1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn giai đoạn 2016 2020”

52 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 293 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tài chính công như sau Tài chính công là toàn bộ các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ t

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lý do xây dựng đề án

Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng và đưa nhân dân ta, đất nước ta vượt qua muôn trùng khó khăn gian khổ, đi tới mục tiêu độc lập, thống nhất, dân giàu nuớc mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội trước hết bằng đường lối chính trị đúng đắn, sáng tạo, bằng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tổ chức thực tiễn và đội ngũ cán bộ, đảng viên kiên cường trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi cả nước Để làm được sự nghiệp lịch sử vĩ đại đó, Đảng phải có những điều kiện, phương tiện cần thiết để triển khai các hoạt động của mình Một trong những phương tiện không thể thiếu là tài chính.

Trải qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, công tác tài chính nói chung và quản lý tài chính của Đảng nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần tích cực vào sự lãnh đạo xây dựng Đảng vững mạnh đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đối với Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn trong những năm qua, công tác quản lý tài chính đảng đã có nhiều cố gắng để phục vụ tốt hoạt động của cấp ủy Việc quản lý, sử dụng tài chính từng bước đi vào nền nếp, kỷ cương, kỷ luật, góp phần làm giảm đáng kể tình trạng lãng phí, thất thoát tài chính của Đảng

Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính trong giai đoạn hiện nay chưa

ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới Chất lượng lập dự toán ở một số đơn vị chưa đạt yêu cầu, việc xác định tiêu chí làm căn cứ lập dự toán chưa chính xác, công tác thẩm định dự toán của cơ quan tài chính cấp ủy chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến tình trạng giao dự

Trang 2

toán chưa phù hợp với thực tế, cụ thể: có đơn vị không đủ kinh phí để triển khai thực hiện nhiệm vụ, ngược lại có đơn vị lại không sử dụng hết kinh phí được giao do có một số nội dung chi chưa được quan tâm triển khai thực hiện tốt

Vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý tài chính của Ban Tổ chức Tỉnh ủy hiện nay cần phải khắc phục những tồn tại, thiếu sót nêu trên, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động tài chính; đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công tác quản lý và ngày càng phục vụ tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng mặt khác cần nâng cao hơn nữa nhận thức về công tác quản lý tài chính trong tổ chức Đảng đối với cán bộ, đảng viên và người đứng đầu cấp ủy Đảng

Bằng những kiến thức nghiên cứu tại nhà trường qua gần hai năm học tại Học viện chính trị khu vực I, với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy

Lạng Sơn, học viên mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020” làm đề án

tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị của mình.

2 Mục tiêu của đề án

2.1 Mục tiêu chung:

Mục tiêu của đề án là thông qua xác lập căn cứ khoa học và hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về quản lý tài chính, hiệu quả công tác quản lý tài chính tại Ban Tổ chức tỉnh ủy; đồng thời trên cơ sở khung lý thuyết đó phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính và hiệu quả công tác quản lý tài chính ở Ban Tổ chức tỉnh ủy; Từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính ở Ban Tổ chức tỉnh ủy được thực hiện đúng mục tiêu, bảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong thời gian tới.

Trang 3

2.2 Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu quản lý nói chung, mục tiêu quản lý tài chính và nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính trong cơ quan đảng nói riêng là cái đích phải đạt tới của quá trình quản lý, nó định hướng và chi phối sự vận động của toàn bộ hệ thống quản lý Xác định mục tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý tài chính, nếu xác định sai mục tiêu, dù có đạt được mục tiêu thì toàn bộ hệ thống cũng không thể phát triển được Có nhiều mục tiêu trong quá trình quản lý tuỳ thuộc vào các cấp uỷ với mức độ khác nhau

và khoảng thời gian khác nhau, nhưng về cơ bản có thể gồm những mục tiêu chính sau:

a Đảm bảo kinh phí hoạt động của cấp uỷ có hiệu quả, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị

Hoạt động tài chính của Đảng thực chất là các hoạt động đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện cho bộ máy tổ chức và con người nhằm phục

vụ cho hoạt động chính trị của các cấp uỷ đảng từ Trung ương tới địa phương;

cụ thể ở Ban Tổ chức tỉnh ủy là bảo đảm hậu cần cho hoạt động của cấp ủy và đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện cho bộ máy tổ chức và con người của cơ quan Ban Tổ chức Tỉnh uỷ

b Sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả

Đây là mục tiêu mà hệ thống quản lý nào cũng cần phải hướng tới, đặc biệt là đối với quản lý tài chính của Đảng; các cấp uỷ Đảng vừa là người lãnh đạo chính quyền thì bản thân phải khẳng định được tính ưu việt, tính khoa học của đường lối, chính sách mà Đảng đề ra, kiểm chứng từ thực nghiệm ngay trong chính bản thân tổ chức đảng, thông qua các chỉ tiêu tiết kiệm, hiệu quả.

Nhà nước; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cấp uỷ đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí …

Trang 4

c Tạo điều kiện nâng cao đời sống cán bộ, công chức, người lao động

Trong quản lý, vấn đề lợi ích kinh tế phải đặt ra ngay từ khi xác định mục tiêu Nếu xét trên góc độ kinh tế thì mục tiêu nâng cao đời sống cán bộ, công chức, người lao động trong cơ quan là kết qủa tất yếu của mục tiêu tiết kiệm, hiệu quả Thực hiện mục tiêu này góp phần củng cố, động viên người lao động trong cơ quan phấn đấu, nhiệt huyết hơn trong công việc Một thực

tế hiện nay là, khi mà nền kinh tế phát triển mạnh mẽ theo cơ chế thị trường,

cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động dễ dàng hơn, thu nhập cũng cao hơn; nếu không có chế độ đãi ngộ tốt thì các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như các cơ quan Đảng sẽ không thu hút được những người tài giỏi vào làm việc hoặc có tình trạng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư.

Và như vậy, các cơ quan Đảng sẽ thiếu đi một lực lượng lao động có trí tuệ cao - một trong những sức mạnh của Đảng.

Hướng tới khắc phục về sự mất cân đối các khoản chi công tác đào tạo bồi dưỡng Khắc phục những tồn tại, yếu kém, những khó khăn, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện công tác quản lý giai đoạn 2016-2020.

3 Giới hạn của đề án

- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý tài chính và hiệu quả quản lý tài

chính tại Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Tại Ban Tổ chức tỉnh ủy và các Trung tâm bồi dưỡng

Chính trị, Trường Chính trị Hoàng Văn thụ tỉnh Lạng Sơn.

+ Về thời gian: Đề án được thực hiện trong giai đoạn 2016-2020.

Trang 5

B NỘI DUNG

1 Cơ sở xây dựng đề án

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm tài chính và tài chính đảng

Theo Luật NSNN năm 2002, "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của

Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".

Tài chính cũng như mọi đối tượng nghiên cứu khác, có hình thức biểu hiện bên ngoài (hiện tượng) và nội dung bên trong (bản chất) của nó.

Biểu hiện bề ngoài của tài chính thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền của các chủ thể kinh tế-xã hội như: dân cư, doanh nghiệp nộp thuế bằng tiền cho Nhà nước; các doanh nghiệp sử dụng vốn điều lệ để mua sắm vật tư; các ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn; Nhà nước cấp phát tiền từ Ngân sách Nhà nước tài trợ cho việc xây dựng đường giao thông, trường học … Tài chính tượng trưng cho các nguồn tài chính, các quỹ tiện tệ - mặt biểu hiện bên ngoài “vỏ vật chất” của các quan hệ kinh tế.

Tài chính phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị (gọi tắt là các quan hệ phân phối) Là một bộ phận của các quan hệ phân phối của xã hội Bản chất của tài chính là các quan

hệ phân phối sản phẩm xã hội, quan hệ này chịu sự ràng buộc bởi bản chất của quan hệ sản xuất xã hội mà đặc trưng cơ bản là quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất.

Trang 6

Có thể khái niệm tổng quát về tài chính như sau:

Tài chính là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xă hội phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.

Trong khái niệm trên ta thấy tài chính có nội dung vật chất là nguồn tài chính và quỹ tiền tệ:

- Nguồn tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình.

Nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng tiền (tiền vốn, vốn điều lệ, vốn ngân sách, … hoặc tài sản vật chất và phi vật chất) Sự vận động của các nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ) Nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng sức mua nhất định Trong nền kinh tế thị trường mỗi chủ thể trong xã hội khi nắm trong tay những nguồn tài chính nhất định là đã nắm trong tay một sức mua

để có thể nắm được những nguồn vật lực hay sử dụng được những nguồn nhân lực nhất định phục vụ cho mục đích tích luỹ hay tiêu dùng của mình Kết quả của quá trình phân phối các nguồn lực tài chính là sự hình thành và

Trang 7

loại quỹ tiền tệ đặc biệt của doanh nghiệp để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh …Ngoài ra quỹ tiền tệ đều vận động thường xuyên, tức là chúng luôn luôn được bổ sung (tạo lập) và được sử dụng.

Việc xác định đúng đắn quan niệm về tài chính và bản chất tài chính có

ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Điều đó tạo cơ sở cho việc vận dụng các quan hệ tài chính tồn tại khách quan để quyết định chính xác các quyết định tài chính, đồng thời thông qua các chính sách tài chính để tổ chức các quan hệ tài chính nhằm sử dụng tài chính tác động tích cực tới các hoạt động và các hoạt động kinh tế-xã hội theo phương hướng đã xác định.

1.1.1.1 Khái niệm tài chính công

Tài chính công là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu của Chính phủ Để xác định được khái niệm tài chính công, có thể dựa vào ba tiêu chí sau:

- Về mặt sở hữu: Tài chính công là loại hình tài chính thuộc sở hữu nhà nước;

- Về tính chất: Tài chính công phục vụ cho các lợi ích chung, lợi ích công cộng;

- Về mục đích: Hoạt động của tài chính công không nhằm mục đích thu lợi nhuận

Các nguồn tài chính tương ứng với các quỹ tiền tệ đảm bảo đồng bộ ba tiêu chí trên được coi là tài chính công Do đó có thể hình dung:

- Về hình thức: Tài chính công phản ánh hệ thống các quỹ tiền tệ thuộc

sở hữu công, được sử dụng vì lợi ích chung và được điều chỉn bởi luật công;

- Về nội dung: Tài chính công phản ánh quá trình hình thành và sử dụng hệ thống các quỹ tiền tệ thông qua quá trình phân phối và phân phối lại của cải xã hội dưới dạng giá trị;

- Về bản chất: có thể thấy rằng:

Trang 8

+ Tài chính công phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng, không bị chi phối bởi các lợi ích cá biệt nào;

+ Tài chính công mang tính chính trị rõ rệt;

+ Tài chính công mang tính lịch sử;

+ Tài chính công không được bồi hoàn trực tiếp;

+ Việc phân phối và phân bổ các nguồn lực tài chính công không chỉ liên quan đến lợi ích của người đóng góp và người được huởng thụ mà con tác động sâu sắc đến các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại.

Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tài chính công như sau

Tài chính công là toàn bộ các hoạt động thu, chi bằng tiền do Nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ công nhằm phục vụ và thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với việc đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn

xã hội.

1.1.1.2- Tài chính Đảng

- Ngân sách khối đảng là 1 bộ phận của NSNN Tài chính trong tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng thuộc lĩnh vực tài chính công đặc thù vừa thực hiện theo Luật ngân sách Nhà nước và vừa thực hiện theo Điều

lệ Đảng Do vậy ta có thể hiểu Tài chính trong tổ chức Đảng là các hoạt

động thu, chi tiền tệ của tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị của Đảng Phản ánh tổng hợp mối quan hệ kinh tế giữa đại diện tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị (do

chủ tài khoản hoặc uỷ quyền chủ tài khoản làm đại diện) với các tổ chức, cá

nhân trong và ngoài tổ chức, cơ quan, đơn vị trong việc thu, chi quỹ ngân sách nhằm đảm bảo hoạt động của các cấp uỷ Đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc, các đơn vị sự nghiệp của Đảng.

Trang 9

Các hoạt động thu được thể hiện như: Thu kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước, từ đảng phí đảng viên đóng góp theo Điều lệ Đảng, thu từ hoạt động sự nghiệp của Đảng, các doanh nghiệp của Đảng, thu thanh lý tài sản, …

Các hoạt động chi được thể hiện như: Chi cho con người, chi cho các hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, xây dựng và triển khai nghị quyết, tuyên truyền, chính sách cán bộ, khen thưởng …

Tài chính trong tổ chức Đảng phản ánh quan hệ giữa cơ quan tài chính của các cấp ủy Đảng với cơ quan tài chính của chính quyền cùng cấp trong việc đảm bảo kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước; Quan hệ giữa tổ chức, cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí với các cá nhân trong và ngoài tổ chức, cơ quan, đơn vị.

1.1.2 Đặc điểm ngân sách khối Đảng

Luôn gắn liền với việc thực hiện các chức năng nhiều mặt của Đảng, hoạt động của tài chính trong tổ chức Đảng cũng rất đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội và tác động đến mọi chủ thể trong xã hội Chính nét đặc thù đó là nhân tố có ảnh hưởng quyết định tới các đặc điểm của tài chính trong tổ chức Đảng Có thể khái quát đặc điểm của tài chính trong tổ chức Đảng trên các khía cạnh sau đây:

- Về sở hữu: Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ tài chính trong tổ chức

Đảng thuộc sở hữu công cộng Việc sử dụng các quỹ tiền tệ trong tổ chức Đảng luôn luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại và phát huy hiệu lực của bộ máy Nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ kinh tế

- xã hội mà Nhà nước đảm nhận.

- Về mục đích: Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ tài chính trong tổ

chức Đảng được sử dụng vì lợi ích chung của toàn xã hội, của toàn quốc, của

Trang 10

cả cộng đồng, vì các mục tiêu kinh tế vĩ mô, không vì mục tiêu lợi nhuận.

- Về chủ thể: Các hoạt động thu, chi bằng tiền trong tài chính của tổ

chức Đảng do tổ chức Đảng tiến hành

- Về mặt pháp luật: Các quan hệ tài chính trong tổ chức Đảng chịu sự

điều chỉnh bởi các “luật công”, dựa trên các quy phạm pháp luật mệnh lệnh quyền uy

-Tài chính Đảng là một bộ phận của quản lý trong hệ thống các cơ quan Đảng Vì vậy ngoài việc thực hiện theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật NSNN, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng phải thực hiện nghiêm chỉnh cơ chế quản lý tài chính của Đảng Đây chính là cơ sở pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của các cơ quan Đảng Những cơ chế chính sách đặc thù này được xây dựng dựa trên quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách quản lý tài chính trong từng giai đoạn cụ thể, đồng thời phù hợp với chính sách, pháp luật về tài chính của Nhà nước.

Cơ chế này là tiền đề để các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng xây

dựng mô hình quản lý tài chính ở đơn vị mình, từ việc xây dựng các tiêu

chuẩn, định mức quy trình ngân sách, kiểm tra, kiểm soát đến quyết toán kinh phí nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý tài chính của Đảng Vì vậy, cơ chế quản lý tài chính Đảng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý tài chính ở các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng Nếu cơ chế quản lý tài chính Đảng phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Ngược lại nó sẽ trở thành rào cản, cản trở quá trình tạo lập và sử dụng nguồn lực tài chính, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị Chính vì vậy, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính Đảng là vấn đề cần thiết phải có sự quan tâm sát sao của Đảng.

1.1.3 Quản lý tài chính đảng:

Trang 11

1.1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính Đảng:

Trong quản lý, các vấn đề về: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công

cụ quản lý và phýõng pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn Quản lý tài chính đảng là một nội dung của quản lý tài chính và là một mặt của quản lý xã hội nói chung, do đó các vấn đề nêu trên phải được nhận thức đầy đủ.

Trong hoạt động tài chính Đảng, chủ thể quản lý là các cấp uỷ, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng Chủ thể quản lý trực tiếp là bộ máy tài chính của cấp uỷ các cấp, của các cơ quan, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức đảng các cấp.

Đối tượng quản lý của tài chính Đảng là các hoạt động thu, chi bằng tiền; hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ của Đảng.

Trong quá trình quản lý tài chính Đảng, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp và công cụ quản lý khác nhau; mỗi phương pháp, công cụ có đặc điểm khác nhau nhưng chúng đều có tác dụng thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính Đảng.

Như vậy, Quản lý tài chính Đảng là hoạt động của các cấp uỷ, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động tài chính Đảng nhằm đạt mục tiêu đã định.

1.1.3.2 Đặc điểm cơ bản của quản lý tài chính Đảng

Những đặc điểm cơ bản của tài chính Đảng:

- Về mặt chủ thể:

Chủ thể quản lý tài chính Đảng gồm:

+ Cấp ủy đảng từ Trung ương tới địa phương (trung ương Đảng; tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương; huyện, thị, thành, quận ủy và tương đương; đảng ủy xã, phường, thị trấn và tương đương);

Trang 12

+ Các ban, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy đảng; các đơn vị

sự nghiệp, doanh nghiệp của các cấp ủy đảng.

- Về mặt sở hữu: Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ của Đảng quản lý

thuộc sở hữu của Đảng do Đảng quyết định theo cơ chế tài chính Đảng.

- Về đối tượng quản lý: Tổ chức đảng các cấp địa phương vừa là chủ

thể quản lý vừa là đối tượng quản lý của cấp ủy cấp trên; tổ chức đảng vừa là người lãnh đạo nhà nước cùng cấp nhưng đồng thời lại là người sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước.

- Về mặt mục đích: Các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ của Đảng sử

dụng nhằm phục vụ hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam - Chính Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và nhân dân Việt Nam Việc sử dụng quỹ ngân sách Đảng luôn gắn liền với việc duy trì sự tồn tại và phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Đảng trong việc lãnh đạo chính quyền các cấp và nhân dân hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của các cấp địa phương trong từng giai đoạn lịch sử.

- Về mặt pháp luật: Các quan hệ tài chính Đảng chịu sự điều chỉnh bởi

Luật ngân sách, các văn bản về chế độ, chính sách của Nhà nước; Điều lệ Đảng, các văn bản chế độ, chính sách của Đảng.

- Về phương pháp quản lý và công cụ quản lý: Ngoài phương pháp tổ

chức - hành chính, phương pháp kinh tế, trong quản lý tài chính Đảng luôn quan tâm đến phương pháp tâm lý, giáo dục để tuyên truyền, động viên mọi

cá nhân và tổ chức thực hiện và gương mẫu thực hiện có hiệu quả thể hiện ở trách nhiệm đảng viên và tổ chức đảng Trong quản lý tài chính Đảng ngoài việc thực hiện theo các quy định, luật pháp của Nhà nước, hoạt động quản lý tài chính Đảng phải thực hiện theo Điều lệ Đảng Trung ương Đảng quy định

về cơ chế quản lý, về chế độ chính sách tài chính để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng như: Có một số cơ chế quản lý đặc thù riêng; một số tài

Trang 13

khoản kế toán và biểu mẫu, chứng từ đặc thù; các cấp ủy phải chịu sự kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra của cấp ủy cấp trên và cấp ủy cùng cấp vv…

1.1.3.3 Vai trò của quản lý tài chính Đảng

Như chúng ta đã biết, quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động, quản lý tài chính Đảng là một dạng quản lý chuyên ngành về lĩnh vực tài chính trong phạm vi tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam - Chính đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước Việt Nam; chính vì vậy quản lý tài chính trong tổ chức Đảng vừa phải đảm bảo được các điều kiện thuận lợi nhất cho các cấp uỷ đảng hoạt động nhưng lại vừa phải tuân thủ các quy định của Luật pháp Nhà nước Đối với tổ chức Đảng bộ máy quản lý được phân cấp thành Trung ương Đảng, cấp uỷ đảng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cấp uỷ đảng các huyện, thị, thành phố trực thuộc Trung ương, cấp uỷ đảng cơ sở, đảng bộ bộ phận, chi bộ trực thuộc Quản lý tài chính Đảng có những vai trò cụ thể như sau:

- Quản lý tài chính Đảng nhằm tạo sự thống nhất các hoạt động tài chính trong toàn Đảng, bao gồm các cá nhân, cơ quan, đơn vị trong tổ chức đảng các cấp, giữa người bị quản lý với nhau và giữa những người quản lý và người bị quản lý Chỉ có sự thống nhất trong đa dạng thì quản lý tài chính mới

có kết quả và mới giảm được chi phí tiền của và công sức cho quản lý

- Quản lý tài chính Đảng nhằm định hướng các hoạt động tài chính trên

cơ sở xác định mục tiêu tài chính và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung đó.

- Quản lý tài chính Đảng nhằm tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động tài chính của các cá nhân, cơ quan, đơn vị trong tổ chức đảng; đồng thời giảm thiểu được sự bất ổn định nhằm đạt mục tiêu chính trị đã đề ra với hiệu quả tốt nhất.

Trang 14

- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng những người có công; uốn nắn những lệch lạc, sai sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý

- Tăng năng lực kinh doanh của các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp của Đảng Các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp của Đảng được thành lập chủ yếu hoạt động các ngành nghề như: in ấn, phát hành các ấn phẩm của Đảng, để phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng của Đảng tới các tổ chức, đảng viên và quần chúng nhân dân; hoặc các hoạt động phục vụ đối ngoại như đón tiếp khách đến thăm và làm việc, vv….

1.1.4 Nội dung quản lý tài chính Đảng

Quản lý tài chính trong các cơ quan của đảng được tiến hành bắt đầu từ việc quản lý việc lập dự toán thu chi tài chính sau đó là quản lý việc chấp hành dự toán cuối cùng là việc quyết toán thu chi tài chính.

1.1.4.1 Lập dự toán thu chi tài chính: Là khâu mở đầu quan trọng

mang ý nghĩa quyết định đến toán bộ quá trình quản lý tài chính trong tổ chức Bởi nó là cơ sở thực hiện và dẫn dắt toàn bộ quá trình thực hiện quản lý tài chính sau này của đơn vị.

- Căn cứ lập dự toán: Tình hình thực hiện dự toán năm trước, nhiệm vụ chính trị và các chủ trương định hướng về công tác tài chính cấp uỷ đảng; các văn bản hướng dẫn của cơ quan tài chính nhà nước hoặc cơ quan tài chính đảng hướng dẫn các đơn vị dự toán trực thuộc; chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách của Đảng và Nhà nước; các chỉ tiêu về bộ máy, biên chế của các cơ quan đảng.

- Trình tự lập dự toán: Hằng năm, các đơn vị trên cơ sở các căn cứ lập

dự toán, xây dựng dự toán thu, chi ngân sách của đơn vị mình Dự toán thu, chi ngân sách của đơn vị phải bảo đảm đúng nội dung, chi tiết theo mục lục

Trang 15

ngân sách, có thuyết minh và căn cứ tính toán từng chỉ tiêu gửi cơ quan quản

lý cấp trên.

- Giao dự toán ngân sách: Dự toán ngân sách được giao theo đúng thẩm quyền quy định tại Luật ngân sách Nhà nước và cơ chế tài chính của Đảng Sau khi dự toán ngân sách được giao, các đơn vị lập kế hoạch chi hàng quý có chi tiết theo tháng và phù hợp với tổng dự toán được giao gửi các cơ quan chức năng để kiểm soát.

- Điều chỉnh và bổ sung ngân sách: Trong quá trình thực hiện, nếu có những yêu cầu phát sinh làm thay đổi cơ cấu chi ngân sách hoặc tăng chi ngân sách thì việc thực hiện điều chỉnh hoặc bổ sung phải lập trình tự dự toán bổ sung theo đúng trình tự như lập dự toán ban đầu.

1.1.4.2 Chấp hành ngân sách: Là quá trình sử dụng tổng hợp các biện

pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong

kế hoạch ngân sách năm trở thành hiện thực; các yêu cầu của chấp hành ngân sách là:

- Thu đúng, thu đủ, kịp thời các khoản thu từ ngân sách nhà nước và từ các nguồn thu nội bộ.

- Thực hiện chi ngân sách:

+ Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách, căn cứ vào dự toán năm được giao và dự toán thu, chi quý được cơ quan tài chính đảng phê duyệt; quyết định chi theo từng nhiệm vụ cụ thể, gửi Kho bạc nhà nước nơi giao dịch để thực hiện.

+ Kiểm soát trong quá trình chi ngân sách: Các đơn vị sử dụng ngân sách, Kho bạc nhà nước thực hiện yêu cầu chi của Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách theo quy định của Đảng và nhà nước.

1.1.4.3 Quyết toán ngân sách: Đây là khâu cuối cùng trong quy trình

quản lý tài chính Cuối quý, cuối năm các đơn vị phải tiến hành khoá sổ và

Trang 16

lập báo cáo kế toán, báo cáo quyết toán thu chi tài chính về tình hình sử dụng nguồn tài chính để gửi đến các cơ quan chức năng theo quy định Báo cáo quyết toán ngân sách của tổ chức phản ánh tổng hợp tính hình tài sản, thu chi

và kết quả sử dụng nguồn lực tài chính tại tổ chức nhằm cung cấp thông tin tài chính của đơn vị giúp cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị.

1.1.4.4 Quản lý tài chính tại Ban Tổ chức tỉnh Ủy

Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thường trực Tỉnh ủy giao cho cơ quan Ban

Tổ chức Tỉnh ủy thực hiện chức năng cơ quan quản lý kinh phí đào tạo Cơ quan Ban Tổ chức Tỉnh ủy là đơn vị dự toán cấp II , trực tiếp quản lý kinh phí đào tạo, bồi dưỡng Các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng: Trường Chính trị Hoàng Văn Thụ tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành ủy Với quy định trên, công tác quản lý tài chính ở Ban Tổ chức Tỉnh ủy được cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Công tác quản lý tài chính ở Ban Tổ chức Tỉnh uỷ.

+ Xây dựng dự toán ngân sách hằng năm gửi về phòng tài chính đảng Văn phòng Tỉnh ủy.

+ Ban hành quy chế chi tiêu nội bộ; Quy chế quản lý tài sản ở cơ quan, đơn vị mình Tổ chức thực hiện theo đúng dự toán đã được phê duyệt, đúng quy chế chi tiêu nội bộ đã đề ra và đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi.

+ Quản lý ngân sách Đảng tỉnh và chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn

về chuyên môn nghiệp vụ của Văn Phòng Trung ương Đảng, Văn phòng tỉnh ủy.

+ Đảm bảo kinh phí hoạt động của Ban, Các Trung tâm chính trị các huyện, thành phố, Trường Chính trị Hoàng Văn Thụ tỉnh.

+ Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, tiêu chuẩn

Trang 17

định mức của Đảng, Nhà nước và Tỉnh ủy trong các cơ quan, đơn vị.

- Công tác quản lý tài chính ở các đơn vị.

+ Xây dựng dự toán ngân sách hằng năm gửi về phòng tài chính đảng Văn phòng Tỉnh ủy.

+ Ban hành quy chế chi tiêu nội bộ; Quy chế quản lý tài sản ở cơ quan, đơn vị mình Tổ chức thực hiện theo đúng dự toán đã được phê duyệt, đúng quy chế chi tiêu nội bộ đã đề ra và đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi.

+ Chấp hành đúng các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước về chế độ kế toán, thống kê, báo cáo, quyết toán ngân sách và thực hiện công khai tài chính, tài sản theo quy định.

+ Chịu sự kiểm tra của đơn vị tài chính cấp trên và ủy ban kiểm tra các cấp.

1.1.5 Hiệu quả quản lý tài chính trong các cơ quan Đảng

1.1.5.1 Quan niệm về hiệu quả

Để hiểu khái niệm hiệu quả quản lý tài chính trước hết cần xem xét khái niệm hiệu quả.

Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau nên hình thành nhiều khái niệm khác nhau như hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị xã hội, hiệu quả trực tiếp, hiệu quả gián tiếp, hiệu quả tương đối, hiệu quả tuyệt đối Xét theo góc

độ chủ thể nhận được kết quả (lợi ích) và bỏ ra chi phí để có được kết quả có khái niệm hiệu quả quản lý tài chính.

Hiệu quả quản lý tài chính: Phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh

Trang 18

tế mà mỗi đơn nhận được và chi phí mà đơn vị phải bỏ ra, trình độ sử dụng các nguồn lực để có được lợi ích kinh tế Hiệu quả quản lý tài chính chỉ liên quan đến việc thu chi có liên quan trực tiếp.

Hiệu quả là một thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định Hiệu quả còn là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động.

1.1.5.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính trong các cơ quan Đảng

Hiệu quả quản lý tài chính trong cơ quan đảng nhìn tổng quát ở kết quả cuối cùng là thực hiện có chủ định các phương pháp quản lý và công cụ quản

lý để tác động và điều khiển hoạt động tài chính Đảng nhằm đạt mục tiêu đã định Để đánh giá hiệu quả công tác quản lý tài chính trong cơ quan hành chính đảng cũng phải xét trên nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể:

- Hiệu quả tổng hợp: Được đánh giá thông qua việc xây dựng và thực

hiện cân đối thu - chi trên các phương diện: Huy động vượt mức các nguồn lực tài chính (chấp hành thu vượt lớn hơn dự toán thu); tiết kiệm và chi tiêu hợp lý các khoản chi về quản lý hành chính Ngoài ra phải đảm bảo các sự kiện phát sinh không lường trước được làm ảnh hưởng đến các mục tiêu đã định Một điều cần nhấn mạnh là: Để quản lý nhất quán và có hiệu quả công tác tài chính trước hết phải làm tốt các khâu: Lập, chấp hành và quyết toán ngân sách.

- Hiệu quả quản lý thu ngân sách: được thể hiện ở việc khai thác hợp

lý nguồn thu từ ngân sách nhà nước, khâu quan trọng nhất chính là tổ chức chấp hành ngân sách mà thực chất là sử dụng tổng lực thể chế, cơ chế, chính sách và các biện pháp kinh tế - tài chính và ngay cả biện pháp hành chính trong quá trình thực thi Trong quá trình đó cũng phải đảm bảo sự đồng bộ từ

Trang 19

khâu kế hoạch, tổ chức thực hiện đến khâu quyết toán ngân sách Tổ chức chấp hành thu ngân sách có tính chất quyết định đến cân đối ngân sách trong năm tài khoá.

- Hiệu quả quản lý chi ngân sách: Tăng cường công tác quản lý, sử

dụng kinh phí được giao một cách chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả; thực hiện chi trong phạm vi dự toán được giao và đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức Cùng với đó, sắp xếp nhiệm vụ chi thường xuyên, ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng, đảm bảo nguồn lực thực hiện các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ; kịp thời khắc phục tình trạng lãnh phí, kém hiệu quả trong việc bố trí kinh phí và triển khai thực hiện các nhiệm vụ sử dụng ngân sách.

1.1.5.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài chính Đảng tại cơ quản đảng cấp tỉnh:

Công tác quản lý tài chính trong cơ quan hành chính đảng vừa phải đảm bảo nhiệm vụ chính trị, vừa đúng luật của Nhà nước và Điều lệ của Đảng; chính vì vậy, công tác quản lý tài chính cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố chủ yếu sau:

* Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá của tỉnh: Nguồn tài chính trong

các cơ quan hành chính đảng là nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo; nguồn ngân sách của từng địa phương phụ thuộc vào tình hình kinh tế của địa phương đó Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá khác nhau sẽ quyết định về nội dung, quy mô nhiệm vụ chính trị và từ đó quyết định điều kiện thực hiện nhiệm vụ chính trị hay nói cách khác nó ảnh hưởng đến việc sử dụng ít hay nhiều kinh phí cũng như cách thức quản lý như thế nào để sử dụng kinh phí đem lại hiệu quả

* Cơ chế quản lý tài chính: Cơ chế quản lý tài chính của Đảng là một

nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến toàn bộ hoạt động tài chính của các cấp

Trang 20

ủy Nó là văn bản thống nhất giữa cơ quan tài chính của đảng và cơ quan tài chính của Nhà nước, có vị trí rất quan trọng thể hiện ở các nội dung sau:

Một là, cơ chế quản lý tài chính của Đảng khẳng định được vai trò của Đảng trong việc quản lý tài chính của Đảng.

Hai là, đảm bảo sự thống nhất trong toàn Đảng.

Ba là, tạo hành lang pháp lý trong quản lý tài chính: quy định cụ thể về trách nhiệm, quyền hạn của các cấp uỷ; các cơ quan tài chính đảng; cơ quan tài chính nhà nước đối với ngân sách đảng; quy định cụ thể về nguồn thu, nhiệm vụ chi; về lập dự toán; chấp hành ngân sách; kế toán và quyết toán ngân sách; quy định về chế độ báo cáo; chế độ kiểm tra.

* Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đối với hoạt động tài chính đảng:

- Lãnh đạo, chỉ đạo việc triển khai các quy định của Trung ương về quản lý tài chính đảng: Ban thường vụ các tỉnh ủy chỉ đạo tổ chức quán triệt, triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tài chính nói chung và tài chính đảng nói riêng

- Lănh đạo, chỉ đạo việc cụ thể hóa cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước về chế độ, tiêu chuẩn, định mức sử dụng ngân sách của Đảng.

* Công tác tổ chức quản lý thu, chi: Tổ chức quản lý thu, chi là một

trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động quản lý tài chính Công tác

tổ chức tốt mới có thể tạo thêm được nguồn thu, khai thác nguồn thu, sử dụng hợp lý các khoản chi

* Trình độ cán bộ quản lý: Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy

quản lý, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin để đề ra các quyết định quản lý Trình độ cán bộ quản lý là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời chính xác của các quyết định quản lý, do đó nó có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công

Trang 21

tác quản lý nói chung cũng như công tác quản lý tài chính nói riêng.

1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý:

1.2.1 Cơ sở chính trị

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách tập trung, hợp lý, bảo đảm công bằng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; ổn định và phát triển nền tài chính quốc gia, thực hiện xoá đói giảm nghèo; đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với

cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự điều tiết của nhà nước và yêu cầu hội nhập quốc tế; từng bước đổi mới cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện các nhiệm vụ được ngân sách nhà nước cấp kinh phí

- Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam khoá XI;

- Quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách khối đảng phải tuân thủ Luật Ngân sách Nhà nước và đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của đảng Từng bước đổi mới hiện đại hóa phương tiện, cơ sở vật chất đáp ứng kịp thời sự phát triển của địa phương Tạo điều kiện để các tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ chính trị đạt hiệu quả cao nhất Thu hút cán bộ có trình độ năng lực tự nguyên công tác, công hiến trong khối đảng.

- Quy định số 3115-QĐ/VPTW ngày 04 tháng 8 năm 2009 của Văn phòng Trung ương Đảng về một số chế độ chi tiêu bảo đảm hoạt động của các tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương.

- Thông tư Liên tịch số 216/2004/TTLT-BTCQT-BTC ngày 29/3/2004 của Ban tài chính - Quản trị trung ương - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện

cơ chế quản lý tài chính Đảng.

- Quyết định số 628-QĐ/TU ngày 17/8/2012 của Tỉnh ủy Lạng Sơn ban hành một số chế độ, định mức chi đảm bảo hoạt động của cấp ủy đảng các cấp trực thực Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn

Trang 22

- Hướng dẫn số 03/HDLN-VPTU-STC ngày 04/9/2012 của Văn phòng Tỉnh ủy - Sở Tài chính hướng dẫn về cơ chế quản lý tài chính, tài sản đảng các cấp thuộc Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn.

1.2.2 Cơ sở pháp lý

- Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước.

- Nghị định số 60/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật ngân sách nhà nước.

- Thông tư số 59/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật ngân sách nhà nước.

- Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước.

- Thông tư số 97/2010/TT-BTC ngày 06 tháng 7 năm 2010 của Bộ Tài chính Quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

- Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Bộ Tài chính Quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.

1.3 Cơ sở thực tiễn:

Trong những năm qua, công tác tài chính Đảng đã có bước chuyển biến tích cực, đạt hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ

Trang 23

lãnh đạo toàn diện của cấp uỷ Ban Tổ chức Tỉnh uỷ đã thực hiện tốt nhiệm

vụ tham mưu về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ,công chức, viên chức gia đoạn 2010-2015: Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và các chủ trương định hướng về công tác tài chính của cấp uỷ trong năm, tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm trước để triển khai xây dựng dự toán quá trình điều hành luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cấp uỷ các cấp, bám sát tiêu chuẩn, chế độ định mức của Đảng và Nhà nước, bảo đảm không xảy ra ách tắc trong mọi hoạt động của đơn vị; đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi thường xuyên, không thường xuyên cũng như các nhiệm vụ đặc thù của cấp uỷ, cơ quan Ban

Tổ chức Tỉnh uỷ.

Thường xuyên coi trọng việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong công tác quản lý tài chính, tài sản của Đảng; thi hành kịp thời các văn bản liên quan đến chế độ tài chính kế toán của nhà nước và các quyết định, quy định của cơ quan Đảng cấp trên.

Hoạt động tài chính của Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện theo Luật ngân sách Nhà nước và Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam (quy định cụ thể tại Điều 16 của Luật số 01/2002/QH11 của Quốc hội nước CHXHCNVN khoá

XI, kỳ thứ hai và Điều 46 của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X), các Nghị định, thông tư của chính phủ, các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các văn bản liên tịch của cơ quan Đảng và Nhà nước Trung ương; Hiện nay cơ chế hoạt động tài chính của Đảng đang thực hiện theo Thông tư liên tịch số 216/2004/TTLT-BTCQT- BTC ngày 29/3/2004 của Ban Tài chính-Quản trị Trung ương và Bộ Tài chính

"hướng dẫn thực hiện cơ chế quản lý tài chính Đảng";

Bên cạnh kết quả đã đạt được; công tác tài chính đảng còn có những hạn chế cần được rút kinh nghiệm, chấn chỉnh kịp thời trong thời gian tới -

Trang 24

đảm bảo yêu cầu thi hành Luật ngân sách nhà nước; đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động của các cấp uỷ.

2 Nội dung thực hiện của đề án

2.1 Bối cảnh thực hiện đề án

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội và nhiệm vụ của tỉnh Lạng Sơn

Năm 2016, chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: Kinh tế tiếp tục phát triển, lạm phát được kiểm soát, lãi suất tín dụng, giá cả, thị trường tương đối

ổn định; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng, kết quả thu ngân sách khá tích cực; các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh được triển khai có hiệu quả, năng lực sản xuất mới tiếp tục được bổ sung,… nhưng bên cạnh đó cũng phải đối mặt với không ít khó khăn: Thiên tai liên tiếp xảy

ra gây thiệt hại lớn cho sản xuất và đời sống của nhân dân; tác động của sự kiện Biển Đông; một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn lúng túng trong tổ chức sản xuất, kinh doanh; đời sống, việc làm, thu nhập của một bộ phận nhân dân còn khó khăn; an ninh, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp Ngay từ đầu năm Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nghị quyết, quyết định của Trung ương, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn

xã hội; chủ động xử lý những vấn đề phát sinh, tích cực khắc phục thiệt hại do bão gây ra

Với mục tiêu, yêu cầu đặt ra là “phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”, tỉnh tập trung chỉ đạo phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh

hơn, chú trọng đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu Đồng

Trang 25

Đăng - Lạng Sơn, Hữu Nghị, khu công nghiệp Hồng Phong, Đồng Bành và các cụm công nghiệp…; đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp sản xuất điện, tái chế hàng xuất khẩu, bốc xếp hàng hoá, chế biến nông lâm sản, lắp ráp điện tử và hàng tiêu dùng; triển khai thực hiện nhanh (giai đoạn 2) các dự án: Nhiệt điện Na Dương, Xi măng Đồng Bành và các dự án thuỷ điện Với yêu cầu đặt ra là, khi xây dựng các nhà máy phải tính đến khả năng bảo vệ, di dời khi cần thiết và hạn chế làm biến dạng địa hình có giá trị về phòng thủ quân sự và dân sự; tiếp tục duy trì, củng cố, nâng cấp các trạm thu, phát sóng thông tin di động, các điểm phục vụ bưu chính viễn thông, điểm bưu điện-văn hoá xã… bảo đảm phục vụ cho lãnh đạo, chỉ huy, điều hành các hoạt động trong mọi tình huống Cùng với đó, Tỉnh còn tập trung chỉ đạo, đầu tư, nâng cấp và tu sửa các tuyến đường liên thôn, bản, xã, huyện, nhất là các tuyến giao thông dọc biên giới và trong nội địa ra các cửa khẩu… có giá trị lớn đến phát triển KT-XH (bao gồm cả một số đường nhánh ít có giá trị trong phát triển kinh tế, nhưng lại có giá trị rất cao đối với QP-AN) bảo đảm thuận lợi cho giao thông, vận chuyển, cơ động sơ tán, phòng tránh, ứng cứu trong phòng chống thiên tai, địch họa; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện các thủ tục, chuẩn bị nhân, vật lực xây kè bảo vệ sông, suối và xây các công trình thủy lợi đầu mối, tích nước quy mô nhỏ; kiên cố hóa các công trình bảo đảm giáo dục,

y tế, QP-AN, chú trọng đến vùng cao, giáp biên giới; thực hiện phân bố lại dân cư nhằm khai thác tiềm năng kinh tế kết hợp với tăng cường thế trận QP-

AN và từng bước tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng

2.1.2 Khái quát về bộ máy Ban Tổ chức Tỉnh ủy

Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn gồm có các phòng chuyên môn tham mưu giúp việc:

- Lãnh đạo Ban gồm: Trưởng ban và 04 Phó Trưởng ban (trong đó có 01 đồng chí Phó Trưởng ban kiêm nhiệm là Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Lạng Sơn).

Trang 26

- Các đơn vị trực thuộc gồm: Văn phòng, Phòng Tổ chức - cán bộ, Phòng Tổ chức đảng - đảng viên, Phòng Chính sách cán bộ và Phòng Bảo vệ chính trị nội bộ Theo Quyết định số 50-QĐ/BTCTU, ngày 06/4/2016 của Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Lạng Sơn về việc quy định chức năng, nhiệm

vụ, biên chế của các phòng chuyên môn và Văn phòng Ban Tổ chức Tỉnh ủy thì các phòng trực thuộc có chức năng như sau:

+ Văn phòng Ban: tham mưu, giúp Trưởng ban chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ về công tác kế hoạch, tổng hợp, quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, công tác tổ chức cán bộ, hành chính quản trị, quản lý tài chính, tài sản, cải cách hành chính, thi đua - khen thưởng thuộc phạm vi quản lý của Ban và

các nhiệm vụ khác liên quan Biên chế hiện nay gồm 10 cán bộ, công chức.

+ Phòng Tổ chức - cán bộ: tham mưu, giúp Trưởng ban chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ về lĩnh vực công tác tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ; công tác cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và cán bộ, công chức, viên chức thuộc khối Đảng, đoàn thể chính trị - xã hội thuộc tỉnh theo phân cấp quản lý cán bộ; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thực hiện nhiệp

vụ công tác tổ chức cán bộ và các nhiệm vụ liên quan khác Biên chế hiện nay

gồm 06 cán bộ, công chức.

+ Phòng Tổ chức đảng - đảng viên: tham mưu, giúp Trưởng ban chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ về công tác tổ chức đảng, đảng viên; công tác phát triển tổ chức đảng, đảng viên; công tác thi hành Điều lệ Đảng; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và thực hiện nhiệm vụ công tác đảng, đảng viên; công tác thi đua-khen thưởng tổ chức đảng, đảng viên và các nhiệm vụ khác liên

quan Biên chế hiện nay gồm 07 cán bộ, công chức.

+ Phòng Chính sách - cán bộ: tham mưu, giúp Trưởng ban chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ về lĩnh vực công tác chính sách cán bộ; công tác khen thưởng tổ chức, cá nhân thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý và

Ngày đăng: 21/08/2017, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w