Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, trong những năm qua cấp ủy và chính quyền địa phương đãtích cực triển khai quán triệt các chủ trương ch
Trang 1Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền tự nhiên của con ngườitrước những vấn đề bị vi phạm để tự bảo vệ mình Hay nói một cách khác,bản chất của quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự vệ hợp pháp trước nhữnghành vi vi phạm để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội.
Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ và hơn thế nữa, đó làquyền để bảo vệ quyền Chính vì vậy, khiếu nại, tố cáo là hiện tượng kháchquan trong đời sống xã hội Từ khi có giai cấp, các giai cấp thống trị xã hộivới những biện pháp, cách thức khác nhau để giải quyết hiện tượng này
Ở nước ta, từ trước đến nay, đều ghi nhận khiếu nại, tố cáo là một trongnhững quyền cơ bản của công dân, trong đó Hiến pháp 1992 ghi nhận tại Điều
74: “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định…” Quy định này đã được Hiến pháp 2013 sửa đổi, bổ sung tại Điều 30, cụ thể là: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.
Theo quy định này, khiếu nại, tố cáo không chỉ là quyền Hiến định củacông dân Việt Nam (những người có quốc tịch Việt Nam) mà đã được công
Trang 2nhận là quyền con người, được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ Khiếu nại và tốcáo là một trong những phương thức thực hiện quyền tự do, dân chủ, gópphần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân Đây cũng làphương thức để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình vàthực hiện quyền làm chủ của nhân dân Khiếu nại, tố cáo đều hướng tới bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và bảo đảm pháp luật đượcthực thi nghiêm minh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựngnhà nước pháp quyền
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đóng góp vai trò to lớntrong việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ củanhân dân, góp phần tích cực vào việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và
kỷ luật nhà nước trong giai đoạn hiện nay Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáocủa công dân là một trong những biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa nhân dân, bảo vệ lợi ích Nhà nước, phát hiện và khắc phục những sai lầmthiếu sót trong hoạt động của bộ máy nhà nước, đồng thời củng cố mối quan hệ
và giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Đồng thời giảiquyết tốt các vụ việc khiếu nại, tố cáo trên địa bàn còn góp phần giữ vững anninh chính trị, ổn định trật tự an toàn xã hội, tạo đà cho việc phát triển kinh tếcủa địa phương
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, trong những năm qua cấp ủy và chính quyền địa phương đãtích cực triển khai quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo gắn liền với việc triểnkhai thực hiện Quyết định số 1133/2013/QĐ-TTg ngày 15/7/2013 của Thủtướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác tuyên truyền, phổbiến pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở xã, thị trấn giai đoạn 2013 - 2016” trênđịa bàn huyện Cao Lộc, coi công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là
Trang 3nhiệm vụ quan trọng hàng đầu giúp nhân dân, cán bộ nắm được những quyđịnh cơ bản của pháp luật để từ đó có ý thức trong việc thực hiện các quyềnkhiếu nại, tố cáo đúng quy định Tổ chức tập huấn 05 cuộc tại huyện, 35 cuộctại xã, thị trấn với trên 2000 lượt người nghe, cấp phát tài liệu được trên 2524quyển Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn hướng dẫn thi hành; Tăngcường công tác kiểm tra trách nhiệm về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáođược 45 đoàn đối với thủ trưởng cơ quan, UBND các xã, thị trấn; Thực hiệntốt hình thức tuyên truyền thông qua đối thoại trong công tác bồi thường giảiphòng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án trên địa bàn Song songvới công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, UBND huyện luôn tậptrung chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác tiếp công dân,
xử lý các đơn thư phát sinh đặc biệt chú trọng đối với các đơn khiếu nại, tốcáo thuộc thẩm quyền giải quyết
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được công tác , giải quyếtkhiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế bất cập, một số nơi cấp uỷ chính quyềnđịa phương hoặc thủ trưởng các đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công táclãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm xem xét, giảiquyết đơn thuộc thẩm quyền ở một số đơn vị còn chậm, nội dung xử lý chưađảm bảo thủ tục quy định, thiếu chặt chẽ dẫn đến một số vụ việc giải quyếttồn đọng, kéo dài Cá biệt có vụ việc giải quyết không đúng thẩm quyền, một
số vụ việc phát sinh kéo dài do lịch sử để lại chưa được giải quyết hoặc thihành dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân, dẫn đến tình trạng phát sinh đơnthư gửi vượt cấp vẫn còn xảy ra Những năm gần đây, trên địa bàn huyện CaoLộc được chú trọng đầu tư nhiều dự án, công trình trọng điểm nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội Cùng với đó, để cómặt bằng sạch và quỹ đất triển khai các Dự án, công trình UBND huyện phảithực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng Tuy nhiên
Trang 4đây là một lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh các khiếu nại, tố cáo, kiến nghịxung quanh công tác này, nếu không được quan tâm giải quyết đúng mức cóthể sẽ trở thành ‘điểm nóng”.
Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác giải quyết khiếu nại tố cáo
trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, tôi xây dựng Đề án: “Nâng cao chất lượng công giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 - 2020”.
2 Mục tiêu của Đề án
2.1 Mục tiêu chung
Khắc phục những tồn tại hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại, tốcáo trong thời gian qua để chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáotrên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn được nâng cao hơn nữa trong giaiđoạn 2016 – 2020, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội trong thời
kỳ mới
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đảm bảo phân loại, xử lý 100% đơn tiếp nhận trong thời hạn, đúng
thẩm quyền Phấn đấu đạt tỷ lệ giải quyết đơn thư từ 85% trở lên Giải quyếtkịp thời, đúng quy định các kiến nghị của công dân và ý kiến, kiến nghị của
cử tri, tập trung chỉ đạo giải quyết những vụ việc bức xúc, hạn chế khiếu nạivượt cấp trên địa bàn
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác hoà giải, phấn đấu đạt75% số vụ việc hòa giải thành ở cơ sở
- Tổ chức thực hiện dứt điểm các quyết định giải quyết đơn đã có hiệu lực
pháp luật được ban hành và tổ chức thực hiện dứt điểm các quyết định còn tồnđọng
Trang 5- 100% các kết luận sau thanh tra, kiểm tra trách nhiệm tiếp công dân,
giải quyết đơn thư được đôn đốc thực hiện có hiệu quả, đúng tiến độ
3 Giới hạn của Đề án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề án nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơquan hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
3.2 Không gian: Đề án được áp dụng thực hiện trong phạm vi huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
3.3 Thời gian: Áp dụng thực hiện trên địa bàn huyện Cao Lộc trong
giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020
B NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1 Cơ sở xây dựng Đề án
1.1 Cơ sở lý luận
Khiếu nại, tố cáo là sản phẩm cuộc đấu tranh của nhân loại được hìnhthành và phát triển bởi nguồn gốc bất bình đẳng về quyền lợi kinh tế, chínhtrị Nó thể hiện bằng hình thức trong lịch sử, như đánh trống kêu oan, đếncông đường kêu kiện hoặc viết đơn gửi hệ thống chính quyền các cấp để giảibày oan ức mong được giúp đỡ Tuy chủ thể khiếu nại, tố cáo là cá nhân hay
tổ chức hoặc một bộ phận cộng đồng thì khiếu nại, tố cáo vẫn là sự đòi hỏiquyền lợi thiết thực về sự công bằng của giai cấp bị trị đối với giai cấp thốngtrị, do đó bản chất nó bao giờ cũng mang tính giai cấp và tồn tại khách quankhi xã hội có phân chia giai cấp Trong thế giới hiện đại quyền con người nóichung và quyền khiếu nại nói riêng được công nhận, cam kết, bảo đảm vàđược ghi trong các Công ước, Hiệp ước, Hiến chương quốc tế nó được chứng
Trang 6minh rằng "Mọi người đều có quyền khiếu nại hữu hiệu đến cơ quan tư pháp quốc gia; Có quyền chống những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của con người đã được Hiến pháp và Pháp luật thừa nhận".
Điều 25 Công ước Châu Mỹ về quyền con người ghi nhận: "Mọi người đều có quyền hưởng một thủ tục khiếu nại đơn giản và nhanh chóng hoặc mọi khiếu nại hữu hiệu khác trước các thẩm phán hoặc các Tòa án có thẩm quyền nhằm bảo vệ người đó chống lại tất cả các hành động vi phạm đến các quyền
cơ bản của họ đã được Hiến pháp, pháp luật hoặc Công ước này thừa nhận, ngay cả khi vi phạm này do những người thi hành công vụ gây ra…" Ngay trong những năm đầu của Chính quyền Xô viết, V.I.Lênin đã xác định: "Không thể giành thắng lợi cho Chủ nghĩa Xã hội toàn thắng và đưa nhân loại tới sự mất đi của Nhà nước nếu không thực hiện dân chủ một cách đầy đủ".
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác- Lênin vào tiễn cánh mạng Việt Nam Ngay sau khi giành chính quyềnChủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xây dựng, củng cố mối quan
hệ chặt chẽ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước Người nói: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi” Người đã nhiều lần
chỉ ra ý nghĩa chính trị sâu sắc của công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tốcáo của nhân dân Trong bài nói chuyện với cán bộ Thanh tra tại Hội nghịThanh tra toàn miền Bắc ngày 5/3/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:
“Đồng bào có oan ức mới khiếu nại, tố cáo, hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại, tố cáo Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ,
do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn” Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
dân chính là một biện pháp quan trọng và thiết thực để củng cố mối quan hệ
Trang 7giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, củng cố lòng tin của nhân dân vàoĐảng và Nhà nước Trong trường hợp các khiếu nại, tố cáo được các cơ quannhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời và thỏa đáng thì nhữngngười dân đi khiếu nại, tố cáo và thậm chí cả những người sống xung quanh
họ sẽ cảm thấy Nhà nước đã tôn trọng, lắng nghe ý kiến của họ, quan tâm, lolắng đến quyền lợi của họ và cũng tự nhiên họ thấy Nhà nước gần gũi, gắn bóvới họ và đã thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhưng ngược lạinếu các khiếu nại, tố cáo, các kiến nghị của dân được các cơ quan, cán bộ Nhànước đón nhận bằng một thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm thì cũng chínhnhững người dân đó sẽ hình thành tâm trạng thiếu tin tưởng và có xu hướng
xa lánh các cơ quan quản lý Vì vậy, việc giải quyết nhanh chóng, đúng phápluật các khiếu nại, tố cáo của công dân, gắn liền với nó là việc khôi phục kịpthời quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh những ngườisai phạm, tất yếu sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho mối quan
hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt hơn
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm về “chất lượng”:
Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng là khái niệm chỉ cái làm nên phẩmchất, giá trị của sự vật, hiện tượng; là cái tạo nên bản chất sự vật, hiện tượnglàm cho sự vật, hiện tượng này khác với sự vật, hiện tượng khác Trong triếthọc, chất lượng biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, sự việc, chỉ rõ
nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, sự việc phân biệt nó với các sựvật, sự việc khác
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu thị rabên ngoài các thuộc tính, các tính chất vốn có của sự vật Quan niệm chung
Trang 8nhất về “chất lượng” là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sựvật, sự việc Nói đến chất lượng là nói tới hai vấn đề cơ bản:
* Khái niệm Khiếu nại
Khoản 1, Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việccông dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật nàyquy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyếtđịnh hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, củangýời có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷluật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó làtrái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”
* Khái niệm Tố cáo
Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:
“1 Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luậtcủa bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệthại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổchức
2 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ
Trang 9chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
3 Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về
hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối vớiviệc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực”
Nội dung tố cáo của công dân rất đa dạng và phức tạp; có tố cáo vềnhững việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nướckhi thực hiện nhiệm vụ, công vụ; có những tố cáo về những sai phạm trongcông tác quản lý của các cơ quan, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhànước Ngoài ra, công dân có thể tố cáo các hành vi vi phạm về đạo đức, lốisống của cán bộ, công chức…
Việc tố cáo của công dân cũng theo đó mà đòi hỏi Nhà nước phải cóbiện pháp giáo dục, trừng trị kịp thời, thậm chí là áp dụng các biện phápnghiêm khắc để loại trừ những hành vi trái pháp luật xâm phạm đến lợi íchcủa Nhà nước, của tập thể, của cá nhân
Điểm khác biệt căn bản giữa khiếu nại và tố cáo là: nội dung khiếu nạiliên quan trực tiếp đến quyền lợi của người khiếu nại; nội dung tố cáo về hành
vi vi phạm pháp luật của người khác có thể không liên quan trực tiếp đếnquyền lợi của người tố cáo
1.1.2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.1.2.1 Giải quyết khiếu nại
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định
giải quyết khiếu nại (Khoản 11 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011)
Trang 10Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật (Khoản 6, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011)
* Thẩm quyền giải quyết khiếu nại:
Theo quy định của Luật Khiếu nại thẩm quyền giải quyết khiếu nạiđược xác định theo nguyên tắc sau: Khiếu nại đối với quyết định hành chính,hành vi hành chính của nhân viên thuộc quyền quản lý của cơ quan nào, thủtrưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Khiếu nại đối với quyết định hànhchính hoặc hành vi hành chính của thủ trưởng cơ quan nào thì thủ trưởng cơquan đó có trách nhiệm giải quyết Trên tinh thần đó, Luật khiếu nại quy định cụthể thẩm quyền giải quyết khiếu nại của thủ trưởng cùng cấp
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung làcấp xã); Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyềngiải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hànhchính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp (Điều 17Luật Khiếu nại)
- Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung
huyện đã giải quyết lần một nhưng còn khiếu nại (Điều 18, Luật Khiếu nại).
- Chánh Thanh tra các cấp có thẩm quyền:
Trang 11+ Giúp thủ trưởng cơ quan nhà nước cùng cấp tiến hành kiểm tra, xácminh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giảiquyết của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp khi được giao.
+ Giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp theo dõi, kiểmtra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trongviệc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu
nại có hiệu lực pháp luật (Điều 25, Luật Khiếu nại).
- Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viêncủa Mặt trận (Điều 66 Luật Khiếu nại):
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cótrách nhiệm giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại theo quy định củaLuật này; động viên nhân dân nghiêm chỉnh thi hành pháp luật về khiếu nại;
tổ chức việc tiếp công dân đến khiếu nại; khi nhận được khiếu nại thì nghiêncứu, hướng dẫn người khiếu nại đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giảiquyết khiếu nại
+ Khiếu nại do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thànhviên của Mặt trận chuyển đến phải được người giải quyết khiếu nại xem xét,giải quyết và trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết phảithông báo bằng văn bản cho tổ chức đã chuyển đơn biết kết quả giải quyết;nếu không đồng ý với kết quả giải quyết đó thì tổ chức đã chuyển đơn cóquyền kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết; cơquan, tổ chức nhận được kiến nghị có trách nhiệm trả lời kiến nghị đó trongthời hạn 07 ngày, kể từ ngày có quyết định giải quyết
1.1.2.2 Giải quyết tố cáo
Trang 12Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo
và việc xử lý của người giải quyết tố cáo (Khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011)
Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo (Khoản 6 Điều 2 Luật tố cáo năm 2011)
* Thẩm quyền giải quyết tố cáo:
Theo quy định của Luật Tố cáo, thẩm quyền giải quyết tố cáo đượcxác định theo nguyên tắc sau: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việcthực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do ngườiđứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viênchức đó giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiệnnhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ
chức đó giải quyết…(Điều 12, Luật Tố cáo)
- Luật Tố cáo quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết tố cáo của thủ
trưởng các cơ quan hành chính nhà nước (quy định tại Điều 13 Luật tố cáo):
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung làcấp xã) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việcthực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh(sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi viphạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, PhóChủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứngđầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, côngchức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp
Trang 13- Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việcthực hiện nhiệm vụ của viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập (Điều 15Luật Tố cáo)
+ Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập có thẩm quyền giải quyết
tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ củaviên chức do mình tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý trực tiếp
+ Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệpcông lập có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luậttrong việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức quản lý do mình bổ nhiệm
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việcthực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức của tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội (Điều 16 Luật Tố cáo): Người đứng đầu cơ quan của tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức,viên chức do mình quản lý trực tiếp
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của ngườiđược giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán bộ, công chức,viên chức (Điều 17 Luật Tố cáo): Người đứng đầu cơ quan, đơn vị quản lýtrực tiếp người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà không phải là cán
bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạmpháp luật của người đó trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là công tác quan trọng trong hoạt động củaĐảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta.Tiếp công dân có quan hệ chặt chẽ với giải quyết khiếu nại, tố cáo Muốn thực
Trang 14hiện tốt việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trước hết cần phải thực hiện tốt việctiếp công dân, từ đó sẽ khắc phục được tình trạng khiếu nại, tố cáo tràn lanvượt cấp cũng như các bất cập khác trong giải quyết khiếu nại, tố cáo Trongthực tế, tiếp công dân là khâu đầu tiên của quá trình giải quyết khiếu nại, tốcáo vì vậy công tác này có ý nghĩa rất quan trọng, là tiền đề thuận lợi cho việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo có chất lượng và hiệu quả cao.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo có vai trò quan trọng trong việcphát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý các vi phạm, góp phần nângcao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổchức, cá nhân Bên cạnh đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn thể hiệnmối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Thông qua giải quyết khiếunại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đườnglối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiến để hoànthiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
Giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng trình tự, đúng quy định củapháp luật, sẽ đảm bảo cho quyền hợp pháp của công dân trong việc đề nghịvới cơ quan nhà nước, tạo lòng tin của nhân dân với Đảng, nhà nước
Giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời góp phần ổn định chính trị, giảiquyết được bức xúc của người dân, không gây khiếu kiện kéo dài, đơn thưvượt cấp, không gây ra các điểm nóng về chính trị
Giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng hiệu quả sẽ không gây tốnkém về kinh phí nhà nước phục vụ giải quyết đơn thư
Giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời sẽ ngăn chặn, phòng ngừa nhữngquyền lợi của công dân, của nhà nước bị xâm phạm, hoặc ngăn chặn kịp thờihành vi vi phạm pháp luật của cán bộ công chức khi thực hiện nhiệm vụ
Trang 151.1.4 Nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Đối với giải quyết khiếu nại phải bảo đảm nguyên tắc:
Việc giải quyết khiếu nại phải bảo đảm chính xác, khách quan, côngkhai, dân chủ, kịp thời và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theoquy định của pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi íchhợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân
- Đối với giải quyết tố cáo phải bảo đảm nguyên tắc:
Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan,đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định; bảo đảm an toàncho người tố cáo; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợppháp của công dân; ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật Bên cạnh
đó, không để xảy ra tình trạng công dân khiếu kiện vượt cấp, đông người; tập
trung thành điểm “nóng”; không có vụ việc bị hủy bỏ, cải sửa, giải quyết lại.
1.1.5 Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Để đánh giá chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, cần căn cứtrên các tiêu chí cụ thể như sau:
+ Giải quyết kịp thời, chính xác, khách quan, đảm bảo đúng pháp luật.+ Giải quyết xong trước hoặc đảm bảo thời gian so với quy định củaLuật Khiếu nại
+ Thời hạn giải quyết đối với giải quyết tố cáo không vượt quá thời hạnquy định tại Luật Tố cáo
+ Người khiếu nại, tố cáo hài lòng về kết quả đã giải quyết, không tiếpkhiếu; hạn chế khiếu nại vượt cấp, đông người góp phần ổn định an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế
Trang 16+ Tiết kiệm nhân, vật lực của cơ quan giải quyết và chi phí, tiền của,thời gian đi lại của người khiếu nại.
+ Tuân thủ đầy đủ thủ tục, trình tự, đảm bảo hồ sơ giải quyết theo quy định
1.2 Cở sở chính trị, pháp lý
1.2.1 Cơ sở chính trị
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trongnhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2016- 2020)phần IV, mục 7 Phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng
phí tiếp tục nhấn mạnh: “…làm tốt công tác tiếp nhận thông tin và xử lý khiếu nại, tố cáo…”;
- Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 06/3/2002 của Ban Chấp hành Trungương khóa IX về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong giải quyết KN,
Trang 17- Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Nghị định số75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điềucủa Luật Khiếu nại;
- Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Nghị định số76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điềucủa Luật Tố cáo;
- Luật Tiếp Công dân số 42/2013/QH13 ngày 25/11/2013; Nghị định64/2013/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Tiếp công dân
- Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chínhphủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếunại, tố cáo;
- Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014 củaThanh tra Chính phủ - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương,Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Thông tư 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủquy định về quy trình giải quyết tố cáo; Thông tư 07/2013/TT-TTCP ngày31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định về quy trình giải quyết khiếunại hành chính; Thông tư số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP ngày 16/3/2012 của
Bộ Tài chính - Bộ Nội vụ quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, côngchức làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,phản ánh
Trang 181.3 Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, cấp ủy và chính quyền tại địa phương đã tíchcực triển khai quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo gắn liền với việc triển khaithực hiện Quyết định số 1133/2013/QĐ-TTg ngày 15/7/2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biếnpháp luật về khiếu nại, tố cáo ở xã, thị trấn giai đoạn 2013 - 2016” trên địabàn huyện Cao Lộc, coi công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là nhiệm vụquan trọng hàng đầu giúp nhân dân, cán bộ nắm được những quy định cơ bảncủa pháp luật để từ đó có ý thức trong việc thực hiện các quyền khiếu nại, tốcáo đúng quy định Tổ chức tập huấn 05 cuộc tại huyện, 35 cuộc tại xã, thịtrấn với trên 2000 lượt người nghe, cấp phát tài liệu được trên 2524 quyểnLuật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các văn hướng dẫn thi hành; Tăng cường côngtác kiểm tra trách nhiệm về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được 45 đoànđối với thủ trưởng cơ quan, UBND các xã, thị trấn; Thực hiện tốt hình thứctuyên truyền thông qua đối thoại trong công tác bồi thường giải phòng mặtbằng, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án trên địa bàn Song song với công táctuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, UBND huyện luôn tập trung chỉđạo các cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác tiếp công dân, xử lý cácđơn thư phát sinh đặc biệt chú trọng đối với các đơn khiếu nại, tố cáo thuộcthẩm quyền giải quyết
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được công tác , giải quyếtkhiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế bất cập, một số nơi cấp uỷ chính quyềnđịa phương hoặc thủ trưởng các đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công táclãnh đạo, chỉ đạo việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm xem xét, giảiquyết đơn thuộc thẩm quyền ở một số đơn vị còn chậm, nội dung xử lý chưađảm bảo thủ tục quy định, thiếu chặt chẽ dẫn đến một số vụ việc giải quyết
Trang 19tồn đọng, kéo dài Cá biệt có vụ việc giải quyết không đúng thẩm quyền, một
số vụ việc phát sinh kéo dài do lịch sử để lại chưa được giải quyết hoặc thihành dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân, dẫn đến tình trạng phát sinh đơnthư gửi vượt cấp vẫn còn xảy ra Những năm gần đây, trên địa bàn huyện CaoLộc được chú trọng đầu tư nhiều dự án, công trình trọng điểm nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội Cùng với đó, để cómặt bằng sạch và quỹ đất triển khai các Dự án, công trình UBND huyện phảithực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng Tuy nhiênđây là một lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh các khiếu nại, tố cáo, kiến nghịxung quanh công tác này, nếu không được quan tâm giải quyết đúng mức cóthể sẽ trở thành ‘điểm nóng” Nhiều vụ việc giải quyết chậm thời hạn, tỷ lệgiải quyết đạt thấp, một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm chỉđạo, lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác này Cá biệt có vụ việc giải quyếtchưa đúng quy trình gây bức xúc trong nhân nhân
Trước tình hình đó, để hạn chế và giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếunại, tố cáo, ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dụcpháp luật cho người dân, chúng ta cần phải có nhiều giải pháp và phải giảiquyết một cách đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếunại, tố cáo trên đại bàn huyện Cao Lộc trong thời gian tới
2 Nội dung thực hiện Đề án
Trang 20Sâu) Dân số của huyện là 76.337 người với 17.484 hộ gồm các dân tộc gồm 5dân tộc là Nùng 58,66%, Tày 31,35%, Kinh 7,09%, Dao 2,42%, Hoa 0,42%, cácdân tộc khác 0,06% cùng sinh sống đoàn kết, hòa thuận hăng hái thi đua laođộng sản xuất nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tin tưởng vào sự lãnhđạo của Đảng và Nhà nước
Về kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, đời sống của một bộphận nhân dân còn nhiều khó khăn; trình độ dân trí không đồng đều, mặt tráicủa cơ chế thị trường dẫn đến giá trị về quyền sử dụng đất tăng nhanh, cơ
chế, chính sách về bồi thường, giải phóng mặt bằng thường xuyên thay đổi,
việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồiđất để thực hiện các dự án còn có thiếu sót, hạn chế sẽ có những tác động ảnhhưởng đến việc khiếu nại, tố cáo của công dân
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Huyện uỷ và
sự cố gắng của các cấp chính quyền từ huyện đến cơ sở, tình hình kinh tế xãhội của huyện tiếp tục có bước phát triển; quốc phòng - an ninh được giữvững, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định; đời sốngvật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt Đồng thời, trên địa bànhuyện Cao Lộc được chú trọng đầu tư nhiều dự án, công trình trọng điểmnhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội Cùngvới đó, để có mặt bằng sạch và quỹ đất triển khai các Dự án, công trìnhUBND huyện phải thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặtbằng Tuy nhiên đây là một lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh các khiếu nại, tốcáo, kiến nghị xung quanh công tác này, nếu không được quan tâm giải quyếtđúng mức có thể sẽ trở thành ‘’điểm nóng”
Cùng với việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, chúng ta đãquan tâm và thực hiện có hiệu quả cải cách về tư pháp và hệ thống pháp luật,trong đó nổi bật là hoạt động cải cách thủ tục hành chính và giải quyết khiếu
Trang 21nại, tố cáo là một lĩnh vực được chú trọng xây dựng và hoàn thiện Cơ chếgiải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những thể chế rất quan trọng thuộclĩnh vực quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân Hoàn thiện cơ chế này sẽ gópphần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hành chính công, đồng thờităng cường việc thực thi các quyền dân sự, chính trị của người dân.
Trong một thời gian dài, pháp luật khiếu nại, tố cáo đã được chỉnh sửa,hoàn thiện nhiều lần, nhưng thực tiễn cho thấy, công tác giải quyết đơn khiếunại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ngày càng bộc lộ nhiều khókhăn, bất cập và ngày càng gia tăng số lượng các đơn thư khiếu nại, tố cáo củangười dân về các quyết định, hành vi hành chính của các cơ quan nhà nước, ởtất cả các cấp chính quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhànước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và trên hầu hết cáclĩnh vực dân sinh: đất đai, môi trường, y tế, giao thông, xây dựng, kinhdoanh Tính chất và nội dung khiếu kiện ngày càng phức tạp, nó đặt ra mộtyêu cầu cấp bách là phải giải quyết hiệu quả, nhanh chóng những đơn thưkhiếu nại, tố cáo của nhân dân
Từ những hạn chế bất cập về cơ chế, chính sách cũng như trình độ,năng lực quản lý ở địa phương trước những yêu cầu khách quan trong quátrình đổi mới và hội nhập, tình hình kinh tế xã hội của huyện Cao Lộc cónhững chuyển biến căn bản, việc mở rộng quy hoạch đất đai xây dựng cáccông trình công cộng; triển khai các dự án xây dựng nông thôn mới, cácchương trình dự án khác đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số, việc triểnkhai dự án ảnh hưởng và thiệt hại trực tiếp đến đất đai của nhân dân trong sảnxuất nông nghiệp mặt khác các quy định của pháp luật đất đai thiếu đồng bộ,dẫn đến trên địa bàn huyện trong những năm vừa qua vẫn phát sinh nhiều đơnthư liên quan đến thu hồi, giải phóng mặt bằng còn kéo dài nhiều năm như Dự
Trang 22án Trung tâm Thương mại Đồng Đăng, Dự án cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị chưa được giải quyết dứt điểm.
2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết của đề án
2.2.1 Những kết quả đạt được trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Cấp xã: qua thu thập số liệu không phát sinh đơn khiếu nại, tố cáo, chỉphát sinh đơn đề nghị, kiến nghị về các lĩnh vực đất đai, chế độ chính sách,các tranh chấp dân sự khác
- Cấp huyện: Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩmquyền của Chủ tịch UBND huyện Cao Lộc từ năm 2011 đến tháng 6/2016
Đã giải quyết Tỷ lệ
Tổng số
Đã giải quyết Tỷ lệ
Trang 23Cộng 113 106 TB đạt93,8% 26 24 TB đạt92,3%
(Số liệu Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc)
Tổng số đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của UBNDhuyện từ năm 2011 đến 6 tháng đầu năm 2016 là 137 đơn, trong đó có 113đơn khiếu nại và 24 đơn tố cáo Kết quả giải quyết qua từng năm như biểu sốliệu nêu trên, tính trung bình kết quả giải quyết đều đạt tỷ lệ trên 90% trở lên
Trong thời gian qua cấp ủy chính quyền địa phương đã quan tâm xemxét, giải quyết đơn thư theo thẩm quyền quy định, rà soát, nắm chắc các vụviệc tồn đọng theo các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh như: văn bản số1216/UBND-TCD ngày 15/11/2013 về việc thực hiện kết luận của Phó Thủtướng Chính phủ về việc giải quyết các vụ việc tồn đọng, kéo dài; Kế hoạch
số 107/KH-UBND ngày 18/11/2013 về tiếp tục kiểm tra, rà soát, giải quyếtcác vụ việc tồn đọng, kéo dài trên địa bàn tỉnh theo Kế hoạch số 2100/KH-TTCP ngày 19/9/2013 của Thanh tra Chính phủ; Văn bản số 200/UBND-NCngày 07/3/2014 về việc tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,đơn vị trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; Văn bản số 174/UBND-BTCDngày 05/3/2015 về việc chấn chỉnh, nâng cao vai trò, trách nhiệm của ngườiđứng đầu trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Văn bản số579/UBND-BTCD ngày 22/6/2015 về việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướngChính phủ về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Văn bản số93/UBND-BTCD ngày 28/01/2016 về việc nâng cao vai trò, trách nhiệm, hiệuquả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm đảm bảo ổnđịnh tình hình xã hội, không phát sinh điểm nóng về khiếu nại, tố cáo
Việc công dân đến kiến nghị, phản ánh tại nơi ở cấp xã có chiều hướnggiảm so với những năm trước đây, nhưng có sự gia tăng về số lượng tại Uỷ
Trang 24ban nhân dân cấp huyện Nội dung chủ yếu là tranh chấp đất đai, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất, chế độ, chính sách về công tác thu hồi đất, bồithường giải phóng mặt bằng các dự án Từ thực trạng trên cho thấy chấtlượng ở cơ sở còn hạn chế, một số đơn vị chưa quan tâm đến công tác này,gây bức xúc và thiếu tin tưởng của công dân đối với chính quyền cấp xã mà
có xu hướng đến cơ quan cấp trên để yêu cầu, kiến nghị, phản ánh Mặt khácthể hiện trình độ dân trí, năng lực nhận thức, ý thức pháp luật của công dâncòn hạn chế, có tâm lý yêu cầu cơ quan cấp trên xem xét thì sẽ được giảiquyết nhanh chóng
Đơn khiếu nại, tố cáo ít phát sinh hơn so với đơn đề nghị, nhưng các vụviệc đều có tính chất phức tạp, văn bản áp dụng giải quyết có nhiều bất cập,thường xuyên thay đổi, một số vụ việc cần phải xin ý kiến cơ quan cấp trên;năng lực trình độ, của một một phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng đượcyêu cầu
2.2.2 Những tồn tại cần giải quyết
Từ đánh giá thực trạng kết quả giải quyết khiếu nại tố cáo trong nhữngnăm qua trên địa bàn huyện và dự báo xu hướng khiếu nại, tố cáo vẫn cònnhững diễn biến phức tạp, số vụ việc khiếu nại, tố cáo sẽ có chiều có gia tăng,
do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
- Số vụ việc tranh chấp, đề nghị, kiến nghị chậm giải quyết vẫn còn nhiều
có thể dẫn đến khiếu nại, tố cáo, một số địa phương chưa tập trung chỉ đạo giảiquyết đơn thư thuộc thẩm thường xuyên, chưa thực hiện nghiêm các quy địnhcủa pháp luật về trình tự, thủ tục, một số vụ việc giải quyết chưa xác định đúngthẩm quyền gây bức xúc cho nhân dân ảnh hưởng đến sự tin tưởng của côngdân vào việc giải quyết của các cấp chính quyền, tình trạng khiếu nại, tố cáovượt cấp, gây sức ép lên các cấp trên
Trang 25- Công tác xem xét, giải quyết đơn thuộc thẩm quyền ở một số đơn vịcòn chậm, nội dung xử lý chưa đảm bảo thủ tục quy định, thiếu chặt chẽ dẫnđến một số vụ việc giải quyết tồn đọng, kéo dài Cá biệt có vụ việc giải quyếtkhông đúng thẩm quyền, một số vụ việc phát sinh kéo dài do lịch sử để lạichưa được giải quyết hoặc thi hành dứt điểm, gây bức xúc trong nhân dân,dẫn đến tình trạng phát sinh đơn thư gửi vượt cấp vẫn còn xảy ra.
- Công tác phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, xác định nội dung
và thẩm quyền giải quyết của cán bộ một số cơ quan, đơn vị chưa trúng vàchưa đúng dẫn đến việc phân loại và xử lý đơn còn chồng chéo, vòng vo mấtthời gian giải quyết;
- Có nhiều vụ việc giải quyết chậm, thẩm tra, xác minh sơ sài, thu thậpchứng cứ không đầy đủ, kết luận thiếu chính xác, áp dụng pháp luật cứngnhắc, phương án giải quyết thiếu thuyết phục, dân không đồng tình, tiếp tụckhiếu nại, tố cáo
- Việc kiểm tra thực hiện các quyết định, kết luận giải quyết đơn thưkhiếu nại, tố cáo còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến việc thực hiện quyếtđịnh, kết luận chưa nghiêm Công tác xử lý đối với cán bộ có sai phạm còn nểnang, chưa triệt để
2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại
* Nguyên nhân khách quan
- Một số văn bản hướng dẫn về quy trình, thủ tục , tiếp nhận xử lý đơnthư, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều bất cập, chậm được ban hành, thiếu
cơ chế đồng bộ cho việc xử lý, giải quyết; Cơ chế, chính sách, pháp luật còn
có những bất cập, chưa phù hợp thực tế; công tác quản lý nhà nước còn cónhững yếu kém, sai phạm, nhất là trong lĩnh vực đất đai Trong nhiều trường
Trang 26hợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng, đòi lại đất nhưng thiếu cơchế, chính sách để giải quyết thỏa đáng.
- Lĩnh vực tranh chấp, khiếu nại, tố cáo diễn ra nhiều lĩnh vực trong đờisống xã hội, chịu sự điều chỉnh tác động của nhiều văn bản quản lý khácnhau, nhiều văn bản bản chậm được sửa đổi, bổ sung dẫn đến chồng chéo,trùng lắp gây khó khăn, lúng túng cho việc áp dụng giải quyết ở địa phương
- Nhiều vụ việc khiếu kiện có nội dung phức tạp, đan xen giữa khiếunại, tố cáo và kiến nghị, phản ánh thời gian phát sinh từ lâu, hồ sơ lưu trữkhông đầy đủ hoặc bị thất lạc, gây khó khăn trong quá trình thẩm tra, xácminh, giải quyết dẫn đến chậm thời gian so với quy định
- Một số vụ việc giải quyết, xử lý có căn cứ pháp luật, tuy nhiên khi tổchức thực hiện lại thiếu tính khả thi; dẫn đến làm giảm hiệu lực, hiệu quả giảiquyết của cơ quan nhà nước, gây nghi ngờ bức xúc cho người khiếu kiện
- Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận công dân khi thực hiệnquyền khiếu nại, tố cáo còn hạn chế, có những vụ việc đã có quyết định, kếtluận giải quyết cuối cùng nhưng công dân cố tình đeo bám khiếu kiện, khôngthực hiện việc khởi kiện ra tòa án, có trường hợp lợi dụng quyền tự do, dânchủ của công dân để khiếu nại, tố cáo sai sự thật, kích động, lôi kéo người nhẹ
dạ cả tin đi khiếu kiện gây phức tạp thêm tình hình
- Một bộ phận công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo chưa nắmđược các quy định của pháp luật về lĩnh vực mà mình khiếu nại, tố cáo hoặc
cố tình không chấp hành các quyết định, kết luận của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, mặc dù đã được kiểm tra rà soát nhiều lần, việc giải quyết có lý,
có tình nhưng công dân vẫn khiếu kiện lên cơ quan cấp trên
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo còn chưa đáp ứng yêu cầu