1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

129 416 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH VÀ ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP .... Tổng quan các nghiên cứu về nhân t

Trang 1

Trường đại học kinh tế quốc dânTrường đại học kinh tế quốc dânTrường đại học kinh tế quốc dân

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Phí Văn Trọng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

nghiêm túc của tác giả sau bốn năm học tập, nghiên cứu cùng với sự giúp đỡ cả về vật

trường Đại học Kinh tế Quốc dân, những đồng nghiệp đã luôn nhiệt tình cung cấp cho tôi tài liệu chuyên môn bổ ích cũng như các ý kiến vô cùng đáng quý để tôi hoàn thành luận án này Đặc biệt, tôi vô cùng biết ơn thầy giáo hướng dẫn, thầy đã giúp tôi có định hướng nghiên cứu rõ ràng và tư duy khoa học vững vàng trong suốt thời gian thực hiện

các cán bộ tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã cung cấp cho tôi bộ số liệu rất quan

đại học, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân đã luôn tận tình hỗ trợ cho các nghiên cứu

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Phí Văn Trọng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Khung nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu Luận án 6

Kết luận Chương 1 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH VÀ ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 9

2.1 Chính sách kế toán và vai trò đối với quản trị doanh nghiệp 9

2.1.1 Khái niệm và đặc trưng của chính sách kế toán 9

2.1.2 Vai trò của chính sách kế toán 10

2.2 Các mục tiêu của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc xây dựng chính sách kế toán 11

2.2.1 Mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp 11

2.2.2 Mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp 12

2.3 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong công tác kế toán tại doanh nghiệp 13

2.3.1 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán liên quan đến hàng tồn kho 13

2.3.2 Lựa chọn chính sách kế toán liên quan đến nợ phải thu 15

2.3.3 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán liên quan đến tài sản cố định 15

Trang 5

2.3.4 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán liên quan đến đầu tư

tài chính 16

2.4 Vận dụng lý thuyết kế toán thực chứng trong nghiên cứu 16

2.4.1 Tổng quan lý thuyết kế toán thực chứng 16

2.4.2 Các lý thuyết kế toán thực chứng cơ bản 18

2.5 Tổng quan các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp 22

2.5.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài 22

2.5.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 28

2.6 Khoảng trống nghiên cứu 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 33

CHƯƠNG III: XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

3.1 Xây dựng giả thuyết khoa học 34

3.2 Phương pháp nghiên cứu 43

3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 43

3.2.2 Phương pháp ước lượng và mô hình nghiên cứu 46

Kết luận Chương 3 56

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN VÀ ƯỚC TÍNH KẾ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 58

4.1 Đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam và các công ty phi tài chính của Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán 58

4.1.1 Đặc điểm thị trường chứng khoán Việt Nam 58

4.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 60

4.2 Thống kê mô tả dữ liệu 62

4.3 Kiểm định giả thuyết 66

4.4 Phân tích hồi quy 78

Kết luận Chương 4 85

Trang 6

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, CÁC KHUYỀN NGHỊ86

VÀ KẾT LUẬN 86

5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán 86

5.1.1 Thảo luận về các giả thuyết nghiên cứu 86

5.1.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 90

5.2 Một số khuyến nghị 92

5.2.1 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 92

5.2.2 Đối với công ty kiểm toán 93

5.3 Đóng góp của luận án 96

5.3.1 Đóng góp về mặt lý luận 96

5.3.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 97

5.4 Những hạn chế của luận án 98

5.5 Một số gợi ý nghiên cứu trong tương lai 98

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 101

PHỤ LỤC 109

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Ý nghĩa

9 HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà nội

Trang 8

DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán 30

Bảng 3.1 Bảng tổng quan về phương pháp kế toán 48

Bảng 3.2 Sự lựa chọn chính sách kế toán và ảnh hưởng đến chiến lược lợi nhuận 53

Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả dữ liệu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam 65

Bảng 4.2 Hệ số hồi quy điều chỉnh của mô hình 78

Bảng 4.3: Mức ý nghĩa của kiểm định F 80

Bảng 4.4: Mức ý nghĩa của kiểm định t 80

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án 5

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài

trung vào dự đoán và giải thích động cơ của nhà quản lý dẫn đến quyết định lựa chọn

thử nghiệm mang tính chất kinh nghiệm nhằm dự đoán hành vi quản lý, liên quan đến cách mà nhà quản lý nghĩ và sử dụng trong lựa chọn một phương pháp kế toán khi có

sự xuất hiện của các khuyến khích và thay đổi kế toán Một giả định cơ bản trong lý thuyết kế toán thực chứng là người đại diện là những cá nhân có lý trí quan tâm đến những lợi ích khác của chính họ Điều này có nghĩa, nhân tố động cơ ảnh hưởng đến

quản lý tài chính trong việc lập kế hoạch và kiểm soát đúng các tài sản hiện hành và các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Các yếu tố chính góp phần vào sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp được phân loại như các yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố bên ngoài bao gồm tài chính (ví dụ như sự sẵn có của nguồn tài chính), điều kiện kinh tế, cạnh tranh, quy định của chính phủ, công nghệ và các yếu tố môi trường Các yếu tố nội bộ là kỹ năng quản lý, nguồn nhân lực, hệ thống kế toán và phương thức quản lý tài chính Các bộ phận kế toán nói chung được xem như là một đơn vị dịch vụ để hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp bằng cách cung cấp thông tin

khác nhau đến người sử dụng thông tin tài chính Ví dụ: Khoản nợ của doanh nghiệp ở mức cao, để tạo lòng tin đối với các tổ chức tín dụng, nhà quản lý thường che đậy bằng cách cố gắng tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp ở mức cao, để tránh sự kiểm soát của chỉnh phủ (thắt chặt các ưu đãi, kiểm soát chặt chẽ hoạt động,…) thì nhà quản lý doanh nghiệp thường che đậy bằng việc tìm ra các phương thức để giảm lợi nhuận doanh nghiệp Một trong các phương thức đó là vận

và khách quan về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, tuy nhiên

Trang 10

lý do khác nhau Mặc dù một trong những nguyên tắc cơ bản của kế toán là mọi thông tin kế toán phải dựa trên bằng chứng khách quan nhưng tính khách quan này bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự lựa chọn chủ quan của kế toán đối với các chính sách kế toán áp dụng trong doanh nghiệp.’

một trong những chính sách quan trọng của doanh nghiệp bao gồm những nguyên tắc,

cơ sở và các phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày Báo cáo tài chính Chính sách kế toán áp dụng ở mỗi doanh nghiệp được chuẩn mực kế toán cho phép lựa chọn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, do việc áp dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau được trình bày trên Báo cáo tài chính, nên bên cạnh việc lựa chọn chính sách kế toán phù hợp theo chuẩn mực, doanh nghiệp còn phải lựa chọn chính sách kế toán có thể giúp họ “quản trị” lợi nhuận, mang lại những thông tin có lợi nhất cho họ Như vậy, có thể thấy chính sách kế toán ở mỗi doanh nghiệp bị chi phối bởi nhiều nhân tố chủ quan (tài sản, nợ phải trả, tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý,…) của doanh nghiệp đó Việc tìm hiểu các nhân tố này là một vấn đề có tính cấp thiết bởi nó có thể giúp cho người sử dụng Báo cáo tài chính dựa vào những nhân tố này có thể dự đoán được xu hướng lựa chọn chính sách kế toán tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, cũng như dự đoán được các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính thực tế có xu hướng tăng hay giảm so với số liệu được trình bày Vì vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán dựa trên lý thuyết kế toán thực chứng là rất cần thiết trước thực trạng đáng lo ngại về chất lượng Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Chính vì những lý do trên Nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu là “Nghiên

cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Từ hệ thống hóa và phát triển lý luận về chính sách kế toán tại Việt Nam kết hợp với việc phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán trong các doanh nghiệp trên cơ sở lý thuyết kế toán thực chứng từ đó giúp cho nhà quản trị có căn cứ khách quan để lựa chọn chính sách kế toán phù hợp, giúp người sử dụng thông tin kế toán nhận biết được xu hướng tăng, giảm lợi nhuận trong doanh nghiệp và đề xuất giải pháp nhằm quản lý tốt hơn việc vận dụng chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 11

* Mục tiêu tổng quát:

cả báo cáo tài chính, ảnh hưởng lớn quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính Do

đó luận án nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán trong các

doanh nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó giúp người sử dụng báo cáo tài chính có các

thông tin hữu ích về mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc lựa chọn chính sách kế toán được sử dụng bởi ban quản trị công ty, ảnh hưởng đến lợi nhuận được báo cáo Các nhà đầu tư có thể ra các quyết định đầu tư đáng tin cậy hơn Nó cũng cho phép các nhà đầu tư đánh giá đúng hơn về hoạt động tương lai của doanh nghiệp

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu, luận án đặt ra câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam?

Câu hỏi 2: Mức độ sử dụng chính sách kế toán với chiến lược tăng giảm lợi nhuận của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án:

Luận án này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách

kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam. Các nhân tố có thể là quy mô của doanh nghiệp, tình hình tài chính (khủng hoảng, tình hình tài sản,…), tỷ lệ

sở hữu của ngân hàng trong doanh nghiệp; tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý không điều hành, mức độ rủi ro thị trường của doanh nghiệp,… Chính sách và ước tính kế toán bao gồm chính sách và ước tính liên quan đến hàng tồn kho, khấu hao, dự phòng,…

Phạm vi nghiên cứu

Thứ nhất, về nội dung: Luận án xem xét các nhân tố được cung cấp trên các Báo cáo tài chính của các công ty có quy mô lớn niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE), Hà Nội (HNX) (lợi nhuận từ HĐKD, doanh thu, khấu hao TSCĐ, hàng tồn kho, các khoản phải trả, tổng tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu,…) Luận

án không tính đến các thông tin như thời gian hoạt động, thời gian niêm yết, … của

Trang 12

Thứ hai, về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu các công ty phi tài chính

niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE), Hà Nội (HNX) Các công

ty tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng do có những đặc thù trong HĐKD tương đối khác các công ty còn lại nên sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án

Thứ ba, về thời gian nghiên cứu: Tính đến cuối năm 2014, trên Sở giao dịch

chứng khoán TP.HCM (HOSE), Hà Nội (HNX) có 690 Công ty niêm yết với thống kê

có cùng thời điểm kết thúc năm tài chính vào ngày 31/12 hàng năm, tạo thành bảng

980 quan sát để nghiên cứu (Có 980 quan sát vì thời điểm lên sàn của một số công ty

là sau năm 2010; 200 công ty được chọn đều có doanh thu qua các năm đạt trên 1.000 tỷ/năm) Trong 200 công ty được chọn thì 100 công ty được lấy trên sàn HNX và 100 công ty được lấy trên sàn HOSE

1.5 Khung nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án, khung nghiên cứu của Luận án được thể hiện qua Sơ đồ 1.1 dưới đây:

Trên cơ sở lí luận về lý thuyết kế toán thực chứng, kết hợp với tổng quan các công trình nghiên cứu có cùng chủ đề về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán, Luận án đã chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, từ đó xây dựng mô hình dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) Để lựa chọn mô hình nghiên cứu, luận án sử dụng kiểm định Stepwise Dựa trên kết quả thu thập được sau khi xử lý dữ liệu, Luận án tiến hành thảo luận kết quả và đưa ra các khuyến nghị, đề xuất cho các đối tượng như: nhà quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan Nhà Nước về khả năng sử dụng các thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính cho việc lựa chọn chính sách

kế toán nhằm giúp các đối tượng đưa ra các quyết định kinh doanh, đầu tư

Trang 13

Khung lý thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án

Khoảng trống nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc

lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam

Giả thuyết nghiên cứu

Mô hình kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Tài trợ nội bộ

Phân tán QSH

Tỷ lệ SH ngân hàng

% NQL không điều hành

Vốn ngân sách Quản trị lợi nhuận

Mức độ sử dụng vốn

Chính sách kế toán tăng giảm lợi nhuận

Trang 14

1.6 Kết cấu Luận án

Luận án gồm có 5 Chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Trong Chương 1, Luận án trước hết trình bày lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu và xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Các mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa bằng các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu Bên cạnh đó, Luận án trình bày khái quát mô hình nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ đạt được

Chương 2: Cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán

Trong Chương 2, Luận án trình bày các vấn đề lý luận về lý thuyết kế toán thực chứng và chính sách kế toán trong doanh nghiệp và tổng quan các công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán Trên cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán, Luận án chỉ ra khoảng trống trong các nghiên cứu đã thực hiện

Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu

Kế thừa cơ sở lí thuyết và tổng quan tài liệu ở Chương 2, Chương 3 Luận án trình bày cơ sở xây dựng các giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu dự báo

về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán là phương pháp định lượng, sử dụng kĩ thuật hồi quy OLS, Stepwise

Chương 4: Kết quả thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam

Phần đầu Chương 4, Luận án trình bày khái quát về TTCK Việt Nam, đặc điểm các công ty tham gia thị trường chứng khoán Phần tiếp theo trong Chương 4, Luận án trình bày sơ lược số liệu thống kê mô tả và phân tích tương quan cho các biến trong

mô hình Phần cuối của Chương 4, Luận án trình bày cụ thể kết quả hồi quy mô hình các nhân tố đã xây dựng ở Chương 3 bằng hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS)

Trang 15

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận

Từ kết quả hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hưởng ở Chương 4, trong Chương

5 Luận án sẽ tiến hành thực hiện kiểm định và dựa vào giá trị của hệ số xác định hiệu

theo mô hình OLS Câu trả lời cho các giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán sẽ được trình bày ở Chương 5 Phần cuối của Chương 5, Luận án nêu ra các đề xuất, khuyến nghị cho các Cơ quan quản lý Nhà Nước, nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà đầu tư

Trang 16

từ đó xây dựng mô hình dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách

kế toán Kết cấu của luận án được chia thành 05 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán

Chương 3: Xây dựng giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các khuyến nghị và kết luận

Trang 17

đã thực hiện chính sách kế toán như thế nào

Chuẩn mực kế toán quốc tế xác định các chính sách kế toán là "những nguyên tắc, căn cứ, công ước, quy tắc và thực tiễn áp dụng bởi một doanh nghiệp để xác định

rõ các tác động của các giao dịch và các sự kiện khác sẽ được phản ánh trong báo cáo tài chính của nó”

Chuẩn mực kế toán quốc tế yêu cầu các đơn vị áp dụng các chính sách kế toán theo hoàn cảnh cụ thể của mình nhằm mục đích đưa ra một cái nhìn chân thực và công bằng Các chính sách này sau đó phải được xem xét thường xuyên để đảm bảo rằng chúng vẫn còn thích hợp Chính sách kế toán nên được thay đổi khi một chính sách mới trở nên phù hợp hơn với hoàn cảnh cụ thể của đơn vị Các thay đổi có thể là cần thiết trong việc thực hiện các tiêu chuẩn mới

ước tính kế toán và các sai sót” thì chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính

2.1.1.2 Đặc trưng của chính sách kế toán

- Chính sách kế toán là những nguyên tắc:

Nguyên tắc kế toán được hiểu là các quy định, các thủ tục cho việc ghi nhận, đo lường các yếu tố của Báo cáo tài chính để việc lập Báo cáo tài chính đạt được mục tiêu

Trang 18

Accounting Princeples – GAAP) Các nguyên tắc này bao gồm một số khái niệm, nguyên tắc, phương pháp tiến hành và những yêu cầu cho việc đánh giá, ghi chép và báo cáo các hoạt động, các sự kiện, các nghiệp vụ có tính chất tài chính của một doanh nghiệp, các nguyên tắc bao gồm nguyên tắc kỳ kế toán, nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc giá gốc, cơ sở dồn tích, nguyên tắc trọng yếu, nguyên tắc thận trọng,…

- Chính sách kế toán là những lựa chọn:

Do thực tiễn luôn đa dạng nên các chuẩn mực kế toán cho phép một không gian

mở mà mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một các thức đo lường phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau trong một chính sách kế toán sẽ làm thay đổi thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính hay thông tin cung cấp ra bên ngoài nhằm hướng tới mục đích thuế hoặc lợi tức cho cổ đông

- Chính sách kế toán là ước tính kế toán:

Ước tính kế toán là các nguyên tắc đo lường đối tượng kế toán mà công ty tự xây dựng do chuẩn mực không thể bao quát hóa mọi vấn đề phát sinh ở các đơn vị cơ sở

Theo hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, các ước tính

kế toán phổ biến bao gồm hai loại:

Một là, ước tính liên quan đến các khoản mục đã phát sinh như khấu hao tài sản

cố định, phân bổ chi phí trả trước, ước tính doanh thu được ghi nhận theo hợp đồng xây dựng, các khoản dự phòng tổn thất tài sản (dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng đầu tư tài chính,….)

Hai là, ước tính liên quan đến các khoản mục chưa phát sinh như: các khoản

dự phòng phải trả về bảo hành sản phẩm, dự phòng tái cơ cấu doanh nghiệp, chi phí trả trước

2.1.2 Vai trò của chính sách kế toán

Kế toán luôn là công cụ đắc lực của quá trình quản lý các hoạt động kinh tế trên phương diện cung cấp thông tin tài chính về một tổ chức nhất định Những thông tin

kế toán cung cấp chỉ thực sự hữu ích khi đáp ứng được yêu cầu về thông tin quản lý

Chính sách kế toán là một trong những chính sách quan trọng của doanh nghiệp Chính sách kế toán áp dụng ở mỗi doanh nghiệp được chuẩn mực kế toán cho phép lựa chọn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp đó Tuy nhiên, do việc áp dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau được trình bày trên báo cáo tài chính, nên bên cạnh việc lựa chọn chính sách kế toán

Trang 19

phù hợp theo chuẩn mực, doanh nghiệp còn phải lựa chọn chính sách kế toán có thể giúp họ “quản trị” lợi nhuận, mang lại những thông tin có lợi nhất cho họ

Ở nước ta đang tồn tại rất nhiều các loại hình doanh nghiệp, với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các nguồn thông tin tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, mà các thông tin tài chính này do kế toán cung cấp Chính vì vậy, thông tin kế toán cung cấp ngày càng phát huy tính hữu hiệu trong việc ra quyết định của các đối tượng có liên quan và báo cáo tài chính là công cụ thể hiện thông tin này

Đối với kế toán viên: Chính sách kế toán là cơ sở để thực hiện các công việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị và tuân thủ quy định pháp luật

Đối với nhà quản trị: Chính sách kế toán là phương tiện để kiểm soát hoạt động của công ty bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận Từ đó, các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra các phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, chính sách tài trợ phù hợp và lập kế hoạch cho hoạt động của doanh nghiệp Việc vận dụng các chính sách kế toán khác nhau sẽ cho phép nhà quản trị công ty có khả năng điều chỉnh các thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính của công ty từ kỳ

giúp các nhà quản trị có thể làm đẹp các báo cáo tài chính khi cần thiết

Đối với cơ quan thuế: Thông qua chính sách kế toán công bố là cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các quy định kế toán, đối chiếu với các quy định của thuế để có những điều chỉnh; kiểm tra việc chấp hành các chế độ tài chính và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ phải trả cho Nhà nước

2.2 Các mục tiêu của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc xây dựng chính sách kế toán

2.2.1 Mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp

có thể quên vấn đề hiệu quả Năng suất - chất lượng - hiệu quả là mục tiêu phấn đấu của mọi nền sản xuất, là thước đo trình độ phát triển về mọi mặt của toàn bộ nền kinh

tế quốc dân cũng như từng đơn vị cơ sở Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân, là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, tạo tiền đề phấn đấu đạt mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như tích luỹ cho xã hội Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp không chủ

Trang 20

quả cao mà có thái độ ỷ lại trông chờ vào nhà nước Từ khi bước sang cơ chế thị trường với sự quản lý vĩ mô của nhà nước đã có không ít các doanh nghiệp do không thích nghi được với cơ chế mới nên đã bị đào thải (giải thể hoặc phá sản) Nền kinh tế thị trường đã mở ra một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp hội nhập và phát triển nhưng để thực hiện được điều đó thì mỗi doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra, phải hoạt động kinh doanh có hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là phải tạo ra lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng tăng Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế có hiệu quả nhất, là chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn, trình độ tổ chức sản xuất sản phẩm Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại hay phá sản của doanh nghiệp Việc thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được vững chắc

Kế toán được xem là một công cụ của người quản lý để kiểm tra, giám sát mọi hoạt động và vận hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả Tùy thuộc vào mục tiêu điều chỉnh tăng hay giảm lợi nhuận mà kế toán sẽ vận dụng các chính sách kế toán phù hợp để điều chỉnh lợi nhuận theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp Khi nhà quản trị cần những thông tin của kế toán để cung cấp ra bên ngoài cho các đối tác của doanh nghiệp thì cũng có thể yêu cầu kế toán vận dụng các chính sách kế toán sao cho thông tin cung cấp có lợi nhất cho doanh nghiệp Ví dụ: Khi doanh nghiệp chuẩn bị phát hành cổ phiếu, với mục đích bán cổ phiếu với giá cao thì chiến lược của doanh nghiệp

là lựa chọn chính sách kế toán giảm chi phí, tăng lợi nhuận

2.2.2 Mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế thu nhập doanh nghiệp có lịch sử hình thành từ rất sớm được thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận) Từ năm 1990, Quốc hội ban hành luật thuế Lợi tức

áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp trong các khu vực và công tác cải cách hệ thống chính sách thuế nói chung, cải tiến công tác quản lý thuế nói riêng đã góp phần quan trọng nâng cao tỷ trọng thuế TNDN trong tổng số thu của NSNN Năm 2012, số thu thuế TNDN chiếm 9,48% trong tổng thu NSNN, năm 2013 là 12,48%, 2014 là 11,05% Nguồn thu từ

Trang 21

thuế TNDN chiếm tỷ trọng lớn trong NSNN không chỉ phản ánh sự gia tăng các doanh nghiệp mà còn phản ánh về chất nguồn thu của NSNN do kết quả lao động thặng dư

mà có, đồng thời tạo cho NSNN có tính ổn định nhất định

Các doanh nghiệp thường có xu hướng vận dụng các chính sách kế toán sao cho số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thấp nhất nhằm mục đích sử dụng khoản thuế chậm nộp đầu tư vào các nhu cầu khác của doanh nghiệp Các nghiên cứu của Wolfson (1993), Cloyd (1996) và Bosnyák (2003) tại Hungary về các lựa chọn chính sách kế toán của các tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ đã xác nhận phát hiện của mình về tác động của thuế đến kế toán, thuế luôn là yếu tố mạnh mẽ nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán

2.3 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong công tác kế toán tại doanh nghiệp

2.3.1 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán liên quan đến hàng tồn kho

2.3.1.1 Xác định giá trị hàng tồn kho

Việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng tồn kho sẽ có ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý trong việc trình bày giá trị hàng tồn kho trên báo cáo tài chính và kết quả lãi, lỗ của các hoạt động của một doanh nghiệp

Thông tin về hàng tồn kho và kết quả lãi, lỗ theo từng loại hoạt động của doanh nghiệp là cơ sở để phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định quản lý hàng tồn kho

và các quyết định kinh doanh Sẽ có những thiếu sót, sai lầm trong các định hướng sản xuất kinh doanh một khi các thông tin kế toán cung cấp không đảm bảo kịp thời, trung thực và hợp lý

Lợi nhuận kế toán trong kỳ có liên quan đến lựa chọn chính sách tính giá hàng tồn kho trong điều kiện giá cả hàng hóa có xu hướng biến động Giả sử không xem xét ảnh hưởng của các nhân tố khác, trong điều kiện giá cả có xu hướng tăng việc lựa chọn phương pháp FIFO sẽ tạo ra một lợi nhuận kế toán lớn hơn so với phương pháp LIFO, nhưng dòng tiền ra về nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp LIFO lại thấp hơn phương pháp FIFO Ngược lại chọn phương pháp LIFO tuy tạo ra lợi nhuận kế toán thấp nhưng doanh nghiệp tiết kiệm một dòng tiền ra về nộp thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ngân sách Do vậy phương pháp LIFO thường được quan tâm khi lạm phát hay chỉ số giá của một mặt hàng nào đó tăng nhanh Có thể tóm tắt ảnh hưởng của các phương pháp tính giá đến việc trình bày các chỉ tiêu trên

Trang 22

Chỉ tiêu

2.3.1.2 Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho là dự phòng phần giá trị bị tổn thất do giảm giá vật tư, thành phẩm tồn kho xảy ra vào cuối năm tài chính (Khi khóa sổ BCTC) Theo chuẩn mực số 02 – Hàng tồn kho, doanh nghiệp được trích lập dự phòng khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc của hàng tồn kho

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho được coi như một phần chi phí và được trừ vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việc trích dự phòng giảm giá hàng tồn kho một mặt giúp doanh nghiệp có thể tránh được những khoản tổn thất nhưng mặt khác

nó cũng tạo ra kẽ hở cho chính doanh nghiệp đó trong việc cố tình điều chỉnh chi phí,

từ đó điều chỉnh lợi nhuận cũng như số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp

Dự phòng giảm giá hàng tồn kho là khoản mục rất dễ xảy ra các sai phạm và

là đối tượng quan tâm đặc biệt của kế toán, kiểm toán bởi tính trọng yếu của nó cũng như mối liên hệ của nó tới các chỉ tiêu khác trên Báo cáo tài chính Xử lý các khoản

dự phòng là một trong những vấn đề thường không đơn giản trong mối quan hệ vốn

đã phức tạp giữa các công cụ quản lý như Tài chính - Thuế - Kế toán, bởi lẽ nó liên quan trực tiếp đến doanh thu, chi phí, kết quả lợi nhuận và số thuế thu nhập phải nộp của doanh nghiệp Cũng chính vì thế mà nó thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau, từ những nhà nghiên cứu ban hành các chính sách chế độ quản lý đến các doanh nghiệp khi thực hiện các chính sách và các cơ quan, nhân viên thuế khi thực hiện thu thuế cho nhà nước cũng như các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán

Trang 23

2.3.2 Lựa chọn chính sách kế toán liên quan đến nợ phải thu

Trích lập dự phòng tại doanh nghiệp dựa vào dự kiến mức tổn thất không thu hồi được Do đó doanh nghiệp có thể dự kiến mức tổn thất cao hay thấp là tùy vào nhận thức chủ quan của doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp sẽ ghi nhận mức trích lập dự phòng vào chi phí quản lý trong kỳ và sẽ ảnh hưởng đến chi phí phát sinh

với sự thay đổi của chi phí

2.3.3 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán liên quan đến tài sản cố định

2.3.3.1 Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định

Các doanh nghiệp có quyền nhất định trong việc lựa chọn các phương pháp khấu hao TSCĐ Theo đó, các doanh nghiệp có thể lựa chọn một phương pháp khấu hao cho mục đích kế toán khác với phương pháp khấu hao cho mục đích tính thuế Điều này giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp tính toán mức độ khấu hao hợp lý để đảm bảo thời gian thu hồi lượng vốn đầu tư vào TSCĐ, chủ động trong việc đổi mới nhanh chóng máy móc thiết bị, hiện đại hóa quy trình sản xuất kinh doanh

Theo thông tư 45/2013/TT-BTC có hiệu lực ngày 10/06/2013, có ba phương pháp khấu hao tài sản cố định mà doanh nghiệp có quyền lựa chọn là: Phương pháp khấu hao đường thẳng; Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh; Phương pháp khấu hao theo sản lượng

Doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp khấu hao nhanh hoặc chậm tùy thuộc vào đặc điểm và mục tiêu của doanh nghiệp Việc lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ làm ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp, do

đó ảnh hưởng đến dòng tiền trên Báo cáo tài chính Có hai cách để lựa chọn phương pháp khấu hao nhanh hay chậm trong các doanh nghiệp đó là lựa chọn phương pháp khấu hao (đường thẳng hay số dư giảm dần có điều chỉnh) hoặc lựa chọn thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định (ngắn hay dài)

2.3.3.2 Chính sách kế toán liên quan đến chi phí sửa chữa tài sản cố định

Việc trích trước hoặc phân bổ thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào việc sửa chữa đó sẽ dẫn đến chi phí hạch toán vào từng kỳ sẽ ít hay nhiều làm chỉ tiêu “lợi nhuận” trên báo cáo tài chính sẽ tăng hoặc giảm Nếu kế toán không xem xét, tính toán thời gian hợp lý thì sẽ ảnh hưởng đến thông tin cung cấp trên báo cáo tài chính

Trang 24

2.3.4 Lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán liên quan đến đầu tư tài chính

trong tương lai do các khoản đầu tư chứng khoán của doanh nghiệp bị giảm giá tại thời điểm lập báo cáo tài chính để ghi nhận trước giá trị tổn thất vào chi phí tài chính của kỳ kế toán hiện tại Đối với mã cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán thì

cơ sở đối chiếu để trích dự phòng là giá thị trường tại thời điểm đóng sàn giao dịch Đối với mã cổ phiếu chưa được niêm yết trên sàn chứng khoán (OTC) thì Bộ tài chính chưa đưa ra cơ sở giá để đối chiếu khi trích dự phòng do đó các doanh nghiệp có thể tự đưa ra tham số giá để đối chiếu, điều này làm ảnh hưởng đến lợi nhuận trình bày trên Báo cáo tài chính

2.4 Vận dụng lý thuyết kế toán thực chứng trong nghiên cứu

2.4.1 Tổng quan lý thuyết kế toán thực chứng

trong đó giai đoạn thứ nhất trong thập niên 1970 bao gồm các nghiên cứu về kế toán

và phản ứng của thị trường vốn Nghiên cứu về thị trường vốn đã giả thích được việc

sử dụng thông tin tài chính của nhà đầu tư nhưng chưa giải quyết được:

- Lý do sự lựa chọn chính sách kế toán của nhà quản lý

- Ảnh hưởng đến chính sách kế toán của các bên khác như chủ nợ, nhà đầu tư,… Chính vì vậy, sang giai đoạn thứ hai, các nhà nghiên cứu thực chứng chuyển trọng tâm sang nghiên cứu về lựa chọn chính sách kế toán Phần lớn các nghiên cứu về lựa chọn chính sách kế toán sử dụng kết hợp các tập hợp đa dạng các biến bao gồm:

- Kế hoạch thưởng (Bonus plans)

- Hợp đồng nợ (Debt contracts)

- Chính trị (political process)

Ba giả thuyết cụ thể được kiểm tra thường xuyên là giả thuyết về kế hoạch thưởng, giả thuyết về nợ/vốn chủ sở hữu và giả thuyết về chi phí chính trị Lý thuyết này có xu hướng khẳng định mỗi giả thuyết như chủ nghĩa hành vi cơ hội của các nhà quản lý

“Giả thuyết về kế hoạch thưởng” là các nhà quản lý của công ty với chương trình thưởng thường có vẻ như sẽ sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận báo cáo của kỳ hiện tại Những sự lựa chọn như vậy có lẽ sẽ tăng giá trị hiện tại của các khoản thưởng nếu hội đồng khen thưởng của ban giám đốc không điều chỉnh

Trang 25

phương pháp đã chọn Các nghiên cứu của Watts và Zimmerman (1986), Christie Forthcoming (1990) cũng nhất quán với giả thuyết kế hoạch thưởng

Một chương trình thưởng không phải luôn đem lại cho nhà quản lý những khuyến khích để tăng lợi nhuận Nếu không có những thay đổi kế toán, lợi nhuận sẽ thấp hơn mức tối thiểu để được thưởng, các nhà quản lý có thể giảm lợi nhuận năm nay nhằm tăng lợi nhuận kỳ vọng để được thưởng trong tương lai Healy (1985) sử dụng nhiều loại thủ thuật để xác định tình huống nhà quản trị muốn giảm lợi nhuận Kết quả cuả ông nhất quán với thủ thuật của nhà quản trị ảnh hưởng đến phần thưởng của họ

Giả thuyết nợ/vốn chủ sở hữu dự đoán tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu càng cao thì các nhà quản trị càng có xu hướng sử dụng các phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận

Tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu càng cao thì các công ty càng bị ràng buộc gần hơn với giao kèo nợ (Kalay, 1982) Các ràng buộc giao kèo càng chặt thì khả năng gia tăng các chi phí Các nhà quản lý thận trọng suy xét bằng cách chọn lựa phương pháp kế toán làm tăng lợi nhuận, nới lỏng các ràng buộc nợ

Press và Winthrop và Duke và Hunt (2012) phát hiện ra tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu có mối tương quan với sự chặt chẽ của hợp đồng trái phiếu (bond covenants) như giả định trong giả thuyết nợ/vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, một số nghiên cứu tránh sử dụng tỷ số nợ/ vốn chủ sở hữu như một biến đại diện cho ràng buộc chặt chẽ của hợp đồng vay bằng cách sử dụng các kiểm tra trực tiếp Chẳng hạn, Bowen và các tác giả khác (1981) điều tra thời điểm nào thì lựa chọn chính sách kế toán thay đổi cùng với

độ chặt chẽ của các điều khoản được cụ thể trong hợp đồng vay Mối liên hệ giữa mức

độ sử dụng đòn bẩy tài chính và lựa chọn chính sách kế toán là quy tắc kinh nghiệm trước khi nghiên cứu kế toán thực chứng ra đời

Giả thuyết về chi phí chính trị cho rằng các công ty càng lớn thì nhà quản lý sẽ lựa chọn các chính sách làm trì hoãn lợi nhuận trong tương lai và tối thiểu hóa lợi nhuận giai đoạn hiện tại để tránh sự can thiệp của chính quyền Theo đó, để tránh bất lợi trong đàm phán (đàm phán lương với người lao động, đàm phán với các đối tác) và tránh bất lợi trong việc thụ hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước thì nhà quản trị doanh nghiệp mong muốn công bố thông tin với mức lợi nhuận thấp

Các nghiên cứu và tài liệu hiện đại giải thích tại sao kế toán được sử dụng và cung cấp một khung cho dự đoán về lựa chọn kế toán Lựa chọn không có nghĩa “ phương pháp tốt hơn” Lựa chọn được tạo ra liên quan đến các mục đích cụ thể Tài

Trang 26

liệu kế toán thực chứng đưa ra đề xuất chấp nhận tối đa hóa lợi ích của các bên hợp đồng và khám phá lợi ích ảnh hưởng như thế nào đến phương pháp kế toán cụ thể

2.4.2 Các lý thuyết kế toán thực chứng cơ bản

2.4.2.1 Lý thuyết hợp đồng(contracting theory)

hợp đồng giữa các nhà cung cấp và các khách hàng Doanh nghiệp tồn tại vì chi phí của các bên sẽ thấp hơn khi thông qua doanh nghiệp thay vì giao dịch trực tiếp giữa từng bên

Có nhiều loại hợp đồng khác nhau như: Hợp đồng thuê nhà quản lý, hợp đồng vay ngân hàng, hợp đồng thuê nhân công, hợp đồng mua hàng, hợp đồng bán hàng,… Trong các nghiên cứu về lý thuyết kế toán, người ta đặc biệt quan tâm đến hai loại hợp đồng đầu tiên: liên quan đến nhà quản lý và ngân hàng

2.4.2.2 Lý thuyết ủy nhiệm (agency theory)

này nghiên cứu môi quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal) và bên được ủy nhiệm (agency) Thông qua hợp đồng, bên được ủy nhiệm thực hiện một số công việc đại diện cho bên ủy nhiệm Ví dụ, trong hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý, các cổ đông ủy nhiệm cho nhà quản lý thay mình sử dụng vốn để kinh doanh

đều tối đa hóa lợi ích của mình Vấn đề là làm sao cho bên được ủy nhiệm hành xử theo hướng tối đa hóa lợi ích của bên ủy nhiệm Ví dụ, nhà quản lý sẽ tăng lợi ích của mình thông qua việc chi tiêu nhiều hơn (xây dựng văn phòng lớn, mua sắm xe sang trọng,…) và số tiền này sẽ làm giảm lợi nhuận của các cổ đông Hoặc nhà quản lý sẽ làm việc kém lỗ lực hơn trong việc nâng cao giá trị của công ty

nhiệm về cơ bản là số tiền mà bên ủy nhiệm mất đi do sự tách rời lợi ích của họ với lợi ích của bên được ủy nhiệm Jensen và Meckling chia chi phí ủy nhiệm thành ba loại:

Chi phí giám sát là chi phí để giám sát hành vi của người được ủy nhiệm,

nhằm để họ phục vụ cho lợi ích của người ủy nhiệm Ví dụ, chi phí kiểm toán theo

Trang 27

luật định, chi phí duy trì các hoạt động kiểm soát và báo cáo,… trong một công ty Các chi phí này được tính vào chi phí hoạt động của công ty nên sẽ làm giảm lợi ích của các cổ đông là bên ủy nhiệm Trong trường hợp này, bên ủy nhiệm sẽ tự bảo vệ bằng cách điều chỉnh số tiền họ trả cho bên được ủy nhiệm Ví dụ, trong quan hệ cổ đông - nhà quản lý, các cổ đông sẽ trả tiền lương, thưởng ít hơn cho các nhà quản lý

ít kinh nghiệm hoặc chưa có uy tín để bù lại chi phí giám sát mà họ phải bỏ ra Cách làm này được gọi là “bảo vệ thông qua giá” (price protection) Thông qua sự bảo vệ bằng giá, bên được ủy nhiệm cuối cùng phải chịu chi phí giám sát được ràng buộc trong hợp đồng

Chi phí liên kết là chi phí để thiết lập và duy trì một cơ chế nhằm đảm bảo cho

người được ủy nhiệm đại diện cho quyền lợi của người ủy nhiệm Bên được ủy nhiệm phải chịu chi phí giám sát thông qua sự bảo vệ bằng giá Tuy nhiên, để hạn chế điều này, họ có thể thiết lập một cơ chế bảo đảm rằng họ sẽ hành xử vì lợi ích của bên ủy nhiệm Ví dụ, người quản lý (bên được ủy nhiệm) costheer tự nguyện cung cấp báo cáo tài chính hàng quý cho cổ đông (bên ủy nhiệm) hoặc cam kết rằng sẽ không tiết lộ thông tin cho bên ngoài,… Những chi phí phát sinh do các hành động trên là chi phí liên kết Bên được ủy nhiệm là bên phải chịu chi phí liên kết Trong ví dụ trên, nhà quản lý phải chịu các chi phí như:

bên ngoài

chi phí này giảm được chi phí giám sát (thông qua sự bảo vệ bằng giá) mà họ đang phải gánh chịu Do đó, họ có thể chấm dứt không chấp nhận chi phí liên kết khi mức tăng lên của chi phí liên kết bằng hoặc lớn hơn mức giảm xuống của chi phí giám sát

họ đang chịu

Các chi phí khác hay là các ảnh hưởng giảm lợi ích của bên ủy nhiệm ngay cả

khi mà đã có chi phí giám sát và chi phí liên kết, nhưng hành vi của người được ủy nhiệm cũng không hoàn toàn vì lợi ích của người ủy nhiệm Tiếp tục ví dụ trên, mặc

dù các hình thức giám sát và báo cáo được thực hiện, người quản lý vẫn không “hết sức mình” để tối đa hóa lợi ích của cổ đông mà chỉ nỗ lực trong một phạm vi nhất định Lúc này, các ảnh hưởng giảm đi của lợi ích cổ đông do sự nỗ lực có giới hạn của

Trang 28

Giả sử tồn tại thị trường ủy nhiệm (ví dụ, thị trường các nhà quản lý chuyên nghiệp) và đây là một thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong form efficient market), thị trường này sẽ phản ánh mọi thông tin vào giá mà bên ủy nhiệm trả cho bên được ủy nhiệm Ví dụ, tất cả các thông tin về nhà quản lý sẽ có đủ để cổ đông quyết định mức giá mà họ sẽ trả cho nhà quản lý Ngoài ra, tùy theo nỗ lực của nhà quản lý (ví dụ, các chi phí liên kết) mà cổ đông có thể tăng hoặc giảm giá này vào các kỳ sau Hơn nưa, nếu nhà quản lý không làm tốt vai trò của mình là đại diện cho quyền lợi cổ đông, họ

có thể mất uy tín và giá trị của họ trong tương lai trên thị trường sẽ bị giảm xuống

quản lý không gánh chịu toàn bộ các hình phạt trên (giảm lương thưởng, mất uy tín,…) và họ vẫn có thể hành xử không hoàn toàn vì lợi ích cổ đông Lúc này, chi phí khác đã phát sinh Nếu sự bảo vệ về giá không đầy đủ thì phần chi phí khác này sẽ do các cổ đông gánh chịu một phần hay toàn bộ

2.4.2.3 Quan hệ nhà quản lý - cổ đông

Theo lý thuyết ủy nhiệm thì cả hai bên cổ đông (bên ủy nhiệm) và nhà quản lý (bên được ủy nhiệm) đều tối đa hóa lợi ích của mình và tồn tại một khả năng là nhà quản lý hành xử không hoàn toàn vì lợi ích cổ đông Đi sâu vào sự khác biệt giữa lợi ích này,

có thể đưa ra những vấn đề sau:

Né tránh rủi ro: Nhà quản lý có khuynh hướng thích mức độ rủi ro thị trường thấp hơn cổ đông vì:

chịu rủi ro trong phạm vi số vốn đầu tư

thân của họ Khi doanh nghiệp gặp rủi ro, nhà quản lý có thể bị mất danh tiếng, ảnh hưởng đến giá của họ trong các hợp đồng sau này

kinh doanh có mức độ rủi ro thị trường thấp, điều này làm suy giảm lợi ích của cổ đông

Cổ tức: Nhà quản lý có khuynh hướng chia cổ tức thấp hơn mong muốn của

cố đông vì họ muốn giữ lại tiền để thanh toán tiền lương thưởng cho bản thân và mở rộng quy mô công ty nhằm nâng cao giá trị bản thân Điều này có ảnh hưởng đến lợi ích của những cổ đông mong muốn thu hồi vốn đầu tư để có thể đầu tư vào các doanh nghiệp khác

Trang 29

Tầm nhìn: Các cổ đông thương mong muốn có kết quả hoạt động lâu dài trong tương lai trong khi nhà quản lý có khuynh hướng tăng lợi nhuận trong thời gian mà học còn ở công ty Ví dụ, nhà quản lý có thể cắt giảm các chi phí trong ngắn hạn (chi phí bảo dưỡng máy móc, thiết bị) mặc dù có thể làm xuất hiện các chi phí lớn hơn trong dài hạn (Phải thanh lý tài sản trước khi hết khấu hao) Quan điểm ngắn hạn này làm giảm lợi ích của cổ đông

pháp để giảm chi phí ủy nhiệm là thông qua hợp đồng giưa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận công ty Các chính sách thưởng cho nhà quản lý bao gồm:

công ty

hiện khả năng người quản lý sẽ tìm cách tác động vào các báo cáo tài chính để đạt được mục đích được hưởng lợi ích cá nhân của mình

2.4.2.4 Hợp đồng hiệu quả

gọi là cách tiếp cận chủ nghĩa cơ hội (opportunistic approach) trong đó người quản lý được giả thiết là người theo chủ nghĩa cơ hội, có nghĩa là sẽ thực hiện các chính sách

kế toán không đúng để tối đa hóa lợi ích của mình (hoặc của cổ đông trong mối quan

hệ với chủ nợ)

contracting approach) Người ta cho rằng nếu bên được ủy nhiệm bị phát hiện là tối đa hóa lợi ích của mình, họ sẽ bị “trường phạt” trong tương lai khi uy tín bị giảm sút Do

đó bên được ủy nhiệm sẽ thương thuyết để trong hợp đồng lợi ích của họ được cân bằng ngay từ đầu với bên ủy nhiệm khiến cho họ sẽ có thể hoàn toàn hành xử vì lợi ích của bên ủy nhiệm Hợp đồng này được gọi là hợp đồng hiệu quả vì chi phí ủy nhiệm sẽ được tối thiểu hóa do quyền lợi các bên được cân bằng hơn

Trong hợp đồng hiệu quả, người quản lý sẽ cung cấp thông tin gần với sự thực nhất trong phạm vi có thể cho các cổ đông với mục đích nâng cao giá trị công ty đồng

Trang 30

2.5 Tổng quan các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp

2.5.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài

Khảo sát cho thấy, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán của doanh nghiệp ở các góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu đó đều rút ra vai trò quan trọng của việc vận dụng các nhân tố đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Economic determinants of accounting policy choice ( Kenneth, 1991), (Michael, 1991):

Tác giả đã nghiên cứu tính thực thi các chuẩn mực kế toán về công ty ở Vương quốc Anh được liệt kê dựa một phần vào các nghĩa vụ tuân thủ các cơ quan kế toán chuyên nghiệp và một phần trên các thỏa thuận niêm yết chứng khoán Tuy nhiên, dường như các tiêu chuẩn kế toán ở Vương quốc Anh thiếu hiệu lực pháp luật, không tuân thủ là phổ biến hơn ở Bắc Mỹ

Tác giả đã trình bày và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ chính

sách kế toán tại Anh (SSAP 16), trong đó có 5 nhân tố sau: mức độ sử dụng đòn bẩy

tài chính (Leverage); tầm nhìn chính trị (Political Visibility) gồm quy mô doanh

nghiệp, khả năng sinh lời, Mức độ sử dụng vốn; Thuế (Taxation); chi phí chuẩn bị (Preparation costs); sự tăng trưởng (growth)

Determinants of Different Accounting Methods Choice in Tanzania: A Positive Accounting Theory Approach (waweru, 2012), (Ponsian Prot Ntui, 2012), ( Musa Mangena, 2012):

Lý thuyết kế toán thực chứng, là sự liên kết giữa Watts và Zimmerman (1986), giả định rằng thị trường là hiệu quả mà những người tham gia thị trường sẽ nhìn thấy thông qua các thiết bị làm mịn có thể quan sát như lựa chọn chính sách kế toán Holthausen (1990) xác định ba quan điểm chồng chéo vào sự lựa chọn kế toán: hành vi

cơ hội, hợp đồng hiệu quả, và quan điểm thông tin Hai quan điểm ký kết hợp đồng (hợp đồng hiệu quả và hành vi cơ hội) được dựa trên sự tồn tại của hợp đồng và dựa trên số liệu kế toán

Các nhà quản lý được giả định để tối đa hóa sự giàu có của mình trong các thiết lập hành vi cơ hội, mà phụ thuộc vào khoản tiền thưởng liên quan đến hiệu suất, rủi ro việc làm tăng lên từ khả năng thất bại của công ty hoặc khả năng tiếp quản, và giá trị

Trang 31

cổ phiếu của công ty Do đó, các nhà quản lý có động lực để lựa chọn tối đa hóa lưu chuyển tiền tệ trực tiếp của công ty và nâng cao giá trị của công ty (Beattie và cộng sự., 1994)

Lựa chọn kế toán không ảnh hưởng đến lưu thông dòng tiền trực tiếp, làm tăng động lực quản lý Điều này xảy ra, ví dụ như sự lựa chọn kế toán ảnh hưởng đến giá cổ phiếu, tác động đến chi phí chính trị dự kiến của công ty (một chức năng của lợi nhuận báo cáo) hoặc vỡ nợ / chi phí đàm phán lại Vì thế, dự đoán rằng các nhà quản lý của các công ty với chi phí chính trị cao sẽ lựa chọn phương pháp kế toán giảm lợi nhuận

và các nhà quản lý của các công ty với chi phí đại diện về vốn chủ sở hữu và nợ cao sẽ chọn phương pháp ngày càng tăng lợi nhuận Trong việc thiết lập hợp đồng hiệu quả, hợp đồng mà giảm thiểu chi phí đại diện có thể khuyến khích lợi nhuận Các hợp đồng này, tuy nhiên, hiệu quả khi chúng tạo ra tối đa hóa giá trị công ty Trong thực tế, rất khó để phân biệt giả thuyết dựa trên quan điểm này từ những cái được tạo ra trong các thiết lập hành vi cơ hội (Beattie và cộng sự, 1994; Florou, 2004)

Một số nghiên cứu dựa trên lý thuyết kế toán thực chứng và kiểm tra động lực các nhà quản lý cho sự lựa chọn chính sách kế toán Cotter (1999) và Gupta (1995) cho thấy rằng những động lực này để lựa chọn các chính sách kế toán xuất phát từ mối quan hệ giữa các bên liên quan của công ty, bao gồm cả các nhà quản lý, cổ đông và chủ nợ Những nghiên cứu trên cho thấy sự hiện diện của các kế hoạch tiền thưởng, các giao ước nợ hạn chế, và chi phí chính trị ảnh hưởng đến sự lựa chọn thủ tục kế toán Tuy nhiên, kết quả của họ chỉ đủ khả năng hiểu biết một phần trong sự hiểu biết của chúng ta về động cơ của các nhà quản lý vì họ tập trung vào một sự lựa chọn kế toán duy nhất tại một thời điểm Missioner (2004) xác định ngân hàng và cho vay tư nhân, pha loãng sở hữu, lực lượng lao động và bồi thường của nhà quản lý là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương pháp kế toán của các nhà quản lý của Thụy Sĩ Nghiên cứu cho thấy độ lớn của một công ty và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính dường như không ảnh hưởng đáng kể trong bối cảnh Thụy Sĩ Ngược lại với nghiên cứu của Missonier, Inoue và Thomas (1996) thấy rằng kích thước của một công

ty và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính là những yếu tố chính hình thành các phương pháp lựa chọn kế toán của nhà quản lý Nhật Bản Nghiên cứu xác định các yếu tố khác như thuế, chi phí chính trị nước ngoài, và khả năng của một công ty để tài trợ cho hoạt động nội bộ của nó là quan trọng trong việc ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp

kế toán của nhà quản lý Nhật Bản

Trang 32

Theo Beatty và cộng sự (1994), các công ty có xu hướng chọn các phương pháp

kế toán để làm mịn lợi nhuận Do đó, các nhà quản lý lựa chọn phương pháp kế toán

để tăng hoặc giảm lợi nhuận để đáp ứng lợi ích riêng của họ Nghiên cứu xác định các yếu tố mà gây ra cho nhà quản lý để lựa chọn các khoản mục bất thường nhằm làm mịn lợi nhuận trong bối cảnh Vương quốc Anh Những nhân tố này là rủi ro kế toán, rủi ro thị trường, chi phí đại diện, chi phí chính trị, cơ cấu sở hữu, ngành công nghiệp, chi trả cổ tức và tùy chọn chia sẻ quản lý Trong số những yếu tố này, rủi ro kế toán, chi phí đại diện, cơ cấu sở hữu và chi trả cổ tức là quan trọng trong việc giải thích sự lựa chọn các khoản mục đặc biệt bởi các nhà quản lý Anh Rủi ro thị trường, chi phí chính trị, công nghiệp và phần tùy chọn quản lý là không đáng kể Điều này trái ngược với Inoue và Thomas (1996), thước đo chi phí chính trị được tìm thấy là đáng kể Hơn nữa, kết quả trong trường hợp các tùy chọn chia sẻ của nhà quản lý là phù hợp với kế hoạch tiền thưởng trong bối cảnh Nhật Bản và mâu thuẫn bồi thường quản lý trong bối cảnh Thụy Sĩ Nghiên cứu của họ căn cứ vào một ngành công nghiệp duy nhất, Aitken

và Loftus (2009), xác định phương án bồi thường, nợ và chi phí chính trị để giải thích

sự lựa chọn chính sách kế toán của nhà quản lý tại Australia Chỉ có phương án bồi thường được tìm thấy là đáng kể trong khi nợ và chi phí chính trị thì không Nghiên cứu này bác bỏ các giả thuyết chính trị và nợ trong đó mô tả các lý thuyết kế toán thực chứng chứng minh ở Mỹ vì các nghiên cứu bởi Watts và Zimmerman (1986, 1990)

Ashtami và Tower (2006) đã nghiên cứu bốn thuyết minh chính sách kế toán chủ yếu trong các báo cáo hàng năm của 442 công ty niêm yết tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương Các kết quả nghiên cứu của họ chỉ ra rằng các công ty theo đuổi các

kỹ thuật kế toán thu nhập ngày càng tăng trong các chính sách kế toán tổng hợp của họ được đặc trưng bởi mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính thấp, tập trung chủ sở hữu thấp hơn, và cơ hội đầu tư cao Hơn nữa, họ đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng các biến của sự lựa chọn chính sách kế toán của nhà quản lý có thể được giải thích bởi các quốc gia báo cáo cũng như một số các biến cụ thể công ty Phát hiện của họ có sự khác biệt từ những nghiên cứu thực hiện tại các nước đang phát triển (Cullinan và Knoblett, 1994; Bowman và cộng sự, 1995; Missonier, 2004), đã báo cáo rằng các công ty có vay nợ cao theo đuổi các chính sách kế toán tăng lợi nhuận

Tawfik (2006) đã nghiên cứu các biến ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách kế toán tại Saudi Arabia Nghiên cứu cho thấy bằng chứng mạnh mẽ để hỗ trợ việc lựa chọn kế toán tại Saudi Arabia không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cụ thể của công ty như độ lớn, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, hoặc nồng độ sở hữu

Trang 33

Tác giả đã trình bày và phân tích 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính

sách kế toán tại Tanzanian: mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính; Quy mô doanh

nghiệp (company size); Mức độ sử dụng lao động (labor force intensive); Mức độ phân tán quyền sở hữu (ownership dilution); Tài trợ nội bộ (internal financing); Tỷ

lệ nhà quản lý không điều hành (Proportion of non-executive director) Kết quả cho

thấy những yếu tố quan trọng là quy mô doanh nghiệp, Tài trợ nội bộ, tỷ lệ các

giám đốc không điều hành và lực lượng lao động Trái ngược với kết quả của các

nghiên cứu trước, tác giả thấy rằng quy mô doanh nghiệp và tài trợ nội bộ có liên quan tích cực với chiến lược lợi nhuận Nghiên cứu chứng minh về mặt thống kê rằng có một liên kết mạnh mẽ giữa sự lựa chọn phương pháp kế toán và chiến lược lợi nhuận

Some economic determinants of accounting policy (Robert L.Hagerman and Mark E.Zmijewski, 1978) đã nghiên cứu 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn

chính sách kế toán: Độ lớn doanh nghiệp; Mức độ rủi ro thị trường; Mức độ sử

dụng vốn (capital intensity); Kế hoạch thưởng (lncentice plans), tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý (concentration ratio) Các nhân tố này có quan hệ chặt chẽ đến sự lựa

chọn chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận (rủi ro, Kế hoạch thưởng; Tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý) hoặc giảm lợi nhuận (Độ lớn doanh nghiệp; Mức độ sử dụng vốn) của nhà quản lý

A reexamination of changes in accounting policy: Evidence from Japan (Masahiro Enomoto, 2015)

Tác giả kiểm tra các giả thuyết khác nhau liên quan đến việc lựa chọn chính

sách kế toán làm tăng, giảm lợi nhuận Các nhân tố được kiểm tra là mức độ khủng

hoảng tài chính, mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính, thuyên chuyển quản lý, tỷ lệ

sở hữu của nhà quản lý, tỷ lệ sở hữu ngân hàng và kiểm toán viên Kết quả cho

thấy rằng những thay đổi trong chính sách kế toán đã được thực hiện để điều chỉnh lợi nhuận Các phân tích cũng chỉ ra rằng một tỷ lệ nợ cao hơn có thể khiến nhà quản lý lựa chọn chính sách kế toán tăng hoặc giảm lợi nhuận Một tỷ lệ sở hữu ngân hàng cao

sẽ dẫn đến nhiều thay đổi trong chính sách kế toán làm tăng hoặc giảm lợi nhuận vì các ngân hàng đóng vai trò vừa là cổ đông, vừa là chủ nợ Các bằng chứng cũng cho thấy thuyên chuyển quản lý thúc đẩy tăng lợi nhuận thông qua những thay đổi trong chính sách kế toán, trong khi một công ty kiểm toán lớn có hiệu quả trong việc kiềm chế những thay đổi chính sách kế toán làm tăng lợi nhuận

Trang 34

The choice of accounting policies in developing countries: Evidence from Kuwait (Mohamed Ahmed Shaheen, 2012)

Tác giả đã kiểm tra 04 nhân tố (Quy mô, đòn bẩy, xu hướng lợi nhuận, vốn ngân sách) ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tương ứng với 05 giả thuyết Kết quả cho thấy các biến quy mô, vốn ngân sách có ảnh hưởng tiêu cực đến việc lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận; các biến đòn bẩy, xu hướng lợi nhuận

có ảnh hưởng tích cực đến việc lựa chọn chính sách kế toán tăng lợi nhuận

Một số nghiên cứu liên quan

The effect of the debt agreement on changes in voluntary accounting policies (Beatty và Weber, 2003) đã nghiên cứu 125 công ty từ năm 1995 đến 2000

về những thay đổi trong chính sách kế toán và các giao ước nợ Kết quả cho thấy các công ty có sử dụng thay đổi tăng lợi nhuận trong chính sách kế toán của họ chứ không phải là thay đổi chính sách giảm lợi nhuận có nhiều khả năng tham gia vào các hợp đồng nhằm hạn chế chia cổ tức, và phải chịu chi phí cao vì vi phạm giao ước Họ cũng tìm thấy rằng các công ty đã ghi nhận khoản lỗ nhỏ tạo ra những thay đổi tăng lợi nhuận, và các công ty có báo cáo thiệt hại lớn tạo ra những thay đổi giảm lợi nhuận sau khi thay đổi nhà quản lý

The Japanese Main Bank System: Its Relevance for Developing and Transforming Economies (Aoki, M and Patrick, H Eds, 1994) cho rằng ngân hàng

Nhật Bản thường nắm giữ cổ phần tại các công ty mà họ tài trợ để nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài Là một cổ đông ổn định, các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong quản trị công ty Đôi khi, một ngân hàng chính đóng vai trò giám sát, quan sát và kiểm soát các công ty do đó tỷ lệ sở hữu ngân hàng càng cao thì ảnh hưởng quản

mong muốn lựa chọn chính sách kế toán giảm lợi nhuận

Management behavior, delegation cost (Jensen và Meckling, 1976) cho rằng

có hai cấu trúc công ty khác nhau: một là nhà quản lý sở hữu 100% công ty; hai là nhà

Trang 35

quản lý bán một phần cổ phần ra bên ngoài Trong cơ cấu thứ nhất, các nhà quản lý sẽ hành động để tối đa hóa phúc lợi của công ty bởi vì những lợi ích tối đa hóa này sẽ cộng dồn đầy đủ vào nhà quản lý Tuy nhiên, khi nhà quản lý bán, nói rằng, một phần

cổ phần ra bên ngoài, chi phí ủy nhiệm sẽ phát sinh từ sự phân tán về lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông Jensen và Meckling kết luận rằng những chi phí uỷ nhiệm là không thể tránh khỏi khi có sự tách biệt quyền sở hữu và kiểm soát, và gọi đó là các chi phí "không hiệu quả" do đó để tối đa lợi ích, nhà quản lý sẽ lựa chọn nhiều biện pháp có lợi cho mình như giảm lợi nhuận để giảm số lượng cổ tức được chia và tránh thế bất lợi trong đàm phán

Japanese Enterprise: Behavioral Characteristics and Structural (Okabe.M, 1994) tập trung vào các mối quan hệ giữa những thay đổi trong chính sách

kế toán và cơ cấu cổ phần của các công ty Nhật Bản, cho thấy rằng các công ty có nhiều khả năng để thay đổi chính sách kế toán của họ để giảm lợi nhuận nếu họ có quyền sở hữu quản lý hoặc tỷ lệ sở hữu của ngân hàng cao Mặt khác, Okabe lập luận rằng từ quan điểm của quyền sở hữu mà tăng lợi nhuận sẽ dẫn đến nhược điểm đàm phán (như đàm phán về tiền lương và công đoàn lao động hoặc đàm phán giá với nhà cung cấp và khách hàng), khiến các ngân hàng, là chủ sở hữu, sẽ tìm cách ngăn chặn

nhà quản lý từ việc áp dụng một chính sách kế toán mà có thể tăng lợi nhuận

Managerial ownership, accounting choices, and informativeness of earnings (Warfield, 1995) cho rằng các chủ sở hữu và nhà quản lý của các công ty có

tỷ lệ sở hữu quản lý cao có thể tham gia vào hiệp ước, từ đó ngăn ngừa rủi ro đạo đức của quản lý và tạo điều kiện cho việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực Các hoạt động quản lý trở nên trực tiếp đan xen với sự giàu có của nhà quản lý như là các cổ đông và điều này một cách tự nhiên ngăn ngừa nhà quản lý khỏi những hành động không tối đa hóa giá trị doanh nghiệp do đó, tăng tỷ lệ sở hữu quản lý một cách tự nhiên sẽ làm

giảm lợi nhuận

Auditor size and audit quality (Linda Elizabeth DeAngelo, 1981) cho rằng

chất lượng kiểm toán có mối quan hệ với quy mô của công ty kiểm toán ngay cả khi

kiểm toán viên ban đầu sở hữu khả năng công nghệ giống hệt nhau

The Relation between Auditors' Fees for Nonaudit Services and Earnings Management (Richard M Frankel, 2002); (Marilyn F Johnson, 2002); (Karen K Nelson,2002) tìm thấy rằng khi lệ phí kiểm toán càng cao, nhà quản lý sẽ chọn các

chính sách kế toán (trích trước các khoản chi phí) làm giảm lợi nhuận Các công ty

Trang 36

được kiểm toán bởi các hãng kiểm toán lớn dường như ít thay đổi chính sách kế toán

làm tăng lợi nhuận hơn các các công ty được kiểm toán bởi hãng kiểm toán nhỏ

Qua nghiên cứu các bài báo, luận án của các tác giả nước ngoài cho thấy các tác giả đã tìm ra được nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chính sách kế toán trong các doanh nghiệp nhưng có những nhân tố giống nhau, có những nhân tố khác nhau Có thể cùng một nhân tố nhưng nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau thì mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó đến việc lựa chọn chính sách kế toán lại khác nhau Lý do dẫn tới sự khác nhau đó là vì phương pháp nghiên cứu khác nhau (dựa vào số liệu thứ cấp trên Báo cáo tài chính hoặc dựa vào bảng hỏi), quy mô doanh nghiệp nghiệp được nghiên cứu khác nhau (quy mô lớn hoặc quy mô vừa và nhỏ) hoặc có thể do điều kiện kinh tế, chính trị ở mỗi quốc gia khác nhau

2.5.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay (Nguyễn Thị Phương Hồng - Nguyễn Thị Kim Oanh, 2014): đã phân tích 06 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán Sau khi thu thập số liệu và phân tích thì nhóm tác giả kết luận có 04 nhân tố ảnh hưởng đến

việc lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Việt Nam đó là: Chi phí

thuế TNDN; Mức vay nợ; Tình trạng niêm yết của doanh nghiệp; Sự ổn định giữa các mức lợi nhuận Các nhân tố: Khả năng vi phạm các hợp đồng vay nợ, chính sách thưởng dành cho nhà quản trị không được xem là có ảnh hưởng đến

việc lựa chọn CSKT tại các DN Việt Nam (trị trung bình từ 1,00 – 2,60)

Tường (Lê Thanh Phương, 2014): xác định 04 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn

chính sách kế toán tại công ty: Mục tiêu quản trị lợi nhuận: Tiền lương, thưởng dành cho nhà quản trị, lợi ích của chủ sở hữu, tối thiểu chi phí thuế; Cấu trúc vốn doanh

nghiệp; Quy mô doanh nghiệp; Trình độ kế toán

doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Huỳnh Thị Cẩm Nhung, 2015) xác định 04 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh

nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng: Chi phí thuế, mức vay nợ, tình

trạng niêm yết, trình độ kế toán viên

Qua nghiên cứu bài báo trong nước cho thấy các tác giả đã tìm ra được nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán trong các doanh nghiệp Các nhân tố này tương đối trùng lắp đối với các nhân tố do tác giả nước ngoài tìm hiểu

Trang 37

Tuy nhiên, trong các nghiên cứu không nói rõ quy mô của các doanh nghiệp được nghiên cứu, cũng như chất lượng nguồn số liệu được thu thập (thu thập nguồn số liệu

từ các công ty đã được kiểm toán hoặc chưa được kiểm toán hoặc các công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán)

Tóm lại, từ tổng quan các bài báo, luận án trong nước và quốc tế cho thấy có 16 yếu tố ảnh hưởng đến chính sách kế toán trong doanh nghiệp có quy mô lớn Luận án muốn kiểm chứng lại các nhân tố này xem có phù hợp với việc vận dụng chính sách kế toán ở Việt Nam hay không vì nền kinh tế thị trường tại Việt Nam có nhiều dấu hiệu

Trang 38

Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán

với lợi nhuận

+

hưởng waweru (2012), (Ponsian Prot Ntui

waweru (2012), Ponsian Prot Ntui (2012), Musa Mangena (2012)

Trang 39

STT Nhân tố Tác giả Mối quan hệ

với lợi nhuận E.Zmijewski (1978)

Richard M Frankel (2002); Marilyn F

Johnson (2002); Karen (2002)

-

Nguyễn Thị Hồng Phương, Nguyễn Thị Kim Oanh (2014)

+

(Nguồn: Tác giả)

2.6 Khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, luận án nhận ra một số

“khoảng trống” của các nghiên cứu trước đây như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán đều thực hiện ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển lâu đời như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Tây Ban Nha và một số nghiên cứu ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương như Nhật Bản, Saudi Arabia Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách trong các công ty niêm yết trên TTCK tại Việt Nam mới chỉ bắt đầu

Trang 40

đối tượng nghiên cứu là các công ty có quy mô nhỏ và vừa Do vậy, cần có thêm nhiều nghiên cứu về vấn đề này cho các công ty niêm yết trên TTCK ở Việt Nam để bổ sung bằng chứng thực nghiệm về việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán

Thứ hai, nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán

đã thực hiện bởi các tác giả chỉ dừng lại ở việc phân tích năm đến sáu nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các nền kinh tế khác nhau (nền kinh tế phát triển và đang phát triển) hoặc ở các vùng địa lý khác nhau (Châu Âu, Châu Phi, Châu Á,…) Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, là nước có nền kinh tế đang phát triển nhưng điểm khác biệt là Việt Nam đang thực hiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán áp dụng cho các quốc gia ngoài Việt Nam chưa chắc đã phù hợp với Việt Nam Chính vì vậy, luận án sẽ kiểm định lại tất cả các nhân tố của các tác giả, áp dụng cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Thứ ba, Các tác giả ở Việt Nam khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán chưa có phương pháp khoa học, chủ yếu là suy luận, dựa vào kinh nghiệm và kết quả chưa được kiểm định hoặc chỉ sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) để kiểm định Hồi quy từng bước (step-wise) chưa được sử dụng trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán Việc sử dụng các kỹ thuật thống kê mới này rất có thể sẽ làm cho kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng phong phú hơn, kiểm soát tốt hơn các nhân tố có tác động tới việc lựa chọn chính sách kế toán.Việc trang bị thêm các phương pháp định lượng khoa học, phù hợp chắc chắn sẽ mang lại kết quả dự báo tốt

hơn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư

Thứ tư, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán đã thực hiện hầu hết đều giới hạn phạm vi về thời gian nghiên cứu trước năm 2010: nghiên cứu của Kenneth W Lemke & Michael J Page (1992) từ năm 1988 đến 1991, nghiên cứu của Mohamed Ahmed Shaheen (2012) từ năm 2005 đến 2006; nghiên cứu của Dr Nelson M Waweru và các cộng sự (2008),… Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng liên tục có nhiều biến động, khủng hoảng kinh tế diễn ra ở nhiều nước trên thế giới thì các thông tin, chuẩn mực kế toán cũng sẽ không ngừng thay đổi và điều này rất có thể sẽ khiến cho các kết quả nghiên cứu trong thời đại ngày nay có sự khác biệt so với trước đây Do vậy, cần

có các nghiên cứu sử dụng dữ liệu gần với hiện tại để cung cấp các bằng chứng cập nhật về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán

Ngày đăng: 21/08/2017, 22:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Khung nghiên cứu của luận án - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của luận án (Trang 13)
Bảng 2.1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2.1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán (Trang 38)
Bảng 3.1 tóm tắt một số nội dung để chứng minh những điểm được nêu ở trên. - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 3.1 tóm tắt một số nội dung để chứng minh những điểm được nêu ở trên (Trang 56)
Bảng 4.1. Bảng thống kê mô tả dữ liệu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 4.1. Bảng thống kê mô tả dữ liệu của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam (Trang 73)
Bảng 4.2. Hệ số hồi quy điều chỉnh của mô hình - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 4.2. Hệ số hồi quy điều chỉnh của mô hình (Trang 86)
Bảng 4.3: Mức ý nghĩa của kiểm định F - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 4.3 Mức ý nghĩa của kiểm định F (Trang 88)
Bảng số 4.5: Bảng kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng s ố 4.5: Bảng kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (Trang 90)
Phụ lục số 7: Bảng chuẩn đoán đa cộng tuyến - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán và ước tính kế toán trong các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
h ụ lục số 7: Bảng chuẩn đoán đa cộng tuyến (Trang 128)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w