1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đặc điểm ngôn ngữ thơ ma trường nguyên

121 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, nghiên cứu văn học nhất thiết không thể bỏ qua mặt ngôn ngữ của các tác phẩm, không chỉ bởi vì mọi yếu tố, mọi bình diện khác của văn học đều chỉ có thể được biểu đạt qua ngôn ngữ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀO THÁI SƠN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ

MA TRƯỜNG NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐÀO THÁI SƠN

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ

MA TRƯỜNG NGUYÊN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tạ Văn Thông

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào khác

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Tạ Văn Thông, thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn nhà thơ Ma Trường Nguyên đã cung cấp những

tư liệu trong quá trình thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Đào Thái Sơn

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Bố cục của luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Các khái niệm chung 8

1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 8

1.1.2 Ngôn ngữ thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ 11

1.1.3 Các khái niệm về nghĩa, trường từ vựng, thể, vần, nhịp , dòng, khổ, đoạn, tiêu đề và biểu tượng 19

1.2 Nhà thơ Ma Trường Nguyên – cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác 33

1.2.1 Tiểu sử 33

Trang 8

1.2.2 Quá trình hoạt động văn học 34

1.2.3 Thơ Ma Trường Nguyên 36

1.3 Tiểu kết 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN XÉT VỀ MẶT HÌNH THỨC 39

2.1 Đặc điểm về thể thơ, vần, nhịp trong thơ Ma Trường Nguyên 39

2.1.1 Đặc điểm về thể thơ 39

2.1.2 Đặc điểm về vần thơ 48

2.1.3 Đặc điểm về nhịp thơ 59

2.2 Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ 63

2.2.1 Đặc điểm về tiêu đề 63

2.2.2 Đặc điểm về dòng thơ 64

2.2.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ 66

2.3 Tiểu kết 68

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN XÉT VỀ MẶT TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA 70

3.1 Một số trường từ vựng - ngữ nghĩa nổi bật 70

3.1.1 Quê hương và cảnh sắc thiên nhiên 70

3.1.2 Con người và những mối quan hệ xã hội 76

3.1.3 Những vật dụng trong đời sống hàng ngày 78

3.1.4 Chiến tranh và không khí chiến đấu trong những ngày gian khổ 81

3.2 Một số biểu tượng ngôn ngữ học thường gặp 84

Trang 9

3.2.1 Khái quát về các biểu tượng ngôn ngữ học thường gặp trong thơ

Ma Trường Nguyên 84

3.2.2 Biểu tượng “hoa” 85

3.2.3 Biểu tượng “núi” 89

3.2.4 Biểu tượng “dòng sông” 92

3.3 Tiểu kết 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lần xuất hiện các thể thơ 39

Bảng 2.2 Bảng phân loại thể thơ 7 chữ, 8 chữ 46

Bảng 2.3 Vần trong các thể thơ 48

Bảng 2.4 Các loại vần xét theo vị trí gieo vần và mức độ hoà âm 49

Bảng 2.5 Các loại vần trong thơ Ma Trường Nguyên xét theo thanh điệu 56

Bảng 2.6 Bảng thống kê một số loại nhịp thường gặp trong thơ Ma Trường Nguyên 59

Bảng 2.7 Số lượng chữ trong tiêu đề thơ 63

Bảng 2.8 Số lượng dòng trong thơ 64

Bảng 2.9 Số lượng khổ thơ 66

Bảng 3.1 Số lần xuất hiện của các từ ngữ trực tiếp hoặc gián tiếp biểu thị cảnh vật quê hương 70

Bảng 3.2 Số lần xuất hiện các từ ngữ trực tiếp hoặc gián tiếp biểu hiện thiên nhiên 73

Bảng 3.3 Con người và những mối quan hệ xã hội 76

Bảng 3.4 Số lần xuất hiện các từ ngữ chỉ đồ vật trong thơ 79

Bảng 3.5 Số lần xuất hiện các từ ngữ chỉ chiến tranh trong thơ 81

Bảng 3.6 Các biểu tượng thường gặp trong thơ 84

Bảng 3.7 Một số từ ngữ có liên quan đến biểu tượng ‘‘hoa“ trong thơ Ma Trường Nguyên 86

Bảng 3.8 Một số từ ngữ có liên quan đến biểu tượng ‘‘núi“ trong thơ 89

Bảng 3.9 Một số từ ngữ có liên quan đến biểu tượng ‘‘dòng sông“ 92

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng

là một trong những hướng nghiên cứu được chú ý trong ngôn ngữ học hiện đại Trong những năm gần đây, thơ đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới góc nhìn ngôn ngữ học để chỉ ra các quy luật, ngôn từ trong tác phẩm Có thể khẳng định: Việc tìm hiểu ngôn ngữ thơ dưới góc nhìn ngôn ngữ học giúp người đọc nhận ra phong cách nghệ thuật và ý đồ của tác giả trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của tác phẩm qua hình thức ngôn từ Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Ma Trường Nguyên là một trong những đề tài nằm trong hướng

đi cần thiết đó

1.2 Ma Trường Nguyên là một nhà thơ người dân tộc thiểu số (Tày),

sinh ra và lớn lên ở “thủ đô gió ngàn”- mảnh đất “địa linh nhân kiệt” trong cuộc kháng chiến 9 năm trường kì anh dũng của dân tộc ta Chính quê hương ATK (Định Hóa, Thái Nguyên) với cảnh sắc nên thơ, trữ tình và những người dân chân chất, mộc mạc, đằm thắm nhưng dũng cảm, kiên cường đã thổi vào tâm hồn ông chất men say và cái nhìn sắc sảo trước hiện thực của văn chương Để

rồi như các nhà văn đồng nghiệp cùng thời với ông nhận xét, thì “Ma Trường Nguyên, cần mẫn viết như một chú ong thợ” Ông đã cho ra đời 16 tập thơ,

trường ca, kí và tiểu thuyết, trong đó có nhiều tác phẩm viết về đề tài miền núi

Đã có nhiều bài viết về tác giả Ma Trường Nguyên và các tác phẩm của ông trên các báo Văn nghệ, tạp chí Văn học và một số bài viết trong sách, báo chí Trung ương, địa phương , song hầu hết mới đi vào một vài khía cạnh chung về phương diện nội dung và chủ đề tư tưởng Đặc điểm ngôn ngữ thơ của Ma Trường Nguyên hầu như vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Đó chính là những lí do để đề tài: “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Ma Trường

Nguyên" được chọn làm hướng nghiên cứu trong luận văn này

Trang 12

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Ngôn ngữ từ xưa đến nay là chất liệu không thể thiếu của văn

chương, là một trong những yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến sự sáng tạo tác

phẩm văn chương nói chung Bùi Minh Toán cho rằng: “Dường như mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và văn chương như là hai lĩnh vực trong nền văn hoá dân tộc, trong đó ngôn ngữ vừa là một thành tố của văn hoá, vừa là một phương tiện (chất liệu) của văn hoá (bao gồm văn chương) nhưng chưa được quan tâm đúng mức”[33; tr 56]

Từ đó, nghiên cứu văn học nhất thiết không thể bỏ qua mặt ngôn ngữ của các tác phẩm, không chỉ bởi vì mọi yếu tố, mọi bình diện khác của văn học đều chỉ có thể được biểu đạt qua ngôn ngữ, mà còn vì sáng tạo ngôn ngữ là một trong những mục đích quan trọng, cũng là một phần không nhỏ trong sự đóng góp vào những giá trị độc đáo, riêng biệt của văn chương Nhận thức được ý nghĩa của việc chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ trong thơ ca, cho đến nay nhiều nhà ngôn ngữ học đã quan tâm tìm hiểu vấn đề này khi nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ nói chung và của thơ tiếng Việt nói riêng Có thể kể đến một số công trình sau:

- Mai Ngọc Chừ (1990), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học,

Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội

- Hữu Đạt (1993), Ngôn ngữ thơ ca Việt Nam, Viện HLKH Nga, Viện

ngôn ngữ học, Mockva 243 tr (bản bằng tiếng Việt và tiếng Nga)

- Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội

- Roman Jakobson (2008), Thi học và Ngữ học (Trần Duy Châu biên

khảo), Nxb Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Hà Nội

- Bùi Mình Toán (2012, Ngôn ngữ với văn chương, Nxb Đại học Sư

phạm, Hà Nội

Trang 13

Các tác phẩm này khi viết về ngôn ngữ trong sự tương tác với văn chương dường như đều đã đưa ra những ý kiến về việc ngôn ngữ thể loại thơ phải phục tùng nguyên tắc cấu tạo tác phẩm trữ tình Nó phải giúp cho việc bộc lộ cảm xúc trực tiếp được dễ tiếp nhận hơn Ngoài ra, các tác giả còn chú ý đến sự giao thoa giữa các thể loại Và, không chỉ làm rõ quan điểm của mình bằng những câu thơ, bài thơ cụ thể, các tác giả còn đưa ra nhiều sơ đồ giúp người đọc có

được cái nhìn khái quát Tiêu biểu như công trình Ngôn ngữ thơ của Nguyễn

Phan Cảnh đã vận dụng lí thuyết về thi pháp học của Jakobson để nghiên cứu đặc trưng của ngôn ngữ thơ trong mối quan hệ với ngôn ngữ văn xuôi và đưa ra lối phân tích thơ căn cứ vào hai thao tác cơ bản trong hoạt động ngôn ngữ là lựa chọn và kết hợp

Theo ông, nguyên lí của văn xuôi là “nhằm vào việc miêu tả bức tranh hiện thực, văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp” [2; tr 51] còn trong thơ, “tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo” [2; tr 52] Vì thế, với văn xuôi “lặp lại là điều tối kị”trong khi đó “chính cái điều văn xuôi rất kị ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ” [2; tr 52]

Lịch sử nghiên cứu văn học, xét về một phương diện cũng chính là lịch sử của nghiên cứu ngôn ngữ văn học Ngôn ngữ văn học vừa là điều kiện, lại vừa là kết quả của quá trình vận động, biến đổi của văn học qua các thời kỳ, giai đoạn

Sự thay đổi văn học cũng đi liền với sự thay đổi của ngôn ngữ văn học, và qua

đó phản ánh sự biến đổi của đời sống xã hội, của tư duy, của môi trường văn hóa tinh thần và các giá trị của quan niệm thẩm mĩ

2.2 Ma Trường Nguyên là một nghệ sĩ đa tài Ông không chỉ làm thơ,

viết văn mà còn viết tiểu luận, phê bình Ông bắt đầu bằng sáng tác thơ, rồi sau

viết văn xuôi Tác giả tâm sự rất hồn nhiên: “Cái gì mà thơ không nói được thì tôi nói trong tiểu thuyết; và ngược lại, cái gì không nói được trong tiểu thuyết tôi nói trong thơ”

Trang 14

Qua lời tự bạch trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (Nxb Hội nhà

văn, 1997), Ma Trường Nguyên viết: “ Tôi sống thật như tôi Tôi tự nhủ không phải viết như thế nào? mà sống thế nào để viết”[19; tr 74] Sống thật để viết thật

Viết từ cái tâm hồn không có chút giả dối Chỗ mạnh và cái hay của tác phẩm

Ma Trường Nguyên phần lớn là ở chỗ đó

Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ viết về Ma Trường Nguyên với những tâm

sự chân thật Trung Trung Đỉnh cho đó là “Người đốt lửa bằng trái tim” với

“dáng vẻ chân tình đến thật thà và hiền lành” Ngô Quang Miện sau khi đọc xong thơ Ma Trường Nguyên đã cảm nhận: “Bắt gặp cái mộc mạc, hồn nhiên của những con người sống giữa thiên nhiên Những câu thơ không khắc họa, không xoáy sâu nhưng để lại cái gì đó như một hương cây cỏ nguyên sơ, giữa một bầu không khí ban mai trong trẻo” Phạm Tiến Duật cho đó là “tâm hồn nhiều say đắm” Hồ Thủy Giang gọi đó là “một trái tim thức cùng năm tháng”

và “hiền lành một cách bẩm sinh” Nguyễn Đức Thiện cho rằng Ma Trường Nguyên “nói năng chất phác, thật thà của người Tày gốc”, và “chất rừng núi, chất dân tộc đã được thể hiện sâu sắc không chỉ ở tả cảnh, tả người mà nó còn đậm đà trong tình cảm”…

Có thể nói, những lời nhận xét về Ma Trường Nguyên và các tác phẩm của ông đã giúp ta hình dung được phần nào phong cách và quan niệm về văn chương của ông, Đó đều là những cảm nhận gần với những gì độc giả bắt gặp trong con người và thơ Ma Trường Nguyên

Thực hiện đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Ma Trường Nguyên”, tác giả

luận văn hi vọng sẽ có những đóng góp mới, bù đắp vào những khoảng thiếu hụt

trong việc nghiên cứu và tìm hiểu về ngôn ngữ thơ Ma Trường Nguyên nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các tác phẩm của Ma Trường Nguyên rất đa dạng về thể loại và đề tài,

Đó là các thể loại như thơ, tiểu thuyết, tiểu luận, phê bình…Có thể tìm hiểu về

Trang 15

sự nghiệp văn chương của ông dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên luận văn này chỉ tập trung tìm hiểu về ngôn ngữ (chất liệu văn chương) trong thơ của ông

Tư liệu khảo sát gồm 5 tập thơ, trong đó bao gồm 182 bài thơ viết bằng tiếng Việt Cụ thể đó là 5 tập thơ:

Trái tim không ngủ (thơ), Hội Văn nghệ Bắc Thái, 1988;

Câu hát vắt qua vai (thơ) Hội Văn nghệ Thái Nguyên, 2005;

Cây nêu (thơ), NXB Hội nhà văn, 2006;

Bắc cầu vồng thăm nhau (thơ) NXB Hội nhà văn, 2007;

Mở núi (thơ và trường ca), NXB Hội nhà văn, 2011

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn này nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm thơ của Ma Trường Nguyên, nhưng chỉ tập trung nghiên cứu các tác phẩm thơ được viết bằng tiếng Việt của ông

Luận văn chủ yếu tập trung vào các đặc điểm hình thức (thể, vần, nhịp, cách tổ chức bài thơ…) và các đặc điểm về ngữ nghĩa (một số trường từ vựng, ngữ nghĩa và một số biểu tượng ngôn ngữ học thường gặp)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu ngôn ngữ thơ Ma Trường Nguyên hướng tới mục đích là để chỉ ra được những nét đặc sắc của ngôn ngữ trong thơ Ma Trường Nguyên, đồng thời cho thấy được phần nào những đặc điểm phong cách nghệ thuật trong thơ ông

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài Tìm hiểu về nhà thơ Ma Trường Nguyên và sự nghiệp của ông

Trang 16

- Tập hợp tư liệu, thực hiện khảo sát, thống kê và phân loại các tác phẩm trong thơ Ma Trường Nguyên

- Miêu tả những đặc điểm về mặt hình thức và từ vựng - ngữ nghĩa trong các tác phẩm thơ Ma Trường Nguyên

- Chỉ ra phong cách, những nét văn hóa, cái nhìn của tác giả trước hiện thực được đề cập trong thơ của ông, được thể hiện qua chất liệu ngôn ngữ

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê – phân loại: Được sử dụng để thu thập và phân loại, tìm ra các quy luật xuất hiện của các câu thơ, bài thơ chứa đựng hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu trong ngôn ngữ nghệ thuật

- Phương pháp miêu tả : Được sử dụng để miêu tả các đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Ma Trường Nguyên

6 Đóng góp của luận văn

và ngôn ngữ trong thơ tốt hơn

Vì vậy, kết quả luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh khi cần đọc – hiểu tác phẩm văn chương nói chung và thơ Ma Trường Nguyên nói riêng

Trang 17

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,

nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn

Chương 2: Đặc điểm về hình thức trong thơ Ma Trường Nguyên

Chương 3: Đặc điểm về ngữ nghĩa trong thơ Ma Trường Nguyên

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm chung

1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì: “Ngôn ngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này có ý nghĩa rộng hơn nhằm chỉ một cách bao quát các hiện tượng ngôn ngữ được dùng một cách chuẩn mực trong các văn bản nhà nước, trên báo chí, đài phát thanh, trong văn bản và khoa học”[16; tr 125]

Theo cuốn Lí luận văn học ( Phương Lựu chủ biên), Ngôn ngữ nghệ thuật

là: “ một hệ thống các phương thức, quy tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật Người ta có thể nói “ngôn ngữ ba lê”,

“ngôn ngữ chèo”, “ngôn ngữ điện ảnh” Cũng có thể nói đến ngôn ngữ nghệ thuật của sáng tác văn học trên cấp độ đó”[24; tr 185] Ngôn ngữ nghệ thuật

còn được gọi là ngôn ngữ văn học, chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương Ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hóa Ngôn ngữ ấy đã được chọn lọc, gọt rũa, trau chuốt và đặc biệt ngôn ngữ ấy phải đem lại cho người đọc những cảm xúc thẩm mỹ, xúc cảm được nhận biết thông qua những rung động tình cảm Điều này khác hẳn với những cảm xúc khoa học – những rung động thông qua suy lý và chứng minh

Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật là một yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Và ngôn ngữ nghệ thuật chính là ngôn ngữ nhân dân, ngôn ngữ dân tộc được tác giả vận dụng tổ chức trong tác phẩm để tạo ra hiệu quả và giá trị thẩm mỹ

Trang 19

1.1.1.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Người nghệ sĩ tài năng là người nghệ sĩ biết sáng tạo “chất liệu” ngôn ngữ của dân tộc để làm nên tác phẩm của mình, xây dựng hình tượng nghệ thuật của riêng mình và tạo cho mình một giọng điệu riêng, một phong cách riêng, không nhầm lẫn được Cho đến nay, giới nghiên cứu lý luận văn học vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về phong cách nghệ thuật của nhà văn Chỉ biết rằng phong cách chỉ dùng cho những nhà văn từng trải cách viết đã định hình, đã khẳng định trên văn đàn

Theo quan niệm của Hegel: “ phong cách bao hàm tính chất độc đáo và cả tính võ đoán mang ý nghĩa cảm hứng chủ quan của nghệ sĩ Khái niệm phong cách là phương tiện biểu hiện, hay có khi là quy luật nghệ thuật của một loại hình nghệ thuật nào đó như phong cách thơ, phong cách nhạc kịch”[18; tr 37] Nhà ngôn ngữ học Đào Thản cho rằng: "Những nét biến hóa riêng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ nhằm mục đich diễn đạt nội dung Nó bao gồm các yếu tố được luôn luôn tái hiện và hình thành bền vững trong ngôn ngữ”

[32; tr 60]

Trong văn chương Việt Nam cổ không có những khái niệm hay thuật ngữ

về lý luận văn học một cách rõ ràng về phong cách Tuy nhiên, sách bàn về thơ,

“sách nói chuyện làm thơ”, dưới tên gọi “thi thoại”, đã được Nguyễn Dữ đề cập

từ thế kỷ XVI qua Kim Hoa thi thoại kí, một trong những truyện hư cấu trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục Cuộc nói chuyện thơ giả tưởng giữa ba nhà thơ đương

thời Ngô Chi Lan, Phù Thúc Hoành, Thái Thuận, mang dáng dấp bàn về “phong cách các nhà thơ”, tưởng như thật hoang đường những khá thực tế trong lịch sử

văn học: “ Thơ của ông Chuyết Am kỳ lạ mà tiêu tao; thơ ông Vu Liêu mạnh mẽ khích động; thơ ông Tùng Xuyên như chàng trai xông trận, có vẻ sấn sổ; thơ ông Cúc Pha như một cô gái chơi xuân, có vẻ mềm yếu”[7;tr 219] Từ một số quan

Trang 20

niệm ta có thể hiểu: Phong cách là tính độc đáo thống nhất đa dạng của sự sáng tạo nghệ thuật đã đến độ chín muồi của người nghệ sĩ Phong cách gắn liền sáng tạo của nhà văn, nhà thơ Những nhà văn, nhà thơ có phong cách ngôn ngữ là những người biết sử dụng ngôn ngữ toàn dân, của dân tộc để tạo nên một giọng điệu riêng, một chất giọng riêng không hề nhầm lẫn mà được mọi ngưòi thừa nhận Chất giọng riêng ấy trưóc hết thể hiện ngôn ngữ, sự sáng tạo ngôn ngữ Sự sáng tạo ngôn ngữ này chính là sự đóng góp của nhà văn làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ của dân tộc Bởi vậy, khi khảo sát phong cách ngôn ngữ nhà văn, nhà thơ chính là khảo sát chất giọng riêng của nhà văn, nhà thơ, tìm ra qui luật riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ và sự đóng góp của nhà văn, nhà thơ ấy trên phương diện ngôn ngữ Cần hiểu phong cách ngôn ngữ chính là sự đi “chệch” một cách nghệ thuật so với toàn thể nói một cách khác nhà văn, nhà thơ có phong cách là người biết chọn một đường đi, một lối cảm nhận, một cách diễn đạt ở trình độ nghệ thuật cao Sự đi chệch ấy trong phong cách học gọi là sự lệch chuẩn ngôn ngữ nhằm taọ ra một đặc trưng không giống

ai, không thể nhầm lẫn với bất cứ ai ở những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi

Bên cạnh thành tựu nghiên cứu phong cách của Lí luận văn học, không thể không đề cập những bước tiến của Phong cách học - một khoa học chuyên ngành của Ngôn ngữ học Đặt nhiệm vụ nghiên cứu mọi phong cách chức năng của lời nói, Phong cách học không thể né tránh ngôn ngữ văn chương Và trong

các thuộc tính của ngôn ngữ văn chương, tính cá thể là điều được nhấn mạnh

Đó là cơ sở để nói đến khái niệm phong cách ngôn ngữ của tác giả trong tác

phẩm văn học Nó không hề mâu thuẫn với quan điểm của các nhà lí luận khi

họ xem phong cách là biểu hiện của sự độc đáo, cá biệt của một nhà văn Như

vậy, bên cạnh khái niệm phong cách nghệ thuật, còn tồn tại khái niệm phong cách ngôn ngữ của tác giả Xét trong tương quan, phong cách ngôn ngữ là sự

biểu hiện rõ nét, sinh động của phong cách nghệ thuật

Trang 21

1.1.2 Ngôn ngữ thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ

thuật Do đó ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữ của văn học nghệ thuật

Nếu xét về phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một đặc trưng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ ca

Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khác nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi Jacobson đã từng nói rằng:

“chức năng của thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp” [22; tr 83], ông nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ

thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp Bên cạnh đó, trên các nguyên lí của

F de Saussure trong giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Jacobson còn chỉ ra trong thơ hình thức ngữ âm là vô cùng quan trọng Ông nhấn mạnh các yếu tố

âm thanh như âm vận, điệp âm, điệp vận, khổ thơ,… là những đơn vị thuộc bình diện hình thức Có thể nói, đây là những cơ sở xuất phát quan trọng trong việc nhận diện ngôn ngữ thơ Trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh cũng đã dựa vào lí thuyết hệ hình để xem xét thơ từ phương thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình, để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất Ông còn nêu ra lí thuyết trường nét dư Trong đó tác giả chỉ ra rằng để thiết lập nên các tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp, nhà thơ phải sử dụng đến thao tác loại bỏ trường nét dư, chính là quá trình hình thành thể thơ Nét dư được loại bỏ càng nhiều thì hàm lượng thông tin

Trang 22

càng cao và càng đòi hỏi ở người tiếp nhận năng lực tiếp nhận và kết cấu “lạ”

do việc loại bỏ các yếu tố ngôn ngữ có hàm lượng thông tin thấp mà ra

Về cách tổ chức của ngôn ngữ thơ, tác giả Hữu Đạt đã diễn đạt một cách

cụ thể rằng đó là “được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ” [8, tr 25]

Từ những cách hiểu về ngôn ngữ thơ ca nói trên, ta có thể đi đến kết luận: Trong một phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một tập hợp nói chung các đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo tổ chức riêng của thơ ca

1.1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ

Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạo văn học nghệ thuật Vì vậy ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữ văn học, là ngôn ngữ mang tính

nghệ thuật được dùng trong văn học Đặc trưng của ngôn ngữ thơ là: “tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm” [16; tr 183]

Xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ được biểu hiện là một chùm đặc trưng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hoá, khái quát hóa hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ Đặc trưng của thơ được thể hiện trên ba bình diện ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp

Trang 23

phụ âm) Những đơn vị này được khai thác để tổ chức bài thơ Và cũng chính những đơn vị này tạo nên âm hưởng, tiết tấu và nhạc điệu trong thơ: khi du dương, khi trầm bổng, khi dìu dặt ngân nga, khi dồn dập Vì thế khi khai thác tính nhạc trong thơ chúng ta cần chú ý những đối lập sau:

- Sự đối lập về trầm / bổng, khép/ mở của các nguyên âm làm đỉnh vần

- Sự đối lập vang / ồn giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh

trong các phụ âm cuối

- Sự đối lập về cao/ thấp, bằng /trắc giữa các thanh điệu

Bên cạnh sự đối lập đó, cần phải chú ý đến vần và nhịp bởi hai yếu tố này cũng góp phần quan trọng trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca Tính nhạc trong ngôn ngữ đưa thơ ca xích lại gần với âm nhạc Vì vậy, mà từ

xa xưa, nhiều hình thức ca hát dân tộc đã lấy thơ ca dân gian làm chất liệu sáng tác âm nhạc, và trong nền âm nhạc hiện đại, nhiều bài thơ được các nhạc sĩ phổ

nhạc thành công như: Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, Đợi của Vũ Quần Phương, Em đi chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Biển nỗi nhớ và em của

hình dung: "Vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp người đọc được thuận miệng, nghe thuận tai và làm cho người nghe dễ thuộc,

dễ nhớ" [5; tr 215]

Trang 24

Vần còn là yếu tố quan trọng tạo nên sự hoà âm giữa các câu thơ Đơn vị biểu diễn vần trong thơ tiếng Việt là âm tiết, trong các vần thơ bao giờ cũng có

sự cộng hưởng, sự hoà xướng với nhau của hai âm tiết có vần Sự hiệp vần giữa

âm tiết này với âm tiết khác tạo sự hòa âm cho các cặp vần Ngoài ra, nói đến tác dụng hoà phối, kết hợp, tương hỗ của các yếu tố cấu tạo âm tiết còn phải kể đến sợ hòa xướng, đối lập nhau giữa các yếu tố tương ứng giữa hai yếu tố hiệp vần Đó là sự hòa âm giữa hai thanh điệu của âm tiết này với âm tiết kia; giữa

âm chính, âm cuối của âm tiết này với âm chính, âm cuối của âm tiết kia Vì vậy âm tiết của tiếng Việt có vai trò rất lớn trong việc xác lập các vần thơ Tất

cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam, trong đó, thanh điệu và âm chính, âm cuối là yếu tố chính tham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ

Trong thơ, vần được phân loại theo ba cách: theo vị trí các tiếng hiệp vần, theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần và theo đường nét thanh điệu trong các tiếng hiệp vần Theo vị trí các tiếng hiệp vần, thơ Việt Nam có hai

loại vần: vần chân và vần lưng Theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần, trong thơ phân biệt vần chính và vần thông Theo đường nét thanh điệu trong các tiếng hiệp vần, truyền thống thơ Việt Nam đã phân biệt vần bằng và vần trắc

a 2 Về nhịp điệu

Có thể hiểu nhịp điệu là điệu tính được tạo ra từ sự luân phiên các ngữ

đoạn ngữ lưu Theo F de Sausure: "Dòng âm thanh chỉ là một đường thẳng, một dải liên tục trong đó thính giả không thấy sự phân chia nào đầy đủ và chính xác, muốn có sự phân chia như vậy phải viện ý nghĩa Nhưng khi đã biết cần phải gắn cho mỗi bộ phận của chuỗi âm thanh một ý nghĩa và một vai trò

gì thì ta sẽ thấy những bộ phận đó tách ra và cái dải vô hình kia sẽ phân ra từng đoạn" [30; tr 9]

Trang 25

Như vậy, nhịp điệu của giao tiếp thông thường được hình thành từ tính phân phối ngữ nghĩa Trong thơ, nhịp điệu là kết quả hoà phối âm thanh được tạo ra từ sự ngắt nhịp Nhịp điệu chỉ cách thức nhất định khi phát âm hay còn gọi là sự ngắt nhịp Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phân thành hai loại

là ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lí Nhịp thơ gắn kết tình cảm, cảm xúc,

là những ngân vang trong tâm hồn nhà thơ Các trạng thái xúc động, rung cảm, cảm xúc đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn và tổ chức của câu thơ Hai loại nhịp này có khi hoà quyện vào nhau, có khi tách bạch tuỳ vào cấu trúc ngôn từ của dòng thơ, thể thơ và cảm hứng của nhà thơ Như vậy, nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chu kì, cánh quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng nghỉ, ngắt hơi trên những đơn vị cơ bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí cả đoạn thơ Yếu tố tạo nên nhịp điệu là những chỗ ngừng nghỉ trong sự phân bố mau thưa theo sự chuyển định của thể thơ hoặc theo sự đa dạng của cảm xúc, thi hứng Nhịp thơ khác với nhịp văn xuôi Nhịp thơ không hoàn toàn trùng với nhịp cú pháp Trong một số thể thơ cách luật, ngắt nhịp bị chi phối bởi yếu tố tâm lý và cấu trúc âm điệu Cách ngắt nhịp, tạo nhịp trong thơ hết sức đa dạng, muôn màu muôn vẻ, tùy vào từng bài thơ cụ thể Nhịp trong thơ thể hiện bản sắc của từng nhà thơ, bộc lộ cá tính thi ca rõ nét

Ví dụ: Trong thơ lục bát, sự ngắt nhịp trước hết diễn ra dưới áp lực của vần lưng và xu hướng tăng song tiết hoá của tiếng Việt Vì vậy, trong thể thơ này lúc nào cũng chứa một loại nhịp đặc thù là nhịp tâm lý Nhịp này xuất hiện khi bối cảnh không đủ sức cho nhịp lẻ tồn tại Nhịp tâm lý có nguồn gốc từ sự đồng hóa nhịp lẻ bởi tính nhịp nhàng của nhịp đôi trong dòng thơ và giữa các cặp 6/8 với nhau Nhịp chẵn 2/2/2; 2/2/2/2 và tiết tấu nhịp đôi đã hình thành từ lâu và trở thành nét đặc trưng của tiếng Việt Loại nhịp này dễ dàng tương hợp với mỗi dòng thơ lục bát vốn có số tiếng chẵn Tuy nhiên, không loại trừ nhịp

lẻ mặc dù loại nhịp này không có tính ưu thế vì người Việt vốn ưa cân đối, hài

Trang 26

hoà Nếu nhịp lẻ có xuất hiện thì cũng ưu tiên nhịp lẻ cân đối 3/3, sau đó mới đến các loại nhịp lẻ khác

Trong thơ tự do, có những câu thơ rất gần gũi với văn xuôi song lại có sức ngân vang rất lớn Hiệu quả đó là do nhà thơ đã có ý cho vào đó một số âm tiết làm cho câu thơ dài và trùng với đơn vị cú pháp của văn xuôi, làm cho người đọc có cảm tưởng như đang bơi trên một dòng chảy không dứt của một chuỗi ngôn từ đầy ấn tượng, câu thơ có sức ngân vang rất lớn Theo tác giả Mai

Ngọc Chừ thì nhịp điệu là "tiền đề cho hiện tượng gieo vần" [6, tr.28] Nhịp

điệu là kết quả hòa phối âm thanh, liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạc tính, tạo ra sự trầm bổng trong thơ

Như vậy, vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm không thể thiếu trong ngôn ngữ thi ca Trong đó tuy vần và nhịp là hai hiện tượng khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ hữu cơ và tương hỗ lẫn nhau, cái này là tiền đề của cái kia Chúng bổ sung cho nhau tạo nên một bộ mặt hoàn chỉnh của những yếu tố hình thức thơ ca

a3 Về thanh điệu

Thanh điệu được thể hiện đồng thời với các âm vị khác trong âm tiết Sự thể hiện của chúng do đó ít nhiều chịu sự tác động của các âm vị cấu thành âm tiết Sự phân bố của các thanh điệu phải được xét trong mối tương quan với các thành phần âm tiết

Âm đầu kết hợp với phần vần lỏng lẻo, nó không tham gia vào việc bảo đảm trường độ cố định của âm tiết Ở những âm tiết bắt đầu bằng phụ âm hữu thanh, đường nét điển hình cho mỗi thanh điệu nằm ở phần vần Sự thể hiện và

do đó sự phân bố thanh điệu ít liên quan đến âm đầu.Âm đệm, ngoài âm vị zêrô

ra, tiếng Việt chỉ có một bán nguyên âm [-u -] đảm nhiệm thành phần này Cũng như âm đầu nó ít ảnh hưởng đến sự phân bố của các thanh điệu

Trang 27

Âm chính kết hợp với âm cuối tạo nên âm hưởng cơ bản của âm tiết Nếu

âm cuối là phụ âm tắc - vô thanh thì sự thể hiện âm điệu bị hạn chế, vì một phần trường độ của âm tiết về cuối là một khoảng im lặng Những thanh điệu nào mà đường nét âm điệu đòi hỏi phải có một thời gian thích đáng mới thể hiện được tính đặc thù của mình, thì không thể nào xuất hiện trong điều kiện như thế được

Nếu âm cuối là âm mũi, bán nguyên âm hay âm vị zêrô thì đường nét âm điệu đặc trưng cho từng thanh điệu có điều kiện thể hiện được đầy đủ Rõ ràng

là sự phân bố của các thanh phụ thuộc nhiều vào thành phần âm cuối

Thanh không dấu, thanh huyền có đường nét âm điệu bằng phẳng Đường nét này yêu cầu có một trường độ nhất định mới bộc lộ được tính chất bằng phẳng của chúng Do đó hai thanh này không bao giờ được phân bố trong các âm tiết có âm cuối vô thanh

Thanh sắc và thanh nặng có đường nét không bằng phẳng nhưng đơn giản - một – trái với các thanh ngã, hỏi trong tư thế đối lập “đổi hướng - không đổi hướng” về đường nét của âm điệu, nếu như một vế đã được xác định rõ nét

ở thanh ngã và thanh hỏi, tức là đường nét đổi hướng của hai thanh được thể hiện đầy đủ, thì vế kia không cần thiết phải được minh xác hoàn toàn trong cách thể hiện nữa Nghĩa là tính chất một hướng của âm điệu ở các thanh sắc, nặng không cần phải bộc lộ một cách chi tiết trong cách phát âm kéo dài Vì vậy, hai thanh sắc nặng có thể được phân bố ngay cả trong những âm tiết có âm cuối tắc – vô thanh /p, t, k/

b Về ngữ nghĩa

Thơ là một loại hình nghệ thuật đặc thù Ngôn ngữ thơ là một phương diện hình thức góp phần đặc biệt quan trọng làm nên phong cách, diện mạo của thơ Vì vậy, ngôn từ khi đưa vào thơ đều đã được sự lựa chọn của tác giả

Trang 28

Từ ngữ khi đi vào thơ hoạt động rất đa dạng, linh hoạt và biến hoá Văn xuôi không hạn chế số lượng âm tiết, từ ngữ, câu chữ, còn trong thơ, tuỳ theo từng thể thơ mà ngôn ngữ có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc và ngữ nghĩa, ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà được xác lập những nghĩa mới tinh tế, đa dạng hơn nhiều Chính vì thế, mỗi từ ngữ trong thơ chứa đựng sức mạnh tiềm tàng, ẩn chứa những thông điệp thẩm mĩ tinh tế, sâu sắc Vì vậy, ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong văn xuôi và trong giao tiếp hàng ngày Trong thơ mỗi đơn vị ngôn từ đều chứa tất cả mọi giá trị sáng tạo mang tính nghệ thuật ngoài giá trị ý niệm chung của ngôn từ

Dù nhịp điệu đóng vai trò quan trọng trong thơ song một mình nó không thể tạo nên giá trị bài thơ Ngữ nghĩa và ngữ âm là hai mặt cơ bản để cấu thành tác phẩm thi ca Điều kì diệu của ngôn từ trong thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ vừa gọi tên sự vật vừa gợi những liên tưởng khiến người đọc phát hiện ra những nét tiềm tàng mà trong giao tiếp hàng ngày không có được Đó là sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói riêng Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ khơi gợi và thực hiện chức năng thẩm mỹ Các đơn vị ngôn ngữ trong bài thơ phải được lựa chọn sắp xếp theo những cách thức nhất định của

từng nhà thơ Hiệu quả biểu đạt theo nguyên tắc ý tại ngôn ngoại là mục đích

muôn đời của thi ca Cho nên, khi nghiên cứu ngôn ngữ thi ca ta phải chỉ ra được các phương thức tạo lập những đơn vị ngôn ngữ có hiệu quả biểu đạt cao, tức là có giá trị tu từ Đặc trưng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ đối với người đọc, người nghe Bởi đến với thơ, chúng ta không chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà bằng cả tình cảm, cảm xúc, bằng trí tưởng tượng, liên tưởng và bằng điệu tâm hồn Điều đó làm cho ngôn ngữ thơ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn đóng vai trò tiếng nói nội tâm đồng điệu Trong quá trình vận động của ngôn ngữ thơ, cái biểu hiện và cái được biểu hiện

đã xâm nhập chuyển hoá vào nhau tạo nên cái khoảng không ngữ nghĩa vô cùng cho thi ca

Trang 29

c Về ngữ pháp

Nếu như Phan Ngọc từng cho rằng: "Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản" [26, tr.18], thì sự “quái đản” đó trước hết thể hiện rõ trong bình diện ngữ pháp của ngôn ngữ thi ca

Đầu tiên, đó là sự phân chia ranh giới các dòng thơ Có người quan niệm mỗi dòng thơ tương ứng với một câu thơ nhưng trong thực tế ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, có dòng thơ lại bao gồm nhiều câu thơ Các thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự Các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự bình thường và điều này khác với văn xuôi Đặc điểm này được thể hiện rất rõ trong thơ ca hiện đại ở hiện tượng câu vắt dòng

Cấu trúc trong ngôn ngữ thơ thường không tuân theo quy tắc bắt buộc và chặt chẽ như câu trong văn xuôi và ngữ pháp thông dụng Do vậy, nhà thơ có quyền sử dụng những kiểu câu như đảo ngữ, tách biệt Câu vắt dòng, câu trùng điệp mà không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận văn bản Mặt khác, chính nó lại mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thi ca Chính

sự quái đản về cú pháp của ngôn ngữ thơ giúp nhà thơ diễn đạt được những lớp

nghĩa phức tạp, tinh tế vô cùng của sự vật trong sự hữu hạn của câu chữ và tạo nên phong cách của từng nhà thơ

Tóm lại, qua ba cấp độ về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp, ta thấy ngôn

ngữ thơ ca là ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, nó không chỉ là sản phẩm thể hiện tài năng, sáng tạo của tác giả mà còn là đối tượng không kém phần lý thú của người đồng sáng tạo Với đặc trưng nghệ thuật ấy, ngôn ngữ thơ ca có khả năng

vô tận trong việc khám phá, miêu tả những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới tâm hồn con người

1.1.3 Các khái niệm về nghĩa, trường từ vựng, thể, vần, nhịp , dòng, khổ, đoạn, tiêu đề và biểu tượng

Trang 30

1.1.3.1 Khái niệm “nghĩa”

Khái niệm về nghĩa là một trong những khái niệm phức tạp và khó có câu trả lời thống nhất trong ngôn ngữ học hiện nay Có quan niệm cho rằng nghĩa là khái niệm tồn tại gắn với từ ở trạng thái tĩnh, trạng thái hệ thống, nhưng cũng có quan điểm cho rằng nghĩa bao gồm cả hai trạng thái - tĩnh và động…

Theo Từ điển tiếng Việt thì “nghĩa” có hai cách hiểu: “1 Nội dung diễn đạt của một kí hiệu, đặc biệt của kí hiệu ngôn ngữ: giải nghĩa từ; tìm hiểu nghĩa của câu ca dao 2 Cái nội dung làm thành giá trị: điều đó cũng chẳng có nghĩa gì; trở thành vô nghĩa”[29; tr 678]

Còn theo cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học giải thích về

nghĩa như sau:

“1 Sự phản ánh đối tượng của hiện thực (các hiện tượng các quan hệ, phẩm chất, quá trình) vào trong nhận thức trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ tạo nên mối quan hệ thường trực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định nhờ đó sự phản ánh hiện thực trong nhận thức được thể hiện thực hóa Sự phản ánh hiện thực này tham gia trong mặt nội dung trong quan hệ với mặt âm thanh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa và thông báo

nó cho người khác, mà cần thiết cho chính sự hình thành, nảy sinh, tồn tại và phát triển của nó”

2 Toàn bộ các chức của toàn bộ các đơn vị ngôn ngữ; tất cả những điều được các đơn vị ngôn ngữ này biểu hiện phản ánh là mặt nội dung của chúng

Ví dụ: Nghĩa chuyển; nghĩa số lượng; nghĩa nguyên nhân”[21; tr 26]

Nghĩa của từ không thể là một thực thể độc lập với ngôn ngữ trong đó tồn tại, mà chỉ là một khái niệm về sự vật khách quan được phản ánh vào trong mặt ngôn ngữ Mặt được biểu đạt, tức nghĩa của từ được xác định bởi những mối quan hệ của chúng với những từ khác trong hệ thống Nói cách khác, nghĩa của từ là một tập hợp các nét khu biệt (còn gọi là nét nghĩa, hay nghĩa vị) Đó là

Trang 31

những tiêu chí mà tiếng nói giữ lại để nhận biết một loại đối tượng nào đó trong những vật thể của hiện thực Như vậy, nghĩa của từ là một cấu trúc có thể phân xuất ra những yếu tố cấu tạo nhỏ nhất, giống như các nét khu biệt trong âm vị học Ví dụ: Nghĩa của từ anh trong tiếng Việt gồm các nghĩa vị: “đàn ông”,

“sinh trước”,”trong quan hệ gia đình với người cùng thế hệ:…v.v

Trong cuốn 777 khái niệm ngôn ngữ học của tác giả Nguyễn Thiện Giáp

quan niệm về nghĩa như sau:

“ Nghĩa của từ (cũng như của các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của

từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân đó Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó hiển thị cái gì” [12; tr 102]

Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, trước hết, khi nói đến nghĩa là nói đến nghĩa của một cái gì đó đã biết, đã tiếp nhận Dùng thuật ngữ cua F.de Saussure và rộng hơn cách hiểu thông thường, cái biểu đạt không chỉ là những vật cảm tính như vỏ ngữ âm của một từ, một câu, một hình vẽ, màu sắc mà còn

có thể là những hiện tượng trong cuộc sống, những hiện tượng vật chất, những hiện tượng tinh thần, một hành động, một việc làm, kể cả một cách thức nói năng, thậm chí còn có thể là một ý nghĩa của một câu đã biết (nội dung câu hỏi, nội dung lời thanh minh…) Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, có thể dùng thuật ngữ

“ngoại biểu” thay cho thuật ngữ “cái biểu đạt” của F de Saussure

Như vậy, có thể hiểu về nghĩa theo quan niệm rộng là toàn bộ nội dung, thông tin mà người nói/viết muốn truyền đạt thong qua một đơn vị ngôn ngữ nào đó và bằng một cách thức nhất định

Qúa trình hình thành nghĩa của từ như sau: Sự vật, hiện tượng trong thực

tế khách quan phản ánh vào trong tư duy của con người thành khái niệm (về sự vật, hiện tượng) Các khái niệm đó đi vào hệ thống ngôn ngữ, được ngôn ngữ hóa, trở thành nghĩa của từ

1.1.3.2 Khái niệm “trường từ vựng”

Trang 32

Trường từ vựng là một lĩnh vực nghiên cứu từ vựng học xuất hiện từ những năm 20 – 30 của thế kỷ XX Lí thuyết này bắt nguồn từ những tiền đề duy tâm của trường phái W Humboldt và phần nào từ những tư tưởng của F.de Sausure về tính cấu trúc của ngôn ngữ Tư tưởng cơ bản của lí thuyết này

ngôn ngữ học là hai nhà ngôn ngữ học người Đức J Trier và L Weisgerber

Theo Trier, “Một từ chỉ có ý nghĩa khi nằm ở trong trường, nhờ những quan hệ của nó với các từ khác cũng thuộc trường ấy Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toàn thể Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, ngược lại mỗi một từ có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó”(dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp,

đó, tác giả lại phân chia trường nghĩa dọc thành trường biểu vật và trường biểu niệm rồi đến trường tuyến tính và trường liên tưởng Phân biệt trường từ vựng

và trường nghĩa, tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: “Trường nghĩa là phạm vi những đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về ý nghĩa”; còn “Trường

Trang 33

từ vựng của một trường nghĩa là tập hợp những từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc trường nghĩa này”[11; tr 437]

Theo Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp: “Trường ngữ nghĩa (còn được gọi là trường từ vựng) là những tiểu hệ thống, những tổ chức của từ vựng, gồm những từ ngữ có quan hệ về nghĩa với nhau một cách có hệ thống” [25; tr 339]

Ví dụ: Các từ: bố, mẹ, ông, bà, cụ, kị, tổ, anh, chị, em, cô, dì, chú, bác, cậu, mợ, cháu, chắt… lập thành trường ngữ nghĩa những từ chỉ quan hệ thân tộc

Theo Đỗ Việt Hùng thì: “Các đơn vị từ vựng không tồn tại tách biệt, rời nhau

mà luôn có những mối quan hệ nhất định Điều đó làm cho từ vựng không thuần túy chỉ là tập hợp các từ và đơn vị tương đương với từ mà còn là một hệ thống với những mối quan hệ nhất định Một trong những mối quan hệ mà các nhà khoa học thường tập trung làm rõ là quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ vựng Các từ ngữ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa (hay

là trường từ vựng hoặc trường từ vựng – ngữ nghĩa)”[20; tr 10]

Cho đến nay, dường như chưa có một sự nhất trí cao về khái niệm trường từ vựng – ngữ nghĩa Vì vậy, dựa theo những quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi nhận thấy một cách hiểu chung về từ trường từ

vựng – ngữ nghĩa để làm cơ sở cho việc nghiên cứu: “Mỗi một tập hợp từ có quan hệ với nhau về nghĩa (meaning) như vậy tạo thành một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là “trường từ vựng”, “trường nghĩa” hay “trường từ vựng - ngữ nghĩa” [10; tr 38] Ví dụ: Trường từ vựng chỉ bộ phận của con người bao gồm các từ: đầu, mình, chân, tay, mắt, miệng, da, răng, lưỡi, tim, phổi, họng, ruột, gan, dạ dày…Có thể hình dung khái niệm trường trường từ vựng - ngữ

nghĩa bằng một ví dụ sau đây: Trường ý niệm về người hay con người bao gồm các nhóm từ chỉ các mối quan hệ về nghĩa với nó như: Về giới tính có các từ:

nam, nữ, gái, trai, đàn ông, đàn bà, Về tuổi tác có các từ như: trẻ con, thiếu nhi, nhi đồng, thanh niên, trung niên, phụ lão, Về ngoại hình có các từ: cao, thấp, béo, gầy, lùn, dong do ̉ng , què, cụt, khập khiễng, gù, Về hoạt động có

Trang 34

các từ : đi, nói, cười, ăn, nằm, học, chơi, nhìn, ngó, ném, đá, chạy, nhảy, đứng, ngồi, Về nghề nghiệp co ́ các từ: công nhân, nông nhân, giáo viên, học sinh, bác sĩ, nghệ sĩ, kỹ sư, thầy thuốc,

Đến lượt mình, mỗi từ trong một nhóm từ như vây lai có thể kết hợp với những từ trong nhóm khác làm thành ma ̣ng lưới các mối quan hê ̣ gồm nhiều tầng bâc rất phứ c tap Ví dụ, trong tiểu trường về hoạt động của con người lại

có thể phân loại thành các nhóm trường nhỏ hơn nữa như:

- Hoạt động chân tay như: đi, đứng, chạy, đạp, sút, tát, đấm, đá, ném, xô, đẩy, kéo, giật, lôi, co, vác, phóng, lao, lia,

- Hoạt động bằng miệng như: nói, hát, ho, kêu, gào, hét, la, mắng, thổi, huýt,

- Hoạt động trí óc như: nghĩ, nghĩ ngợi, tư duy, nghiền ngẫm, suy tư, suy tưởng, suy luận, suy sét, suy đoán, phán xét, suy nghĩ, phán đoán,

1.1.3.3 Khái niệm "thể thơ"

Sự lựa chọn thể loại văn học nói chung, thể thơ nói riêng đều xuất phát

từ sự đòi hỏi của nội dung từ cái nhìn của tác giả, nói cách khác là cái “tông, tạng” trên trục lựa chọn của mỗi tác giả Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng:

"Mỗi thể loại có nội dung riêng của nó, nội dung ấy chỉ thích hợp với một quan điểm nhìn nhất định" [26; tr 18]

Riêng với thơ, đến nay có thể kể đến các thể thơ như: thơ Đường luật, thơ hai chữ, thơ ba chữ, thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ lục bát, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi… Mỗi thể loại đều có ưu thế và nhược điểm riêng, có thể loại chỉ thịnh hành trong một giai đoạn nhất định, có thể loại

đi suốt hành trình thơ Việt, có thể loại đóng khung trong một hình thức cố định, có những thể loại rất linh hoạt và có những biến tấu đa dạng Sự phân

Trang 35

định các thể loại được tiến hành chủ yếu dựa trên các yếu tố: số tiếng của mỗi dòng, số dòng thơ, cách phối thanh và hiệp vần

- Một số khái niệm về các thể thơ nổi bật :

+ Thể thơ năm chữ: là một trong những thể thơ truyền thống của Việt

Nam Trong công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Bùi Văn Nguyên

- Hà Minh Đức đã khẳng định: thể thơ này "phổ biến trong trong tục ngữ và hát giặm Nghệ Tĩnh" [ 27, tr 156] Với số lượng mỗi dòng năm tiếng, thể thơ năm

chữ đã hình thành từ văn học dân gian, phổ biến là câu đố, vè, tục ngữ và hát dặm Nghệ Tĩnh Các bài hát giặm gồm nhiều khổ thơ năm chữ, theo nhịp 3/2, là một thể ca gieo vần lưng và vần chân (chủ yếu là vần chân) Vần chân trong hát giặm có hai chức năng: vần bằng liên kết với các câu trong một khổ với nhau Từ đầu thế kỉ XX, thể thơ này được khá nhiều nhà thơ sử dụng để sáng tác, tạo nên nhiều thi phẩm có giá trị nghệ thuật

+ Thể thơ bảy chữ và tám chữ: là hai thể thơ khá phổ biến trong tục ngữ,

ca dao, dân ca người Việt và một số truyện thơ Tày Nùng Ở đây, cần phân biệt thể thơ bảy chữ của Việt Nam với thể thơ thất ngôn của Trung Quốc Khác với thể thơ thất ngôn của Trung Quốc, thể thơ bảy chữ trong thơ Việt có những nét riêng Nếu nhịp của thể thơ thất ngôn là nhịp 4/3 thì nhịp trong thơ bảy chữ của người Việt là nhịp 3/4 Nếu vần trong thơ thất ngôn thường là vần chân thì vần trong thơ bảy chữ của người Việt có thể là vần liền, vần chân và vần lưng Nếu như lời thơ trong thơ cổ nói chung, thơ thất ngôn nói riêng là lời thơ "siêu cá thể" - lời "vô chủ thể" (theo cách nói của Lixêvich) thì lời thơ trong thơ bảy chữ của người Việt là lời thơ của một chủ thể sáng tạo có cá tính độc đáo Thể thơ bảy chữ và thể thơ tám chữ là hai thể thơ được sử dụng khá nhiều trong thơ Việt hiện đại, đặc biệt là trong phong trào Thơ mới

+ Thể thơ lục bát: là thể thơ truyền thống tiêu biểu của dân tộc, nói như

Trần Khánh Thành: "Thơ lục bát là nhịp thở giống nòi" (dẫn theo Bùi Thị Báu [1;

Trang 36

tr.1]) Thơ lục bát là một thể tổ hợp giữa một câu 6 chữ (câu lục) và một câu 8 chữ (câu bát), mỗi bài thơ có số câu không hạn định, có bài chỉ có một cặp câu (gồm 2 câu thơ), có bài dài đến hàng trăm hàng nghìn câu Âm luật của thể thơ lục bát mang những đặc trưng của ngữ âm tiếng Việt, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày,

có sự luân phiên bằng trắc cân đối, trầm bổng hài hoà Nhịp thơ đều đặn như hơi thở, dễ đọc, dễ ngâm, dễ thuộc Dòng lục và dòng bát kết hợp hài hoà với nhau cả bằng vần chân và vần lưng, âm trước gọi âm sau, câu trước rủ câu sau, vừa quấn quýt, vừa đưa đẩy trôi đi trong điệu nhạc uyển chuyển êm đềm

Trong thơ ca dân gian, thể thơ lục bát được sử dụng phổ biến trong ca dao, dân ca và các làn điệu tuồng, chèo, các bài hát vè, các tập diễn ca Trong văn học

Việt Nam thế kỷ XVIII, thể thơ lục bát đạt đến đỉnh cao trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du Đã có những tác giả ghi dấu ấn của mình trong thể thơ này

như Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy… và trong dòng chảy lịch sử của thể thơ dân tộc, Ma Trường Nguyên đã tiếp nối thế hệ các nhà thơ đi trước, tạo nên những vần thơ lục bát vô cùng giản dị, tự nhiên và đằm thắm, lắng sâu và da diết, gợi nhiều suy tư, trăn trở về tình yêu, cuộc sống và con người

+ Thể thơ tự do: là thể thơ “không bị ràng buộc vào các quy tắc nhất định về số câu, số chữ, về niêm, luật, vần, đối…”[28; tr 318] Nó phân biệt với thơ văn xuôi ở chỗ “văn bản có phân dòng và xếp song song thành hàng, thành khổ như những đơn vị nhịp điệu, có thể có vần” [28, tr.318-319] Thơ tự do

xuất hiện ngay từ khi phong trào thơ Mới ra đời và ngày càng được khẳng định

vị trí của mình trong nền thơ hiện đại với nhiều tìm tòi mới Thơ tự do là thể thơ không tuân theo những quy tắc về cách luật cố định Thơ tự do phóng túng trong cách biểu đạt, nhịp điệu khoáng đạt được cấu tạo bằng những câu thơ tự nhiên, đa dạng về tổ chức kết cấu, có số lượng từ ngữ co giãn linh hoạt Về mặt hình thức, thơ tự do có thể có vần nhưng nó không trở thành một quy tắc chặt chẽ mà nhịp điệu lại nổi lên như một yếu tố chủ đạo Nhịp điệu ở đây không do

Trang 37

các yếu tố cách luật xác định như trong thơ Đường, thơ lục bát…mà do những quy tắc nội tại, cảm xúc của nhà thơ

Sự phát triển của thơ tự do là để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thơ ca phải

đi sâu vào các đề tài rộng lớn của cuộc sống, bắt nhịp với hơi thở thời đại Thơ

tự do không phải là hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác, mà là một hình thức định trước của các nhà thơ tìm đến với độ chín của tâm hồn, tìm thấy ở đó sự diễn tả phù hợp nhất cho những trạng thái tinh vi của đời sống tinh thần, tình cảm, cho những đối tượng mà mình tâm đắc nhất

1.1.3.4 Khái niệm "vần thơ"

Khi bàn về thơ, không thể không nói tới vần, bởi vần là yếu tố khách quan hiển nhiên và phổ biến trong bất cứ nền thơ ca của bất kỳ một dân tộc nào Thơ ca truyền thống có hệ thống thi pháp hết sức chặt chẽ, đòi hỏi người làm thơ phải tuân thủ nghiêm ngặt Trong đó, thơ phải có vần và gieo vần đúng qui định là một trong những nguyên tắc có tính quy phạm cao của luật thơ Do

đó, khi sáng tác các nhà thơ luôn ý thức điều ấy như một sự tự giác Ngày nay, thơ có sự cách tân về nhiều mặt, đặc biệt là có sự nới lỏng về thi pháp, vần trong thơ cũng không chịu sự bó buộc như trước Tuy vậy, vần vẫn là một yếu

tố quan trọng trong thơ Trong lịch sử phát triển của thơ ca, các nhà nghiên cứu

đã chú ý khảo sát, tìm hiểu định nghĩa về vần, song cho đến nay vẫn chưa tìm được tiếng nói thống nhất Có thể dẫn ra một số ý kiến tiêu biểu của Dương

Quảng Hàm, các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học và Mai Ngọc Chừ

Xét vần trong cấu trúc hình thức của câu thơ, bài thơ, nhà nghiên cứu

Dương Quảng Hàm định nghĩa: “Vần (chữ Nho là Vận) là những tiếng thanh

âm hoà hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu thơ để hưởng ứng nhau” [15; tr.143]

Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: vần là “một phương tiện tổ chức văn bản dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở

Trang 38

những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa, liên kết của các dòng thơ và giữa các dòng thơ” [16; tr 192]

Từ góc độ ngôn ngữ học, Mai Ngọc Chừ trong công trình Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học đã định nghĩa về vần như sau: “Vần là sự hòa âm, cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [5; tr.12]

Như vậy, dù còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trên một số điểm: vần là sự hoà âm, cộng hưởng theo những quy luật ngữ âm nhất định, có tác dụng liên kết dòng thơ, nhấn mạnh sự ngừng nhịp, tạo nên tính hài hoà cho bài thơ

Như vậy, có thể ví vần như là những chiếc cầu bắc qua các dòng thơ để nối chúng lại với nhau thành từng đoạn, từng khổ, từng bài hoàn chỉnh Nói cách khác, vần là thứ chất liệu cổ truyền không thể thiếu trong cấu tạo và sử dụng ngôn ngữ

Trong thơ Việt Nam, đơn vị hiệp vần chính là âm tiết Theo Mai Ngọc Chừ:

"Tất cả các yếu tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt và hoà âm trong thơ Sự kết hợp chặt chẽ giữa âm đầu, âm chính, âm cuối có

vai trò quyết định đến sự hoà âm của các tiếng hiệp vần với nhau" [5; tr 91]

Về vấn đề phân loại vần thơ, nhìn chung các tác giả đều thống nhất phân loại vần theo 3 cách: theo vị trí các tiếng hiệp vần, theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần và theo đường nét của thanh điệu trong các tiếng hiệp vần

- Thơ Việt Nam có hai loại vần: vần chân và vần lưng

- Theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần trong thơ Việt Nam phân biệt vần chính, vần thông và vần ép

- Theo đường nét thanh điệu, trong các tiếng hiệp vần truyền thống thơ Việt Nam phân biệt vần bằng, vần trắc

Trang 39

1.1.3.5 Khái niệm "nhịp thơ"

Vần tuy là một yếu tố quan trọng trong thơ nhưng không bắt buộc phải

có trong mọi bài thơ, thể thơ nhất là trong thơ tự do Trong khi đó sự tồn tại của nhịp một yếu tố có mối liên hệ khăng khít với vần lại mang tính tất yếu, phổ quát Là một bộ môn nghệ thuật, cũng như âm nhạc văn học nói chung cũng như thơ ca nói riêng bao giờ cũng quan tâm đến vấn đề nhịp điệu, bởi nếu như không có nhịp điệu, người ta không thể nhận thức nổi, nhận thức đúng về nội quy của một chuỗi âm thanh, chuỗi ngôn ngữ được phát ra Tuy vậy cho đến nay vần chưa có một định nghĩa thống nhất, phổ quát về nhịp nói chung và nhịp thơ nói riêng Có thể nêu lên một số cách hiểu về nhịp sau đây:

- Theo Gô gôn: “Nhịp, bản thân sự chuyển động của thơ, sự tổng hợp giữa ngữ điệu, cách láy, chổ ngừng và cách đảo đó là một ma thuật có tác dụng làm say mê và lôi cuốn mạnh mẽ với bạn đọc Âm thanh mạnh mẽ, đa dạng của thơ cũng như âm nhạc có tổ chức làm chấn động, khêu gợi tâm tình, không có cái đó thì thơ có mang theo tư tưởng sâu sắc bao nhiêu cũng không dẫn đến ấn tượng cần thiết” (dẫn theo Hồ Văn Hải, [14; tr 52]) Đưa ra định nghĩa này, Gô

gôn dường như đã đồng nhất nhịp (điệu) với nhạc điệu Trong thực tế, nhịp điệu và nhạc điệu là không đồng nhất Nhịp chỉ là một nhân tố tạo nên nhạc điệu Nhịp điệu là phương tiện, còn nhạc điệu là hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện trong đó có nhịp điệu

Theo Hà Minh Đức, nhịp chỉ là một yếu tố cấu thành nhịp điệu: “Nhịp điệu trong một bài thơ không chỉ bộc lộ ở cách ngắt thành những đoạn tiết tấu

mà do nhiều nhân tố tạo thành Thanh điệu của từ, thanh điệu của đoạn tiết tấu, vần thơ… đều tham gia vào tổ chức nhịp điệu” [9, tr 384]

Trong công trình Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức cho rằng: "nhịp điệu là sự láy lại một cách đều đặn

Trang 40

và nhịp nhàng những đoạn tiết tấu của câu thờ mà sự sắp xếp những tiết tấu đó lại do quy luật của thanh điệu chi phối Nhịp rất linh hoạt và cơ động tạo thành

do sự phối hợp những quy luật riêng về âm thanh Thể thơ là những hình thức biểu hiện cụ thể và xác định của nhịp” [27, Tr 236]

Từ những ý kiến trên, có thể hiểu nhịp chỉ là một nhân tố của nhịp điệu Theo đó, nhịp thơ được hiểu là sự lặp lại có tính chất chu kì, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt trên những đơn vị văn bản như câu thơ

1.1.3.6 Khái niệm về "dòng thơ", "khổ thơ", "đoạn thơ"

- Về dòng thơ: Sự phân chia dòng thơ là đặc điểm quan trọng nhất của ngôn ngữ thơ Dòng thơ là đơn vị nhỏ nhất có giá trị độc lập trong tổ chức một tác phẩm thơ Câu trong văn xuôi được xác định tính từ chữ cái viết hoa đầu dòng đến dấu chấm hết câu, còn trong thơ, cách xác định đó không hoàn toàn chính xác Thông thường, số âm tiết của dòng thơ phải bằng nhau (4 chữ, 5 chữ, 7 chữ…), như thế giữa dòng trên và dòng dưới sẽ có một sự cân xứng Độ dài của dòng thơ phụ thuộc vào đặc điểm ngôn ngữ để người nghe, người đọc

dễ dàng tiếp nhận

- Về khổ thơ: Khổ thơ là sự phối hợp của các dòng thơ Các khổ thơ thường có số dòng tương ứng nhau (4 dòng hoặc 5 dòng) và số chữ tương đối đều nhau Khi trình bày thành văn bản, các khổ thơ trong một bài thơ đứng nối tiếp nhau và được phân cách bằng môt khoảng thừa trắng Trong những bài thơ ngắn, khổ thơ có thể trùng với đoạn thơ Về mặt hình thức, đoạn thơ cũng giống như khổ thơ tức là cũng có sự hài hòa cân đối nào đó

- Về đọan thơ: Thuật ngữ đoạn thơ được dùng để nói đến một số khổ thơ, dòng thơ thể hiện một ý, một nội dung trọn vẹn Bởi vậy, số lượng dòng thơ trong một đoạn thơ không ổn định như trong một khổ thơ mà có thể ngắn dài

Ngày đăng: 21/08/2017, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w