý công sản thuộc Phòng Kế toán tài vụ và Quản lý công sản đượcthành lập theo quyết định số 4274/QĐ-H41 ngày 13/08/2010 Đội có nhiệm vụ:

52/QĐ Giúp Trưởng phòng tham mưu cho Lãnh đạo Tổng cục xây dựng hệ thốngvăn bản pháp qui về quản lý tài sản công đối với lực lượng CAND

- Giúp Trưởng phòng tập hợp tài liệu, thực hiện công tác thống kê, hươngdẫn kiểm kê, tổng hợp, theo dõi quản lý toàn bộ tài sản công trong CAND và đềxuất phương án xử lý, điều chuyển, thanh lý tài sản theo qui định của Nhà nước và

Trang 32

1.4.1 Nhóm các nhân tố từ hệ thống cơ chế quản lý TSC trong lực lượng Công an nhân dân

Sự phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ,

quản lý TSC trong khu vực HCSN nói chung, lực lượng CAND nói riêng với thựctế:

Trong hệ thống cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN thì các yếu tốpháp luật (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ, quản lý TSCtrong khu vực HCSN) phản ánh hiệu lực, hiệu quả quản lý thường rõ nét nhất.Trong điều kiện chuyển cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN từ cơ chế quản

lý tập trung quan liêu bao cấp sang quản lý theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu có một hệ thống chính sách,chế độ, quản lý TSC trong khu vực HCSN hợp lý, sát với thực tiễn sẽ là tiền đềthuận lợi để quản lý TSC trong khu vực HCSN hiệu quả, tiết kiệm, đồng thời hạnchế đến mức thấp nhất hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí, thất thoát TSCđang xảy ra phổ biến trong xã hội Mặt khác quá trình quản lý TSC trong khu vựcHCSN nói chung, lực lượng công an nói riêng thu được hiệu quả nhiều hay ítcũng phần lớn phụ thuộc vào tính hợp lý, thông thoáng của chính sách Ngược lạitính không đồng bộ, thiếu nhất quán sẽ gây cản trở rất lớn đến hiệu lực và hiệuquả cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN Vì vậy việc hoạch định các chínhsách quản lý TSC trong khu vực HCSN nói chung, lực lượng công an nói riêngphải được tiến hành một cách thận trọng, kịp thời với chất lượng cao để soạn thảo

ra các chính sách sát với thực tế, sớm đi vào đời sống xã hội phục vụ tốt nhất quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Năng lực của cán bộ công chức làm công tác quản lý TSC trong khu vựcHCSN nói chung, lực lượng công an nói riêng: cơ chế quản lý TSC trong khu vựcHCSN do đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý TSC hoạch định vàthực thi Do đó hiệu lực, hiệu quả cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN nói

Trang 33

chung, lực lượng công an nói riêng phụ thuộc vào năng lực của cán bộ, công chứclàm công tác quản lý TSC trong khu vực HCSN trong việc thực hiện đúng vai trò,chức năng trong xây dựng, vận hành và chấp hành đúng cơ chế quản lý Cán bộ,công chức làm công tác quản lý TSC có nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quantrọng của TSC trong khu vực HCSN, có trình độ chuyên môn chắc, có phẩm chấtđạo đức tốt (có tâm và có tầm) sẽ giúp cho quá trình quản lý TSC trong khu vựcHCSN nói chung, lực lượng công an nói riêng thu được hiệu quả.

1.4.2 Nhóm các nhân tố từ đối tượng quản lý

Đối tượng của hệ thống quản lý TSC trong khu vực HCSN nói chung, lựclượng công an nói riêng đó là các CQHC, ĐVSN và các cán bộ công chức trựctiếp quản lý, sử dụng tài sản Đây là một hệ thống cực kỳ phức tạp với trình độ,năng lực, phẩm chất, nhu cầu và cách ứng xử khác nhau và do đó các phản ứngvới các quyết định quản lý TSC trong khu vực HCSN cũng rất khác nhau Trình

độ dân trí, trình độ văn hoá, hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức trực tiếpquản lý, sử dụng tài sản cũng quyết định tới hành vi ứng xử đối với các quyếtđịnh quản lý Nếu ý thức tuân thủ pháp luật và chính sách của cán bộ công chứctrực tiếp quản lý, sử dụng tài sản được nâng cao thì sẽ góp phần nâng cao hiệu lực

và hiệu quả cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN nói chung, lực lượng công

an nói riêng Tuy nhiên, trình độ văn hoá theo nghĩa rộng nhất là văn hoá phápluật không phải tự nhiên mà có; nó bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, sự phấnđấu rèn luyện của mỗi người và không thể thiếu sự thuyết phục, giáo dục quản lýcủa hệ thống chính trị trong đó có nhà nước

1.4.3 Nhóm các nhân tố khách quan nằm ngoài hai nhóm nhân tố nêu trên: đó là những yếu tố bất thường như thiên tai, định họa hoặc các nhân tố quốc

tế

Trong thực tế, nền kinh tế luôn luôn biến động và chịu tác động của rấtnhiều các nhân tố khác quan nằm ngoài ý muốn của chủ thể quản lý Trong điều

Ngày đăng: 21/08/2017, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w