Tuy nhiên, trong các nghiên cứu của những năm gần đây, điển hình là Arcand, Berkes và Panizza 2015, Cecchetti và Kharoubi 2012, Samargandi, Fidrmuc và Ghosh 2015 đã tìm thấy tác động tiê
Trang 1-
PHẠM THỊ HỒNG KHOA
GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÓ MỐI QUAN HỆ ĐƠN ĐIỆU HAY KHÔNG? BẰNG CHỨNG
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2-
PHẠM THỊ HỒNG KHOA
GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
CÓ MỐI QUAN HỆ ĐƠN ĐIỆU HAY KHÔNG? BẰNG CHỨNG
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ THỊ KHOA NGUYÊN
Tp.Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3của riêng tôi
Những số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn này có chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài liệu tham khảo và kết quả khảo sát điều tra của cá nhân
Kết quả nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay
Tp HCM, ngày 04 tháng 05 năm 2017
Phạm Thị Hồng Khoa
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Kết cấu của đề tài 2
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỂ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4
2.1 Phát triển tài chính 4
2.1.1 Khái niệm phát triển tài chính 4
2.1.2 Đo lường phát triển tài chính 4
2.2 Tăng trưởng kinh tế 6
2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 6
2.2.2 Các mô hình và những nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế 6
2.2.3.1 Mô hình tân cổ điển 6
2.2.2.2 Mô hình tăng trưởng nội sinh 9
2.2.2.3 Mô hình bẫy đói nghèo 13
2.3 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế 16
2.3.1 Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đơn điệu 16
2.3.2 Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ không đơn điệu 18
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 53.1.2.1 Biến phụ thuộc: tăng trưởng kinh tế 24
3.1.2.3 Biến độc lập: phát triển tài chính 24
3.1.2.3 Biến kiểm soát 25
3.2 Mô hình thực nghiệm 28
3.2.1 Mô hình ARDL 28
3.2.2 Quy trình ước lượng mô hình ARDL 29
3.2.2.1 Kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình 29
3.2.2.2 Xác định độ trễ thích hợp và ước lượng mô hình ARDL 30
3.2.2.3 Kiểm định mối liên hệ đồng liên kết giữa các biến thông qua kiểm định đường bao (Bounds test) 31
3.2.2.4 Ước lượng phương trình dài hạn bằng mô hình ARDL 32
3.2.2.5 Ước lượng phương trình ngắn hạn bằng mô hình ARDL 33
3.2.2 6 Kiểm tra tính tin cậy, phù hợp của mô hình 34
3.2.3 Kiểm định Sasabuchi-Lind-Mehlum (SLM) 36
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Thống kê mô tả 38
4.2 Mô hình ARDL 39
4.2.1 Kiểm định tính dừng 39
4.2.2 Ước lượng mô hình ARDL 41
4.2.3 Kiểm định Bounds Test 43
4.2.4 Ước lượng các hệ số ngắn hạn và các hệ số dài hạn của mô hình 44
4.2.4.1 Ước lượng hệ số dài hạn 44
4.2.4.1 Ước lượng các hệ số ngắn hạn 47
4.2.5 Các kiểm định chuẩn đoán mô hình 49
4.2.5.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 49
4.2.5.2 Kiểm định tự tương quan 49
4.2.5.3 Kiểm định phương sai thay đổi 51
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
M1 : Cung tiền hẹp
M2 : Cung tiền mở rộng
MRW : Mô hình tân cổ điển nhiều biến vốn
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
SML : Kiểm định Sasabuchi-Lind-Mehlum
TFP : Năng suất các nhân tố tổng hợp
Trang 840
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả tính dừng của các biến bằng kiểm định Dickey - Fuller sau khi lấy sai phân bậc 1 40
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng ARDL(4,4,0,4,0,4) 42
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Bounds 43
Bảng 4.6: Ước lượng hệ số dài hạn bằng mô hình ARDL 44
Bảng 4.7: Ước lượng các hệ số ngắn hạn bằng mô hình ARDL 47
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định Wald 49
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định mô hình Breusch-Godfrey serial correlation LM 51
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định Breusch-Pagan-Godfrey 51
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định định ARDL sau khi thêm biến FD2 53
Bảng 4.12: Mô hình ARDL chạy trên OLS 54
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định SML 55
Trang 9Đồ thị 4.3: tổng tích lũy của phần dư (CUSUM) 52
Đồ thị 4.4: Đồ thị hàm bậc hai của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế 56
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài
Từ lâu, mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế luôn là đề tài thu hút sự quan tâm của các nhà kinh tế Có nhiều nghiên cứu cho rằng phát triển tài chính là động lực để tăng trưởng kinh tế, điển hình là nghiên cứu của Schumpeter
và Opie (1934), Shaw (1973) Mặc khác, nghiên cứu của Robinson (1952) kết luận rằng chính tăng trưởng kinh tế mới là điều kiện để phát triển tài chính hơn là chiều ngược lại Ngoài ra, nghiên cứu Lucas (1988) lại cho rằng phát triển tài chính không
có bất kỳ tác động nào đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, trong các nghiên cứu của những năm gần đây, điển hình là Arcand, Berkes và Panizza (2015), Cecchetti và Kharoubi (2012), Samargandi, Fidrmuc và Ghosh (2015) đã tìm thấy tác động tiêu cực của độ sâu tài chính lên tăng trưởng kinh tế khi vượt qua một ngưỡng nào đó, tức là có một mối quan hệ chữ U ngược giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Như vậy, theo các tác giả này, mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là không đơn điệu
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển Hòa mình với xu thế phát triển của thế giới, hệ thống tài chính ở Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện và phát triển Vậy bản chất mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là gì? Có tồn tại mối quan hệ chữ U ngược giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như trong các nghiên cứu gần đây của Arcand, Berkes và Panizza (2015), Cacchetti và Kharoubi (2012), Samargandi, Fidrmuc và Ghosh (2015) hay không? Để trả lời những câu hỏi này, tác giả đã chọn đề tài “Giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đơn điệu hay không? Bằng chứng tại Việt Nam” để nghiên cứu trong luận văn cao học của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ câu hỏi nghiên cứu:
“Tại Việt Nam, giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đơn
điệu hay không?”
Tác giả thực hiện luận văn này nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau đây:
Trang 11 Xem xét mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong ngắn hạn
Xem xét mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong dài hạn
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên nghiên cứu của Samargandi, Fidrmuc và Ghosh (2015)
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn Mối quan hệ này được xem xét ở Việt Nam trong giai đoạn từ quý I năm 2000 đến quý IV 2015
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng khi tiến hành thu thập, phân tích, tổng hợp dữ liệu và tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
Dữ liệu nghiên cứu: dữ liệu thứ cấp, được chia theo quý trong giai đoạn từ quý I năm 2000 đến quý IV năm 2015
Công cụ nghiên cứu: bài nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) để kiểm tra tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và trong dài hạn Đồng thời, bài viết sử dụng mô hình Sasabuchi-Lind-Mehlum để xem xét có tồn tại mối quan hệ chữ U ngược giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế hay không
Phần mềm hỗ trợ: đề tài sử dụng phần mềm EVIEW 9.0 và phần mềm STATA 14 Trong đó, phần mềm EVIEW 9.0 được sử dụng để thực hiện thống kê mô tả và mô hình ARDL, phần mềm STATA 14 được sử dụng để thực hiện mô hình Sasabuchi-Lind-Mehlum
1.5 Kết cấu của đề tài
Đề tài sẽ được thực hiện bao gồm 5 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Trang 12Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Trang 13CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỂ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY 2.1 Phát triển tài chính
2.1.1 Khái niệm phát triển tài chính
Theo Feldman và Gang (1990) phát triển tài chính (còn được gọi là độ sâu tài chính) được định nghĩa là sự tăng trưởng về quy mô thực của khu vực tài chính trong mối quan hệ với GDP
Hartmann và các cộng sự (2007) cho rằng hiệu quả của hệ thống tài chính chính là
hệ thống trung gian, thị trường và hạ tầng cơ sở mà qua chúng khu vực hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ có thể nhận được nguồn tài trợ cho các hoạt động của họ và đầu tư những khoản tiết kiệm Hệ thống này được ảnh hưởng tích cực bởi phát triển tài chính Phát triển tài chính là quá trình cải cách tài chính và nâng cao hoạt động của các tổ chức trong hệ thống tài chính nhằm làm giảm thông tin bất cân xứng, tăng tính hoàn hảo của thị trường tạo thêm khả năng cho các đối tượng trong nền kinh tế thực hiện được các giao dịch tài chính thông qua các hợp đồng, giảm thiểu chi phí giao dịch và tăng cạnh tranh
Adnan (2011) chỉ ra rằng phát triển tài chính có thể được định nghĩa là các chính sách, các nhân tố và các định chế dẫn đến các hoạt động trung gian hiệu quả và các thị trường tài chính hữu hiệu Một hệ thống tài chính mạnh sẽ cho phép đa dạng hóa rủi ro và phân bổ vốn hiệu quả Phát triển tài chính càng mạnh thì việc dịch chuyển
và phân bổ các khoản tiết kiệm vào các dự án sinh lợi càng cao
2.1.2 Đo lường phát triển tài chính
Adnan (2011) cho rằng phát triển tài chính có thể được đo lường bằng nhiều nhân tố bao gồm độ sâu, quy mô, khả năng tiếp cận và sự vững vàng của hệ thống tài chính
Nó cũng có thể được đo lường bằng cách xem xét hiệu quả và hoạt động của thị trường tài chính, ngân hàng, thị trường trái phiếu và các định chế tài chính Các quan sát cho thấy rằng một quốc gia có phát triển tài chính càng cao thì các dịch vụ tài chính tại quốc gia đó càng rộng Một hệ thống tài chính phát triển sẽ cho phép lợi nhuận cao hơn với rủi ro thấp hơn
Trang 14Adnan (2011) cũng chỉ ra rằng mức độ bất cân xứng của thông tin sẽ giảm cùng với
sự phát triển của tài chính Một hệ thống tài chính đã phát triển sẽ cung cấp các dịch
vụ tài chính đặc trưng và các hoạt động hiệu quả giúp cho hệ thống thông tin của thị trường giảm tính bất cân xứng Các nhà đầu tư có thể tin tưởng hơn vào hệ thống dự báo của các trung gian tài chính trong một hệ thống tài chính đã phát triển Bằng cách này, giá trị và độ tin cậy của thông tin sẽ làm tăng thêm đầu tư xã hội
Một cách đo lường phát triển tài chính là sử dụng tỷ lệ tín dụng ngân hàng cộng tài sản quốc nội của ngân hàng trung ương Nhưng tỷ lệ này không thống nhất giữa các nước đang phát triển vì các vấn đề trong đo lường và định nghĩa (Levine, 1997) Liu và Woo (1994) đã gợi ý sử dụng sử dụng tỷ lệ giá trị tài sản tài chính dài hạn trên giá trị tài sản tài chính ngắn hạn như một công cụ để đo lường mức độ phức tạp của tài chính Trong đó, cung tiền M1 được sử dụng như giá trị tài sản tài chính ngắn hạn M2 được sử dụng như giá trị tài sản tài chính dài hạn Tỷ lệ cung tiền mở rộng trên cung tiền hẹp (M2/M1) sẽ có mối quan hệ đồng biến với mức độ phát triển tài chính của một quốc gia Một cách đo lường khác được gọi là “nợ phải trả gần lỏng” (quasi-liquid liabilities) được định nghĩa bởi King và Levine (1993b) là chênh lệch giữa tỷ lệ cung tiền mở rộng trên GDP và tỷ lệ cung tiền hẹp trên GDP Tuy nhiên, phát triển tài chính không nhất thiết phải được đo lường bằng những chỉ
số phức tạp, mà nó thường được đo lường một cách truyền thống bằng các chỉ số định lượng dựa trên cung tiền và tổng tín dụng Mặc dù các chỉ số này không cho phép tiếp cận một cách chính xác sự phát triển tài chính của một quốc gia (Lynch, 1996), đó là những chỉ số duy nhất có thể có được trong các nghiên cứu về tiền tệ được sử dụng trong các thống kê của IMF, đặc biệt là cho các nước đang phát triển Chỉ số đơn giản nhất để đo lường phát triển tài chính là tỷ lệ cung tiền trên GDP, vốn được dùng dùng để đo lường mức độ tiền tệ hóa trong nền kinh tế Tỷ lệ M2/GDP đo lường quy mô tổng thể của khu vực trung gian tài chính và có tương quan chặt chẽ với cả mức độ và tỷ lệ thay đổi của GDP Mặc khác, theo King và Levine (1993b) M1/GDP không có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ tăng trưởng kinh tế
Trang 15Tuy công cụ này không cho thấy mức độ đầy đủ của trung gian tài chính, cung tiền
mở rộng M2 trên GDP vẫn thường được xem là một công cụ đo lường quy mô của khu vực tài chính khi có sự thiếu hụt dữ liệu về các tài sản tài chính khác
2.2 Tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Theo Durlauf và Blume (2010), tăng trưởng kinh tế thường được đo lường bởi sự thay đổi trong GDP bình quân đầu người
2.2.2 Các mô hình và những nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế
Một số mô hình lý thuyết sau đây đã được áp dụng để nghiên cứu tăng trưởng kinh tế:
Mô hình tân cổ điển
Mô hình tăng trưởng nội sinh
Mô hình bẫy đói nghèo
2.2.3.1 Mô hình tân cổ điển
Mô hình đặc trưng đầu tiên có thể nhắc đến là mô hình tăng trưởng tân cổ điển được phát triển trong các nghiên cứu của Barro và Sala-i-Martin (1992), Cass (1965), Koopmans (1965), Solow (1956, 1957), và Swan (1956)
Durlauf và Blume (2010) cho rằng hầu hết lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển là về điểm cân bằng của một nền kinh tế cạnh tranh theo thời gian Cụ thể, lý thuyết tập trung vào sự tích lũy của vốn, tốc độ phát triển dân số và công nghệ Có hai kiểu cân bằng được nghiên cứu Một kiểu là cân bằng ngắn hạn của nền kinh tế khi tích lũy vốn, lực lượng lao động và công nghệ được xem như là cố định Kiểu còn lại là cân bằng trong dài hạn khi mà cả ba yếu tố trên đều thay đổi Điều quan trọng cần phải hiểu là cân bằng dài hạn hàm chứa cân bằng ngắn hạn qua các thời điểm, nhưng một chuỗi cân bằng ngắn hạn liên tục không tạo ra cân bằng dài hạn Từ điều này, khi tính toán được cân bằng dài hạn các nhà kinh tế có thể kỳ vọng về một điểm cân bằng ngắn hạn trong tương lai Điểm cân bằng này được gọi là cân bằng
kỳ vọng hợp lý Các nghiên cứu chỉ ra rằng điểm cân bằng kỳ vọng hợp lý này không phải là bất biến Thực tế, theo Lucas (1975) nó có thể mang tính chu kỳ Tuy
Trang 16nhiên, ngoại trừ trong những mô hình cực kỳ đơn giản, điểm cân bằng kỳ vọng hợp
lý này thường ít được chú ý và đa phần các nghiên cứu tập trung vào điểm cân bằng dài hạn trong trạng thái ổn định hoặc tương đối ổn định Đây là một trong những lý
do để lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển không thực sự là một lý thuyết về tăng trưởng Việc xác định trạng thái ổn định của cân bằng dài hạn mà chỉ sử dụng phương pháp xu hướng lịch sử cũng là một sai lầm Để xác định trạng thái này cần
có nhiều nghiên cứu được thực hiện hơn là chỉ dựa vào lý thuyết Trạng thái ổn định của cân bằng dài hạn không chỉ là một chuỗi các cân bằng ngắn hạn vì trong trạng thái cân bằng ngắn hạn, vốn, dân số và công nghệ đều bất biến Trong khi đó, trong dài hạn tất cả các yếu tố này đều biến động
Durlauf và Quah (1999) cho rằng ý nghĩa thực nghiệm quan trọng của mô hình tân
cổ điển chủ yếu dựa trên hàm số sản xuất Tuy nhiên, việc áp dụng các biến định lượng vào mô hình tùy thuộc vào các nhà nghiên cứu khác nhau Mô hình tân cổ điển xây dựng hàm sản xuất với các giả định sau: chỉ có vốn vật lý là tích lũy, tăng trưởng dân số và công nghệ là ngoại sinh Với vốn vật lý khấu hao theo cấp số nhân, tích lũy vốn vật lý được giả định là theo một trong hai chiều hướng Chiều hướng thứ nhất được nêu trong Solow (1956) và Swan (1956), cho rằng tỷ lệ tiết kiệm là một hằng số tính trên thu nhập Chiều hướng thứ hai được nêu trong Cass (1965) và Koopmans (1965), cho rằng tiết kiệm trong nền kinh tế được xác định bởi một hàm số tối ưu hóa Trong hàm số này, tích lũy vốn là phần còn lại của thu nhập sau khi trừ đi tiêu dùng và khấu hao Tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư được tính toán sao cho phúc lợi xã hội là cao nhất Cả hai chiều hướng trên, Solow - Swan và Cass
- Koopmans có cùng ý nghĩa không chỉ trong nền kinh tế tăng trưởng cân bằng và
ổn định mà ngay cả trong nền kinh tế ít biến động Cả hai chiều hướng trên đều có thể được áp dụng để tìm hiểu cách thức của sự tăng trưởng kinh tế
Theo Durlauf và Quah (1999), một trong những sự chỉ trích đối với mô hình tân cổ điển một biến vốn và nhiều biến ngoại sinh đó là biến công nghệ Trong các nghiên cứu với mẫu là nhiều quốc gia, biến công nghệ này làm cho kết quả nghiên cứu trở nên bất ổn Nếu xem công nghệ là đồng nhất giữa các quốc gia thì điều này không
Trang 17hợp lý so với thực tế Mặc khác, nếu các nhà nghiên cứu cho biến công nghệ khác biệt quá nhiều giữa các quốc gia thì mô hình lý thuyết lại không thể giải thích về cách thức của tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia Cuối cùng, nếu một nhà nghiên cứu nào đó cho biến công nghệ thay đổi theo từng điều kiện kinh tế cụ thể ở từng quốc gia, thì nhà nghiên cứu đó lại có vẻ như đang “làm đẹp” dữ liệu Vì vậy, biến công nghệ trở thành một biến khó giải thích trong mô hình này Một số nghiên cứu thực nghiệm như Bernard và Durlauf (1995, 1996), Durlauf và Johnson (1995) đã tìm cách xóa bỏ những chỉ trích về biến công nghệ trên Một hướng trong các nghiên cứu này thiên về việc thay đổi mô hình tân cổ điển trên, một hướng khác nghiên cứu về các hành vi dài hạn của thu nhập nhiều quốc gia mà ít phụ thuộc vào biến công nghệ
Mankiw, Romer và Weil (1992) đưa ra mô hình tân cổ điển nhiều biến vốn (viết tắt
là MRW) Mô hình này đưa biến vốn con người vào mô hình Solow – Swan, và phát triển về mặt thực nghiệm để trở nên có thể giải thích cho dữ liệu thu nhập nhiều quốc gia tốt hơn là mô hình chỉ sử dụng vốn vật lý tích lũy
Mô hình MRW đã được sử dụng làm cơ sở cho nhiều nghiên cứu thực nghiệm Tuy nhiên, theo Durlauf và Quah (1999) cả mô hình MRW và mô hình tân cổ điển truyền thống đều bị chỉ trích ở biến công nghệ Hơn nữa các mô hình này đều không giải thích tỷ lệ tăng trưởng dài hạn Vì vậy, các mô hình này đều được xem là những
mô hình tăng trưởng ngoại sinh
Durlauf và Blume (2010) chỉ ra rằng qua nhiều năm mô hình tăng trưởng tân cổ điển được xem như nền tảng cho các nghiên cứu về biến động và tăng trưởng Tuy nhiên, mô hình này cũng không phải là không có điểm yếu Có lẽ, hạn chế lớn nhất của mô hình là giải thích tăng trưởng dài hạn: trạng thái ổn định và tỷ lệ tăng trưởng luôn được xem là ngoại sinh Từ đó, mô hình tăng trưởng nội sinh (một mô hình rất gần với mô hình tăng trưởng tân cổ điển) có thể được dùng để tìm hiểu các tác động của các chính sách và các cú sốc đối với tăng trưởng dài hạn Hiện nay, có nhiều nhà kinh tế cố gắng tích hợp hai mô hình trên Việc này đã được thực hiện trong các
mô hình với giả định rằng công nghệ là một hàm số lồi Tuy nhiên sự tích hợp hai
Trang 18mô hình cho đến nay vẫn còn rất đơn giản và còn quá sớm để kết luận rằng sự tích hợp này có thành công hay không
2.2.2.2 Mô hình tăng trưởng nội sinh
Theo Durlauf và Blume (2010), tăng trưởng nội sinh là tăng trưởng kinh tế trong dài hạn với mức độ tăng trưởng được xác định bởi các nguồn lực ở trong hệ thống kinh
tế, đặc biệt là những nguồn lực có ảnh hưởng đến cơ hội và động lực để tạo ra kiến thức công nghệ
Về mặt dài hạn, mức độ tăng trưởng kinh tế (có thể được đo lường bằng mức độ tăng trưởng sản lượng theo đầu người) dựa trên mức độ tăng trưởng của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) TFP được xác định bởi mức độ phát triển công nghệ
Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Solow (1956) và Swan (1956) giả định rằng mức độ phát triển công nghệ có thể được xác định bởi mức độ phát triển khoa học
và nó độc lập với các nguồn lực về kinh tế Từ đó, lý thuyết tân cổ điển cho rằng các nhà kinh tế có thể xem mức độ tăng trưởng dài hạn là ngoại sinh đối với hệ thống kinh tế
Durlauf và Blume (2010) biện luận rằng lý thuyết tăng trưởng nội sinh phản biện quan điểm tân cổ điển này bằng cách đưa ra các kênh mà mức độ phát triển công nghệ có thể bị ảnh hưởng đến các yếu tố của nền kinh tế, và điều này có nghĩa là mức độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn cũng bị ảnh hưởng tương tự Điều này bắt đầu từ việc quan sát sự phát triển công nghệ xảy ra trong những cuộc cải cách ở dạng các sản phẩm mới, quá trình sản xuất mới và thị trường mới, đa phần những yếu tố mới này là kết quả của hoạt động kinh tế
Mô hình đầu tiên của lý thuyết tăng trưởng nội sinh là lý thuyết AK Lý thuyết này không phân biệt rõ ràng giữa tích lũy vốn và phát triển công nghệ Lý thuyết AK tổng hợp cả vốn vật lý và vốn con người được nghiên cứu bởi lý thuyết tân cổ điển với vốn trí tuệ được tích lũy khi cải cách diễn ra Lý thuyết AK được đưa ra bởi Frankel (1962), người đã cho rằng hàm tổng sản lượng là một hằng số hoặc thậm chí tăng theo sản lượng biên của vốn Lý do của việc này là khi các doanh nghiệp tích lũy thêm vốn, một phần vốn tích lũy này sẽ là vốn trí tuệ, và điều này tạo ra
Trang 19phát triển công nghệ, sự phát triển công nghệ này sẽ bù lại cho xu hướng suy giảm sản lượng biên của vốn
Romer (1986) đã đưa ra phân tích tương tự với cấu trúc sản lượng chung hơn cùng giả định rằng tiết kiệm được tính toán bởi việc tối ưu hóa trong ngắn hạn hơn là một
tỷ lệ tiết kiệm cố định như Frankel Lucas (1988) cũng thực hiện phân tích tương tự nhưng tập trung vào vốn con người hơn là vốn vật lý, cùng với Uzawa (1965), ông giả định rằng vốn con người và tri thức khoa học công nghệ là cùng một biến
Lý thuyết AK được nối tiếp bởi một làn sóng thứ hai về lý thuyết tăng trưởng nội sinh, được gọi là lý thuyết tăng trưởng “dựa trên cải cách” Lý thuyết này xem vốn trí tuệ (nguồn gốc của phát triển công nghệ) là độc lập với vốn vật lý và vốn con người Vốn vật lý và vốn con người được tích lũy thông qua tiết kiệm và học tập, còn vốn trí tuệ phát triển thông qua cải cách
Lý thuyết dựa trên cải cách được áp dụng lần đầu tiên bởi Romer (1990), người giả định rằng tổng sản lượng là một hàm đồng biến với độ đa dạng của sản phẩm Trong lý thuyết này, cải cách tạo ra tăng trưởng sản lượng bằng cách tạo ra các sản phẩm mới đa dạng hơn
Một mô hình khác của lý thuyết tăng trưởng dựa trên cải cách là lý thuyết
“Schumpeterian” được phát triển bởi Aghion và Howitt (1992) Lý thuyết Schumpeterian tập trung vào các cải cách nâng cao chất lượng mà làm cho các sản phẩm cũ trở nên lỗi thời, thông qua một quá trình mà Schumpeter (1942) gọi là quá trình “hủy diệt một cách sáng tạo”
Vì vậy, lý thuyết dựa trên cải cách cho rằng con đường để tăng trưởng nhanh chóng không phải là tiết kiệm một phần lớn sản lượng đầu ra mà là hi sinh một phần lớn sản lượng đầu ra để nghiên cứu và phát triển Lý thuyết này nhấn mạnh cách thức
mà hoạt động nghiên cứu và phát triển ảnh hưởng đến các chính sách khác nhau, các nhân vật trong nền kinh tế được lợi hoặc chịu thiệt hại từ việc phát triển công nghệ, cách thức mà lợi ích và thiệt hại diễn ra trong xã hội, và cách thức mà xã hội sẵn sàng tạo ra và chấp nhận những thay đổi về công nghệ vốn là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế
Trang 20Lý thuyết tăng trưởng nội sinh tạo ra những thử thách về nghiên cứu thực nghiệm, nhưng những người ủng hộ nó đã áp dụng các điều chỉnh về lý thuyết để làm cho nó phù hợp với bằng chứng thực tế Ví dụ, Barro và Sala-iMartin (1992) đã chỉ ra rằng với dữ liệu từ nửa cuối của thế kỷ 20, đa phần các quốc gia có vẻ như hội tụ về mức
độ tăng trưởng dài hạn gần như nhau trong khi đó lý thuyết tăng trưởng nội sinh lại cho rằng vì những quốc gia này khác nhau về chính sách và các tổ chức, chúng nên
có mức tăng trưởng dài hạn khác nhau Tuy nhiên, mô hình Schumpeterian của Howitt (2000) thông qua việc kết hợp nguồn lực của chuyển giao công nghệ (có nghĩa là sản lượng về nghiên cứu và phát triển của một quốc gia được tăng cường bởi cải cách tại những quốc gia khác) chứng minh rằng tất cả các quốc gia có thực hiện nghiên cứu và phát triển ở một mức độ nhất định đều sẽ hội tụ về cùng một con đường tăng trưởng dài hạn
Yếu tố quan trọng của sự hội tụ đã được Gerschenkron (1952) gọi là “lợi ích của sự thụt lùi”, có nghĩa là một quốc gia càng tụt hậu về công nghệ thì càng cải cách mạnh hơn, bởi vì khoảng cách về công nghệ giữa quốc gia này và những quốc gia khác càng lớn thì sự cải cách xảy ra trong quốc gia đó sẽ càng mạnh mẽ nhằm thay thế những công nghệ lỗi thời từ công nghệ của các quốc gia khác Độ lớn của những cuộc cải cách này sẽ càng tăng khi mức độ tăng trưởng của quốc gia càng chậm trễ
so với các quốc gia khác cho đến khi khoảng cách giữa các quốc gia dần dần ổn định
Tương tự, Jones (1995) đã tranh luận rằng các bằng chứng từ Mỹ và các quốc gia OECD khác từ những năm 1950 không tuân theo “hiệu ứng quy mô” của lý thuyết tăng trưởng nội sinh Schumpeterian Lý thuyết này cho rằng một sự tăng lên trong quy mô dân số sẽ tạo ra một sự tăng lên trong tăng trưởng dài hạn bằng cách tăng lực lượng lao động, từ đó tạo ra thị trường rộng lớn hơn cho việc cải cách thành công và gây ra mức độ cải cách cao hơn Tuy nhiên, trong thực tế tăng trưởng sản lượng vẫn ổn định qua các thời kỳ mà dân số, đặc biệt là số người tham gia nghiên cứu và phát triển tăng lên rõ rệt Mô hình của Peretto (1998) và Howitt (1999) tranh luận lại chỉ trích này bằng cách kết hợp ý tưởng của Young (1998): kinh tế càng
Trang 21phát triển, các sản phẩm sẽ càng đa dạng, và từ đó làm giảm hiệu quả của việc nghiên cứu và phát triển trong việc cải tiến chất lượng bởi việc cải tiến này bị chia mỏng ra cho quá nhiều sản phẩm khác nhau Khi lý thuyết được điều chỉnh theo cách này, nó phù hợp với thực tế quan sát về mức độ tăng trưởng TFP ổn định và dân số ngày càng tăng, bởi vì trong trạng thái ổn định, hiệu ứng tăng cường tăng trưởng bị bù trừ bởi hiệu ứng giảm do độ đa dạng sản phẩm
Ví dụ cuối cùng cho lý thuyết tăng trưởng nội sinh là: lý thuyết tăng trưởng dựa trên cải cách khi vừa được đưa ra đã cho rằng tăng trưởng chịu ảnh hưởng bất lợi bởi các điều luật cạnh tranh, vì điều này làm giảm lợi nhuận mà các doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo có thể kiếm được, làm cho họ phải giảm cải cách Điều này không đúng với các bằng chứng từ thực tế Tuy nhiên, Aghion và Howitt (1998) đã nêu ra một lượng lớn các kênh mà qua đó việc cạnh tranh có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Một trong những kênh đó được cung cấp bởi Aghion và cộng sự (2001) Họ chỉ ra rằng mặc dù cạnh tranh gia tăng mạnh mẽ có xu hướng làm giảm mức độ lợi nhuận của những người cải cách thành công, nó còn làm giảm lợi nhuận của những người cải cách không thành công nhiều hơn nữa Trong phiên bản này của lý thuyết Schumpeterian, việc cạnh tranh mạnh mẽ có thể đem lại hiệu quả tốt đẹp đối với mức độ cải cách bởi vì các doanh nghiệp sẽ muốn thoát khỏi việc cạnh tranh mà họ sẽ thất bại bất kể các lợi thế về công nghệ mà họ có so với đối thủ của
họ
Cần có nhiều nghiên cứu hơn phải được thực hiện để có thể xác định một cách giải thích đáng tin cậy cho việc vì sao tăng trưởng kinh tế lại nhanh hơn tại một số quốc gia và trong một số thời kỳ so với những quốc gia hoặc thời kỳ khác Nhưng sự thật
là sự khác biệt về mức độ tăng trưởng giữa các quốc gia dựa trên sự khác biệt về tăng trưởng sản lượng hơn là sự khác biệt về mức độ tích lũy vốn cho thấy rằng lý thuyết tăng trưởng nội sinh (hướng đến việc giải thích kinh tế dựa trên tăng trưởng sản lượng) sẽ tiếp tục là nền tảng cho nhiều nhà kinh tế trong tương lai
Trang 222.2.2.3 Mô hình bẫy đói nghèo
Theo Durlauf và Blume (2010), bẫy đói nghèo là một tình trạng tự kéo dài khi một nền kinh tế bị mắc kẹt trong một vòng tròn lẩn quẩn và chịu đựng sự kém phát triển dai dẳng Trong điều kiện thông thường, bẫy đói nghèo được mô tả bởi một mô hình cân bằng tĩnh ở mức thấp Tuy nhiên, Durlauf và Blume (2010) thảo luận về khái niệm này trong một môi trường năng động Lý do của việc này là nếu sử dụng mô hình tĩnh họ sẽ không phân biệt giữa bẫy đói nghèo và thị trường trong tình trạng xấu tạm thời, ví dụ như thời kỳ suy thoái và khủng hoảng tài chính, cũng thường được giải thích bằng các mô hình cân bằng tĩnh ở mức độ thấp
Có nhiều mô hình về bẫy đói nghèo được đưa ra Đặc điểm chung của các mô hình này là sự hiện diện của một số nền kinh tế bên ngoài hoặc một số chiến lược bổ sung làm tăng nguyên nhân của vòng tròn lẩn quẩn
Một trong những ví dụ cổ điển của bẫy đói nghèo là việc bảo hộ một ngành công nghiệp non trẻ Khi các doanh nghiệp thiếu kinh nghiệm và kém năng suất, họ không thể đưa ra mức lương đủ cao để thu hút người lao động từ các khu vực khác,
và vì thế họ càng không đủ khả năng để tích lũy thêm kinh nghiệm Việc bảo hộ tạm thời sẽ được gợi ý như một cách để phá vỡ vòng tròn lẩn quẩn này Tuy nhiên, việc giúp đỡ một ngành công nghiệp tích lũy kinh nghiệm để thoát khỏi bẫy đói nghèo có thể đẩy nền kinh tế vào một bẫy đói nghèo khác, vì việc này có thể ngăn chặn những ngành công nghiệp khác (mà có thể mới hơn và có tiềm năng hơn) Theo Brezis, Krugman và Tsiddon (1993), và Matsuyama (2002) nếu phạm vi của việc tăng cường sản lượng trong một ngành công nghiệp bất kỳ bị hạn chế, cách duy nhất để thoát khỏi bẫy đói nghèo và đạt được mức độ tăng trưởng bền vững là giữ được một thế cân bằng để sản lượng chuyển liên tục từ một ngành công nghiệp sang ngành khác, làm cho những ngành công nghiệp sẵn có phát triển và những ngành công nghiệp mới được sinh ra
Một ví dụ khác về bẫy đói nghèo liên quan đến phát triển tài chính được nhắc đến bởi Acemoglu và Zilibotti (1997) Tại các quốc gia bị giới hạn về cơ hội đa dạng hóa rủi ro, các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện những cuộc đầu
Trang 23tư rủi ro nhưng hiệu quả cao Việc này dẫn đến trao đổi tài sản tài chính bị giới hạn, làm giảm cơ hội đa dạng hóa rủi ro
Đầu tư thấp cũng dẫn đến một dạng bẫy nghèo đói khác Khi chi phí của các nguồn tài trợ bên ngoài lớn hơn chi phí tài trợ nội bộ, một sự suy giảm trong giá trị tài sản ròng của người vay sẽ dẫn đến sai lầm trong đầu tư Trong nghiên cứu của Bernanke và Gertler (1989), điều này sẽ dẫn đến suy giảm đầu tư và dần dần sẽ lại dẫn đến suy giảm trong giá trị tài sản ròng của các doanh nghiệp trong thế hệ tiếp theo, tạo ra tính ì trong tổng đầu tư Trong nghiên cứu của Matsuyama (2004), điều tương tự có thể làm cho một số quốc gia trên thế giới rơi vào vòng lẩn quẩn của giá trị tài sản ròng thấp – đầu tư thấp Matsuyama (2007) chỉ ra rằng bẫy đói nghèo loại này đôi khi thể hiện ở dạng một sự biến động lớn trong nền kinh tế Trong một nghiên cứu về việc phân phối tài sản theo thời gian, Banerjee và Newman (1993) cho rằng chênh lệch về tài sản ban đầu, đến mức độ có nhiều doanh nghiệp đủ giàu
có để tự tài trợ cho khoản đầu tư của họ, có thể dẫn đến tích lũy đầu tư cao hơn, và dần dần có thể giúp đỡ các doanh nghiệp nghèo hơn trong dài hạn, từ đó phá vỡ vòng tròn lẩn quẩn
Tirole (1996) chỉ ra cách thức của tham nhũng và những hành vi phi đạo đức khác
có tính lan tỏa và tính liên tục Ông chứng minh được rằng, khi thông tin không hoàn hảo, danh tiếng của một thành viên trong tổng thể (ví dụ, một doanh nghiệp trong ngành công nghiệp) không chỉ dựa vào hành vi trong quá khứ của thành viên này mà còn dựa vào hành vi của các thành viên khác trong tổng thể Từ đó, nếu tổng thể đã mang tiếng là không trung thực, các thành viên sẽ rất khó khăn tạo ra tiếng tăm trung thực cho bản thân Điều này khuyến khích các thành viên thực hiện các hành động không trung thực, và từ đó góp phần làm cho tổng thể càng tai tiếng hơn Bẫy đói nghèo thường được mô tả như một sự giải thích cho chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia Vì vậy, nó thường được xem là một mô hình để đóng góp vào sự chênh lệch trong thu nhập giữa quốc gia này và quốc gia khác về TFP và đầu tư Thật ra, đây là một quan niệm sai lầm Đầu tiên, ý nghĩa của mô hình bẫy đói nghèo
là bản chất tự kéo dài của nghèo đói Nó thể hiện rằng hoạt động dài hạn của một
Trang 24nền kinh tế có thể tốt hơn nhiều nếu những xuất phát điểm của nó là tốt hơn Nó không có nghĩa là sự chênh lệch giữa các quốc gia trong hoạt động dài hạn dựa hoàn toàn vào sự chênh lệch về điều kiện ban đầu Thứ hai, khái niệm bẫy đói nghèo không mâu thuẫn với các quan sát là thu nhập thấp thường liên quan tới TFP thấp và đầu tư bị lệch lạc nghiêm trọng Thực vậy, nhiều mô hình bẫy đói nghèo cố gắng giải thích quan hệ nhân quả hai chiều giữa thu nhập thấp và TFP thấp với sai lầm về đầu tư Bằng cách nội sinh hóa TFP và sai lầm về đầu tư, các mô hình về bẫy đói nghèo này tiến xa hơn so với các mô hình xem những biến trên là ngoại sinh
Nhiều nhà kinh tế cho rằng sự giúp đỡ từ nước ngoài là cần thiết cho những quốc gia kém phát triển Điều này là có thể hiểu được thông qua khái niệm về bẫy đói nghèo, ví dụ, Sachs và cộng sự (2004) Thực vậy, bẫy đói nghèo thường được xem
là các tình huống trong các nghiên cứu về hoạt động của chính sách Tuy nhiên, các nhà kinh tế cần cẩn thận khi sử dụng một mô hình cụ thể nào đó của bẫy đói nghèo
để đề nghị chính sách Một điều rất quan trọng cần phải nhớ là mỗi mô hình bẫy đói nghèo được đưa ra để nhấn mạnh một mặt cụ thể trong vòng tròn lẩn quẩn về đói nghèo Vì việc này, những mặt khác của bẫy đói nghèo thường không được nhắc đến trong một mô hình cụ thể Trong thực tế, dĩ nhiên, nhiều nguyên nhân của bẫy đói nghèo thường tồn tại cùng một lúc Nếu có một bài học quan trọng từ các lý thuyết về bẫy đói nghèo thì bài học đó là có hàng trăm cái bẫy mà một nền kinh tế
có thể rơi vào và bất kỳ chính sách nào cố gắng kéo nền kinh tế ra khỏi một cái bẫy cũng có thể đẩy nó vào một cái bẫy khác Như chúng ta đã biết, bất cứ sự cố gắng
để giải quyết một vấn đề nào cũng có thể trở thành một nguyên nhân của vấn đề khác có thể lớn hơn Về việc này, Matsuyama (1996) đã thảo luận rằng tăng trưởng kinh tế là một hệ thống phức tạp, liên quan của nhiều vấn đề
Như vậy, khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế có rất nhiều mô hình nghiên cứu khác nhau Để nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn từ quý I năm 2000 đến quý IV năm 2015, trong luận văn này, tác giả nghiên cứu dựa trên mô hình tân cổ điển
Trang 252.3 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
Những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đã được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 20 Nhìn chung, những kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có thể chia làm 2 xu hướng sau:
Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là đơn điệu
Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là không đơn điệu Theo Yitzhaki và Schechtman (2012) “quan hệ đơn điệu” (monotonic relationship) nghĩa là không thể tìm ra một vùng đủ rộng trên đường cong hồi quy mà khi xét trên vùng này, dấu của hệ số hồi quy thay đổi Một “mối quan hệ không đơn điệu” (nonmonotonic relationship) là một điều kiện cần thiết cho việc tồn tại của một sự thay đổi tính đơn điệu mà dấu của hệ số hồi quy thay đổi
Như vậy, mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là đơn điệu,
có nghĩa là phát triển tài chính luôn có quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là không đơn điệu, tức
là phát triển tài chính có quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế và qua một ngưỡng nào đó phát triển tài chính có quan hệ nghịch biến với tăng trưởng kinh tế
2.3.1 Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ đơn điệu
Trong các đóng góp có tầm ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực này, Schumpeter và Opie (1934) đã nhấn mạnh vai trò của các định chế tài chính trong việc tài trợ cho những khoản đầu tư có hiệu quả và khuyến khích cải cách, cả hai hành vi này đều góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Sau đó, Patrick (1966) đã phát triển ý tưởng về cung kéo (supply-leading) và cầu đẩy (demand-following) trong phát triển tài chính Vai trò cung kéo (supply-leading) của các định chế tài chính là hoạt động như một đầu vào hiệu quả của quá trình sản xuất và dịch chuyển nguồn lực từ khu vực truyền thống đến khu vực hiện đại Lý thuyết về cung kéo này được áp dụng lại bởi Gurley
và Shaw (1955) và Goldsmith (1969) Họ đã tranh luận rằng các thị trường tài chính
đã phát triển kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách huy động nguồn vốn tiết kiệm
Trang 26tài trợ cho những khoản đầu tư sinh lời nhiều nhất Trong một nghiên cứu gần đây hơn, Xu (2000) đã tìm ra những bằng chứng thuyết phục cho thấy rằng phát triển tài chính, chủ yếu là thông qua kênh đầu tư có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh
tế
Vai trò cầu đẩy (demand-following) có nghĩa là tăng trưởng kinh tế được sinh ra bởi các khía cạnh khác của nền kinh tế, từ đó tạo ra cầu về các dịch vụ tài chính Do đó, các định chế và công cụ tài chính được thúc đẩy bởi các khía cạnh khác của nền kinh tế Một lý thuyết khác về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được đưa ra bởi McKinnon (1973) và Shaw (1973) Thông qua quan sát các tác giả này đã kết luận rằng các quy định về tài chính liên quan đến lãi suất trần và các điều kiện về dự trữ bắt buộc sẽ cản trở các quyết định về tiết kiệm hoặc đầu tư gây ra tồn đọng vốn, do đó tác động bất lợi đến tốc độ tăng trưởng đặc biệt đối với những nước đang phát triển Từ đó, các tác giả này nhấn mạnh tầm quan trọng của giải phóng tài chính thông qua việc giảm các quy định về lãi suất nhằm tăng các khoản tài trợ từ vay mượn cũng như phân bổ các nguồn tài trợ trong nền kinh tế một cách hiệu quả hơn
Sự xuất hiện của lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Lucas, 1988 và Romer, 1986) đã tạo ra một sự quan tâm mới của xã hội về vai trò của phát triển tài chính trong việc định hướng cho tăng trưởng kinh tế Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò tích cực của khu vực tài chính trong tăng trưởng, cụ thể là bằng việc dịch chuyển các khoản tiết kiệm, phân bổ nguồn lực cho những khoản đầu tư sinh lợi nhất, giảm chi phí về thông tin, giao dịch và kiểm soát, đa dạng hóa rủi ro và tạo điều kiện cho trao đổi hàng hóa và dịch vụ Điều này dẫn đến việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, tập trung vốn vật chất và con người nhiều hơn và phát triển khoa học kỹ thuật nhanh hơn Ví dụ, nghiên cứu lý thuyết của Greenwood và Jovanovic (1990) đã nhấn mạnh mối quan hệ hai chiều giữa trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế: các trung gian tài chính kích thích đầu tư và tăng trưởng kinh tế bằng cách tạo ra tỷ suất sinh lợi trên vốn cao hơn, trong khi đó chính tăng trưởng kinh tế thúc đẩy sự mở rộng của các định chế tài chính Tương tự, trong nghiên cứu của Bencivenga và
Trang 27Smith (1991), các trung gian tài chính cho phép các tổ chức chuyển các khoản tiết kiệm thành những khoản đầu tư sinh lợi cao để đẩy mạnh tăng trưởng, và chúng cũng cho phép các cá nhân đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro trong khi đảm bảo nhu cầu thanh khoản của họ, do đó thu hút nhiều hơn những nguồn lực đầu tư để tăng trưởng kinh tế Roubini và Sala-i-Martin (1992) chỉ ra rằng trong một
số tình huống mà các chính phủ khó khăn trong việc tăng nguồn thu từ thuế thu nhập, họ có thể thực hiện đàn áp tài chính để tăng một số loại thuế khác, từ đó tạo ra lạm phát cao làm suy giảm năng suất xã hội và tăng trưởng kinh tế
2.3.2 Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ không đơn điệu
Một số nghiên cứu gần đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế chỉ ra rằng mối quan hệ này là không đơn điệu Cecchetti và Kharroubi (2012) chỉ ra rằng khi tín dụng ngân hàng dành cho khu vực tư vượt quá 90% GDP, phát triển tài chính trở thành sự cản trở đối với tăng trưởng kinh tế Nổi bật hơn, một tỷ lệ tăng trưởng nhanh của khu vực tài chính có thể gây hại đến tăng trưởng kinh tế bởi vì khu vực tài chính cạnh tranh nguồn lực với các khu vực khác của nền kinh tế Tác động không đơn điệu này cũng đã được nghiên cứu bởi Arcand và các cộng sự (2015) Họ đã sử dụng nhiều cơ sở dữ liệu với các cấp độ khác nhau từ các quốc gia và các nền công nghiệp và chứng minh được rằng mối quan hệ tiêu cực giữa tài chính và tăng trưởng kinh tế xảy ra khi tỷ lệ tín dụng khu vực tư vượt quá 110% GDP trong các nước có thu nhập cao Kết quả này vẫn đúng khi sử dụng nhiều công cụ ước lượng khác nhau bao gồm hồi quy OLS, ước lượng thông số và GMM
Một kết quả chung hơn chỉ ra rằng mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là phi tuyến thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển đã được đưa ra bởi Deidda và Fattouh (2002) Họ đã nghiên cứu trên 119 quốc gia (bao gồm các quốc gia đã phát triển và đang phát triển) Họ áp dụng hồi quy ngưỡng cho cả những quốc gia thu nhập cao và thu nhập thấp và tìm ra rằng phát triển tài chính là một nhân tố tác động có ý nghĩa thống kê đối với những quốc gia có thu nhập cao và không có ý nghĩa đối với các quốc gia có thu nhập thấp Tương tự, Rioja và Valev
Trang 28(2004a, 2004b) đã nghiên cứu với dữ liệu từ năm 1961-1995 trên 74 quốc gia (bao gồm các quốc gia đã phát triển và đang phát triển) và tìm ra rằng tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế là tích cực và có ý nghĩa thống kê trong những quốc gia có thu nhập cao và trung bình, nhưng không có ý nghĩa thống kê đối với các quốc gia có thu nhập thấp Huang và Lin (2009) sử dụng mẫu 71 quốc gia có thu nhập cao và thấp trong một phân tích ngưỡng từ năm 1960-1995 Họ tìm
ra mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là tích cực nhưng phi tuyến tính Tuy nhiên, ngược với Deidda và Fattouh (2002) và Rioja và Valev (2004a, 2004b), một số nghiên cứu cho thấy tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế rõ ràng hơn tại những nước có thu nhập thấp Một bài báo trước đó của De Gregorio và Guidotti (1995) lại thu thập được một mối quan hệ yếu trong những nước thu nhập cao Họ lý giải rằng phát triển tài chính trong những nước này xảy ra chủ yếu ở ngoài ngân hàng trong khi nghiên cứu của họ về vấn đề phát triển tài chính chủ yếu là về tín dụng ngân hàng dành cho khu vực tư như và một bộ phận của GDP
Xét về khía cạnh phương thức mà phát triển tài chính ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, Rioja và Valev (2004a, 2004b) đã tìm ra rằng trong những quốc gia có thu nhập cao và trung bình, việc này xảy ra chủ yếu thông qua việc tăng cường năng suất, trong khi ở những quốc gia thu nhập thấp, nó xảy ra chủ yếu thông qua tích lũy vốn Như vậy, một quốc gia phải đạt đến một mức thu nhập nhất định thì phát triển tài chính mới góp phần vào tăng trưởng kinh tế Calderon và Liu (2003) tìm ra rằng
độ sâu tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua cả hai hình thức: tích lũy vốn và đặc biệt là tăng trưởng năng suất Rousseau và Wachtel (2002) xác định rằng lạm phát là một kênh cung cấp mối liên kết giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, họ cũng tìm ra rằng tăng trưởng kinh tế không còn chịu ảnh hưởng của phát triển tài chính khi lạm phát trong năm vượt quá 13%/năm
Law và Singh (2014) đã nghiên cứu xem phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như thế nào sau khi sự phát triển tài chính của một quốc gia vượt qua một ngưỡng nhất định Sử dụng phương pháp hồi quy ngưỡng với dữ liệu bảng, họ đã sử
Trang 29dụng bảng dữ liệu bảng của 87 quốc gia (đã và đang phát triển) từ năm 1980-2010,
dữ liệu theo năm năm Họ tìm ra rằng có một ngưỡng mà qua khỏi đó tín dụng của khu vực tư trở nên bất lợi Giá trị ngưỡng này là 88% GDP, gần với giá trị do Cecchetti và Kharroubi’s (2012) đưa ra là 90% Tác động ngưỡng này cũng đã được xem xét bởi Law, Azman-Saini, và Ibrahim (2013) nhưng họ đã cố gắng xác định ngưỡng giá trị của các định chế tài chính mà có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tài chính và tăng trưởng Sử dụng dữ liệu của 85 quốc gia từ năm 1980-2008,
họ tìm ra rằng phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng sau khi các định chế tài chính vượt qua một ngưỡng nhất định
Owen và Temesvary (2014) đã đóng góp vào lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế bằng cách chỉ ra rằng tác động của tài chính ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế là không đồng nhất giữa các quốc gia khác nhau và các dạng tín dụng ngân hàng khác nhau (tín dụng quốc nội và tín dụng quốc tế) Sự không đồng nhất này có thể nhìn thấy bằng cách nhóm các quốc gia dựa trên việc phân nhóm theo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Đặc biệt, họ tìm ra rằng các đặc điểm của các quốc gia như mức độ phát triển thị trường chứng khoán, mức độ nghiêm minh của pháp luật và kể cả sự phát triển của chính khu vực ngân hàng là khác nhau một cách đáng kể giữa nhiều quốc gia, và chúng ảnh hưởng đến năng suất của tín dụng ngân hàng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Rajan và Zingales (1998)
đã xem xét vấn đề về nguồn tài chính quốc nội hay từ bên ngoài cũng đã được xem xét, với dữ liệu ở cấp độ ngành Họ đã tìm ra rằng phát triển tài chính giúp giảm thiểu chi phí tài trợ từ bên ngoài cho các doanh nghiệp, từ đó, những nền công nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguồn tài trợ từ bên ngoài (vì quy mô của các dự án, cách thức của dòng tiền, tỷ suất sinh lợi, ) sẽ hoạt động tốt hơn trong những nước
có hệ thống tài chính phát triển hơn
Beck, Degryse, và Kneer (2014) tìm cách giải quyết vấn đề về tác động của hệ thống tài chính bằng cách xem xét tác động của quy mô (có nghĩa là giá trị tăng thêm của hệ thống này như một bộ phận của GDP) và mức độ trung gian (có nghĩa
là tỷ lệ tín dụng trên GDP) so với GDP tăng trưởng bình quân đầu người và sự biến
Trang 30động tăng trưởng Dựa trên mẫu bao gồm 77 quốc gia từ năm 1980-2007, họ tìm ra rằng trung gian tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm biến động trong dài hạn Quan trọng hơn, trong trung hạn, một khu vực tài chính lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời tạo ra biến động cao hơn trong những nước thu nhập cao, trong khi hoạt động trung gian ổn định nền kinh tế đặc biệt trong những nước thu nhập thấp
Loayza và Ranciere (2006) đã phân biệt giữa tác động ngắn hạn và tác động dài hạn của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế Bằng cách sử dụng dữ liệu từ năm 1960-2000 cho 75 quốc gia, họ sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM và ước tính sự khác biệt giữa tác động ngắn hạn và dài hạn bằng giá trị PMG Điểm mới của phương pháp này là nó cho phép tìm ra sự không đồng nhất trong các thông số hồi quy tăng trưởng, phân biệt giữa tác động ngắn hạn và dài hạn của phát triển tài chính Họ tìm ra một mối quan hệ dài hạn có ý nghĩa thống kê và tích cực giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, trong khi tác động ngắn hạn thì có ý nghĩa thống kê nhưng tiêu cực Họ gợi ý rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn có thể là kết quả của sự không đồng nhất giữa các quốc gia và biến động cao của chu kỳ kinh
tế Mặc dù vậy, họ không tìm ra tác động không đơn điệu của độ sâu tài chính Về việc này, Loayza và Ranciere (2006) và Samargandi, Fidrmuc và Ghosh (2015) đã
cố gắng giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trong mối quan hệ giữa tài chính và tăng trưởng bằng cách sử dụng một phương pháp khá mới cũng được áp dụng trong nghiên cứu này
Bên cạnh đó, để trả lời cho câu hỏi tương tự như của Loayza và Ranciere (2006) nhưng sử dụng một cách tiếp cận khác Rousseau và Wachtel (2011) đã chỉ ra rằng tác động của độ sâu tài chính đối với tăng trưởng là yếu hơn đối với những dữ liệu bảng gần đây (1990-2004 so với 1960-1989) Họ giải thích rằng sự phát triển như
vũ bão của tín dụng và sự tự do hóa tài chính rộng rãi trong những năm 90 đã dẫn đến những áp lực về lạm phát và sự suy yếu của hệ thống ngân hàng, từ đó khởi đầu cho khủng hoảng tài chính Các cuộc khủng hoảng tài chính này chịu trách nhiệm cho sự suy giảm sự tác động của tài chính
Trang 31Theo kết luận của Arestis và Demetriades (1997), nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế khi sử dụng kết quả của một quốc gia riêng biệt sẽ giảm thiểu các điểm yếu của việc nghiên cứu thông qua dữ liệu bảng, đặc biệt là trong ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Các nhà nghiên cứu tiếp tục khẳng định rằng phương pháp dữ liệu bảng trong ước tính các chỉ số phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế là dựa trên việc tính trung bình của các quốc gia trong mẫu, điều này sẽ làm cho bản chất của các biến không được nhìn thấy rõ Như vậy, nghiên cứu dựa trên chuỗi thời gian đã trở nên không thể thiếu nhằm giảm đi những điểm yếu dựa trên dữ liệu bảng và cung cấp một lợi ích lớn hơn cho phép dễ dàng phản ánh và nắm bắt các điều kiện kinh tế của một quốc gia (Bell và Rousseau 2001) Hơn nữa, Chandavarkar (1992) cũng kết luận rằng mối quan hệ giữa tài chính và tăng trưởng sẽ cung cấp một kết quả mang tính hệ thống cho một quốc gia nếu được xem xét trong một thời gian đủ dài Mặc dù vậy, các tranh luận vẫn tồn tại khi bàn về quan hệ nhân quả trong các nghiên cứu về phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế khi sử dụng về chuỗi thời gian
Theo Rafindadi và Yusof (2015), khi thực hiện nghiên cứu cho một quốc gia theo chuỗi thời gian, nghiên cứu này sẽ đóng góp vào lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, bằng cách xem xét mối quan hệ này là đơn điệu hay không đơn điệu
Trong luận văn này, mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế sẽ được nghiên cứu trong bối cảnh tại Việt Nam, giai đoạn từ quý I năm 2000 đến quý
IV năm 2015 Luận văn này sẽ làm sáng tỏ các yếu tố sau:
Xác định mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn trên là đơn điệu hay không đơn điệu Việc này được thực hiện thông qua kiểm định Sasabuchi–Lind–Mehlum (SLM) Kiểm định này cho phép luận văn tìm hiểu tác động của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế là tích cực đến một ngưỡng nhất định mà sau ngưỡng này, phát triển tài chính không còn ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Trang 32 Luận văn này áp dụng mô hình cấu trúc dài hạn của Pesaran and Shin(2002),
sử dụng mô hình ARDL nhằm kiểm tra mối quan hệ đồng liên kết thông qua kiểm định Bounds Việc này cho phép luận văn sử dụng các lý thuyết kinh tế hiện đại để xem xét mối quan hệ dài hạn giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế
Trang 33CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệu nghiên cứu và các biến trong mô hình
3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp, chuỗi dữ liệu các biến được thu thập từ trang https://financial.thomsonreuters.com, bao gồm: tốc độ tăng trưởng GDP, cung tiền M2, tổng chi tiêu của chính phủ, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, tổng vốn đầu
tư vào cơ sở hạ tầng và tốc độ tăng trưởng dân số Các chuỗi dữ liệu này là dữ liệu chuỗi thời gian theo quý của Việt Nam trong giai đoạn từ quý I năm 2000 đến quý
IV năm 2015 Trong đó, tổng chi tiêu của chính phủ, tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tốc độ tăng trưởng dân số là những chỉ tiêu được thống kê theo năm, nên tác giả sử dụng phần mềm Ecotrim phiên bản 1.0 để chuyển hóa dữ liệu từ dữ liệu năm sang dữ liệu quý
3.1.2 Các biến trong mô hình
3.1.2.1 Biến phụ thuộc: tăng trưởng kinh tế
Biến phụ thuộc là tăng trưởng kinh tế, ký hiệu là GDP, được đo lường thông qua tốc
độ tăng trưởng của GDP hằng quý của Việt Nam trong giai đoạn năm 2000-2015
3.1.2.3 Biến độc lập: phát triển tài chính
Việc xây dựng biến số để đo lường phát triển tài chính là một nhiệm vụ khó khăn vì nhiều lý do Dịch vụ tài chính được cung cấp bởi rất nhiều tổ chức tài chính khác nhau Giữa các tổ chức này, ngân hàng và thị trường chứng khoán cùng đóng vai trò quan trọng Để vẽ ra một bức tranh tổng thể nhiều khía cạnh khác nhau của phát triển tài chính phải được đề cập tới Tuy nhiên, mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Vì vậy, phát triển tài chính trong luận văn chủ yếu được nghiên cứu thông qua hệ thống ngân hàng
Đa phần các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này sử dụng tổng cung tiền M2 hoặc M3 trên GDP để đo lường độ lớn và độ sâu của khu vực tài chính Độ sâu tài chính trong luận văn này được đo lường bằng tỷ lệ tổng cung tiền M2 trên GDP, ký hiệu là FD, biến số này đã được sử dụng bởi McKinnon (1973), Shaw (1973), King
Trang 34và Levine (1993b) và gần đây là Odiambo (2009) Biến M2 trên GDP được xây dựng để chỉ ra quy mô thực của khu vực tài chính của một nền kinh tế đang phát triển Do đó tỷ lệ này được kỳ vọng rằng sẽ tăng theo thời gian nếu khu vực tài chính phát triển nhanh hơn sản xuất và giảm nếu khu vực tài chính phát triển chậm hơn khu vực sản xuất
3.1.2.3 Biến kiểm soát
Bài luận văn được thực hiện dựa trên bài nghiên cứu của Samargandi, Fidrmuc và Ghosh (2015) Các tác giả này đã sử dụng biến tốc độ phát triển dân số, độ mở thương mại, chi tiêu của chính phủ trên GDP, tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế trên GDP làm biến kiểm soát khi xem xét mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Kế thừa từ bài nghiên cứu đó, trong luận văn này, tác giả sử dụng các biến kiểm soát bao gồm: tốc độ phát triển dân số, độ mở thương mại, chi tiêu của chính phủ trên GDP, tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế trên GDP
sự thay đổi trong nhân khẩu học tạo ra các thay đổi quan trọng trong cấu trúc tuổi của dân số
(2) Độ mở thương mại
Trang 35Độ mở thương mại, ký hiệu là TRADE, được đo lường bằng tỷ lệ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP, chỉ tiêu này được sử dụng để đo lường tầm quan trọng của nhân tố quốc tế tác động đến hoạt động kinh tế trong nước
Durlauf và Blume (2010) cho rằng độ mở thương mại có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế theo 1 trong hai hướng:
Thứ nhất, độ mở thương mại có thể là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình của Matsuyama (1992) Trong mô hình này, các quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên có thể bị độ mở thương mại làm giảm tăng trưởng kinh tế tính bằng thu nhập bình quân trên đầu người Tại các quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên mà công nghệ lạc hậu, lợi thế tương đối sẽ làm các quốc gia này xuất khẩu các sản phẩm chính và nhập khẩu máy móc thiết bị Việc này sẽ đẩy người lao động ra khỏi khu vực sản xuất từ đó làm gia tăng thất nghiệp và giảm sản lượng bình quân trên đầu người Một số nghiên cứu (Sachs và Warner, 2001) đã chỉ ra rằng tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm chính trên GDP nghịch biến một cách mạnh mẽ với tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Tác động mạnh mẽ này vẫn tồn tại ngay cả sau khi các biến tiềm năng khác của tăng trưởng kinh tế khác đã được kiểm soát như khí hậu, địa lý, chính sách kinh tế, chính trị và các cú sốc từ bên ngoài
Thứ hai, độ mở thương mại là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Quan điểm xem độ mở thương mại là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc xem phát triển công nghệ như nguồn lực chính của tăng trưởng kinh tế Cùng với độ mở thương mại, các quốc gia không chỉ nhập khẩu hàng hóa mà còn nhập khẩu ý tưởng
và công nghệ mới Đây là một nhân tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại những quốc gia có khoa học công nghệ lạc hậu Một số nghiên cứu nổi bật theo quan điểm này là Romer (1993)
(3) Chi tiêu chính phủ trên GDP
Chi tiêu của chính phủ trên GDP, ký hiệu là GOV, được đo lường bằng tỷ lệ tổng chi tiêu của chính phủ so với GDP
Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế liên tục tạo ra một chuỗi các tranh luận giữa các nhà kinh tế Theo Abdullah (2000) và Al-Yousif (2000),
Trang 36chính phủ thực hiện 2 chức năng: bảo vệ và cung cấp hàng hóa công Chức năng bảo vệ bao gồm việc đưa ra luật lệ và thi hành luật lệ Điều này sẽ giảm thiểu rủi ro
về tội phạm, bảo vệ mạng sống và tài sản, và bảo vệ quốc gia từ các thế lực bên ngoài Chức năng cung cấp dịch vụ công là cung cấp đường xá, giáo dục, y tế… Một số nhà kinh tế cho rằng việc tăng chi tiêu chính phủ cho các vấn đề kinh tế xã hội và hạ tầng cơ sở khuyến khích tăng trưởng kinh tế Ví dụ, chi tiêu chính phủ cho
y tế và giáo dục làm tăng năng suất lao động và tăng mức độ tăng trưởng của sản lượng quốc gia Tương tự như vậy, chi tiêu chính phủ cho cơ sở hạ tầng như đường,
hệ thống thông tin, năng lượng,… làm giảm chi phí sản xuất xã hội tăng đầu tư khu vực công và lợi nhuận của các doanh nghiệp Từ đó, chi tiêu chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Ranjan, 2008 và Cooray, 2009)
Tuy nhiên một số nhà kinh tế không ủng hộ quan điểm việc tăng chi tiêu chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thay vào đó họ cho rằng chi tiêu chính phủ cao hơn sẽ gây cản trở tăng trưởng kinh tế Ví dụ, để tăng nguồn tài trợ cho chi tiêu, chính phủ
có thể tăng thuế hoặc vay mượn Thuế thu nhập tăng lên sẽ không khuyến khích các
cá nhân làm việc nhiều hơn, thậm chí một số người sẽ không tìm việc Điều này dần dần sẽ làm giảm thu nhập và tổng cầu Tương tự như vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp cao sẽ làm tăng chi phí sản xuất và làm giảm đầu tư cũng như lợi nhuận của các doanh nghiệp Hơn nữa, nếu chính phủ tăng vay nợ (đặc biệt là từ ngân hàng) để tài trợ cho các khoản chi tiêu, nó sẽ làm giảm nguồn tài trợ cho đầu tư của khu vực công Thêm vào đó để trở nên nổi tiếng hơn và tiếp tục nắm quyền lực, các chính trị gia và các chính phủ đôi khi tăng các khoản chi tiêu và đầu tư vào các dự án kém hiệu quả hoặc hàng hóa công mà khu vực tư nhân có thể sản xuất có thể sản xuất hiệu quả hơn Vì vậy, hoạt động của chính phủ có thể gây ra phân bổ sai nguồn lực
xã hội, cản trở tăng trưởng kinh tế và giảm sản lượng quốc gia (Barro, 1991, và Folster và Henrekson, 2001)
(4) Tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế
Tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế trên GDP, ký hiệu là GFCF, được sử dụng để đo lường vốn đầu tư
Trang 37Theo Blomstrom và các cộng sự (1993), nhiều nhà kinh tế đã có chung một quan điểm đó là về mặt dài hạn, tăng trưởng kinh tế nhanh không thể xảy ra mà không có tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng Mối quan hệ này đã được chứng minh trong các nghiên cứu của Madsison (1982), Summers và Heston (1991)
Kuznets (1973) đã thực hiện nghiên cứu tổng đầu tư vào cơ sở hạ tầng ở nhiều quốc gia và chỉ ra rằng có nhiều trường hợp tốc độ tăng trưởng kinh tế bị giảm sút nghiêm trọng trong khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng lại tăng lên Thêm vào đó, các nghiên cứu dài hạn của Abramovitz (1956) và Denison (1967) cũng chỉ ra rằng có rất nhiều trường hợp tăng trưởng kinh tế không thể được giải thích bởi tổng vốn đầu
tư vào cơ sở hạ tầng
3.2 Mô hình thực nghiệm
3.2.1 Mô hình ARDL
Bài nghiên cứu áp dụng mô hình ARDL (hay mô hình tự hồi quy phân phối trễ) được giới thiệu bởi Pesaran và Shin (1999) và được phát triển bởi Pesaran và các cộng sự (2001) Mô hình ARDL có một số lợi thế so với mô hình đồng liên kết Johansen như sau:
Thứ nhất, theo Johansen(1995) mối quan hệ dài hạn chỉ có thể tồn tại giữa các biến cùng tích hợp I(1) Trong khi đó, Pesaran và Shin (1999) cho rằng các biến trong
mô hình ARDL có thể tích hợp tại các mức khác nhau, hoặc tích hợp tại I(0) hoặc I(1) hoặc hỗn hợp cả hai Vì vậy, trong mô hình ARDL, kiểm định nghiệm đơn vị là không cần thiết
Thứ hai, theo Ghatak và Siddiki (2001) mô hình ARDL yêu cầu cỡ mẫu nhỏ hơn so với mô hình Johansen
Thứ ba, theo Bentzen và Engsted (2001), mô hình ARDL bao quát cả mối quan hệ dài hạn và mối quan hệ ngắn hạn của các biến được kiểm định từ cùng một dữ liệu
Mô hình ARDL(p, q) với p là độ trễ của biến phụ thuộc, q là độ trễ của các biến độc lập, theo Loayza và Ranciere (2006) mô hình có dạng như sau:
Trang 38GFCF: Tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế trên GDP
GOV: Chi tiêu của chính phủ trên GDP
POPG: Tốc độ phát triển dân số
TRADE: Độ mở thương mại
p: Độ trễ của của biến GDP
, , , , : Lần lượt là độ trễ của các biến độc lập FD, GFCF, GOV, POPG, TRADE
3.2.2 Quy trình ước lượng mô hình ARDL
Luận văn thực hiện ước lượng mô hình ARDL theo 6 bước như sau:
Bước 1: Kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình
Bước 2: Xác định độ trễ thích hợp và ước lượng mô hình ARDL
Bước 3: Kiểm định mối liên hệ đồng liên kết giữa các biến thông qua kiểm định đường bao (Bounds test)
Bước 4: Ước lượng phương trình dài hạn bằng mô hình ARDL
Bước 5: Ước lượng phương trình ngắn hạn bằng mô hình ARDL
Bước 6: Kiểm tra tính tin cậy, phù hợp của mô hình
3.2.2.1 Kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình
Mặc dù, việc kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu thì không cần thiết trong mô hình ARDL, bởi vì theo Pesaran và Smith (1995), Pesaran (1997) và Pesaran và các cộng sự (1999), trong mô hình ARDL, các biến có thể được tích hợp tại I(0) hoặc I(1) hoặc hỗn hợp vừa I(0) vừa I(1) Mối quan hệ dài hạn được kiểm định trên hai
Trang 39giá trị biên Với biên dưới là điểm giới hạn mà tất cả các biến đều tích hợp ở I(0) và biên trên là điểm giới hạn mà tất cả các biến đều tích hợp ở I(1) Việc kiểm định tính dừng trong trường hợp này để chắc chắn rằng không có biến nào tích hợp ở bậc
2 Theo Asteriou và Monastiriotis (2004), hồi quy có thể là giả mạo nếu trong mô hình có một số biến dừng ở sai phân bậc 2
Một chuỗi thời gian có tính dừng khi giá trị trung bình, phương sai, hiệp phương sai (tại các độ trễ khác nhau) giữ nguyên không đổi cho dù chuỗi được xác định vào thời điểm nào đi nữa Chuỗi dừng có xu hướng trở về giá trị trung bình và những dao động quanh giá trị trung bình sẽ là như nhau Nói cách khác, dữ liệu có tính dừng là dữ liệu không có sự tăng lên hay giảm xuống theo thời gian, hay dữ liệu phải dao động xung quanh một hằng số trung bình, và độ lệch dao động phải không đổi với thời gian
Trong luận văn này để kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu, tác giả sử dụng kiểm định Dickey – Fuller
Kiểm định Dickey - Fuller:
Xét mô hình Y = ρ × Y + ε
Kiểm định giả thuyết H0: ρ = 1(chuỗi không dừng)
H1: ρ < 1 (chuỗi dừng) Xét giá trị τ của kiểm định Dickey – Fuller, τ =
( ) Nếu |τ| > |τ | thì bác bỏ giả thuyết H0, tức chuỗi dừng tại mức ý nghĩa α Ngược lại, chấp nhận giả thuyết H0, tức chuỗi không dừng với mức ý nghĩa α
3.2.2.2 Xác định độ trễ thích hợp và ước lượng mô hình ARDL
Để lựa chọn mô hình ARDL phù hợp, điều cần thiết phải làm là xác định độ trễ tối
ưu của các biến bằng cách sử dụng tiêu chuẩn Akaike Information Criterion(AIC), Schwarz Bayesian Criterion (SBC) hoặc Hannan-Quinn Criterion(HQC)
Mô hình được lựa chọn là mô hình có độ trễ ứng với giá trị AIC, SBC nhỏ nhất hoặc R2 cao
Trong luận văn này, tác giả dựa trên tiêu chuẩn AIC để lựa chọn độ trễ thích hợp nhất cho mô hình ARDL
Trang 403.2.2.3 Kiểm định mối liên hệ đồng liên kết giữa các biến thông qua kiểm định đường bao (Bounds test)
Kiểm định đường bao nhằm mục đích để xem xét có tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình hay không
Phương trình (1) có thể viết lại thành:
, , , , : Lần lượt là hệ số ngắn hạn của các biến độc lập FD, GFCF,
GOV, POPG, TRADE
: Hệ số dài hạn của các GDP
, , , , : Lần lượt là hệ số dài hạn của các biến độc lập FD, GFCF,
GOV, POPG, TRADE
: Sai số của mô hình
Kiểm định Bounds test với giả thuyết:
H0: = = = = = = 0 (không có mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến trong mô hình, tức là không tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong
mô hình)
H1: ≠ 0 ℎ ặ ≠ 0 ℎ ặ ≠ 0 ℎ ặ ≠ 0 ℎ ặ ≠ 0 ℎ ặ ≠ 0 (tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến trong mô hình, tức là tồn tại mối quan
hệ dài hạn giữa các biến mô hình)