Để trả lời cho câu h i FDI tác động như thế nào đến sự bền vững của môi trường và ở các quốc gia có chất lượng thể chế khác nhau thì tác động này bị ảnh hưởng bởi thể chế ra sao, bài ngh
Trang 1PHÙNG THỊ CẨM TÚ
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ THỂ CHẾ ĐẾN SỰ BỀN VỮNG CỦA MÔI TRƯỜNG
Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2PHÙNG THỊ CẨM TÚ
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ THỂ CHẾ ĐẾN SỰ BỀN VỮNG CỦA MÔI TRƯỜNG
Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN KIM QUYẾN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài và
thể chế đến sự bền vững của môi trường ở các quốc gia châu Á” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Kim Quyến
Các kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác./
Học viên
Phùng Thị Cẩm Tú
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trang 52.2.2 Ảnh hưởng của thể chế đến FDI 16 2.3 Các nghiên cứu trước đ y
2.3.1 Ảnh hưởng của FDI đến sự bền vững của môi trường 19 2.3.2 Ảnh hưởng của thể chế đến FDI và vai trò của thể chế trong tác động của FDI đối với môi trường
Chương 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Mô tả biến và tươn quan iữa các biến 45
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
5.3 Các hạn chế của Đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
FDI: Foreign direct investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM: Fixed effect regression - Mô hình tác động cố định
FMOLS: Fully modified ordinary least squares
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
GLS: Generalized least squares
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
REM: Random effect regression - Mô hình tác động ngẫu nhiên
UNCTAD: United nations conference on trade and development - Diễn đàn thươn mại và phát triển Liên hiệp quốc
WDI: World development indicators - Chỉ số phát triển thế giới
WGI: Worldwide governance indicators - Chỉ số quản trị toàn cầu
Trang 7Bảng 3.2: Thống kê các quốc gia trong mẫu nghiên cứu 38
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 45 Bảng 4.2: Ma trận hệ số tươn quan iữa các biến 46
Trang 8Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởn môi trường đầu tư 18
Trang 9TÓM TẮT
Xuất phát từ vai trò quan trọng của nguồn vốn FDI đối với tăn trưởng và phát triển kinh tế, các quốc gia không ngừng thực thi nhiều chính sách để thu hút FDI Tuy nhiên, thực tế là sự bền vững của môi trường ở các quốc ia, đặc biệt là ở các nước có nhận FDI ngày càng đặt ra nhiều vấn đề phải quan tâm
Để trả lời cho câu h i FDI tác động như thế nào đến sự bền vững của môi trường và ở các quốc gia có chất lượng thể chế khác nhau thì tác động này bị ảnh hưởng bởi thể chế ra sao, bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bản tron iai đoạn từ 1996- 2014 của 33 quốc gia Châu Á- một khu vực rất năn động trong thu hút FDI-
và tiến hành các ước lượn để xác định mối quan hệ của FDI, thể chế và các biến kiểm soát gồm tăn trưởng kinh tế, đầu tư nội địa và mức độ đô thị h a đối với sự bền vững của môi trường Từ đ , đưa ra những khuyến nghị về chính sách liên quan đến FDI cho các nước khu vực ch u Á để hướng đến việc thu hút và sử dụng FDI hiệu quả nhưn vẫn hạn chế được những ảnh hưởng tiêu cực của n đối với sự bền vững của môi trường
Từ khóa: FDI, thể chế, sự bền vững của môi trường, châu Á
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Không thể phủ nhận được vai trò của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với triển vọng kinh tế của các quốc gia tiếp nhận FDI được cho là có nhiều tác động tích cực đối với nước nhận vốn như là công cụ quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế của rất nhiều nước trên thế giới (Wang, 2009); góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghệ và quản lý (Choi & Jeon, 2007); hỗ trợ hình thành nguồn vốn con người, tăng cường môi trường kinh doanh cạnh tranh, đóng góp vào hội nhập thương mại quốc tế, cải thiện phát triển doanh nghiệp (Selma, 2013); tăng cường năng lực quản lý, giảm tình trạng thiếu ngoại hối và cải thiện cán cân thanh toán ở các nước kém phát triển (Aliyu, 2005); tạo các cơ hội việc làm mới, tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Ayadi, 2009; Ayadi
et al., 2010); giúp các quốc gia vượt qua sự trì trệ trong phát triển kinh tế và giải quyết nạn đói nghèo (Brooks et al., 2010)
Có lẽ vì thế mà các quốc gia không ngừng thực thi các chính sách ưu đãi để thu hút FDI Trong khi các nghiên cứu đã và sẽ tiếp tục tập trung vào chủ đề FDI, chỉ có một số ít nghiên cứu về cách các luồng FDI ảnh hưởng đến sự bền vững của môi trường, trong đó tập trung cho nhóm nước có thu nhập trung bình, thấp và các quốc gia đang phát triển Có thể kể đến một số nghiên cứu nổi bật như của Cole & Elliott (2005), Jorgenson et al (2007), Wang et al (2013)…
Song song đó, cũng có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế đối với dòng vốn FDI Li & Resnick (2003) ghi nhận rằng thể chế ảnh hưởng đến FDI một cách rất phức tạp; Lee et al (2007) cho rằng nhà nước có vai trò hạn chế các tác động có khả năng gây hại của sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài Thực tế cũng ghi nhận rằng, với quy định về tiêu chuẩn môi trường thấp, một lượng lớn vốn FDI đã chảy vào các nước có nền tài chính kém phát triển cùng với các quy trình sản xuất gây ô nhiễm cao (Grimes & Kentor, 2003; Jorgenson et al., 2007)…
Trang 11Tuy vậy, trước thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở đa số các quốc gia, trong đó có nhiều nước tiếp nhận FDI, đặc biệt là có những trường hợp liên quan trực tiếp đến các dự án FDI, cần thiết tiếp tục tiến hành những nghiên cứu về tác động của FDI, thể chế đến sự bền vững của môi trường cũng như vai trò thể chế của một quốc gia trong mối quan hệ này để xác định ảnh hưởng của FDI đối với sự bền vững của môi trường liệu có khác nhau trong điều kiện thể chế của một quốc gia là tương đối mạnh hoặc kém hơn Liệu rằng dưới tác động của thể chế mạnh, ảnh hưởng của dòng vốn FDI đến sự bền vững của môi trường có tích cực hơn?
Châu Á hiện đang là một trong những khu vực năng động nhất trong thu hút FDI Theo Báo cáo của UNCTAD, năm 2016, mặc dù sụt giảm đến 22% so với
2015 trong xu thế chung là tăng trưởng kinh tế toàn cầu còn khá yếu, các quốc gia châu Á vẫn nhận được khoảng 413 tỷ USD vốn FDI, chiếm đến gần 30% FDI trên toàn thế giới và trong 10 nền kinh tế thu hút FDI nhiều nhất năm 2016 có đến 4 quốc gia/ vùng lãnh thổ thuộc châu Á
Mặc dù số liệu thống kê cho thấy các quốc gia Châu Á vẫn, đã và đang tiếp tục nhận được FDI, thực tế vẫn mở ra các cơ hội để thu hút nhiều hơn nữa FDI vào khu vực này Với những ảnh hưởng tích cực của vốn FDI, để gia tăng cơ hội thu hút nhiều FDI hơn nữa, nhiều quốc gia khu vực Châu Á đã không ngừng nỗ lực tạo điều kiện bằng cách tạo ra hàng loạt những cải cách trong chính sách được thực thi trên diện rộng để giảm bớt hoặc loại bỏ các rào cản đối với thương mại và dòng vốn FDI, trong đó có việc nới lỏng một số quy định về môi trường Từ đây, đặt ra yêu cầu phải xem xét tác động của FDI, thể chế đối với môi trường và vai trò của thể chế trong mối quan hệ giữa FDI và môi trường trong xu thế phát triển bền vững của các quốc gia khu vực châu Á
Vì những lý do trên, tác giả thực hiện Đề tài nghiên cứu: “Tác động của đầu
tư trực tiếp nước ngoài và thể chế đến sự bền vững của môi trường ở các quốc gia châu Á”
Trang 121.2 Mụ i h i nghi n ứu
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tác động của FDI, thể chế đến sự bền vững
của môi trường; vai trò của thể chế trong mối quan hệ giữa FDI và sự bền vững của môi trường tại các quốc gia khu vực châu Á
Câu h i nghiên cứu
- FDI, thể chế có tác động như thế nào đối với sự bền vững của môi trường?
- Thể chế có vai trò như thế nào trong mối quan hệ của FDI và sự bền vững
của môi trường?
- Giải pháp nào để sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI mà vẫn đảm bảo sự bền
vững của môi trường?
Trên cơ sở lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, đề xuất các giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Dòng vốn FDI có ảnh hưởng tiêu cực đối với việc phát triển môi trường bền vững ở các quốc gia khu vực châu Á: Khi dòng vốn FDI tăng sẽ kéo theo sự tăng trong lượng phát thải CO2; nghĩa là làm giảm sự bền vững của môi trường
- Thể chế tương đối mạnh sẽ giúp giảm thiểu những tác động tiêu cực của FDI đối với sự bền vững của môi trường ở các quốc gia khu vực châu Á: Một sự gia tăng dòng vốn FDI trong điều kiện chất lượng thể chế công là hiệu quả sẽ dẫn đến một mối quan hệ tích cực giữa FDI với sự bền vững của môi trường
1.3 Đối ƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối ƣợng nghiên cứu: Tác động của FDI, thể chế đến sự bền vững của môi
trường ở các quốc gia khu vực châu Á; vai trò của thể chế trong mối quan hệ giữa FDI và sự bền vững của môi trường
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tác động của các biến độc lập kể
ra sau đây lên biến phụ thuộc là lượng phát thải CO2
Biến đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Trang 13Các biến độc lập đại diện cho chất lượng thể chế công: PSI: chỉ số tính ổn định chính trị; GEI: chỉ số hiệu quả của Chính phủ;
Ngoài ra còn sử dụng các biến kiểm soát: Thu nhập bình quân đầu người; Tỷ
lệ dân số thành thị (đại diện cho quá trình đô thị hóa); GFCF (đầu tư nội địa)
Nghiên cứu chọn mẫu là 33 quốc gia Châu Á trong khoảng thời gian từ năm 1996-2014 Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ Ngân hàng thế giới – World Development Indicators (WDI, 2015) và The Worldwide Governance Indicators (WGI, 2015)
1.4 Phương pháp nghi n ứu
Dựa trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định tác động của các yếu tố FDI và thể chế đối với sự bền vững của môi trường; vai trò của thể chế trong tác động của FDI đến sự bền vững của môi trường
Dữ liệu sử dụng là dữ liệu bảng nên tác giả thực hiện kiểm định cần thiết để lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp (FEM hay REM)
Thực hiện một số kiểm định để phát hiện nội sinh, phương sai thay đổi, đa cộng tuyến trong mô hình và thực hiện chỉnh sửa (nếu có)
Tác giả sử dụng phần mềm thống kê STATA 12 để xử lý dữ liệu bảng trong bài nghiên cứu
1.5 Những đ ng g p Đề i
- Hệ thống lý thuyết và các nghiên cứu trước đây có liên quan đến Đề tài
- Sử dụng phương pháp ước lượng phù hợp để có kết quả về tác động của FDI, thể chế đến sự bền vững của môi trường cũng như vai trò của thể chế trong tác động của FDI đến sự bền vững của môi trường
Trang 14- Từ kết quả phân tích dữ liệu, Đề tài đã đưa ra các kết luận và khuyến nghị chính sách phù hợp
1.6 Cấu trúc c đề tài
Phần hình thức (Trang bìa, lời cam đoan, mục lục, danh mục các ký hiệu,
chữ viết tắt, danh mục các bảng, danh mục hình vẽ, đồ thị, tóm tắt)
Phần nội dung: gồm 5 chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Giới thiệu chung về Đề tài như nêu lý do chọn Đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khái quát về phương pháp nghiên cứu được sử dụng, những đóng góp (ý nghĩa) của Đề tài, cấu trúc của Đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Trình bày lý thuyết; tóm tắt nội dung, phương pháp và kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến Đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày cách tiếp cận nghiên cứu; phương pháp chọn mẫu/ quy mô mẫu;
dữ liệu thu thập; công cụ phân tích dữ liệu Mô tả về dữ liệu và phương pháp tiến hành nghiên cứu thực nghiệm
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Tóm tắt toàn bộ nội dung nghiên cứu và kết quả chính của Đề tài Trên cơ sở
đó đưa ra các gợi ý về chính sách cho các quốc gia Châu Á trong việc thu hút và sử dụng vốn FDI hướng đến mục tiêu không gây các tác động bất lợi đối với môi trường
Phần tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 15Có thể thực hiện FDI theo các phương thức như bỏ vốn thành lập doanh nghiệp mới
ở nước ngoài; mua lại một phần hay toàn bộ các doanh nghiệp có sẵn hoặc mua cổ phiếu tiến tới thôn tính, sáp nhập
Theo Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD), FDI là danh mục đầu tư quốc tế vào một doanh nghiệp nào đó mà trong đó sở hữu
ít nhất 10% vốn cổ phần của doanh nghiệp được đầu tư Nhà đầu tư có thể đầu
tư vào một công ty có sẵn hoặc thành lập công ty mới FDI sẽ tạo sự thay đổi trên bảng cân đối kế toán, thay đổi trong nguồn vốn, nhân công, năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước nhận đầu tư
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO): FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 1996): FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp Có các mục đầu tư như: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới hoặc cấp tín dụng dài hạn ( > 5 năm) Để có quyền kiểm soát, nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên
Trang 16Biểu đồ 2.1: Dòng vốn đầu tư FDI vào các nhóm nước, giai đoạn 1996-2015
Nguồn: UNCTAD, FDI/MNE database (www.unctad.org/fdistatistics)
Từ những năm 1960, dòng vốn FDI đã được quan tâm nghiên cứu và lý giải
vì những tác động tích cực đối với nước tiếp nhận đầu tư Theo thời gian, FDI không ngừng gia tăng rộng khắp ở tất cả các nền kinh tế Trên phạm vi toàn thế giới, FDI đạt giá trị lớn nhất vào thời điểm năm 2007 với 1,9 ngàn tỷ đô FDI chảy vào các quốc gia Khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 kéo theo sự sụt giảm của dòng FDI; tuy nhiên, FDI nhanh chóng lấy lại xu thế hồi phục không lâu sau đó Năm 2014, FDI toàn cầu giảm 16% so với năm 2013 nhưng bất ngờ tăng 40% trong năm 2015, đạt xấp xỉ 1,75 ngàn tỷ đô- mức cao nhất kể từ khủng hoảng kinh tế
2008 Năm 2016, FDI toàn cầu giảm 13% so với năm 2015, ước đạt 1,52 ngàn tỷ đô trong điều kiện kinh tế và thương mại thế giới yếu (UNCTAD, 2017) Sự suy giảm này không đồng đều giữa các khu vực (suy giảm ở các quốc gia phát triển và đang phát triển với mức giảm lần lượt là 9% và 20%; tăng 38% ở các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi); phản ánh tác động không đồng nhất của môi trường kinh tế hiện nay đối với các quốc gia trên toàn thế giới
Về xu hướng của dòng FDI: vào những năm trước 2007, FDI trên thế giới gia tăng và chịu sự chi phối chủ yếu của các nước công nghiệp phát triển Sau 2008,
có sự thay đổi trong các khu vực đầu tư khi FDI có xu hướng dịch chuyển sang các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi; trong đó, châu Á là khu vực quan trọng và rất năng động trong việc thu hút FDI
Trang 17Biểu đồ 2.2 về lượng vốn FDI đổ vào các khu vực trong giai đoạn 2013-2015 cho thấy các quốc gia đang phát triển ở Châu Á là khu vực nhận được lượng FDI lớn nhất
Biểu đồ 2.2: Dòng vốn đầu tư FDI vào các khu vực, giai đoạn 2013-2015
Nguồn: UNCTAD, 2017 World investment report 2016, p4
Trang 18Biểu đồ 2.3: Đóng góp của khu vực đối với dòng vốn FDI toàn cầu, 2015-2016
Năm 2016, dòng vốn FDI vào khu vực châu Á và châu Đại Dương giảm 22%, trong đó, suy giảm phần lớn tập trung ở thị trường Hongkong, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Singapore Tuy nhiên, luồng vốn FDI vào Trung Quốc tiếp tục tăng 2,3% và Hàn Quốc với con số cam kết đạt 9,4 tỷ USD; dòng vốn FDI ở Pakistan tăng trưởng 82%, lên mức 1,6 tỷ USD
Báo cáo mới nhất về xu hướng đầu tư toàn cầu của UNCTAD cũng dự báo FDI toàn cầu năm 2017 sẽ tăng trưởng khoảng 10% với xu hướng gia tăng trở lại của dòng vốn vào các nước công nghiệp phát triển, do các nước đang phát triển đã giảm lợi thế về nhân công giá rẻ; tuy nhiên, những nền kinh tế châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore vẫn sẽ tiếp tục là những điểm đến hấp dẫn
Nguồn: UNCTAD, 2017 Global investment trends monitor, p2
Trang 192.1.2 Thể chế
Với bản chất đa chiều, thể chế được xem là cách mà Chính phủ thực thi quyền lực chính trị để điều hành hoạt động của 1 quốc gia (World Bank); nó bao gồm quá trình mà các Chính phủ được tuyển chọn, kiểm soát và thay thế; năng lực của Chính phủ để thiết lập và thực thi hiệu quả các chính sách; sự tôn trọng của người dân đối với các tổ chức để quyết định các tương tác giữa kinh tế và xã hội (Kaufmann và Kraay 2002)
Thể chế liên quan đến cách chính phủ được cấu trúc, quy trình quản lý và kết quả là thực hiện những điều liên quan đến nhu cầu của những công dân mà họ phục
vụ (Jreisat, 2002) Keefer (2004) chỉ ra rằng thể chế có quan hệ mật thiết đến mức
độ mà chính phủ đáp ứng cho người dân và cung cấp cho họ các dịch vụ cốt l i như bảo vệ quyền sở hữu, các quy định chung của pháp luật và mức độ mà thể chế cung cấp cho các nhà hoạch định chính phủ một động lực để đáp ứng tốt cho công dân
Theo Báo cáo Các nguồn dữ liệu và nghiên cứu về thể chế của Trung tâm dữ liệu- phân tích kinh tế, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh (2016): Thể chế thường được đo lường bằng cảm nhận của công chúng và doanh nghiệp về nhiều khía cạnh khác nhau của thể chế Chỉ số quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators
- WGI) là cơ sở dữ liệu dữ liệu về quản trị quốc gia của hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Chỉ số WGI ra đời năm 1996 và liên tục được hoàn thiện cho đến nay Chỉ
số WGI bao gồm hơn 300 chỉ tiêu từ 30 nguồn dữ liệu khác nhau và được chia thành sáu nhóm chỉ tiêu lớn:
(a) Quá trình Chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế
1 Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability): đo lường cảm nhận về mức độ tham gia của người dân vào việc lựa chọn chính phủ, mức độ
tự do bày tỏ quan điểm của người dân và các phương tiện truyền thông đại chúng
2 Ổn định chính trị và không có bạo lực (Political Instability and Absence of Violence): đo lường cảm nhận về khả năng chính phủ không ổn định hay bị lật đổ
Trang 20bởi các phương tiện không hợp hiến hay bạo lực, bao gồm bạo lực có động cơ chính trị và khủng bố
(b) Khả năng của Chính phủ trong việc xây dựng và thực thi chính sách hiệu quả
3 Hiệu quả của Chính phủ (Government Effectiveness): đo lường cảm nhận
về chất lượng của dịch vụ công và mức độ độc lập với các áp lực chính trị, chất lượng xây dựng và thực thi chính sách và tính tin cậy của cam kết thực hiện của chính phủ trong việc thực thi các chính sách này
4 Chất lượng các quy định (Regulatory Quality): đo lường cảm nhận về khả năng của chính phủ trong việc xây dựng các chính sách khuyến khích sự phát triển của khu vực tư nhân
(c) Tôn trọng của người dân và chính quyền đối với thể chế
5 Nhà nước pháp quyền (Rule of Law): đo lường cảm nhận về mức độ tin tưởng và tôn trọng của người dân đối với các quy định của xã hội, đặc biệt là về chất lượng của việc thực thi hợp đồng, quyền sở hữu tài sản, cảnh sát, tòa án, cũng như về mức độ tội phạm và bạo lực
6 Kiểm soát tham nhũng (Control of Corruption): đo lường cảm nhận về mức độ chế tài của pháp luật đối với các hành vi tham nhũng và các loại tham nhũng khác nhau, kể cả việc thâu tóm chính quyền của một số nhóm lợi ích
Dữ liệu từ hơn 300 chỉ tiêu của 30 nguồn khác nhau được tính toán thành sáu chỉ số quản trị cho sáu nhóm chỉ tiêu Kaufmann et al (2010) thiết lập phương pháp tính toán chỉ số WGI theo các bước sau:
Bước 1: Sắp xếp dữ liệu từ từng nguồn khác nhau cho sáu nhóm chỉ tiêu lớn
Câu hỏi từ từng nguồn được chọn lọc và sắp xếp cho từng nhóm chỉ tiêu lớn
Ví dụ, một câu hỏi khảo sát doanh nghiệp về môi trường quản lý sẽ được xếp vào nhóm chỉ tiêu Chất lượng các quy định (Regulatory Quality), hay một đo lường về
Trang 21tự do báo chí sẽ được xếp vào nhóm chỉ tiêu Tiếng nói và trách nhiệm giải trình (Voice and Accountability)
Bước 2: Điều chỉnh thang đo sơ bộ của từng nguồn dữ liệu thành 0 đến 1
Câu hỏi từ từng nguồn được điều chỉnh thang đo có giá trị từ 0 đến 1, với giá trị cao hơn là kết quả tốt hơn Ví dụ, nếu một câu hỏi yêu cầu câu trả lời có thang từ
1 (thấp nhất) đến 4 (cao nhất), thì điểm số là 2 sẽ được điều chỉnh thang đo thành (2-min)/(max-min) = (2-1)/(4-1) = 0,33
Mặc dù các dữ liệu được điều chỉnh thang đo sẽ dao động từ 0 đến 1 nhưng
dữ liệu từ các nguồn khác nhau có thể không so sánh được với nhau Ví dụ, một nguồn thì sử dụng thang 0-10 nhưng trong thực tế hầu hết các trả lời đều trong khoảng 6-10, trong khi một nguồn khác cũng sử dụng thang 0-10 nhưng câu trả lời phân bố trong cả khoảng này Do vậy, cách điều chỉnh thang đo max-min này không sửa chữa được sự không thể so sánh giữa các nguồn
Phương pháp UCM được trình bày ở dưới sẽ giúp giải quyết vấn đề này
Bước 3: Sử dụng phương pháp Unobserved Components Model (UCM) để tính toán trung bình có trọng số của từng chỉ tiêu ở từng nguồn
Phương pháp UCM được sử dụng để biến dữ liệu được điều chỉnh thang đo
từ 0 đến 1 có thể so sánh giữa các nguồn khác nhau, rồi tính toán trung bình có trọng số 2 của dữ liệu từ từng nguồn cho từng quốc gia
Sáu chỉ số tổng hợp cho sáu nhóm chỉ tiêu về quản trị được tính toán bằng phương pháp UCM có đơn vị theo phân phối chuẩn, với trung bình = 0, độ lệch chuẩn = 1, và có giá trị dao động trong khoảng từ -2.5 đến 2.5 với giá trị càng cao thì quản trị càng tốt
Sử dụng chỉ số quản trị để so sánh giữa các quốc gia
Sáu chỉ số về quản trị cho sáu nhóm chỉ tiêu được báo cáo theo hai cách (i) dưới dạng đơn vị phân phối chuẩn, dao động từ -2.5 đến 2.5, và (ii) dưới dạng xếp hạng phân vị, dao động từ 0 đến 100, với giá trị cao hơn tương ứng với kết quả tốt
Trang 22hơn Ví dụ, xếp hạng phân vị Hiệu quả của chính phủ của Việt Nam năm 2014 là 52.4 nghĩa là có 52.4% tổng số quốc gia trong mẫu quan sát có điểm (xếp hạng) thấp hơn Việt Nam về chỉ số này
Điểm quan trọng của WGI là tất cả điểm số đều dược đi kèm bởi sai số chuẩn Sai số chuẩn phản ánh thực tế là khó đo lường chính xác quản trị với bất kỳ loại dữ liệu nào Trong dữ liệu trình bày dưới dạng biểu đồ, những sai số chuẩn này được chuyển thành 90% khoảng tin cậy hay “sai số biên” Điều này cho biết dao động có khả năng về mặt thống kê dựa theo nguồn dữ liệu sẵn có cho một quốc gia
2.1.3 Sự bền vững c môi rường
Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (United Nations Conference on Environment & Development, 1987) đã đưa ra khái niệm “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Phát triển bền vững phải trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh
tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường hướng đến mục tiêu là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ
Theo Tổ chức Ngân hàng phát triển châu Á (ADB): "Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế
hệ trong tương lai"
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng môi trường nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, khói bụi gia tăng, ô nhiễm nguồn nước… đang đe dọa trực tiếp tới thành
quả phát triển kinh tế Hội nghị nhóm các nước thuộc Công ước khung của Liên
Trang 23Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP 21, 2015) đã nêu ra các vấn đề môi trường
toàn cầu cần nhanh chóng giải quyết:
- Hiện tượng nóng lên toàn cầu đã bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 khi lượng khí
thải công nghiệp vô cùng lớn được xả vào bầu khí quyển Những nước chịu trách nhiệm cho lượng khí thải này đa số là các nước phát triển nằm phần lớn ở Châu u
và Châu Mỹ
- Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên 20C, băng và các sông băng tan chảy nhanh hơn, tương ứng với sự gia tăng của mực nước biển, nhiều diện tích đất bị biến mất, hạn hán cũng sẽ xảy ra nhiều hơn và tình trạng thiếu nước chắc chắn là một mối lo mới
- Tình trạng thiếu lương thực và nước sẽ là căn nguyên khơi mào cho nhiều cuộc xung đột để tranh giành nguồn tài nguyên, thúc đẩy hiện tượng di cư hàng loạt
và khiến nhiều thể chế mất kiểm soát đối với người dân của họ
- Tình trạng bụi phóng xạ từ các vụ nổ hạt nhân là thực trạng khó có thể đối
phó được
- Lượng khí thải carbon toàn cầu trở nên cao nhất hơn bao giờ hết Trong đó, Trung Quốc đang được coi là nước gây ô nhiễm lớn nhất, tiếp theo là Mỹ, Liên minh Châu u, Ấn Độ, Nga và Nhật Bản Mục tiêu dài hạn để xử lý vấn đề này là như thế nào?
- Tiến trình cắt giảm khí thải nhà kính thông qua việc tuân thủ Nghị định thư Kyoto
- Các nước phát triển phải chịu một gánh nặng cao hơn so với các nước đang phát triển trong công cuộc chống biến đổi khí hậu toàn cầu Bởi lẽ rằng, họ phải chịu trách nhiệm cho những gì đã gây ra với môi trường trong vòng 200 năm qua Các nước phát triển cần có giải pháp ra sao để hài hoà giữa hai mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và hạn chế gây ô nhiễm môi trường?
Trang 242.2 Tổng quan lý thuyết
2.2.1 FDI và sự bền vững c a môi rường
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường đã được quan tâm nghiên cứu và dần được sáng tỏ hơn trong các cuộc tranh luận lâu dài về các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt (Solow, 1974) và cân nhắc giữa khả năng tăng trưởng liên tục với nguồn tài nguyên bị cạn kiệt (Meadows et al., 1972)
Giả thuyết Đường cong Kuznets về môi trường (EKC) (Kuznet, 1995) được xem là lý thuyết phổ biến nhất được sử dụng khi tiến hành nghiên cứu về vấn đề kinh tế môi trường Giả thuyết EKC mô tả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường có dạng hình chữ U ngược: trong giai đoạn đầu, sự tăng trưởng kinh tế sẽ có mối quan hệ đồng biến với lượng phát thải ô nhiễm dẫn đến môi trường bị suy thoái; tuy nhiên, khi vượt qua giá trị ngưỡng thì lượng phát thải ô nhiễm bắt đầu giảm xuống, tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đối với sự bền vững của môi trường
Hình 2.1: Đường cong Kuznets về môi trường
(Nguồn: Mô phỏng của tác giả)
Trang 25Một vấn đề quan trọng cần lưu ý là EKC không giải quyết trực tiếp mối quan
hệ giữa FDI và tính bền vững của môi trường mà thông qua một kênh gián tiếp rằng FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế làm tăng lượng phát thải CO2, qua đó ảnh hưởng đến sự bền vững của môi trường
Một lý thuyết trực tiếp hơn giải quyết mối quan hệ giữa FDI và ô nhiễm môi trường đã nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu Mabey & McNally (1999) phát triển lý thuyết “Nơi trú ẩn của ô nhiễm” cho rằng các công ty đa quốc gia tham gia vào các hoạt động gây ô nhiễm cao sẽ có xu hướng di chuyển đến các quốc gia đang/ kém phát triển với các tiêu chuẩn kém nghiêm ngặt hơn về môi trường để có được mức chi phí thấp trong tuân thủ các quy định môi trường Lý thuyết này ngụ ý rằng FDI sẽ tự nhiên chảy về các nước với quản lý và cơ cấu thể chế yếu kém và do
đó, thành công dẫn đến cạn kiệt về môi trường
Về cơ chế tác động của FDI đến sự bền vững của môi trường có thể diễn ra theo 3 hướng: (1) sự gia tăng vốn FDI có tác động thúc đẩy sự gia tăng quy mô sản xuất ở các nước nhận vốn dẫn đến gia tăng lượng phát thải gây ô nhiễm môi trường; (2) để thu hút FDI, các quốc gia có thể linh hoạt hơn trong việc nới lỏng các quy định về môi trường dẫn đến hệ quả là vốn FDI vào cùng với những công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm hoặc để tối ưu hóa chi phí sản xuất trong điều kiện chi phí môi trường giảm; (3) dòng vốn FDI có tác dụng “chảy tràn” cùng với sự chuyển giao công nghệ sản xuất tiến tiến, làm thay đổi khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất…; qua đó làm giảm lượng phát thải gây ô nhiễm, góp phần gia tăng sự bền vững của môi trường
2.2.2 Ảnh hưởng c a thể chế đến FDI
Lý thuyết Eclectic Paradigm (OLI) được nghiên cứu và phát triển bởi Dunning (1970, 1979, 1981, 1988, 1998, 2000, 2001) cho rằng: Một công ty tiến hành đầu tư nước ngoài khi có được các lợi thế OLI bao gồm lợi thế sở hữu (Ownership Advantage ); lợi thế về vị trí (Location Advantage) và lợi thế nội bộ hóa (Internalization Incentives) Lợi thế quyền sở hữu (O) gồm có các lợi thế về
Trang 26vốn, công nghệ, khả năng quản lý, tổ chức, tiếp thị Lợi thế về vị trí (L) gồm tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế vĩ mô, quy mô thị trường, thể chế, lao động giá rẻ và có tay nghề cao Lợi thế nội bộ hóa (I) để giảm chi phí giao dịch, kiểm soát đầu vào, đầu ra, tránh tiết lộ lợi thế sở hữu cho các công ty liên doanh
Trên cơ sở mô hình OLI, UNCTAD (1988) đã nghiên cứu và đưa ra 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của nước nhận vốn; tổ chức các cuộc điều tra thường niên để xếp hạng, đánh giá mức độ cạnh tranh trong thu hút FDI của các quốc gia; qua đó, tạo cơ sở cho Chính phủ các nước tiến hành các biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư để thu hút FDI ở cấp quốc gia
Trang 27Yếu tố ảnh hưởng c nước sở tại Các hình thức FDI dựa
r n động ơ
Yếu tố kinh tế c nước sở tại
I Yếu tố khung chính sách đối với
II Yếu tố kinh tế
III Yếu tố kinh doanh thuận lợi
Xúc tiến đầu tư
Ưu đãi đầu tư
Chi phí liên quan đến tham nhũng,
hiệu quả hành chính
Tiện nghi xã hội
Dịch vụ sau khi đầu tư
A.Tìm kiếm thị trường Quy mô thị trường và thu nhập bình
quân đầu người Tăng trưởng thị trường Gia nhập vào thị trường khu vực và toàn cầu
Ưu đãi người tiêu dùng Cấu trúc của thị trường B.Tìm kiếm tài nguyên Nguồn nguyên liệu
Chi phí lao động thấp Lao động có kỹ năng Công nghệ
Cơ sở hạ tầng C.Tìm kiếm hiệu quả Chi phí các nguồn lực và tài sản
Chi phí đầu vào khác (vận chuyển, truyền thông, chi phí sản phẩm trung gian)
Thành viên của một thỏa thuận hội nhập khu vực dẫn đến việc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp khu vực
Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng môi trường đầu tư
(Nguồn: World Invesment Report 1998: Trends and Determinants, table IV.1, p 91.)
Trang 28Trong 1 nghiên cứu lý thuyết, Li & Resnick (2003) đã phát triển một mô hình để nghiên cứu tác động của thể chế trong nước đối với các dòng vốn FDI; qua
đó ghi nhận kết quả rằng thể chế ảnh hưởng đến FDI một cách rất phức tạp Dường như có mâu thuẫn khi gia tăng dân chủ sẽ hỗ trợ củng cố hệ thống tư pháp và pháp quyền, trong đó bao hàm việc giảm rủi ro khi đầu tư vào một quốc gia và do đó thu hút FDI chảy vào quốc gia đó Tuy nhiên, nó cũng có thể đẩy các nhà đầu tư nước ngoài ra đi thông qua việc áp đặt những hạn chế đối với vốn ngoại
Như vậy, các lý thuyết đã xác định thể chế là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI của một quốc gia Các nước có môi trường thể chế tốt
sẽ có khả năng thu hút FDI mạnh hơn và “nước nào có thể chế công ổn định làm cơ
sở tiên liệu tương lai thì nước ấy có mức đầu tư tăng trưởng cao hơn những nước thiếu thể chế như vậy” (World Bank, 1997)
ở 112 quốc gia trong vòng 15 đến 28 năm Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan
hệ giữa 2 biến này phụ thuộc vào trình độ phát triển của nước nhận vốn: đối với nhóm nước có thu nhập thấp và trung bình, tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa mức phát thải CO2 và FDI ; trong khi không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ này ở các nước có thu nhập cao
Trang 29Cole & Elliott (2005) nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại và FDI đối với môi trường ở các khu vực khác nhau trên thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy sự ủng hộ đối với Lý thuyết Kuznets tại Châu Phi, Châu Á
và các nước OECD FDI làm giảm lượng phát thải CO2 ở Châu Phi, Trung Đông và Bắc Phi, Liên Xô (cũ), Đông u và Nam Mỹ, nhưng ở Châu Á thì FDI góp phần làm tăng lượng phát thải CO2 FDI tăng phát thải SO2 ở Nam Mỹ, mặc dù nó làm giảm chúng ở châu Phi Đầu tư nội địa đóng góp đáng kể vào việc tăng phát thải
CO2 và SO2 ở hầu hết các khu vực, trong khi độ mở thương mại làm giảm CO2trong các nước OECD
Jorgenson (2007) tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát thải
CO2 và ô nhiễm nguồn nước ở các quốc gia kém phát triển trong giai đoạn 2000; kiểm tra giả thuyết: sự phụ thuộc vào FDI trong lĩnh vực sản xuất có tương quan dương với phát thải CO2 và ô nhiễm nguồn nước ở các nước kém phát triển Kết quả hồi quy OLS, FEM xác nhận ý nghĩa các giả thuyết trên
1975-Acharyya (2009) tiến hành nghiên cứu để xem xét hai lợi ích và chi phí của FDI trong bối cảnh Ấn Độ thời kỳ 1980-2003: tăng trưởng GDP và suy thoái môi trường Tác giả cho rằng giả thuyết “Nơi trú ẩn ô nhiễm” không phải là một trong những lý do để giải thích sự gia tăng đột ngột của dòng vốn FDI vào Ấn Độ; tuy nhiên, cùng với tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, FDI đóng góp rất lớn trong việc gia tăng mức phát thải CO2 ở Ấn Độ
Wang (2013) sử dụng dữ liệu bảng số liệu từ 287 thành phố của Trung Quốc trong giai đoạn 1999-2005 để đánh giá tác động đa chiều của FDI đối với môi trường và vai trò của thể chế địa phương trong việc hạn chế những tác động tiêu cực (nếu có) Kết quả phân tích cho thấy FDI giúp tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động và thúc đẩy những cải tiến; đồng thời, làm giảm việc làm và tăng ô nhiễm môi trường ở các thành phố Điều thú vị là nghiên cứu phát hiện việc phát triển thể chế của thành phố sẽ thúc đẩy những tác động tích cực của FDI và hạn chế những tác động tiêu cực của nó Nghiên cứu này khẳng định rằng điều quan trọng nhất là
Trang 30nước nhận FDI phải có một thể chế đủ mạnh để vừa có khả năng thu hút các lợi ích của FDI, đồng thời cắt giảm được các chi phí liên quan đến nó một cách hợp lý
Nghiên cứu của Merican et al (2007) sử dụng cách tiếp cận ARDL với các biến kiểm soát là thu nhập bình quân đầu người và giá trị gia tăng ngành công nghiệp để nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và ô nhiễm môi trường của 5 quốc gia châu Á trong giai đoạn 1970-2001 Kết quả thực nghiệm cho thấy ô nhiễm liên quan đến FDI tại Malaysia, Thái Lan, Philippin; tác động này là không rõ ràng ở Singapore và dường như FDI không làm trầm trọng thêm mà còn góp phần làm giảm thiểu lượng phát thải CO2 ở Indonesia
Mahmood & Chaudhary (2012) sử dụng các kiểm định ADF, PP, Ng-Perron, Zivot-Andrews và mô hình ARDL để nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, giá trị gia tăng ngành sản xuất công nghiệp và mật độ dân số đối với lượng phát thải CO2 ở Pakistan Kết quả nghiên cứu cho thấy không tồn tại mối quan hệ trong ngắn hạn; trong dài hạn, cả FDI, giá trị gia tăng ngành sản xuất công nghiệp
và mật độ dân số đều có tác động tích cực đến lượng phát thải CO2
Lee (2009) sử dụng kiểm định được phát triển bởi Pesaran et al (2001) để nghiên cứu quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, ô nhiễm và tăng trưởng kinh
tế ở Malaysia trong giai đoạn 1970- 2000 Kiểm định nhân quả Granger cũng được
áp dụng để kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa các biến trên Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, trong ngắn hạn, FDI và ô nhiễm là nguyên nhân làm gia tăng sản lượng đầu ra Cũng trong ngắn hạn, tác giả tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về mối tương quan giữa FDI và ô nhiễm Tương tự, nghiên cứu của Mutafoglu (2012) nghiên cứu cho trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ với dữ liệu theo quý từ quý I năm 1987 đến quý IV năm 2009 Kết quả phân tích đồng liên kết cho thấy trong dài hạn tồn tại mối quan hệ cân bằng giữa các biến nêu trên Kết quả kiểm định nhân quả Granger cho thấy có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa các chỉ tiêu trên, điều này đã củng cố thêm cho giả thuyết “Nơi trú ẩn của ô nhiễm” Nghiên cứu của Omri et al (2014) sử dụng dữ liệu bảng của 54 quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1990 –2011 cho
Trang 31thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và dòng vốn FDI trên toàn bộ mẫu nghiên cứu và mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa dòng vốn FDI và lượng phát thải CO2 (trừ các quốc gia khu vực Châu Âu và Bắc Á)
Sử dụng dữ liệu của 18 quốc gia châu Mỹ La tinh trong giai đoạn 1980 –
2007, Blanco et al (2013) đã áp dụng kiểm định nhân quả Granger để kiểm tra mối quan hệ giữa FDI và lượng phát thải CO2 Kết quả cho thấy đối với các ngành gây ô nhiễm nhiều, tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa 2 biến này trong khi không có bằng chứng cụ thể cho thấy FDI gây gia tăng lượng phát thải CO2 ở các ngành nghề khác Các biến kiểm soát khác sử dụng trong mô hình như GDP, giá trị gia tăng ngành sản xuất công nghiệp cũng có tác động dương đến lượng phát thải CO2
Trong nghiên cứu để xác định mối quan hệ giữa lượng phát thải CO2, nhu cầu sử dụng năng lượng, FDI và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1980- 2010, Linh & Lin (2014) đã dựa trên cách tiếp cận EKC, kiểm định đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger Kết quả cho thấy đối với Việt Nam thì lý thuyết Kuznets không được khẳng định khi kết quả lượng phát thải CO2 sẽ bắt đầu giảm khi thu nhập bình quân đầu người đạt 2.226 USD/năm là không có ý nghĩa thống
kê Tuy vậy, nghiên cứu đã củng cố thêm cho giả thuyết “Nơi trú ẩn của ô nhiễm” khi chỉ ra rằng trong dài hạn, FDI và nhu cầu sử dụng năng lượng có tương quan dương và có mối quan hệ chặt chẽ với suy thoái môi trường
Bên cạnh những nghiên cứu có kết quả là FDI gây những tác động bất lợi đối với môi trường, có những nghiên cứu đưa đến những kết quả hoàn toàn trái ngược Birdsall & Wheeler (1993); Zarsky(1999) dựa trên giả thuyết “vành ô nhiễm” cho rằng FDI sẽ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở quốc gia tiếp nhận đầu tư bởi vì với các tiêu chuẩn môi trường được áp dụng toàn cầu, các công ty đa quốc gia có xu hướng mở rộng, chuyển giao các công nghệ hiện đại, “xanh” cho đối tác để sản phẩm làm ra đạt chuẩn tiêu thụ ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, đặc biệt là
ở các nước phát triển
Trang 32Sử dụng dữ liệu từ bốn nước đang phát triển (Cote d'Ivoire, Mexico, Maroc
và Venezuela), Eskeland & Harrison (2003) khảo sát mô hình đầu tư nước ngoài thông qua việc phân tích chi phí xử lý ô nhiễm và các vấn đề sử dụng năng lượng cho hoạt động sản xuất của các công ty có vốn FDI và công ty trong nước Kết quả cho thấy hầu như không có bằng chứng cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài tập trung vào các lĩnh vực gây ô nhiễm cao mà ngược lại, các công ty nước ngoài có hiệu suất năng lượng cao hơn đáng kể và sử dụng các loại năng lượng sạch hơn các đối tác trong nước; qua đó bác bỏ giả thuyết "Nơi trú ẩn của ô nhiễm”
Kirkulak et al (2011) tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của FDI đối với chất lượng không khí ở 286 thành phố của Trung Quốc từ 2001 đến 2007 (chọn mốc sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO năm 2001)
Sử dụng dữ liệu bảng và tiến hành các ước lượng FEM, REM và GLS, nghiên cứu
đã phát hiện ra rằng FDI không những không có tác động tiêu cực đến chất lượng không khí mà còn giúp làm giảm ô nhiễm không khí Kết quả này có thể do vai trò của FDI trong nền kinh tế mà FDI được coi là nguồn chính của công nghệ tiên tiến
ở Trung Quốc Kết quả tương tự được tìm thấy ở nghiên cứu của Lan et al (2012) khảo sát về mối quan hệ giữa FDI, vốn con người và ô nhiễm môi trường ở Trung Quốc thông qua việc sử dụng số liệu kinh tế xã hội và môi trường của tỉnh Kết quả cho thấy tác động của FDI đối với phát thải ô nhiễm phụ thuộc rất nhiều vào mức
độ nguồn nhân lực FDI có mối liên hệ tiêu cực với phát thải khí nhà kính ở các tỉnh
có mức vốn con người cao hơn, trong khi đó lại có ý nghĩa tích cực với việc phát thải khí nhà kính ở các tỉnh có mức vốn con người thấp hơn Atici (2012) sử dụng
dữ liệu bảng từ giai đoạn 1970-2006, xem xét sự tương tác giữa thương mại và môi trường về phát thải CO2 cho nhóm các nước ASEAN Kết quả cho thấy xuất khẩu đóng góp chính cho phát thải CO2 ở các nước ASEAN phát triển, đang phát triển và đang phát triển muộn; không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy ảnh hưởng xấu của FDI đến chất lượng môi trường
Với mục đích kiểm định tính đúng đắn của giả thuyết “Nơi trú ẩn của ô nhiễm”, Al-Mulali & Tang (2013) đã sử dụng dữ liệu của các quốc gia vùng Vịnh
Trang 33trong giai đoạn 1980- 2009 để tiến hành phân tích Kết quả hồi quy FMOLS cho thấy tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng GDP làm tăng phát thải CO2, trong khi các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có quan hệ tiêu cực kéo dài với phát thải CO2 Kết quả kiểm định nhân quả Granger cho thấy FDI không có mối quan hệ nhân quả trong ngắn hạn với phát thải CO2 và nhu cầu sử dụng năng lượng trong khi nhu cầu
sử dụng năng lượng và tăng trưởng GDP có tác động dương đến lượng phát thải CO2 Vì vậy, nghiên cứu khuyến nghị rằng các nước này nên sử dụng các chính sách để khuyến khích đầu tư nước ngoài vì nó đóng một vai trò quan trọng trong việc kích thích tăng trưởng GDP
Lee (2013) nghiên cứu đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việc sử dụng năng lượng sạch, phát thải cácbon và tăng trưởng kinh tế bằng việc sử dụng
dữ liệu của 19 quốc gia G20 trong giai đoạn 1971-2009 Sử dụng kiểm định đồng liên kết để kiểm tra mối tương quan trong dài hạn của các biến này và mô hình FEM
để đo lường tác động của FDI lên từng chỉ tiêu Các kết quả kiểm tra cho thấy FDI
đã đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế trong khi không tìm thấy bằng chứng thuyết phục về tác động của FDI lên lượng phát thải CO2 và với việc sử dụng năng lượng sạch Với kết quả, bài báo thảo luận về vai trò tiềm năng của FDI trong việc đạt được các mục tiêu tăng trưởng xanh
Shaari et al.(2014) sử dụng dữ liệu bảng của 15 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1992 –2012 để điều tra những ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế đối với phát thải CO2 Kết quả kiểm định Johansen cho thấy có tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa FDI, tăng trưởng kinh tế và mức phát thải CO2 Thực hiện hồi quy FMOLS cho thấy trong dài hạn, FDI không có tác động gì đến phát thải CO2; tuy nhiên tăng trưởng kinh tế dẫn đến tăng cường phát thải CO2 Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị các nước đang phát triển cần xây dựng các chính sách về môi trường để đạt được tính bền vững về kinh tế Kết quả kiểm định Granger cho thấy không có tác động của FDI và GDP đối với phát thải CO2
trong ngắn hạn
Trang 34Một kết quả tương tự cũng được ghi nhận bởi Chang và Huang (2015) trong một nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy ngưỡng để xác định tác động của FDI và tăng trưởng kinh tế lên lượng phát thải CO2 trong các chế độ có sự khác nhau về mật độ dân số Tồn tại một mối quan hệ phi tuyến giữa tổng sản phẩm trong nước và lượng phát thải CO2 cùng với sự giảm đáng kể trong phát thải CO2 khi có
sự gia tăng FDI Lượng phát thải CO2 tăng cùng với tăng giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp ở giai đoạn đầu và giảm khi mà ngành đạt đến sự trưởng thành (ngành công nghiệp bắt đầu sử dụng năng lượng hiệu quả hơn)
2.3.2 Ảnh hưởng c a thể chế đến FDI và vai trò c a thể chế trong tác động c FDI đối với môi rường
Quere et al (2007) nghiên cứu về các yếu tố quyết định của FDI ở các nước đang phát triển và đánh giá vai trò chất lượng của các thể chế đối với FDI trên cơ sở
sử dụng dữ liệu từ 52 quốc gia năm 2001 Kết quả nghiên cứu đã nêu ra 3 lý do thể chế có thể ảnh hưởng đến việc thu hút FDI: (1) triển vọng tăng năng suất sản xuất; (2) giảm chi phí đầu tư; (3) giảm chi phí ẩn
Dean et al (2009) cũng đi tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề liệu có tồn tại
“thiên đường ô nhiễm” không bằng cách ước lượng các yếu tố quyết định lựa chọn
vị trí đối với các liên doanh vốn cổ phần (EJVs) ở Trung Quốc Nghiên cứu sử dụng
số liệu về 2.886 dự án liên doanh sản xuất nước ngoài trong giai đoạn 1993-1996; trong đó phân r trụ sở của đối tác được đặt ở Hồng Kông, Macau, Đài Loan hay các nước OECD Kết quả nghiên cứu cho thấy công nhân có tay nghề cao, số lượng các nhà cung cấp địa phương tiềm năng, các ưu đãi đặc biệt và tỷ lệ vốn nhà nước thấp là các yếu tố cơ bản thu hút FDI Chi phí môi trường thấp có tác động đáng kể trong thu hút vốn cho các liên doanh trong các ngành công nghiệp gây ô nhiễm cao với các đối tác từ Hồng Kông, Macau và Đài Loan; ngược lại, các liên doanh với các đối tác từ OECD không bị thu hút bởi các chi phí môi trường thấp, bất kể cường
độ ô nhiễm của ngành Sự khác biệt về công nghệ được cho là nguyên nhân để giải thích những kết quả này
Trang 35Để trả lời câu hỏi liệu rằng các quốc gia Asean có phải là “thiên đường” đối với các ngành công nghiệp ô nhiễm của Nhật Bản, Elliott (2008) xem xét ảnh hưởng của FDI của Nhật Bản dành cho cho ba nước láng giềng gần đó là Malaysia, Indonesia và Philippines trong giai đoạn 1986-1998 để tìm hiểu mối quan hệ giữa FDI và mức độ nghiêm ngặt tương đối của các quy định về môi trường của Nhật Bản và 3 nước nói trên Bài nghiên cứu sử dụng một mô hình đơn giản do Eskeland
& Harrison (2003) đề xuất để chứng minh rằng việc gia tăng các quy định về môi trường ở Nhật có thể là yếu tố quyết định cho FDI của Nhật đối với 3 nước – nơi có các quy định về môi trường kém hơn (đồng nghĩa với chi phí dành cho môi trường
sẽ ít hơn)
Nghiên cứu dùng số liệu về FDI vào 10 ngành sản xuất khác nhau được chia nhóm “ngành bẩn” và “không bẩn” Kết quả cho thấy không có bằng chứng cho thấy các quy định về môi trường của Nhật có tác động đáng kể đến đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các công ty Nhật; hơn thế nữa, những quy định nghiêm ngặt về môi trường trong nước có thể làm giảm hoặc ít nhất là làm chậm FDI “bẩn” chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Trên thực tế, những nước có tiêu chuẩn môi trường lỏng lẻo thường không có mức vốn lũy kế cần thiết
để thu hút đầu tư chiều sâu Hơn nữa, tác động của siết chặt các quy định về môi trường có thể là làm cho ngành công nghiệp địa phương đầu tư nhiều hơn vào công nghệ sạch ngay tại quốc gia đó hơn là chuyển vốn ra nước ngoài rồi vẫn phải đầu tư
để có được sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn chung
Lee et al (2007) điều tra sự tương quan giữa bất bình đẳng về thu nhập, nền kinh tế toàn cầu và vai trò của thể chế Sử dụng bộ số liệu không cân bằng với 311 quan sát trên 60 quốc gia, từ 1970- 1994 Phân tích tiến hành theo hai giai đoạn: (1) kiểm tra các ảnh hưởng đối với sự bất bình đẳng đối với cơ cấu thương mại, sự tập trung của hàng xuất khẩu; (2) phân tích vai trò của sự tương tác giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và quy mô của chính phủ trong mối quan hệ hình chữ U ngược giữa bất bình đẳng về thu nhập với đầu tư nước ngoài Kết quả chỉ ra rằng những ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với bất bình đẳng là tích cực ở đối với chính phủ
Trang 36có quy mô ở mức độ trung bình, nhưng hiệu quả này sẽ giảm đi đáng kể hoặc tiêu cực trong các xã hội có khu vực công lớn hơn Nhà nước đóng vai trò tích cực trong việc hạn chế các tác động có khả năng gây hại của sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài
Grimes & Kentor (2003) xem xét tác động của sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài của việc phát thải khí CO2 từ năm 1980 đến năm 1996 Trong phân tích hồi quy của 66 nước kém phát triển, nhận thấy rằng sự thâm nhập vốn nước ngoài vào năm 1980 có một ảnh hưởng tích cực đáng kể lên sự tăng lượng CO2 trong giai đoạn 1980-1996; tuy nhiên, không tìm thấy tác động có ý nghĩa của đầu tư trong nước trong mối quan hệ này Nghiên cứu đưa ra một vài lý do cho những phát hiện này,
đó là: (1) Đầu tư nước ngoài có xu hướng tập trung nhiều hơn vào những ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều năng lượng hơn (2) các tập đoàn xuyên quốc gia có thể
di chuyển các ngành công nghiệp ô nhiễm cao sang các nước có sự kiểm soát môi trường ít chặt chẽ hơn; có thể xem như có thể chế yếu hơn (3) sự chuyển động của đầu vào và đầu ra phát sinh từ việc phân tán sản xuất toàn cầu trong 30 năm qua có thể sẽ tốn kém hơn nhiều ở các nước có cơ sở hạ tầng nghèo nàn hơn (4) việc sử dụng năng lượng ở các nước nhận đầu tư nước ngoài ít hiệu quả hơn đáng kể so với
ở các nước đầu tư
Jorgenson et al (2007) cũng thừa nhận rằng, một tỷ lệ lớn dòng FDI vào các nước có nền tài chính kém phát triển cùng với các quy trình sản xuất gây ô nhiễm cao, các quy trình và điều kiện sản xuất ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái, mà phần nhiều trong số đó được “thuê ngoài” từ các nước phát triển Không khó để thấy được các ảnh hưởng tiêu cực của dòng vốn FDI, điều quan trọng là xem xét bản chất của dòng vốn FDI để tìm hiểu làm thế nào các dòng vốn nước ngoài như vậy đã dẫn đến suy thoái môi trường trong các hình thức bao gồm ô nhiễm của nguồn nước, khí thải các chất độc hại và nạn phá rừng
Một số nghiên cứu đã hệ thống các tài liệu ghi nhận rằng ở giữa dòng chảy FDI, bảo vệ môi trường có thể được tăng cường với tăng phản ứng của Chính phủ,
Trang 37đồng thời với năng lực chính sách cao Điều này có nghĩa rằng, sức mạnh của cơ quan nhà nước như các cơ quan bảo vệ môi trường và cơ cấu quản trị công có thể ảnh hưởng đến cách mà FDI tác động đến môi trường bền vững
Ehrhardt-Martinez et al (2002) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ mất rừng trong quá trình phát triển kinh tế Sử dụng số liệu của các quốc gia kém phát triển trong giai đoạn 1980-1995, kết quả chỉ ra rằng quá trình đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và dòng vốn FDI có tác động dương đối với việc mất rừng Tuy vậy,
1 quốc gia với nền dân chủ mạnh sẽ giúp hạn chế được các ảnh hưởng tiêu cực của FDI đến sự bền vững của môi trường
Asiedu (2006) tiến hành nghiên cứu tại 112 nước đang phát triển trong giai đoạn 1982-2007 để xem xét tác động của dân chủ đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với giả thuyết cho rằng mối quan hệ giữa dân chủ và FDI là giống nhau đối với các nước xuất khẩu tài nguyên và các nước không phải là nước xuất khẩu Kết quả nghiên cứu cho thấy các nước được ưu đãi với nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc có thị trường lớn sẽ thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn Dân chủ thúc đẩy FDI nếu và chỉ nếu giá trị của phần khoáng sản và dầu trong tổng xuất khẩu ít hơn một số giá trị quan trọng khác Nghiên cứu xác định 90 quốc gia có khả năng mở rộng nền dân chủ có thể tăng cường FDI và 22 quốc gia có sự gia tăng dân chủ có thể làm giảm FDI; đồng thời chỉ ra rằng tác động của dân chủ đối với FDI phụ thuộc vào quy mô chứ không phụ thuộc vào loại tài nguyên thiên nhiên
Một số các nghiên cứu chứng tỏ rằng, trong những năm gần đây, nhiều quốc gia kém phát triển đã trải nghiệm sâu sắc nợ nước ngoài Những biện pháp thắt lưng buộc bụng thường được chính phủ của các quốc gia mắc nợ sử dụng để tạo ra môi trường hoạt động thuận lợi hơn cho nước ngoài, các nhà đầu tư và các tập đoàn xuyên quốc gia Những điều kiện này thường bao gồm cắt giảm thuế hoặc miễn thuế và luật lao động thoải mái, cũng như ngoại lệ đối với quy định về môi trường- được thiết kế để bảo vệ môi trường tự nhiên từ hoạt động sản xuất và khai thác trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế (Jorgenson, 2009a, b; Clapp và
Trang 38Dauvergne, 2005; Leonard, 1 988; Shandra et al., 2008) Việc nới lỏng các quy định
về bảo vệ môi trường sẽ thu hút một lượng lớn vốn FDI chảy để hưởng những chi phí môi trường thấp hơn và cùng với đó có thể là những công nghệ lạc hậu tạo những tác động có hại đối với môi trường
Trong một nghiên cứu của Ederington et al (2005) đã kiểm soát ba yếu tố chính mà có thể đã che đậy lý thuyết "Nơi trú ẩn ô nhiễm": (1) mức độ so sánh của tính nghiêm ngặt của các quy định về môi trường; (2) mức độ di động của công nghiệp; (3) các phần của chi phí tuân thủ môi trường trong tổng chi phí Sau khi tính toán những yếu tố này, nghiên cứu tìm thấy một ý nghĩa, dù nhỏ, ảnh hưởng của những quy định về môi trường đối với FDI/thương mại
Lemi & Asefa (2003) cho thấy có sự khác biệt về hiệu quả của quản trị đối với dòng vốn FDI chảy vào các ngành công nghiệp khác nhau do các mục tiêu của các công ty FDI khi thâm nhập nền kinh tế các nước Châu Phi (FDI sản xuất, phi sản xuất) Đối với FDI sản xuất, chỉ có sự bất ổn về chính trị và cam kết chính sách của chính phủ là những yếu tố quan trọng tác động, trong khi đó đối với FDI phi sản xuất, những bất trắc về kinh tế là những trở ngại chính khi kết hợp với sự bất ổn về chính trị và gánh nặng nợ nần của các nước tiếp nhận Các yếu tố kinh tế khác như lao động, kết nối thương mại, quy mô của khu vực xuất khẩu, nợ nước ngoài và quy
mô thị trường cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc ảnh hưởng đến dòng vốn FDI đối với các nền kinh tế châu Phi
Bokpin (2016) nghiên cứu về ảnh hưởng của dòng vốn FDI đối với sự bền vững của môi trường của các quốc gia châu Phi và vai trò của thể chế trong tác động này Tác giả sử dụng dữ liệu bảng về các quốc gia châu Phi trong giai đoạn 1990-2013 và các biến đại diện cho nghịch đảo của sự bền vững về môi trường là sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và cạn kiệt tài nguyên rừng; đồng thời sử dụng các biến kiểm soát là tăng trưởng kinh tế, mức độ đô thị hóa và tỷ lệ đầu tư nội địa Kết quả nghiên cứu ghi nhận có một mối quan hệ tích cực đáng kể giữa các biện pháp nghịch đảo về sự bền vững của môi trường với FDI, có nghĩa là sự gia tăng dòng
Trang 39vốn FDI làm tăng đáng kể sự suy thoái môi trường, do đó gây ra một tác động tiêu cực đối với môi trường bền vững Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: để FDI có thể gây những tác động tích cực đối với sự bền vững của môi trường thì cần một thể chế mạnh Thể chế đóng vai trò cái neo làm giảm tác động tiêu cực của dòng vốn FDI vào môi trường trong xu thế phát triển bền vững Nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường bền vững là khá mơ hồ trong khi sự gia tăng tốc độ đô thị hóa có ảnh hưởng tiêu cực đối với sự bền vững của môi trường; đồng thời, nghiên cứu cung cấp những bằng chứng không thể kết luận về mối quan hệ giữa đầu tư trong nước và môi trường bền vững
Trang 40Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu về ảnh hưởng của FDI đến sự bền vững của môi trường
của môi trường Hoffman (2005) 112 quốc gia
15 - 28 năm
Granger Causality Test
CO2 FDI
(-)
Cole & Elliott
(2005)
ARDL Tăng trưởng kinh tế, độ mở
thương mại, FDI, CO2, SO2
ARDL CO2, FDI, thu nhập bình quân
đầu người và giá trị gia tăng ngành công nghiệp
Zivot-CO2, FDI, giá trị gia tăng ngành công nghiệp
(-) (trong dài hạn)
Lee (2009) Malaysia
1970- 2000
Granger Causality Test
CO2, FDI, tăng trưởng kinh tế (-) (trong ngắn hạn)
Mutafoglu (2012) Thổ Nhĩ Kỳ; quý I/1987
đến quý IV/2009
Granger Causality Test
Omri et al (2014) 54 nước
1990 –2011
Granger Causality Test