Bài nghiên cứu Tác động của Chính sách Tín dụng trong việc xóa đói giảm nghèo tại thành phố Kon Tum giai đoạn 2014 – 2016 được thực hiện, sử dụng phương pháp Khác biệt kép sẽ kiểm chứn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG VŨ NHẬT LINH
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG
TRONG VIỆC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI THÀNH
PHỐ KON TUM GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG VŨ NHẬT LINH
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG
TRONG VIỆC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI THÀNH
PHỐ KON TUM GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ HUYỀN
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn
và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi
Tác giả
Trương Vũ Nhật Linh
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
TỔNG QUAN vii
CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG DÀNH CHO HỘ NGHÈO 11
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TÍN DỤNG VI MÔ 11
1.2.TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 12
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐÓI NGHÈO 16
1.3.1.Khái niệm cơ bản về đói nghèo 17
1.3.2.Các phương pháp xác định nghèo 19
1.3.3.Chuẩn mực xác định hộ đói nghèo của Việt Nam hiện nay 24
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của hộ nghèo 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 -TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CHO VAY XĐGN CỦA NHCSXH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM 34
2.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động của NHCSXH các cấp trên địa bàn tỉnh
Trang 5Kon Tum 34
2.1.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động 34
2.1.2 Hoạt động bộ máy tác nghiệp của NHCSXH trên địa bàn tỉnh 34
2.2 Đánh giá khái quát hoạt động NHCSXH Tỉnh KonTum giai đoạn 2014 - 2016 36 2.2.1 Về nguồn vốn 36
2.2.2 Về sử dụng vốn 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41
CHƯƠNG 3- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 Các phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu trước 42
3.2 Phương pháp khác biệt trong khác biệt 43
3.3 Kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt với hồi quy OLS 45
3.3.1 Mô hình kinh tế lượng 45
3.3.2 Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình 46
3.3.3 Mô tả dữ liệu 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 50
CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
4.1 Kết quả hồi quy về Tác động của tín dụng và các yếu tố khác đến thu nhập của hộ nghèo 51
4.2 Kết quả hồi quy về Tác động của tín dụng và các yếu tố khác đến tiết kiệm bình quân của hộ nghèo 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 57
Trang 6CHƯƠNG 5 KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kiến nghị 59 5.2 Hạn chế của luận văn 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Khác biệt trong khác biệt (khác biệt kép)
Ngân hàng thế giới
WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Nguồn vốn cho vay trên địa bàn thành phố Kon Tum 38
Bảng2.2 Dư nợ tín dụng ưu đãi theo thời hạn địa bàn TP Kon Tum 38
Bảng2.3 Dư nợ tín dụng theo mức độ rủi ro địa bàn TP Kon Tum 39
Bảng2.4 Mô tả biến trong mô hình 47
Bảng2.5 Số liệu điều tra mức sống hộ nghèo 49
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1Tỉ lệ nghèo Việt Nam 2009 (WB) 22
Hình 1.2Tỉ lệ nghèo dựa trên thu nhập (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) 23
Hình 2.1 Qui trình uỷ thác cho vay 35
Hình 2.2 Nguồn vốn ưu đãi hộ nghèo trên địa bàn Tỉnh Kon Tum 2016 36
Hình 2.3 Dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố Kon Tum 39
Trang 9TỔNG QUAN
1 Lý do thực hiện đề tài:
Là tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên có biên giới giáp 2 nước bạn Lào và Campuchia, Kon Tum có tới 52% là người đồng bào dân tộc thiếu số Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo cao so với khu vực, đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số chiếm trên 90%
Trong những năm qua, công tác giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội được xem là nhiệm vụ quan trọng, luôn được chính quyền địa phương quan tâm thực hiện và đã đạt được thành tựu to lớn trong công cuộc giảm nghèo Trong những thành tựu đó,
có phần đóng góp đáng khích lệ của hoạt động tài chính vi mô, với sự tham gia tích cực của chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo Thông qua việc trợ giúp người nghèo và những nhóm người bị thiệt thòi, chính sách tín dụng đã giúp họ vượt qua khó khăn, thách thức để không ngừng vươn lên phát triển kinh tế gia đình và đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh Kon Tum còn bộc lộ những khó khăn, vướng mắc: Việc lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án kinh tế - xã hội trên địa bàn chưa được như mong muốn; giữa hoạt động tín dụng của NHCSXH với các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ chưa đồng bộ nên có lúc, có nơi hiệu quả sử dụng vốn chưa được phát huy
Một bộ phận hộ nghèo, đặc biệt ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc áp dụng với tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế nên hiệu quả sử dụng vốn vay thấp, chưa ý thức được trong việc vay vốn là có vay, có trả, gây khó khăn trong việc thu hồi vốn của Ngân hàng Người dân chưa có ý thức phấn đấu để thoát nghèo, còn trông chờ ỷ lại vào các chính sách của Nhà nước nên chưa mạnh dạn vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống, tăng thu nhập từng bước thoát nghèo bền vững
Trang 10Vốn vay chủ yếu đầu tư vào chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, rủi ro cao vì chịu ảnh hưởng yếu tố tự nhiên, dịch bệnh thường xuyên xảy ra; gây bất lợi cho người sản xuất nên hiệu quả kinh tế thấp Nhất là trong những năm gần đây do giá cả nông sản (giá cao su, cà phê, tiêu,…) giảm mạnh làm cho thu nhập của người dân bị giảm sút dẫn đến khó thu hồi nợ đến hạn
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả các chương trình tín dụng trên địa bàn Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng, điều đầu tiên cần phải phân tích, đánh giá chính sách tín dụng đã tác động như thế nào đến việc giảm nghèo cho người dân trên địa bàn Kon Tum và tìm ra được những điểm bất cập của chính sách Những nghiên
cứu trước về vấn đề này mà tác giả đã tìm hiểu: Giải pháp XĐGN tại Tỉnh Kon
Tum của Trần Ngọc Hoàng (2011) Tuy nhiên nghiên cứu chỉ mới Đánh giá được
sự tác động của các nhân tố do bản thân người nghèo và nhân tố do môi trường sống ảnh hưởng đến tình trạng đói nghèo từ đó đưa ra các giải pháp XĐGN trong đó có
phần nhỏ về Chính sách tín dụng chứ chưa đi sâu về tín dụng Nghiên cứu Đánh giá
tác động của việc sử dụng vốn vay từ nguồn XĐGN của NHCSXH xã YaChim,
TP Kon Tum (2012), tuy nhiên đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
người dân đến giao dịch tại NHCSXH, việc đánh giá tác động của việc sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không/có hài lòng hay không chỉ qua cảm tính đánh giá của người được phỏng vấn chứ chưa thông qua một công cụ đánh giá chính xác Nghiên
cứu Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam
của tác giả Phan Thị Nữ (2010): Sử dụng phương pháp Khác biệt kép để phản ánh tác động của tín dụng đối với mức sống của người nghèo Kết quả cho thấy Tín dụng chưa thực sự tác động đến thu nhập của người nghèo
Bài nghiên cứu Tác động của Chính sách Tín dụng trong việc xóa đói giảm nghèo
tại thành phố Kon Tum giai đoạn 2014 – 2016 được thực hiện, sử dụng phương
pháp Khác biệt kép sẽ kiểm chứng lại các kết quả nghiên cứu trước trên địa bàn Tp Kon Tum – địa bàn có nhiều đặc điểm kinh tế xã hội riêng biệt của vùng núi và cố gắng khắc phục những điểm còn hạn chế của đề tài đi trước
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chính đánh giá Chính sách tín dụng trong việc xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Thành phố Kon Tum giai đoạn 2014 - 2016 Trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: Mối quan hệ giữa tín dụng và thu nhập, tiết kiệm của người nghèo trên địa bàn Kon Tum là gì ? Phân tích và đánh giá:
- Chính sách tín dụng có tác động đến việc giảm nghèo thông qua việc tăng thu nhập và tiết kiệm của hộ nghèo hay không?
- Chính sách tín dụng có những điểm còn hạn chế như thế nào?
Tiếp đến, trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá sẽ gợi ý xây dựng hệ thống chính sách tín dụng ưu đãi XĐGN theo hướng khắc phục những điểm yếu và phát huy những tác động tích cực của chính sách tín dụng để hệ thống chính sách XĐGN tác động có hiệu quả hơn nữa đến người nghèo
3.Đối tượng/ phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tín dụng ưu đãi dành cho người nghèo trên địa bàn Thành phố Kon Tum: đại diện 3 xã nghèo nhất là Kroong, Đăkrơwa, Đăk Cấm Nghiên cứu mức sống của các hộ gia đình thuộc diện nghèo trên địa bàn, thời gian
từ năm 2014 đến 2016
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích định lượng, Phương pháp khác biệt trong khác biệt
Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID): là một phương pháp thông dụng để đánh giá tác động của một chính sách kinh tế, một phương pháp hay công nghệ mới, Để áp dụng phương pháp này ta cần số liệu bảng trong đó vừa chứa thông tin chéo về các đối tượng khác nhau, vừa có thông tin theo thời gian được sử dụng
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Thông qua số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2014 và 2016, nghiên cứu chương trình tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo ở các xã nghèo tại thành phố Kon Tum
Trang 12bằng phương pháp DID đã cho thấy sự tác động của tín dụng đối với giảm nghèo trên địa bàn Đánh giá được tác động việc sử dụng vốn vay từ nguồn xóa đói giảm nghèo một mặt giúp các nhà quản lý, NHCSXH trên địa bàn tham khảo, rà soát lại hoạt động tín dụng ưu đãi, xây dựng kế hoạch và có chính sách phát triển sát thực hơn trong thực tiễn; mặt khác giúp các hộ dân, đặc biệt là hộ nghèo nhận thức đầy
đủ hơn về tín dụng ưu đãi Tất cả góp phần thực hiện thành công mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta
6 Cấu trúc luận văn:
Luận văn gồm có 5 chương chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghèo đói và chương trình tín dụng vi mô của các tổ chức tín dụng dành cho hộ nghèo
Chương 2: Tổng quan về hoạt động cho vay XĐGN của NHCSXH tại Kon Tum Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG DÀNH CHO HỘ NGHÈO
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ TÍN DỤNG VI MÔ
Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình có thu nhập thấp các khoản vay nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ Tài chính vi mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo, người
có thu nhập thấp có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng khó tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức Hai cơ chế chính cho việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho các khách hàng đó là: Một là dựa trên mối quan hệ nghiệp vụ ngân hàng cho các đối tượng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và hai là dựa trên mô hình nhóm, ở đó
họ có cùng mục đích vay và cùng sử dụng những dịch vụ khác được tổ chức tín dụng cung cấp
Tín dụng vi mô là việc cho vay khoản tiền có giá trị nhỏ đối với hộ nghèo, những người thu nhập thấp, thường những đối tượng này thiếu tài sản thế chấp Nó được thiết
kế để thúc đẩy tinh thần sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, giảm nghèo và cũng thường để đem lại sự bình đẳng trong xã hội
Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp
và doanh nghiệp nhỏ
Ở Việt Nam, có nhiều tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ tài chính vi mô được chia ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức
Trang 14Khu vực chính thức gồm hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách xã hội
và Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn Khu vực bán chính thức gồm các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước và chương trình của các tổ chức xã hội Khu vực phi chính thức là các nhóm cho vay tương hỗ dưới hình thức phường, họ, hụi, thậm chí cho vay nặng lãi Trong các tổ chức tín dụng vừa nêu trên thì Ngân hàng chính sách
xã hội có số lượng khách hàng được hưởng dịch vụ tài chính vi mô là hộ nghèo chiếm nhiều nhất và có nguồn gốc là Ngân hàng phục vụ người nghèo
1.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH TÍN DỤNG VI MÔ ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
Nguồn vốn cho các chương trình tín dụng vi mô có vai trò quan trọng cho công tác xóa đói giảm nghèo nói chung và người nghèo nói riêng, chính vì thế đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của nhiều cơ quan ban ngành, các nhà làm chính sách, những người thực hiện chính sách cũng như các nhà khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu ở những góc độ và cách tiếp cận với các phương pháp khác nhau
Vốn là đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất, chính vì vậy thiếu vốn là một trong những nguyên nhân rơi vào nghèo, làm cho thu nhập và chi tiêu của người nghèo bị hạn chế Có nhiều vốn sản xuất và dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn sẽ tạo cơ hội nâng cao mức sống cho người nghèo
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái… Nhờ đó, nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo bền vững WB (1995) đã khuyến cáo rằng cải thiện thị trường tín dụng là một chính sách quan trọng để giảm nghèo đói ở Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay tín dụng ở nông thôn Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo ở một số quốc gia Châu Phi, các tác giả Yasmine F Nader (2007), Shahidur R Khandker (2005), Jonathan
Trang 15Morduch, Barbara Haley (2002) đã khẳng định vai trò quan trọng của việc cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho người nghèo, đó là phương tiện để giúp họ thoát nghèo Ryu Fukui, Gilberto M Llanto (2003): Vai trò của hoạt động tín dụng cho người nghèo thể hiện qua sự đóng góp của nó vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tác động của
sự bất ổn kinh tế và tăng tính tự chủ cho các hộ nghèo Marget Madajewicz- Colombia University (1999) và James Copestake, Sonia Blalotra (2000) nhận thấy việc cho người nghèo vay vốn sẽ giúp họ tự làm việc cho chính mình và có vốn để thực hiện những hoạt động kinh doanh nhỏ, đó chính là cơ hội để họ thoát nghèo
Một số nghiên cứu khác ở Việt Nam có liên quan mà đề tài quan tâm nhất là:
- Nghiên cứu đánh giá tiếp cận nguồn tín dụng của người nghèo ở nông thôn:
Trong năm 2008, Trung tâm phát triển và hội nhập với sự tài trợ của tổ chức Action Aid Vietnam đã thực hiện dự án: Nghiên cứu về tài chính vi mô và sự tiếp cận tín dụng của người nghèo ở nông thôn sau khi Việt Nam gia nhập WTO do nhóm tác giả Hà Hoàng Hợp, Nguyễn Minh Hương và Ngô Thị Minh Hương nghiên cứu đánh giá những cơ hội và tác động có thể xảy ra của tự do hoá thương mại đến các dịch vụ tài chính dành cho người nghèo ở Việt Nam Các mục tiêu cụ thể là: Xác định khả năng tiếp cận của người nghèo và những người có nguy cơ bị gạt ra khỏi xã hội (yếu thế với các dịch vụ tài chính từ khi Việt Nam là thành viên của WTO); Đánh giá những cơ hội, thách thức và những rủi ro tiềm năng đối với các tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam, gồm quản lý và hoạt động, khả năng tự vững, các khoản quỹ mang tính thị trường và phát triển bền vững Đề xuất cơ chế dịch vụ tài chính thích hợp nhằm cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo đến nguồn tín dụng sản xuất và tiếp thị với chi phí chấp nhận được Nghiên cứu này gồm 3 phần:
(1) Rà soát những chính sách liên quan và khung chính sách các lĩnh vực ngân hàng và tài chính vi mô ở Việt Nam khi gia nhập WTO; (2) Nhìn lại tình hình các tổ chức tài
Trang 16chính vi mô và các thành viên của M7 để tìm hiều những vấn đề tồn tại Đồng thời, báo cáo cũng trình bày nghiên cứu về tiếp cận tín dụng của người nghèo ở nông thôn ở các nước khác trong khung cảnh tự do hóa thương mại Nghiên cứu cũng rà soát thách thức
và cơ hội cho các tổ chức này; (3) Tập hợp các bài học về thành công và thất bại từ các nước trong khu vực
Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô ở Philippines nêu rõ vai trò của chính phủ và những đổi mới tài chính trong việc tiếp cận ở nông thôn và nhận định rằng những đổi mới tài chính sẽ góp phần cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo với tín dụng ở nông thôn và làm giảm nghèo Trong quá trình thực hiện nghiên cứu ở một
số tỉnh trong 7 địa bàn của M7 để có sự phản hồi của người dân và các thể chế tín dụng
vi mô là tỉnh Sơn La (Mai Sơn), tỉnh Quảng Ninh (Đông Triều và Uông Bí), tỉnh Ninh Thuận (Ninh Phước), nhóm nghiên cứu nhận thấy người dân và cả cán bộ địa phương nhận thức về WTO và các tác động của nó còn rất thấp Điều này có thể hạn chế tới việc ở cấp cơ sở, sự chuẩn bị sẵn sàng và phương thức đối phó với các tác động bất lợi của WTO chưa tốt.“ Bằng cách tăng cường nhận thức về Tài chính vi mô”, chúng ta có thể đẩy mạnh quá trình vốn hóa và giảm nghèo tốt hơn
- Nghiên cứu đánh giá tác động tín dụng vi mô:
Hoàng Hữu Hòa và Nguyễn Lê Hiệp (2007), nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích đánh giá tác động của vốn vay tín dụng đối với hộ nghèo Từ kết quả nghiên cứu này đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công cụ tín dụng trong việc thực hiện chiến lược xóa đói, giảm nghèo ở 2 xã và 1 thị trấn đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau ở huyện Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế và trên cơ sở đó chọn ngẫu nhiên ở mỗi vùng là 30 hộ nghèo có vay vốn tín dụng để điều tra thu thập thông tin Nhóm nghiên cứu đã lượng hóa tác động của vốn vay tín dụng đối với hộ nghèo trong quá trình xóa đói, giảm nghèo Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng
Trang 17phương pháp hồi quy tương quan với các kiểm định thống kê phù hợp được tính toán bằng phần mềm SPSS và EVIEWS Trong đó tập trung phân tích đánh giá các vấn đề
có liên quan tới sử dụng vốn vay như:
(1) Mức vốn vay và các tổ chức tín dụng cho vay;
(2) Tác động của vốn vay đối với việc gia tăng tư liệu sản xuất của hộ nghèo, kết quả cho thấy mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập khá chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê và là quan hệ thuận Hệ số hồi quy (Coefficent)= 0,505 nghĩa là khi mức vốn vay bình quân/lao động tăng lên 1 triệu đồng thì giá trị TLSX bình quân/lao động tăng lên 0,505 triệu đồng trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Việc đầu tư mua sắm TLSX là một trong những mục đích vay vốn của hộ nghèo Nhờ đó, giúp họ khai thác tốt mọi tiềm năng sẵn có như sức lao động, thời gian nhàn rỗi, tài nguyên đất đai, mặt nước , chủ động tự tạo việc làm cho chính mình, góp phần tăng thu nhập và tiến tới thoát nghèo tín dụng tác động đến thu nhập của hộ nghèo rõ nét hơn ở trong dài hạn và ở những mức vốn vay cao hơn Những hộ nghèo nào được tiếp cận với vốn tín dụng sớm hơn, có mức vốn vay nhiều hơn thì xác suất thoát nghèo cao hơn
(3) Tác động của tín dụng đối với tạo việc làm cho hộ nghèo: Điều này được thể hiện ở mức vốn vay bình quân dưới 3 triệu đồng/lao động thì 85,4% số hộ nhận thấy công ăn việc làm là không thay đổi và thay đổi ít, chỉ có 14,6% cho rằng là thay đổi khá nhiều
và thay đổi nhiều; ở mức vay bình quân từ 3 - 6 triệu đồng/lao động thì sự cảm nhận tương ứng là 44%, 66% và ở mức vay bình quân lớn hơn 6 triệu đồng/lao động là 20,8% và 79,2% Tức là, mức vốn vay nhiều hơn sẽ có cơ hội tạo ra nhiều việc làm hơn
(4) Tác động của vốn vay đến thu nhập của hộ nghèo: Vốn tín dụng có tác động tích cực và đồng biến đối với việc tăng thu nhập Khi được vay vốn tín dụng đại đa số hộ nghèo đều thừa nhận có sự tăng lên của thu nhập với các mức thay đổi khác nhau
Trang 18Chẳng hạn với những hộ nghèo có thời gian vay vốn dưới 1 năm thì 76,5% cảm nhận thấy thu nhập không thay đổi và thay đổi ít, 23,5% cho rằng thu nhập thay đổi khá nhiều và thay đổi nhiều; nếu thời gian vay vốn từ 1 - 3 năm thì mức cảm nhận tương ứng là 45,5% và 54,5%, thời gian vay vốn trên 3 năm là 11,1% và 88,9%
- Nghiên cứu đánh giá tác động tín dụng ưu đãi hộ nghèo:
Võ Thị Thúy Anh (2010) nghiên cứu ứng dụng mô hình Probit, Logit, Tobit đánh giá tác động của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong 3 nội dung: (1) Tác động của chương trình tín dụng ưu đãi hộ nghèo đến xác suất thoát nghèo kỳ vọng; (2) Mức độ cải thiện đời sống; (3) Mức độ cải thiện phát triển kinh doanh Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu được thực hiện điều tra 500 hộ nghèo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vay vốn của Ngân hàng chính sách và được tiến hành phân tích ước lượng thông qua mô hình Tobit, Logit, Probit và mô hình hồi quy tuyến tính kết hợp Phương pháp ước lượng thích hợp cực đại với phương sai hiệu chỉnh Sử dụng các mô hình trên để ước lượng kiểm định hiệu quả hơn so với các mô hình tuyến tính cổ điển Do biến phụ thuộc và các biến độc lập mang tính định tính, có giá trị nhị phân Kết quả ước lượng cho thấy, số tiền vay có tác động tích cực đến xác suất thoát nghèo kỳ vọng Xác suất thoát nghèo kỳ vọng của các
hộ gia đình từ mô hình Probit, Logit tương đối đồng nhất khoảng 93% Khi số tiền vay tăng một triệu đồng thì xác suất thoát nghèo kỳ vọng tăng khoảng 0.5%; Về mức độ cải thiện đời sống, số tiền vay và thời hạn vay đều có tác động dương đến mức độ cải thiện đời sống của các hộ gia đình Về mức độ phát triển kinh doanh, thời gian vay vốn càng dài thì khả năng cải thiện đời sống và mức độ phát triển sản xuất của hộ nghèo càng cao
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐÓI NGHÈO
Trang 191.3.1 Khái niệm cơ bản về đói nghèo
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều khái niệm nghèo khác nhau áp dụng trong điều kiện
cụ thể của từng quốc gia hay phục vụ cho mục đích nghiên cứu cụ thể Trong đó, những định nghĩa đặc trưng nhất phù hợp với mục đích nghiên cứu là:
“Nghèo được coi là thiếu thốn về phúc lợi và bao gồm nhiều khía cạnh Nó bao gồm thu nhập thấp và không có khả năng mua được hàng hoá cơ bản và dịch vụ cần thiết để tồn tại Nghèo cũng bao gồm mức độ y tế và giáo dục thấp, người nghèo tiếp cận với nước sạch và vệ sinh không đủ, không được bảo vệ, thiếu tiếng nói, thiếu năng lực và
cơ hội để có cuộc sống tốt hơn.” (Phân tích đói nghèo và bất bình đẳng, WB, 5/2011) Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc (UN), nằm trong tuyên bố Liên Hợp Quốc, tháng 6/2008: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”
Chiến lược Tăng cường Giảm nghèo năm 2004 của Ngân hàng Phát triển Châu Á định nghĩa nghèo đói là một khái niệm đa chiều: “Nghèo đói được đặc trưng bởi sự thiếu khả năng tiếp cận với hàng hoá, dịch vụ, tài sản thiết yếu và những cơ hội mà mỗi con người đều có quyền được hưởng Không có người bị đói, được sống trong hòa bình và
có quyền tiếp cận với nền giáo dục cơ bản, chăm sóc sức khỏe Các hộ gia đình nghèo cần phải tự lo cho cuộc sống của gia đình bằng sức lao động của mình và nhận được kết quả xứng đáng, cần được bảo vệ khỏi những cú sốc từ bên ngoài Ngoài ra, các cá nhân và xã hội nghèo nàn có khuynh hướng duy trì tình trạng đó - nếu họ không có
Trang 20quyền tham gia vào việc đưa ra các quyết định liên quan đến cuộc sống của họ” (trang 1)
Nghèo theo Hội nghị về chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Thái Lan (tháng 9-1993) xác định: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu
ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, phong tục tập quán của từng vùng
và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”
Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội
Những định nghĩa này chỉ cho chúng ta thấy rằng:
- Nghèo thay đổi theo thời gian: thước đo nghèo sẽ thay đổi theo thời gian, kinh tế càng phát triển, nhu cầu cơ bản của con người càng cao
- Nghèo thay đổi theo không gian: sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước,
vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và từng vùng Xu hướng chung là các nước càng phát triển ngưỡng đói nghèo càng cao
Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN giai đoạn 2001 – 2010 của Việt Nam đã đưa
ra khái niệm nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư xét trên mọi phương diện
Mặc dù nghèo được thể hiện ở nhiều khía cạnh như vậy và không có một khái niệm duy nhất về nghèo nhưng tổng hợp lại, nghèo thường thể hiện trên ba khía cạnh chính:
có thu nhập thấp hơn mức thu nhập bình quân của dân cư, có mức sống không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu để tồn tại và không có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội
Trang 211.3.2 Các phương pháp xác định nghèo
1.3.2.1 Phương pháp chi tiêu
Đây là phương pháp được Tổng cục thống kê dựa vào các tiêu chí của WB xây dựng vào cuối thập kỷ 1990 và lần đầu tiên được trình bày trong Đánh giá Nghèo năm 2000
sử dụng để xác định hộ nghèo trong các cuộc điều tra mức sống dân cư và điều tra mức sống hộ gia đình (các năm 1992 – 1993 và 1997 – 1998)
Phương pháp này xác định các hộ nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, gồm hai mức:
Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm;
Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại
Các hộ được cho là nghèo nếu như mức tiêu dùng không đạt được mức này
1.3.2.2 Phương pháp thu nhập
Theo WB: "Cách thức được sử dụng phổ biến nhất để đo lường đói nghèo là dựa trên thu nhập Một người được cho là nghèo nếu mức thu nhập của họ xuống dưới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng các nhu cầu cơ bản” Mức tối thiểu này thường được gọi là
“chuẩn nghèo” Những yếu tố cần thiết để đáp ứng nhu cầu cơ bản thay đổi theo thời gian và xã hội, do đó các chuẩn nghèo phải thay đổi theo thời gian và địa điểm và mỗi nước sử dụng các mức chuẩn nghèo phù hợp với mức độ phát triển, các chuẩn mực và giá trị xã hội
Trang 22Chuẩn nghèo thế giới theo WB từ tháng 10 năm 2015 một người có mức thu nhập thấp hơn 1,9 USD/người/ngày được xem là nghèo Chuẩn nghèo theo thu nhập ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tùy theo mức thu nhập trung bình của quốc gia đó Ở Việt Nam, chuẩn nghèo theo thu nhập mới nhất do Bộ Lao động và Thương binh Xã hội (LĐTBXH) ban hành áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 là 700.000 đồng/người/tháng
ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
Tuy nhiên chỉ tiêu này ít được áp dụng đồng nhất ở các địa phương bởi vì rất khó để lấy được thông tin chính xác về thu nhập của các hộ gia đình Thông thường người dân
có tâm lý khai thấp thu nhập của mình khi được hỏi Cần lấy chỉ tiêu thu nhập biểu hiện bằng giá trị cơ bản để phản ánh mức sống Song, trong điều kiện giá cả không ổn định thì cần thiết sử dụng hình thức hiện vật, phổ biến là quy ra gạo tiêu chuẩn (gạo thường) Việc sử dụng hình thức hiện vật quy đổi nhằm loại bỏ được ảnh hưởng của các yếu tố giá cả, từ đó có thể so sánh mức thu nhập của người dân theo thời gian và không gian được dễ dàng, thuận tiện Đặc biệt đối với người nghèo nói chung và người nông dân nghèo nói riêng, chỉ tiêu lượng kilôgam gạo bình quân một người trong một tháng có ý nghĩa thực tế
1.3.2.3 Phương pháp xếp loại của địa phương
Đây là phương pháp được Bộ LĐTBXH sử dụng để lập danh sách các hộ nghèo đói theo địa phương dựa trên thông tin được cung cấp từ chính quyền địa phương, nhất là chính quyền cấp thôn, bản Dựa trên một số tiêu chí để xác định hộ nghèo do Bộ LĐTBXH cung cấp, chính quyền các thôn sẽ tổ chức xem xét những hộ nào trong thôn
là nghèo, sau đó lên danh sách và gửi cho cấp xã, cấp xã sẽ xem xét và trình lên Phòng LĐTBXH cấp huyện để cấp sổ hộ nghèo cho hộ đó Thông tin này được sử dụng để xác định những hộ nghèo nhất được hưởng các chương trình trợ cấp đặc biệt như: tín dụng ưu đãi, thẻ khám chữa bệnh miễn phí, nước sạch, trợ cấp nhà ở,… Vì số tiền trợ cấp thường ít nên mỗi lần như vậy các thôn phải bình bầu xem ai sẽ là người đáng được hưởng trợ cấp, do vậy danh sách các hộ nghèo có thể được thay đổi mỗi khi có các chương trình trợ cấp mới
Trang 231.3.2.4 Phương pháp vẽ bản đồ nghèo đói
Phương pháp này do Nicholas Minot, Bob Baulch, Micheal Epprecht (IFRI) phối hợp với nhóm tác chiến lập bản đồ nghèo đói liên bộ (2003) sử dụng để ước lượng các chỉ
số nghèo đói ở cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng để tính mức chi tiêu dự báo của hộ Mức chi tiêu dự báo được dùng để phản ánh mức sống của hộ và so sánh mức độ nghèo đói giữa các vùng khác nhau
MapVietnam (bản đồ Việt Nam) là sản phẩm của Ngân hàng Thế giới Một trang bản đồ trực tuyến có khả năng tương tác với người sử dụng Các bản đồ mô tả các đặc điểm kinh tế, xã hội ở cấp tỉnh và cấp huyện cho Việt Nam Dữ liệu dùng để xây dựng bản đồ được lấy từ Tổng điều tra Dân số và Hộ gia đình và từ các báo cáo cung cấp bởi Bộ LĐTBXH và các cơ quan liên quan Các bản đồ cung cấp thông tin về một số chỉ số chọn lọc và tỉ lệ nghèo ở cấp tỉnh và huyện
Trang 24Hình 1.1 Tỉ lệ nghèo Việt Nam 2009 (WB)
Tỉ lệ nghèo (2009) được tính toán dựa trên chuẩn nghèo xác định bởi Tổng cục thống
kê ‐ Ngân hàng thế giới (GSO‐WB) và từ số liệu tiêu dùng thu thập trong Điều tra về mức sống hộ gia đình năm 2010 (VHLSS) Chuẩn nghèo GSO‐WB vào năm 2010 là
Trang 25653.000 VND trên một người trong một tháng Tỉ lệ nghèo cấp tỉnh và huyện được tính toán bằng cách sử dụng phương pháp ước lượng vùng nhỏ và dữ liệu Điều tra dân số và nhà ở năm 2009
Hình 1.2 Tỉ lệ nghèo dựa trên thu nhập (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
Trang 261.3.3 Chuẩn mực xác định hộ đói nghèo của Việt Nam hiện nay
Chuẩn nghèo ở Việt Nam được điều chỉnh theo từng giai đoạn cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm trước đây, quỹ hỗ trợ người nghèo chỉ giới hạn đến nhu cầu “ăn”, “xoá đói” khi nước ta được xếp một trong những nước chưa phát triển, thì cho đến nay các hỗ trợ được mở rộng đến những nhu cầu khác của con người như y tế, giáo dục, nhà ở… Chính phủ Việt Nam đã 7 lần nâng mức chuẩn nghèo Trong đó các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành:
- Hộ nghèo ở nông thôn: Là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
- Hộ nghèo ở thành thị:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Những hộ nghèo nhưng không được vay vốn của NHCSXH:
- Những hộ nghèo không còn sức lao động
- Những hộ nghèo độc thân đang trong thời gian thi hành án
Trang 27- Những hộ nghèo bị chính quyền địa phương loại ra khỏi danh sách vay vốn vì mắc tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, lười biếng không chịu lao động
- Những hộ nghèo thuộc diện chính sách xã hội như già cả neo đơn, tàn tật, thiếu ăn do ngân sách Nhà nước trợ cấp
Qua đó từng địa phương căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội và kết quả giảm nghèo ở địa phương mình có thể nâng chuẩn nghèo cao hơn quy định chung khi hội đủ
ba điều kiện:
- Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân đầu người trong cả nước
- Tỷ lệ hộ nghèo của địa phương thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước
- Có đủ nguồn lực để hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo và tự giải quyết các chính sách đói nghèo theo chuẩn mới nâng lên của địa phương mình
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của hộ nghèo
Mức sống của người nghèo được phản ánh trên nhiều khía cạnh như thu nhập, chi tiêu đời sống, tiết kiệm, mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục… Các nghiên cứu thực nghiệm về nghèo đói đã phân tích và chỉ ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của người nghèo ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó tín dụng là một yếu tố quan trọng
1.3.4.1 Tín dụng đối với hộ nghèo
Khái niệm tín dụng đối với hộ nghèo:
Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách là việc Nhà nước thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội huy động, tập trung các nguồn lực trong xã hội để cho người nghèo và các đối tượng chính sách vay ưu đãi, phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo
Trang 28việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội
Đặc điểm của tín dụng đối với hộ nghèo
Tín dụng đối với hộ nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng thương mại mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:
Mục tiêu: tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người nghèo có vốn
phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận
Nguyên tắc cho vay:
- Ngân hàng Chính sách xã hội có trách nhiệm cho vay đúng đối tượng, đúng qui định của Chính phủ và các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan
- Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Điều kiện để được vay vốn:
Đối với người vay là hộ nghèo phải có địa chỉ cư trú hợp pháp và phải có trong danh sách hộ nghèo được Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo chuẩn nghèo do Bộ LĐTBXH công bố, được Tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét, lập thành danh sách có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã
Mức cho vay
Mức cho vay đối với một lần vay phù hợp với từng loại đối tượng được vay vốn tín dụng ưu đãi do Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội quyết định và công bố
Trang 29trên cơ sở nhu cầu vay vốn và khả năng nguồn vốn có thể huy động được trong từng thời kỳ
Thời hạn cho vay, gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn
- Thời hạn cho vay được quy định căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của Người vay và thời hạn thu hồi vốn của chương trình, dự án có tính đến khả năng trả nợ của người vay
- Trường hợp người vay chưa trả được nợ đúng kỳ hạn đã cam kết do nguyên nhân khách quan, được Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét cho gia hạn nợ
- Trường hợp người vay sử dụng vốn vay sai mục đích, người vay có khả năng trả khoản nợ đến hạn nhưng không trả thì chuyển nợ quá hạn Tổ chức cho vay kết hợp với chính quyền sở tại, các tổ chức chính trị - xã hội có biện pháp thu hồi nợ
- Thời hạn cho vay, gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn do Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội quy định
Lãi suất cho vay
- Lãi suất cho vay ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị Ngân hàng Chính sách xã hội, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước
- Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay
Vai trò của vốn tín dụng đối với hộ nghèo
Giúp người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao đời sống:
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có nguyên nhân chủ yếu và cơ bản là do thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn Vốn, kỹ thuật, kiến thức làm ăn là “chìa khoá” để
Trang 30người nghèo vượt khỏi ngưỡng nghèo đói Khi giải quyết được vốn cho người nghèo
có tác động hiệu quả thiết thực Vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo Khi có vốn cùng với bản chất cần cù và sáng tạo của người nông dân Việt Nam, bằng chính sức lao động của bản thân và gia đình họ có điều kiện mua sắm vật tư, phân bón, cây con giống để tổ chức sản xuất thực hiện thâm canh có năng suất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, tăng thu nhập để cải thiện đời sống gia đình
Giúp cho người nghèo giảm bớt các gánh nặng về lãi và chi phí
Tín dụng ưu đãi cho người nghèo là kênh chính thống giúp người nghèo vay lãi suất rất thấp so với lãi suất của thị trường tiền tệ tài chính hoặc nạn cho vay nặng lãi của những người tư nhân có tiền Do không đáp ứng đủ vốn nhiều người rơi vào tình thế luẩn quẩn làm không đủ ăn, phải đi làm thuê, vay nặng lãi, bán lúa non, cầm cố ruộng đất mong đảm bảo được cuộc sống tối thiểu hàng ngày, nhưng nguy cơ nghèo đói vẫn thường xuyên đe dọa Mặt khác do thiếu kiến thức làm ăn nên họ chậm đổi mới tư duy làm ăn, bảo thủ với phương thức làm ăn cũ cổ truyền, không áp dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất lao động làm cho sản phẩm sản xuất ra kém hiệu quả Thiếu kiến thức
và kỹ thuật làm ăn là một cản lực lớn nhất hạn chế tăng thu nhập và cải thiện đời sống
hộ gia đình nghèo Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng đến tận tay người nghèo với lãi suất ưu đãi của Nhà nước sẽ giúp họ giảm chi phí, tăng thu nhập có tích luỹ vốn
Nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường cho người nghèo
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho sản xuất kinh doanh để XĐGN, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao Để làm được điều đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy
Trang 31nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế Mặt khác, khi số đông người nghèo đói tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường làm cho họ tiếp cận được với kinh tế thị trường một cách trực tiếp
Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội
Trong nông nghiệp vấn đề quan trọng hiện nay để đi lên một nền sản xuất hàng hoá lớn đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới váo sản xuất Đó là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào
áp dụng trong thực tiễn sản xuất và phải được thực hiện trên diện rộng Để làm được điều này đòi hỏi phải đầu tư một lượng vốn lớn, thực hiện được khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư những người nghèo phải được đầu tư vốn họ mới có khả năng thực hiện Như vậy, thông qua công tác tín dụng đầu tư cho người nghèo đã trực tiếp góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra các ngành nghề dịch vụ mới trong nông nghiệp đã trực tiếp góp phần vào việc phân công lại lao động trong nông nghiệp và lao động xã hội
Góp phần tạo sự đoàn kết hỗ trợ trong cộng đồng đảm bảo an sinh xã hội
Xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành tín dụng cho người nghèo thông qua các quy định về mặt nghiệp vụ cụ thể của nó như việc bình xét công khai những người được vay vốn, việc thực hiện các tổ tương trợ vay vốn, tạo ra sự tham gia phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn thể chính trị xã hội, của cấp uỷ, chính quyền, các tầng lớp nhân dân, các ngành các cấp làm thay đổi đời sống kinh tế,
an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt, hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra được bộ mặt mới trong đời sống kinh tế xã hội ở các vùng miền
Trang 321.3.4.2 Các yếu tố về nhân khẩu học
Số nhân khẩu trong hộ: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 chỉ ra rằng những hộ gia đình càng đông người thì thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người càng giảm xuống Dorter Verner (2005), Dự án Diễn đàn miền núi (2005), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng có kết luận tương tự về mối quan hệ nghịch biến giữa số nhân khẩu trong hộ và phúc lợi của người nghèo
Tỷ lệ phụ thuộc: Tỷ lệ phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong hộ Các nghiên cứu về nghèo đói của WB và các chuyên gia kinh tế phát triển đều nhất trí rằng
tỷ lệ phụ thuộc là một yếu tố quan trọng quyết định sự sung túc hay nghèo khó của các
hộ gia đình ở các địa phương Tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì phúc lợi mà mỗi người trong hộ nhận được càng thấp, do một người lao động phải nuôi sống nhiều hơn Đặc biệt là những hộ có nhiều trẻ em sẽ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn những hộ có ít trẻ em
Giới tính của chủ hộ: Có những quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa giới tính của chủ hộ và nghèo đói Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những hộ có chủ hộ là nam thường có thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người cao hơn hộ có chủ hộ là nữ Những
hộ gia đình mà vợ ( hoặc chồng) của chủ hộ bị chết hay li dị có mức thu nhập và chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ có đầy đủ vợ và chồng Tuy nhiên, theo đánh giá của UNDP (1995), ở Việt Nam những hộ do phụ nữ làm chủ hộ không nghèo hơn so với những hộ do nam giới làm chủ
1.3.4.3 Tình trạng việc làm và giáo dục của hộ
Những hộ gia đình có nhiều người có trình độ cao có khả năng có thu nhập cao hơn những hộ khác do họ có thể tiếp cận được những công việc được trả lương cao hơn Baulch và McCulloch (1988) đã nghiên cứu về nghèo đói ở Pakistan trong 5 năm và kết luận rằng trình độ giáo dục cao hơn, đặc biệt là giáo dục phổ thông làm tăng khả
Trang 33năng thoát nghèo của các hộ World Bank (2004) cho rằng đầu tư vào giáo dục là cách tốt nhất để người nghèo thoát nghèo một cách bền vững Người nghèo có trình độ cao hơn không chỉ có khả năng sản xuất tốt hơn mà có thể dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp hơn nếu như có một biến cố nào đó xảy ra với công việc của họ
1.3.4.4 Năng lực sản xuất của hộ
Đất: Vì đa số người nghèo ở Việt Nam sống ở nông thôn và phụ thuộc rất lớn vào sản
xuất nông nghiệp Do đó đất đai là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập, chi tiêu cũng như những cơ hội cải thiện phúc lợi khác của người nghèo
Báo cáo tổng hợp về đánh giá nghèo đói ở Việt Nam có sự tham gia của người dân (1999) đã chỉ ra rằng có đủ đất đai tương đối tốt để sản xuất là cơ sở để hộ nghèo cải thiện cuộc sống Những hộ gia đình có đất đai tốt hơn ( độ dốc thấp, gần gũi với nhà ở,
có hệ thống tưới tiêu tốt và không nhiễm mặn) sẽ khấm khá hơn những hộ khác Những
hộ sở hữu nhiều đất đai có thể đa dạng hóa loại cây trồng, nhờ đó cải thiện mức sống tốt hơn những hộ khác
R Khandker (2009), GayaTri Datar (2009), Nguyễn Trọng Hoài (2005) cũng khẳng định diện tích đất đai và khả năng tiếp cận đất đai có ảnh hưởng cùng chiều tới mức thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo
Tư liệu sản xuất: Đối với các hộ nghèo ở nông thôn, gia súc (trâu, bò, ngựa, lợn
nái,…) là một phần quan trọng của tư liệu sản xuất vì nó cung cấp sức cày bừa, kéo và phân bón phục vụ sản xuất Ngoài ra, lợn nái, bò cái… cung cấp con giống cho chăn nuôi của hộ gia đình
1.3.4.5 Các điều kiện bên ngoài
Điều kiện địa lý, giao thông, khoảng cách đến khu vực trung tâm có tác động đáng kể
đến mức sống của các hộ gia đình Báo cáo Phát triển Việt Nam, 2004 đã khẳng định
Trang 34rằng những hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa có mức chi tiêu đầu người thấp hơn những
hộ ở đồng bằng và thành thị Trong báo cáo “Việt Nam – Đánh giá sự nghèo đói và chiến lược” (1995), World Bank khẳng định cơ sở hạ tầng là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng tới năng suất nông nghiệp, gắn liền với sự phát triển việc làm phi nông nghiệp và thúc đẩy sự tham gia của người nghèo vào nền kinh tế thị trường Những người dân sống gần cơ sở hạ tầng có mức sống cao hơn và có khả năng tận dụng những ưu thế của thị trường hơn những hộ xa
Nicholas Minot, Bob Baulch kết hợp với nhóm tác chiến lập bản đồ nghèo đói (2003) cho rằng nghèo đói ở Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố địa lí như địa hình, độ dốc, đặc điểm đất đai, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm Đặc biệt, nghèo đói ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Những vấn đề trình bày trong chương 1 đã giải quyết được cơ sở lý luận về nghèo đói
và chương trình tín dụng vi mô của các tổ chức tín dụng dành cho hộ nghèo, cụ thể:
- Đề tài đã tập hợp được những khái niệm cơ bản về nghèo đói, từ đó rút ra được điểm đặc trưng chung về đói nghèo: có thu nhập thấp hơn mức thu nhập bình quân của dân
cư, có mức sống không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu để tồn tại và không có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của xã hội
- Dựa vào những nghiên cứu thực nghiệm về nghèo đói, có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến phúc lợi của người nghèo thành các cấp độ sau đây:
+ Cấp độ cá nhân: Gồm có trình độ giáo dục, tuổi, giới tính, năng lực tự nhiên, cơ hội và nỗ lực cá nhân,…
+ Cấp độ hộ gia đình: Qui mô nhân khẩu của hộ, diện tích đất, số lao động, tỷ lệ phụ thuộc, đặc điểm dân tộc, trang thiết bị sản xuất, nợ,…
+ Cấp độ vùng: Khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, đặc điểm vùng, giao thông
+ Cấp độ chính phủ: Sự hỗ trợ về giáo dục, y tế, tín dụng,…
- Tiếp đến đề tài tập trung phân tích vai trò của các chương trình tín dụng vi mô dành cho hộ nghèo:
+ Giúp người nghèo phát triển sản xuất, nâng cao đời sống
+ Giúp cho người nghèo giảm bớt các gánh nặng về lãi và chi phí
+ Nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường cho người nghèo
+ Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội
+ Góp phần tạo sự đoàn kết hỗ trợ trong cộng đồng đảm bảo an sinh xã hội
Trang 36CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CHO VAY XĐGN CỦA
NHCSXH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM 2.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động của NHCSXH các cấp trên địa bàn tỉnh Kon Tum
2.1.1 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động
Theo cơ cấu của NHCSXH Việt Nam được quy định trong quyết định số 131/2002/QĐ-Ttg ngày 04 tháng 10 năm 2002, NHCSXH chi nhánh tỉnh Kon Tum được thành lập theo Quyết định số 59/QĐ-HĐQT ngày 14/01/2003 của Chủ tịch HĐQT trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo Kon Tum hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước đảm bảo khả năng thanh toán với mục đích thực hiện việc chuyển tải nguồn vốn tín dụng ưu đãi đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo đồng thời gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Kon Tum, có 01 Chi nhánh cấp tỉnh và 08 phòng giao dịch cấp huyện, 102 điểm giao dịch cấp xã và có 1.615 tổ tiết kiệm và vay vốn
2.1.2 Hoạt động bộ máy tác nghiệp của NHCSXH trên địa bàn tỉnh
Bộ máy điều hành tác nghiệp NHCSXH tỉnh được tổ chức hợp lý trên cơ sở uỷ thác từng phần cho các tổ chức Chính trị xã hội, sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể và tổ tiết kiệm vay vốn Đối tượng cho vay vốn ưu đãi của Ngân hàng chính sách là những hộ nghèo và các đối tượng chính sách nên địa bàn khá rộng, hiện nay NHCSXH tỉnh Kon Tum ký uỷ thác với các tổ chức hội, trong đó
có 04 tổ chức chủ yếu là Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh và Đoàn thanh niên Các hội đoàn thể có hệ thống các Tổ tiết kiệm và vay vốn được lập ra tại các thôn, bản, làng ở các xã phường, mục đích để các đối tượng được vay tiếp cận vốn một cách dễ dàng thông qua tổ này Bởi vì các thành viên Tổ tiết kiệm và vay vốn là những người gần dân nhất Đây chính là cầu nối tập hợp hộ nghèo và
Trang 37các đối tượng chính sách có nhu cầu vay vốn làm ăn để thoát nghèo hữu hiệu và nhanh nhất
Hình 2.1 Qui trình uỷ thác cho vay
Bước 1: Khi có nhu cầy vay vốn, người vay viết giấy đề nghị vay vốn
Bước 2: Tổ TK&VV tổ chức họp bình xét những hộ đủ điều kiện vay vốn và lập danh sách trình UBND xã xác nhận
Bước 3: Tổ KT&VV hoàn thiện hồ sơ đề nghị vay vốn gửi NHCSXH
Bước 4: NHCSXH phê duyệt cho vay và thông báo tới UBND cấp xã
Bước 5: UBND cấp xã thông báo cho Hội đoàn thể cấp xã
Bước 6: Hội đoàn thể cấp xã thông báo cho Tổ TK&VV
Bước 7: Tổ TK&VV thông báo đến hộ vay thời gian, địa điểm giải ngân
Bước 8: NHCSXH tiến hành giải ngân đến hộ vay
NHCSXH trên địa bàn tỉnh cho vay vốn ưu đãi tập trung vào 10 chương trình tín dụng chủ yếu sau: Cho vay vốn tín dụng ưu đãi hộ nghèo; Cho vay vốn đi xuất khẩu lao động; Cho vay hộ nghèo về nhà ở; Cho vay ưu đãi lãi suất đối với hộ nghèo theo Nghị quyết 30a/NQ-CP ; Cho vay đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn; Cho vay học sinh, sinh
Hộ nghèo Tổ TK&VV
UBND cấp xã NHCSXH
Tổ chức CTXH cấp xã
Trang 38viên; Cho vay giải quyết việc làm; Cho vay xuất khẩu lao động; Cho vay vốn chương trình Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn; Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.2 Đánh giá khái quát hoạt động NHCSXH Tỉnh KonTum giai đoạn 2014 - 2016 2.2.1 Về nguồn vốn
Được sự quan tâm của NHCSXH Việt Nam cũng như chính quyền địa phương các cấp, NHCSXH đã tập trung mọi nguồn vốn phục vụ thật tốt cho công tác xoá đói, giảm nghèo Đến cuối năm 2016, chi nhánh cân đối được nguồn vốn 1.906.592 triệu đồng cho địa bàn tỉnh Kon Tum Trong đó nguồn vốn cân đối từ Trung ương là 1.827.042 triệu đồng, nguồn vốn nhận uỷ thác từ Ngân sách Tỉnh 12.195 triệu đồng; nguồn vốn huy động tại địa phương được Trung ương cấp bù lãi suất là 67.355 triệu đồng
Hình2.2 Nguồn vốn ưu đãi hộ nghèo trên địa bàn Tỉnh Kon Tum 2016
2.2.2 Về sử dụng vốn
Từ năm 2014 đến 2016, Chi nhánh NHCSXH Tỉnh đã cho 26.573 lượt hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất với số tiền là 677.840 triệu đồng, đạt 94,48% kế hoạch về số
Trang 39lượng và 82,30% về kinh phí Ngoài ra, NHCSXH còn cho 2.537 hộ đồng bào dân tộc thiểu số vay 17.065 triệu đồng; giải quyết cho 3.888 hộ vay chi phí trong việc học tập cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang theo học tại các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học với số tiền 86.073 triệu đồng Hàng năm giải quyết cho khoảng 17.831 lượt hộ vay vốn để xây dựng, cải tạo các công trình nước sạch, vệ sinh môi trường với số tiền 191.215 triệu đồng Thực hiện chương trình cho vay vốn ưu đãi để làm nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, năm 2016
đã có 6.409 hộ được vay vốn với số tiến 50.526 triệu đồng
Kết quả hoạt động trên nhiều lĩnh vực của Chi nhánh đến cuối năm 2016 đã giải quyết được 2000 lao động có việc làm; 8.289 học sinh, sinh viên được vay vốn; 22.000 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường được xây dựng; 2.100 hộ đồng bao dân tộc thiểu
số, đặc biệt khó khăn vay vốn phát triển kinh tế với số tiền 17.065 triệu đồng; … góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn, tính đến cuối năm 2016, số hộ nghèo còn lại 26.255 hộ, chiếm tỷ lệ 20,85%, tương ứng giảm 5,26%/năm
Với nhiều biện pháp xóa đói giảm nghèo như giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sạch sinh hoạt, vốn sản xuất cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nên trong giai đoạn 2014-2016 toàn tỉnh Kon Tum đã giảm được 19.013 hộ nghèo, riêng năm 2016 giảm được 5.241 hộ
Mạng lưới giao dịch của NHCSXH trên địa bàn thành phố Kon Tum ngày càng được
mở rộng và phát triển, đến nay đã được thành lập được 21 điểm giao dịch/21 xã, phường, thị trấn và 328 Tổ TK&VV Hoạt động của các điểm giao dịch này đều được đặt tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn và mỗi tháng ít nhất tổ chức một lần giao dịch
để giải ngân cho vay, thu nợ, thu lãi, thu tiền gửi tiết kiệm dân cư và chi ủy thác cho các tổ chức chính trị xã hội làm dịch vụ ủy thác cho vay với NHCSXH; đồng thời là nơi diễn ra các cuộc họp giao ban giữa chính quyền địa phương, hội đoàn thể, tổ tiết kiệm và người vay vốn cùng NHCSXH để phổ biến chủ trương chính sách mới, giải quyết, tháo gỡ khó khăn và bàn biện pháp chỉ đạo thực hiện tốt chính sách tín dụng ưu đãi với người nghèo
Trang 40Bảng 2.1 Nguồn vốn cho vay trên địa bàn thành phố Kon Tum
Đơn vị tính: Triệu đồng
Nguồn vốn Trung ương 272.305 328.733 356.574
Nguồn huy động tiết kiệm 9.562 13.410 23.258
(Phòng Kế hoạch & NV NHCSXH tỉnh) Qua bảng số liệu chúng ta nhận thấy nguồn vốn từ ngân sách địa phương rất nhỏ bình quân 3 năm chiếm 0.1% trong tổng nguồn vốn, nguồn huy động tiền gửi trong dân cư trên địa bàn bình quân 3 năm chiếm 4.5%, nguồn cho vay chủ yếu dựa vào nguồn vốn
từ Chính phủ, thông qua NHCSXH VN bình quân 3 năm chiếm 95.4% Nguồn ngân sách địa phương hàng năm đều phải xin hỗ trợ từ cấp trên nên nguồn vốn nhận uỷ thác còn hạn chế
Bảng 2.2 Dư nợ tín dụng ưu đãi theo thời hạn địa bàn TP Kon Tum