Trong một số bài nghiên cứu về đề tài người nông dân trong sáng tác của Nam Cao, các tác giả tuy đã ít nhiều đề cập tới yếu tố văn hóa nông thôn nhưng lại chưa nhấn mạnh đến yếu tố này..
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CAO THỊ THU HẰNG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA NÔNG THÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CAO THỊ THU HẰNG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA NÔNG THÔN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS Phong Lê
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Mọi số liệu, tư liệu cũng như kết quả nghiên cứu là của riêng tôi
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nam, ngày 5 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Hằng
Xác nhận của khoa chuyên môn Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
GS Phong Lê
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới
GS Phong Lê - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô, giáo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân
đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Hà Nam, ngày 5 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Cao Thị Thu Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4.1 Mục đích nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1 8
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Nông thôn Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa 8
1.1.1 Khái niệm về “văn hóa” và “văn hóa nông thôn” 8
1.2 Khái quát về văn hóa nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ XX 13
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 14
Tiểu kết chương 1 19
Chương 2 20
DẤU ẤN VĂN HÓA NÔNG THÔN TRONG NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN NAM CAO 20
2.1 Nông thôn và người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao 20
2.1.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp Nam Cao 20
2.1.2 Đề tài nông thôn và người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao 22
2.2 Phong tục tập quán 24
2.2.1 Tục hôn nhân 24
2.2.2 Tục tang ma 28
2.3 Trật tự nông thôn 30
Trang 62.4 Tập tục sinh hoạt 35
2.4.1 Thói quen ăn uống 35
2.4.2 Trang phục và ngành nghề truyền thống 38
2.4.3 Xây dựng nhà ở 41
2.5 Giao tiếp và ứng xử 43
2.5.1 Lối sống đậm tình nghĩa cùng những thói xấu của người nông dân 43
2.5.2 Sự tế nhị, ý tứ trong giao tiếp 50
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 7Không chỉ dừng lại ở những yếu tố phong tục, tập quán như một số nhà văn khác, Nam Cao đi sâu vào những yếu tố văn hóa đã ăn sâu vào tâm thức người Việt và kết hợp nó với sự biến động dữ dội của xã hội hiện đại mà khái quát nên bi kịch của con người Để khám phá toàn diện vấn đề này chúng ta không chỉ đặt nó trong hoàn cảnh xã hội đương thời mà cần nhìn nhận qua lăng kính của văn hóa nông thôn Các công trình nghiên cứu về Nam Cao rất nhiều,
Trang 8tuy nhiên dưới góc độ về văn hóa thì chưa có được sự nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện
Tìm hiểu truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám từ góc độ văn hóa sẽ giúp cho việc giảng dạy các tác phẩm của ông ở các cấp học được sâu sắc hơn
Một yếu tố thuộc về phía cá nhân khi chọn Nam Cao để nghiên cứu là bởi tôi có vinh dự là người cùng chung quê hương với nhà văn Sinh ra và lớn lên ở Hà Nam, một mảnh đất đồng chiêm trũng, quanh năm ngập úng, tôi hiểu được cái đói,cái nghèo, cuộc sống quẩn quanh lam lũ của con người quê tôi và đặc biệt là văn hóa nông thôn đồng bằng Bắc Bộ còn nhiều điều phải bàn Nhắc đến Hà Nam có lẽ điều khiến người ta nhớ nhất chính là Nam Cao, tôi tự hào, tôi hãnh diện vì điều đó
Chọn “Truyện ngắn Nam Cao, từ góc nhìn văn hóa nông thôn”làm đề tài
nghiên cứu,chúng tôi mong muốn đem đến một cái nhìn hệ thống và toàn diện
về con người và sự nghiệp của Nam Cao, trên cơ sở đó khẳng định vị trí và đóng góp của ông trong nền văn học hiện đại Việt Nam
Trong một số bài nghiên cứu về đề tài người nông dân trong sáng tác của Nam Cao, các tác giả tuy đã ít nhiều đề cập tới yếu tố văn hóa nông thôn nhưng lại chưa nhấn mạnh đến yếu tố này Có chăng các tác giả chỉ nhắc đến một vài yếu tố và vai trò của nó trong từng tác phẩm chứ chưa khái quát một cách toàn
Trang 9diện Trong bài viết Thứ nhất sợ kẻ anh hùng (đi tìm ẩn số nghệ thuật truyện (Chí Phèo), tác giả Đỗ Lai Thúy cũng đã đề cấp đến tính chất đóng kín của cấu
trúc nông thôn Việt Nam và phân tích kĩ tác động của nó tới tâm thức nhân vật:
“… Tính chất đóng kín là một hằng số nghệ thuật của truyện ngắn này Nó chẳng những đổ bóng vào không gian và thời gian truyện, hằn dấu trên số phận các nhân vật, mà còn khớp đúng với thực tiễn của làng xã Việt Nam, nhất
là ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ trước Cách mạng tháng Tám năm bốn nhăm.” [51, tr.218] Tuy nhiên ở đây, tác giả mới chỉ dừng lại ở vài nét tâm lí của người nông dân trong tác phẩm Chí Phèo như tâm lí hám danh, an phận, sự
nhận thức về cái tôi…
Trong bài viết Các mối quan hệ xã hội trong làng Vũ Đại, tác giả Đức Mậu cũng có đề cập đến không gian nông thôn khép kín và các mối quan hệ cạnh tranh của nó: “Từ con người, tính cách, địa vị xã hội, đời sống vật chất tinh thần cùng các mối quan hệ giữa những con người ấy là sản phẩm của cái làng đóng kín vùng đồng bằng Bắc Bộ” [50, tr.245] Tác giả cũng tập trung thể
hiện quan hệ thống trị - bị trị của Bá Kiến với Chí Phèo, quan hệ tranh chấp giữa Bá Kiến và Đội Tảo nhưng chưa có sự khái quát các mối quan hệ này
Giáo sư Phong Lê khi viết về những dị dạng của nông thôn Việt Nam
trong truyện ngắn Nam Cao cũng nhấn mạnh : “Những con người dị dạng bẩm sinh hoặc do hoản cảnh, ta thường thấy ở nông thôn, như một hiện tượng dị biệt, lại như bổ sung để tô đậm thêm cảnh sống mù xám, trì độn và kinh rợn của nó, đến trực tiếptừ sự bần cùng, hoặc sự lưu cữu và hậu quả của những thói hủ tục lạc hậu” (Nam Cao - văn và đời,Lời giới thiệu Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, Hà Nội 1987) Trong bài viết Nam Cao nhìn từ cuối thế kỉ, tác giả Phong Lê cũng có viết: “Vũ Đại - không chỉ gợi một đơn vị làng với những
ao chuôm, những lũy tre, những vườn chuối, giàn trầu quen thuộc mà còn là sự biểu hiện chung cho sự phong bế, trì trệ, nhếch nhác của bất cứ một quần thể
cư dân nào, cả nông thôn và thành thị.” [39, tr.116] Như vậy, tác giả bài viết
Trang 10đã có lưu ý đến sự khép kín, lạc hậu của nông thôn Việt Nam Nó tạo nên những mẫu người dị biệt sau lũy tre làng
Tác giả Hà Minh Đức trong bài viết Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của Nam Cao cũng cho thấy sự xung đột của không gian làng
xã với văn minh thành thị : “Thứ trong “Sống mòn” là một nhân vật mà hành trình đi khá xa từ làng quê đến những thành phố xa xôi như sài Gòn, rồi Hà Nội và cuối cùng lại bị thành thị khước từ để ném trở về quê” [50, tr.88]
Gần đây là công trình Làng quê Việt Nam trong văn xuôi hiện thực trước
1945 của Nguyễn Kim Hồng Trong khi khảo sát một mảng rộng của văn học
Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám ở những nhà văn như Ngô Tất Tố, Tô Hoài…tác giả đã nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa là phong tục, tập quán Tuy
nhiên với Nam Cao thì ông mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tâm lí những kiếp lầm than của người nông thôn, nêu lên số phận của con người làng quê
chịu tác động của hoàn cảnh xã hội đương thời mà chưa nhấn mạnh đến những nét tâm lí ở tầng sâu văn hóa của con người nông thôn Nói chung, công trình mới khái quát được chiều rộng làng quê Việt Nam trong sáng tác trước 1945 còn chiều sâu văn hóa vẫn bỏ ngỏ
Qua các công trình nghiên cứu kể trên, chúng tôi thấy việc tìm hiểu các tác phẩm của Nam Cao dưới góc nhìn văn hóa nông thôn còn chưa thật thấu đáo Các tác giả mới chỉ dừng ở mức độ khái quát qua một vài dấu hiệu của văn hóa nông thôn và cũng chưa làm rõ sự tác động của nó đến đời sống con người Chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn có một cách tiếp nhận toàn diện hơn, đầy đủ hơn với các sáng tác của Nam Cao qua góc nhìn văn hóa
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Nghiên cứu Truyện ngắn Nam Cao từ góc nhìn văn hóa nông thôn luận
văn chủ yếu tập trung khảo sát các truyện ngắn viết về đề tài người nông dân của Nam Cao trước 1945
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu những yếu tố văn hóa có trong sáng tác của Nam Cao qua thể loại truyện ngắn Đặc biệt tìm hiểu về những nét đẹp văn hóa cũng như những hủ tục lạc hậu nơi làng quê để từ đó thấy những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nam Cao góp phần làm sáng rõ sức sống văn chương ông Trên cơ sở đó, chúng tôi hi vọng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao, khẳng định những giá trị đích thực, những cống hiến to lớn của ông cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ giá trị của truyện ngắn Nam Cao từ phương diện văn hoá nông thôn trên các phương diện về nội dung và nghệ thuật, từ đó đưa ra được hướng tiếp cận mới cho các sáng tác của Nam Cao đồng thời thấy được những đóng góp của Nam Cao cho văn xuôi hiện đại Việt Nam giai đoạn
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Kết hợp kiến thức từ các lĩnh vực, các bộ môn, chuyên ngành có liên quan sẽ giúp cho vấn đề nghiên cứu được sâu rộng, toàn diện và sâu sắc hơn
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Sử dụng phương pháp này để so sánh với một số truyện ngắn, tiểu thuyết của các nhà văn cùng thời để làm rõ những vấn đề cần giải quyết Đồng thời qua đó để nhận diện và khẳng định phong cách nghệ thuật của Nam Cao
5.4 Phương pháp phân tích tổng hợp
Các phương pháp trên sẽ được kết hợp sử dụng linh hoạt trong quá trình nghiên cứu để làm sáng rõ vấn đề
6 Những đóng góp của luận văn
- Tìm hiểu một cách có hệ thống về những yếu tố văn hoá nông thôn trong truyện ngắn Nam Cao thông qua nội dụng và nghệ thuật của các tác phẩm
- Làm rõ được tài năng, sáng tạo của Nam Cao khi đưa những yếu tố văn hoá vào các sáng tác của mình
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được triển khai gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
Nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao dưới góc nhìn văn hóa chúng tôi bắt đầu với việc xác định các khái niệm nội hàm : Văn hóa, đặc trưng của văn hóa nông thôn Việt Nam
Chương 2: Dấu ấn văn hóa nông thôn trong nội dung truyện ngắn Nam
Cao
Trang 13Trong chương này chúng tôi đề cập đến các vấn đề thuộc về nội hàm văn hóa trong truyện ngắn Nam Cao như phong tục tập quán, cách tổ chức xã hội…Qua đó để thấy được những nét đẹp, thuần phong mĩ tục cũng như những hạn chế của các hủ tục lạc hậu đang đè nặng lên vai người nông dân Đó là những biểu hiện cụ thể của văn hóa ở nông thôn trong phạm vi hiện thực được phản ánh
Chương 3: Dấu ấn văn hoá nông thôn trong nghệ thuật truyện ngắn Nam
Cao
Nói đến truyện ngắn Nam Cao, ngoài yếu tố thuộc về nội dung thì không thể không nói đến nghệ thuật trong truyện ngắn của ông Những nét đặc sắc nghệ thuật đã làm nên một nét rất riêng, rất Nam Cao
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Nông thôn Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa
1.1.1 Khái niệm về “văn hóa” và “văn hóa nông thôn”
Thế khỉ XXI, thế kỉ của sự hội nhập và phát triển về mọi mặt, sự đổi thay khiến con người ta thấy bất ngờ Và trong sự vui mừng đón nhận nhịp điệu của cuộc sống mới, chúng ta vẫn luôn chạnh lòng khi những giá trị thuộc về văn hóa truyền thống đang dần bị mai một, đang dần bị lãng quên trong thế hệ trẻ
mà sự ảnh hưởng của nó không chỉ ở các thành phố lớn, nó đang len lỏi vào sâu từng ngóc ngách ở nơi làng quê xưa vốn thanh bình Cũng chính bởi vậy mà khái niệm về “văn hóa” được nhắc đến nhiều hơn
“Văn hóa” vốn không còn là khái niệm xa lạ nhưng nó được biết nhiều hơn, được phổ biến rộng rãi hơn trong thế kỉ này Có rất nhiều định nghĩa về
“văn hóa” được các nhà nghiên cứu đưa ra, mỗi định nghĩa đều đề cập đến những khía cạnh, những đặc trưng của văn hóa UNESSCO đã đưa ra một khái
niệm về văn hóa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”
GS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở Văn hóa Việt Nam cũng đưa ra nhận định của mình về “văn hóa”, theo ông “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn , trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” Cũng theo đó Edouard Herriot, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp đã có câu nói bất hủ “Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” [47, tr.i]
Trang 15Có thể thấy rằng, trong quá trình phát triển của loài người, của một quốc gia, văn hóa có một vị trí vô cùng quan trọng, là yếu tố sống còn
Nhận thức được điều này, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói “văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh” [47, tr.i]
Từ những nhận định của các nhà nghiên cứu có thể thấy : Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là sự tổng hòa của tất cả các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh Văn hóa tồn tại cả hữu thức và vô thức trong mỗi con người
Để hiểu về khái niệm “văn hóa nông thôn” trước hết chúng ta đi tìm hiểu về khái niệm “nông thôn”
Nông: là chỉ nghề nông nghiệp
Thôn: Là từ Hán Việt chỉ đơn vị hành chính cấp dưới xã, là một phần của làng hoặc tương đương với một làng nhỏ
Như vậy có thể thấy, nông thôn là khu vực hành chính mà ở đó cư dân
sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, lấy sự phát triển nông nghiệp làm đầu Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng, Việt Nam có nhiều vùng miền, nhiều dân tộc khác nhau bởi vậy mà nông thôn ở từng vùng , từng miền lại có những đặc điểm khác nhau Ở đây, chúng tôi chỉ nghiên cứu nông thôn thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, vốn là vùng nông thôn với những đặc điểm tiêu biểu nhất, rất ổn định và mang tính khái quát cao Nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ mang những đặc trưng văn hóa của người Việt, đây cũng là nơi mà các sáng tác của Nam Cao tập trung hướng đến
Qua đó có thể thấy, văn hóa nông thôn là tất cả những giá trị thuộc về mặt vật chất cũng như tinh thần tồn tại trong không gian nông thôn , những giá trị ấy được bảo lưu từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trang 161.1.2 Đặc trưng cơ bản của văn hóa nông thôn Việt Nam
1.1.2.1 Tính cộng đồng
Việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau tạo nên tính cộng đồng Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới những người khác - nó là đặc trưng dương tính, hướng ngoại
Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là hình ảnh sân đình, bến nước, cây đa Làng nào cũng có một cái đình, đây chính là trung tâm văn hóa, chính trị của cả làng Đây là nơi diễn ra nhiều hoạt động quan trọng từ hội họp, thu sưu thuế cho đến việc diễn ra các lễ hội văn hóa như diễn chèo, tuồng Không chỉ vậy, đình còn là trung tâm về mặt tôn giáo, nơi đây thờ Thành Hoàng làng, bảo vệ cho cả làng Chính vì giữ những vị trí quan trọng như vậy
mà hình ảnh mái đình còn chi phối tình cảm của những con người nông thôn Nhắc đến nông thôn, đặc biệt là những ai đi xa khi nhớ về quê hương của mình
họ thường nghĩ ngay đến mái đình chứ không phải ngôi nhà của mình:
Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
Bên cạnh cái đình làng, hình ảnh cây đa, bến nước cũng là một biểu tượng quen thuộc ở nông thôn Nếu bến nước là nơi hàng ngày những người phụ nữ giặt giũ, chuyện trò thì cây đa lại có quán nước, là nơi nghỉ chân của những người đi làm đồng, những khách qua đường Nơi đây họ trò chuyện, giao lưu, gặp gỡ nhau để từ đó gắn kết hơn với mọi người trong làng và với cả thế giới bên ngoài
Do đặc trưng lối sống của nông thôn là tính tập thể, bởi vậy con người nơi đây luôn đoàn kết gắn bó với nhau như anh em trong gia đình Trong quan hệ ứng xử giữa con người với nhau từ gia đình đến làng xóm đều theo nguyên tắc trọng tình Do quá trình sản xuất nông nghiệp đòi hỏi con người phải sống gắn bó và lâu dài với nhau tạo ra một cuộc sống hòa
Trang 17thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu Cũng vì thế mà bên cạnh những mặt tích cực từ lối sống này tạo nên thì nó cũng nảy sinh không ít những tiêu cực Lối sống trọng tình đã dẫn đến cách ứng xử hết sức linh hoạt và thích ứng nhanh với điều kiện hoàn cảnh cụ thể:
Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài
hay
Đi với bụt mặc áo cà sa
Đi với ma mặc áo giấy
Với nhu cầu sống hòa thuận trên cơ sở cái gốc là tình cảm giữa con người với nhau trong làng xóm càng làm cho lối sống linh hoạt trở nên đậm nét
và chính là cơ sở của tâm lý hiếu hòa trong các mối quan hệ xã hội dựa trên sự tôn trọng và cư xử bình đẳng với nhau Lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ
là những đặc điểm tích cực, nhưng mặt trái của nó là đặc điểm tâm lý áp đặt,
tuỳ tiện, tâm lý "hòa cả làng", coi thường phép nước: "Phép vua thua lệ làng"
Sức mạnh của tính cộng đồng còn thể hiện hiện ở tinh thần đùm bọc, yêu thương nhau Mọi người có trách nhiệm cưu mang, hỗ trợ nhau nhau về vật
chất, tinh thần và dìu dắt, làm chỗ dựa cho nhau về chính trị (Một người làm quan cả họ được nhờ) Tuy nhiên, cũng vì sự đoàn kết gắn bó mà ý thức về cá
nhân bị thủ tiêu dẫn đến thói quen dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số đông đưa
đến tình trạng Cha chung không ai khóc là điều rất phổ biến Cũng từ đó, một
nhược điểm của của người nông dân là tâm lý cào bằng, đố kỵ, không muốn
cho ai hơn mình (để cho tất cả mọi người đồng nhất, như nhau) - Xấu đều hơn tốt lỏi
Như vậy có thể thấy, tính cộng đồng trong lối sống của người Việt có rất nhiều điểm tích cực Chính đặc trưng văn hóa này đã tạo nên truyền thống tốt đẹp, tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết để đấu tranh chống giặc ngoại xâm Tuy nhiên, cũng không thể không nói đến những tiêu cực do đặc
Trang 18trưng này tạo ra vì vậy cần phải điều chỉnh lối sống sao cho phù hợp để giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc
1.1.2.2 Tính tự trị
Nông thôn Việt Nam với nét tiêu biểu là cấu trúc làng xã mà sản phẩm đặc trưng chính là tính tự trị: làng nào biết làng ấy, các làng tồn tại khá biệt lập với nhau và phần nào biệt lập với triều đình phong kiến Chính điều này tạo nên
truyền thống Phép vua thua lệ làng Đây là đặc trưng âm tính, hướng nội Biểu
hiện rõ nhất của tính tự trị trong văn hóa nông thôn Việt Nam đó là hình ảnh lũy tre Lũy tre bao kín làng tạo một thành trì kiên cố bất khả xâm phạm
Cũng giống như tính cộng đồng, tính tự trị cũng mang lại nhiều mặt tích cực Đầu tiên đó là tính tự lập, mỗi làng, mỗi tập thể phải tự lo liệu lấy mọi việc Bên cạnh đó, tính tự trị cũng tạo nên đức tính cần cù cho người nông dân Việt Nam Sở dĩ có điều này vì mỗi làng phải tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình Mặt khác, vì tính tự trị này mà người nông dân Việt Nam
đã nảy sinh nhiều thói xấu Mỗi người chỉ biết lo, biết giữ của riêng mình Ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ Vì làng nào biết làng ấy nên đã nảy
sinh bè phái, địa phương cục bộ:
Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Một thói xấu nữa nảy sinh từ tính tự trị là óc gia trưởng tôn ti Chính điều này trở thành một vật cản đáng sợ cho sự phát triển của xã hội Nó càng trở nên nghiêm trọng hơn khi mà thói gia đình chủ nghĩa đang là một căn bệnh lan tràn Những người đàn ông đứng đầu gia đình thường tự mình quyết định mọi việc,
áp đặt tâm lý lên các thành viên khác, tạo nên những thứ bậc vô lý
Đặc điểm môi trường sống đã quy định tính cách của con người Việt Nam, đặc biệt là những người ở nông thôn khi cuộc sống gắn liền với nông nghiệp lúa nước Họ vừa có tinh thần đoàn kết tương trợ lại có óc tư hữu ích kỉ
và thói cào bằng Vừa có tính tập thể hòa đồng lại vừa có óc gia trưởng tôn ti, vừa có tinh thần tự lập lại vừa xem nhẹ vai trò cá nhân, vừa có tính cần cù và
Trang 19nếp sống tự cấp tự túc vừa có thói dựa dẫm ỷ lại Tất cả những cái tốt và cái xấu ấy đều tồn tại thành từng cặp trong mỗi người; bởi lẽ nó bắt nguồn từ hai đặc trưng trái ngược nhau là tính cộng đồng và tính tự trị Tùy lúc tùy nơi mà mặt tốt mặt xấu sẽ được phát huy; khi đứng trước những khó khăn lớn, những nguy cơ đe dọa sự sống còn của cộng đồng thì mặt tích cực nổi lên sẽ là tinh thần đoàn kết và tính tập thể; khi những nguy cơ ấy đi qua rồi thì thói tư hữu và
óc bè phái địa phương có thể nổi lên
1.2 Khái quát về văn hóa nông thôn Việt Nam đầu thế kỉ XX
Bởi những đặc trưng của mình mà văn hóa nông thôn tương đối ổn định,
dù là mặt tích cực hay tiêu cực, nó đều được lưu giữ sau lũy tre làng mà ít có sự biến động Tuy nhiên, trong tiến trình lịch sử của dân tộc, có những giai đoạn diễn ra những biến động dữ dội, điều này khiến cho văn hóa nông thôn không tránh khỏi sự ảnh hưởng đó, nhiều giá trị văn hóa của vùng nông thôn gìn giữ lâu đời bị thay đổi hoặc thậm chí bị mất đi Nguyên nhân của sự biến động này chính là quá trình xâm lược của thực dân Pháp vào nước ta kể từ nửa sau thế kỉ XIX
Đầu thế kỉ XX, khi thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm lược nước ta chúng bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa Sự thay đổi về mặt cấu trúc của nông thôn chính là hệ quả của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Pháp tích cực đầu tư vào nước ta để phục vụ cho mục đích bóc lột của chúng, dưới sự tác động đó nhiều đô thị đã mọc lên kéo theo cả những hệ lụy của nó Bên cạnh việc được tiếp xúc với nền văn minh Châu Âu hiện đại thì những lố lăng , những trò dởm trong xã hội cũng được hình thành Nông thôn
là nơi ít chịu ảnh hưởng của cuộc khai thác song không phải là không có mà khía cạnh đều tiên chịu ảnh hưởng đó chính là nền văn hóa truyền thống ở nông thôn, nó tạo nên những biến đổi trong lối sống, trong tính cách và trong tâm hồn con người Việt, những người nông dân xưa nay vốn thật thà chất phác
Trang 20Khi đô thị mở rộng và phát triển thì không gian nông thôn không còn là một không gian khép kín sau lũy tre làng, không còn là cây đa, giếng nước, mái đình mà thay vào đó người nông dân đã biết rộng hơn, biết xa hơn cái vùng quê nơi mình ở Họ được tiếp thu cả những văn minh lẫn cặn bã của xã hội thuộc địa, bởi vậy mà quan niệm, cách nhìn của họ cũng thay đổi, làng quê không thể trói buộc được họ nữa, họ đã bắt đầu có tư tưởng hướng ngoại Khi mà văn minh nơi đô thị tác động đến vùng nông thôn thì những giá trị văn hóa truyền thống bị biến dạng ghê gớm, trở nên kì quái hơn bao giờ hết giữa sự giao thoa của nông thôn và thành thị, của Châu Âu và Châu Á Người nông dân trước kia khi bị bần cùng, bị áp bức đến cùng cực thì họ cũng không dám nghĩ đến việc rời khỏi lũy tre làng, nhưng bây giờ họ đã nghĩ đến việc “thoát li” đi ra thành phố để kiếm sống Sau lũy tre làng không còn là sự bình yên như thuở nào mà thay vào đó là sự biến động dữ dội Những người nông dân vốn hiền lành chất phác, quanh năm chỉ biết đến cái cày cái cuốc, với cây đa, mái đình nay họ lạc lõng giữa cái mới với đủ sự hay dở của xã hội đương thời Nhưng sự đời luôn trớ trêu, những cái xấu luôn được tiếp thu nhanh hơn, họ nhanh chóng vứt bỏ những điều tốt đẹp nơi làng quê để nhận lấy những thứ cặn bã của thành thị và rồi khi trở về làng lại nhân rộng nó ra như một mô hình Chính điều này là nguy
cơ làm rạn nứt những giá trị văn hóa truyền thống được xây dựng từ lâu đời, cũng chính từ việc làm thay đổi, làm mất đi nền văn hóa ấy mà những vùng nông thôn yên bình từ bao đời nay bỗng nảy sinh ra nhiều chuyện mới , nhiều con người mới - những con người kì dị đến khó lường Những sự việc ấy, những con người ấy được phản ánh rất nhiều trong văn học thông qua nhiều khía cạnh, nhiều phương diện đời sống Có thể thấy rằng, sự am hiểu về văn hóa với hai mặt ổn định và biến động là cơ sở để đi sâu tìm hiểu các tác phẩm văn chương nói chung và của Nam Cao nói riêng
1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ và hình tượng để thể hiện con người
và đời sống xã hội, “văn học thời nào cũng phải đặt trong cấu trúc tổng thể của
Trang 21văn hóa, nhưng ở ta xem xét văn học và tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa hiện nay vẫn là vấn đề hết sức mới mẻ Trước đây, văn học và văn hóa bị xem xét một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có đặc trưng loại biệt Bây giờ đặc trưng loại biệt không phải là không còn nhưng trong nhiều cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa đang cho thấy một hướng tiếp cận có hiệu quả Cách tiếp cận này xem văn học như một thành tố trong cấu trúc tổng thể của văn hóa nó truyền tải, lưu giữ được những giá trị văn hóa” [51, tr.3]
Văn học được coi là một sản phẩm của văn hóa tinh thần Vì thế khi nghiên cứu một hiện tượng văn học, nhà nghiên cứu nếu tách khỏi môi trường văn hóa đã sản sinh ra nó sẽ dẫn đến cách hiểu không đúng giá trị đích thực của hiện tượng văn học đó Trước đây, quan hệ văn hóa và văn học được coi là quan hệ tương hỗ Bởi thế, nghiên cứu văn hóa thì văn học được coi như một nguồn tài liệu, còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu Như vậy văn hóa và văn học làm tài liệu nghiên cứu cho nhau Gần đây, sau khi UNESSCO phát động những thập kỉ phát triển văn hóa nên quan hệ văn hóa, văn học được chú ý nhiều hơn Đã có một số tác giả đi theo hướng nghiên cứu này như Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn…và các công trình của M Bakhtin được giới thiệu, các nhà nghiên cứu đã thống nhất văn hóa là nhân tố chi phối văn học Tác giả
Đỗ Lai Thúy đã khẳng định “Văn hóa là một tổng thể , một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có văn học Như vậy, văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Đây là quan hệ bất khả kháng Tuy nhiên, văn học so với các yếu tố khác là một yếu tố mạnh và năng động Bởi thế, nó luôn có xu hướng đi trượt ra ngoài hệ thống Trong khi
đó thì hệ thống, nhất là hệ thống văn hóa, luôn có xu hương duy trì sự ổn định.Như vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hóa là không thể tránh khỏi Nhưng nhờ thế mà văn học có sáng tạo Sáng tạo những giá trị mới cho bản thân nó và cho hệ thống Sáng tạo lớn thì có thể dẫn tới sự thay
Trang 22đổi của hệ thống”[51, tr.3] Lịch sử văn học đã chứng minh, văn hóa chính là
chất liệu để văn học sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của mình
Văn hóa dân gian Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng, có thể nói,
đó là nơi lưu giữ và bảo tồn đầy đủ nhất những giá trị thuộc về văn hóa truyền thống Ở đó, người Việt có thể tìm về được cội nguồn của chính mình qua những lời ru, những câu chuyện cổ tích hay những truyền thuyết, thần thoại từ thuở dựng nước Những phong tục từ xưa đến nay được giữ gìn trong kho báu
văn học dân gian, ta bắt gặp tục ăn trầu trong sự tích trầu cau, ngày tết người Việt ta lại bồi hồi nhớ lại chàng Lang Liêu trong sự tích bánh chưng bánh dầy
Như vậy, các phong tục tập quán, các yếu tố văn hóa được đưa vào văn học, làm đề tài cho văn học Cũng chính vì thế mà nhiều giá trị văn hóa đã chiến thắng được thời gian để tồn tại cho tới bây giờ
Văn hóa thời kì phong kiến cũng được phán ánh sâu sắc qua các tác phẩm văn học Chúng ta thấy được lịch sử qua các trang sách, thấy được cuộc chiến đấu oanh liệt,vẻ vang của ông cha ta trong quá trình dựng nước và giữ nước hay gần gũi hơn là bức tranh dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương, là những trò chơi, những câu đố, tục ngữ… Trước đây khi nghiên cứu thơ trào phúng Hồ Xuân Hương , các nhà nghiên cứu khẳng định thơ bà là sự thể hiện mạnh mẽ bản năng tính dục của con người bị xã hội kìm nén Các nhà nghiên cứu theo quan điểm xã hội học lại khẳng định thơ Hồ Xuân Hương mang giá trị phê phán Nhà thơ đã dùng cái tục như một phương tiện để đả kích xã hội phong kiến thối nát, hạ bệ bọn vua chúa, hiền nhân quân tử dâm ô trụy lạc Tuy nhiên, nếu đọc toàn bộ và đọc kĩ thơ Hồ Xuân Hương chúng ta thấy không phải toàn bộ thơ bà viết ra đều nhằm vào mục đích phê phán đả kích Ở một số bài thơ còn hết lời ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu Muốn hiểu đúng thơ Hồ Xuân Hương phải đặt nó trong văn hóa Việt , có vậy mới tránh được lối hiểu phiến diện , mới thấy được hết ý nghĩa giá trị của thơ bà Thơ Hồ Xuân Hương là trường thơ vừa mang tính văn hóa truyền thống với tín ngưỡng phồn thực vừa
Trang 23mang tính thời sự Từ đó có thể khẳng định rằng, muốn hiểu đúng, hiểu sâu sắc
về một tác phẩm văn học, phải đặt nó trong nền văn hóa mà nó ra đời chứ không chỉ đặt riêng trong hoàn cảnh xã hội
Qua văn học, chúng ta thấy được văn hóa qua từng thời kì lịch sử Tuy
nhiên, văn học không thể phản ánh trực tiếp được văn hóa mà “chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hóa, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa Nhờ thế mà tránh được sự phản ánh “gương”, phản ánh một cách trần trụi Và có lẽ, cũng nhờ thế mà tạo cho văn học một lối phản ánh đặc trưng, phản ánh, như người ta nói, có nghệ thuật” [51, tr.3]
Văn hóa qua từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử lại có một chuẩn mực riêng Bởi vậy, khi thưởng thức một tác phẩm văn học chúng ta hãy đặt nó trong môi trường văn hóa hình thành nên tác phẩm ấy để mà hiểu, mà soi xét Thời kì trung đại chúng ta quen với những lễ giáo phong kiến thì đến thời hiện đại chúng ta lại bắt gặp những cái mới, đó có thể là văn hóa uống trà trong tùy bút của Nguyễn Tuân hay cốt cách người nông dân được đào tạo qua biến thiên cách mạng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, rồi những tín ngưỡng,
những phong tục trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân
Khánh….Có thể nói, văn hóa phát triền theo từng thời kì lịch sử Ở đó, có những giá trị vẫn còn tồn tại nhưng cũng có những giá trị đã mất đi hay dần bị
mai một Chẳng hạn như trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, đó là nỗi xót
xa của tác giá trước một nét văn hóa đang dần bị mai một và cùng với đó là sự suy tàn của xã hội phong kiến Hay với Nguyễn Tuân, ông đã dùng ngòi bút của mình để vẽ lại bức tranh của một thời quá khứ vàng son với những thú vui tao nhã như thưởng trà, ngắm hoa… Thời gian qua đi, nhiều biến cố lịch sử đã đổi thay nền văn hóa của dân tộc, nhưng khi đọc lại những tác phẩm văn học
ấy, chúng ta vẫn như sống lại không khí lịch sử của cả một thời xưa Hiện nay, dưới sự phát triển của khoa học hiện đại và quá trình đô thị hóa, văn hóa nông nghiệp đang dần bị mai một Nó như một hồi chuông cảnh tỉnh về sự mất dần
Trang 24của một nền văn hóa, có lẽ sự biến mất này một phần nào đó là do nó ít được phản ánh trong các tác phẩm văn học Bàn về điều này, tác giả Đỗ Lai Thúy đã
khẳng định “văn học không thể ảnh hưởng tức thời, trực tiếp đến hành động của con người mà chỉ có thể tác động đến con người với tư cách là chủ/ khách thể của văn hóa, làm cho con người biến chuyển rồi mới phát sinh hành động
cụ thể [51, tr.3]
Nói về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, chúng tôi muốn khẳng định việc tìm hiểu văn học dưới góc độ văn hóa là hoàn toàn đúng đắn và mang tính thiết thực Với nhiều tác phẩm văn học, nếu chỉ tìm hiểu trên bình diện đạo đức, thẩm mĩ thì không thể khơi hết được giá trị của nó Bởi vậy, tiếp cận văn học có nhiều con đường nhưng con đường văn hóa là một
phương pháp có nhiều thuận lợi bởi lẽ “nó dẫn người ta đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, cái biết nhiều đến cái biết ít, cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy” [51, tr.3]
Trang 25Tiểu kết chương 1
Qua việc tìm hiểu những khái niệm tiền đề về văn hóa và những đặc trưng của văn hóa, chúng tôi muốn thấy rõ hơn những nét cơ bản trong văn hóa Việt Nam mà biểu hiện rõ nhất chính là văn hóa ở nông thôn với hai đặc trưng
Để hiểu một tác phẩm văn học không chỉ đặt nó trong thời kì lịch sử, trong hoàn cảnh sáng tác mà cần phải tìm hiểu nó trong nét văn hóa đặc trưng Điều này đã được thể hiện rõ ngay cả trong văn học dân gian thông qua những câu ca dao, những bài đồng dao, những truyền thuyết từ xa xưa hay trong văn học trung đại với Hồ Xuân Hương, văn học hiện đại với Nam Cao, Nguyễn Tuân… Từ đó chúng tôi tìm hiểu truyện ngắn của Nam Cao mà cụ thể là trong các sáng tác về đề tài nông thôn và người nông dân dưới góc nhìn văn hóa nông thôn
Trang 26
Chương 2 DẤU ẤN VĂN HÓA NÔNG THÔN TRONG NỘI DUNG TRUYỆN
NGẮN NAM CAO
2.1 Nông thôn và người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao
2.1.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp Nam Cao
Nam Cao là một cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực 1940 -
1945, là người tiên phong trong việc xây dựng nền văn học mới Ông đóng một vai trò quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Cả cuộc đời Nam Cao
là một quá trình phấn đấu không ngừng cho một nhân cách cao đẹp - nhân cách trong cuộc đời và nhân cách trong sáng tạo nghệ thuật Từ hơn nửa thế kỉ qua, con người và sáng tác của Nam Cao đã trở thành đối tượng khảo sát của nhiều
Trang 27thế hệ nghiên cứu phê bình và độc giả Ông là một trong những nhà văn lớn của thế kỉ được nghiên cứu nhiều nhất, liên tục nhất
Cuộc đời Nam Cao khép lại ở tuổi 35 nhưng ông đã để lại cho hậu thế một kho tàng văn chương tuy không đạt mức kỉ lục về số lượng nhưng tác phẩm của ông luôn ẩn chứa những giá trị sâu sắc chứng tỏ sức sống tiềm tàng của một giá trị văn chương vượt lên trên các bờ cõi và giới hạn
2.1.1.2 Sự nghiệp
Trước Cách mạng 1945, tài năng Nam Cao kết tinh trong gần 60
truyện ngắn, một truyện vừa và tiểu thuyết Sống mòn Đây cũng là quãng
thời gian mà cây bút Nam Cao đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp Tuy nhiên, cái đỉnh cao trong ngòi bút của ông không phải được tính bằng số lượng hay độ dài mà là chất lượng, chất lượng về ngôn ngữ nghệ thuật, về tư duy
xã hội và tư duy văn học
Sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tập trung ở hai đề tài: Người trí thức nghèo và người nông dân trong vật lộn với miếng cơm manh áo Xã hội Việt Nam trong thời kì này đang chìm đắm trong đêm trường nô lệ, nhân dân phải sống trong cảnh tối tăm, u ám dưới chế độ thực dân nửa phong kiến Bọn thực dân và phong kiến cấu kết chặt chẽ với nhau nhằm bóp nghẹt đời sống của người nông dân Vì vậy, trong mảng đề tài viết về làng quê Việt Nam, ngòi bút sắc sảo của Nam Cao không chỉ dừng lại ở việc phản ánh những chuyện chướng tai gai mắt, những thói hư tật xấu bề ngoài, ông đã thâm nhập vào sâu trong đời sống của làng quê để thấy được cả một bộ mặt kì dị và quái dở, thấy được cả xã hội nô lệ, lạc hậu để rồi chính cái xã hội ấy đã làm con người tha hóa, biến chất như thế nào
Trang 282.1.2 Đề tài nông thôn và người nông dân trong truyện ngắn Nam Cao
Nam Cao không phải người đầu tiên cũng không phải duy nhất viết về đề tài nông thôn và người nông dân; trước đó độc giả đã biết đến nông thôn và người nông dân Việt Nam trong các sáng tác của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…Là cây bút đi sau, nhưng ông chính là người đưa lên đỉnh cao và kết thúc vẻ vang trào lưu hiện thực Khác với các nhà văn khác khi viết về nông thôn, ông không đứng bên ngoài để nhìn nhận mà đi sâu vào nó để khám phá Trong nhiều tác phẩm của mình, ông để cho nhân vật “tôi” xuất hiện, trực tiếp tham gia vào câu chuyện, chứng kiến mọi sự việc đang diễn ra Có lẽ, cũng vì thế mà bức tranh nông thôn của Nam Cao trở nên chân thực và sinh động hơn
bao giờ hết “Không như Tam Lang, Trọng Lang và một số nhà văn lãng mạn khác, Nam Cao không nhìn người nghèo với con mắt khinh bỉ, giễu cợt nhưng cũng không thi vị hóa, lý tưởng hóa họ Tấm lòng yêu thương nhân đạo và sự hiểu biết sâu sắc về con người, đời sống ở thôn quê đã giúp Nam Cao xây dựng được những hình tượng nông dân sinh động.” [39, tr.476] Nông thôn trong các
sáng tác của Nam Cao không được miêu tả trên diện rộng, không đi sâu vào những hủ tục hay những mâu thuẫn gay gắt nơi làng quê lúc bấy giờ, ngòi bút của ông đi sâu vào từng ngóc ngách của đời sống để mà viết, viết những chuyện vặt vãnh, tủn mủn của đời sống nơi thôn quê nhưng cũng chỉ chừng ấy thôi đã đủ để thấy được bộ mặt của cả một vùng nông thôn Không có những xung đột nhưng bức tranh về nông thôn trong các tác phẩm của Nam Cao vẫn hiện lên rõ nét những đau đớn quằn quại của con người nơi đây Phía sau lũy tre làng vốn không bình yên như những gì người ta vẫn nghĩ mà đó là những
kiếp người sống mòn mỏi, lay lắt trong giành giật miếng cơm manh áo “Khác
Trang 29với Ngô Tất Tố, viết về nông thôn, Nam Cao ít đưa vào những xung đột giai cấp gay gắt và miêu tả trên một bình diện rộng Ông tập trung chủ yếu vào những cuộc đời cụ thể, và cũng chỉ lấy ra một chặng đường ngắn của nhân vật
để miêu tả [39, tr.476]
Nếu Ngô Tất Tố tập trung miêu tả người nông dân trong những áp bức, bóc lột của bọn thống trị thì Nam Cao lại đặt người nông dân vào những thử thách khắc nghiệt của cái đói, cái nghèo Không ít lần những con người ấy bị
xô đẩy đến cái chết, những cái chết đau đớn quằn quại Dù vậy, trong cành ngộ nào, Nam Cao vẫn tìm thấy được những điểm sáng ở họ Ông nhìn thấy cả mặt tích cực và tiêu cực bởi vậy khi đi vào bình phẩm hay nhận xét, đánh giá về người nông dân ông vẫn dành cho họ những tình cảm ưu ái, đặt niềm tin vào những cuộc đời, những thân phận bé nhỏ ấy, vẫn tin tưởng rằng họ - những con
người thà “chết trong còn hơn sống đục” Có lẽ, vì sinh ra và lớn lên ở vùng
nông thôn nên phần nào ông thấu hiểu được phẩm chất của những con người ấy,
hiểu những điều tốt đẹp ẩn phía sau tâm hồn của họ “ Tôi gần gũi với họ rất nhiều Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát
sợ, nhịn nhục một cách đáng thương Nghe các ông nói đến “sức mạnh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ Tôi vẫn cho rằng đa số nước mình là nông dân, mà nông dân nước mình thì vạn kiếp nữa cũng chưa làm được cách mạng Cái thời
Lê Lợi, Quang Trung có lẽ đã chết hẳn rồi, chẳng bao giờ trở lại Nhưng đến hồi tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngã ngửa người Té ra người nông dân nước mình cẫn
có thể làm được cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm” [11, tr 468] Có
được cái nhìn toàn diện như vậy là do quá trình bám sát cuộc sống của người nông dân và đặc biệt là sự cảm thông, thấu hiểu cho hoàn cảnh của họ
Trang 30Từ đó, độc giả có thể thấy được những giá trị sâu sắc mà tác phẩm của Nam Cao đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại Có lẽ, chính vì lẽ ấy
mà bất chấp mọi thử thách, người ta vẫn nhớ, vẫn nhắc đến Nam Cao, những trang viết của ông vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay
2.2 Phong tục tập quán
2.2.1 Tục hôn nhân
Hôn nhân là một việc hệ trọng của đời người, nó lại càng đặc biệt hơn ở nông thôn, bởi con người nơi đây sống tập thể, tính cộng đồng cao, việc không phải của một người, một nhà mà đó là việc chung của cả một dòng họ, của cả một làng Bởi vậy việc đầu tiên không phải là chọn một người mà chọn một gia đình một dòng họ sao cho môn đăng hộ đối
Cùng nhìn lại cuộc hôn nhân của Dần (Một đám cưới) ta sẽ thấy rõ hơn
điều này Gia đình Dần nghèo mẹ lại mất sớm, chỉ còn mình bố nuôi mấy chị
em Dần trong cảnh nheo nhóc túng thiếu Đã vậy, ngày mẹ Dần mất ông còn
phải đi vay nợ nhà ngươi ta về làm ma “Mắc cái lúc mẹ mày nằm xuống, nhà không còn một đồng xu nào, không còn vớ víu vào đâu được, tao đã nhận của người ta hai mươi đồng bạc cưới Như vậy, cuộc hôn nhân của Dần đã được
định sẵn mà đôi lứa hai bên không cần tìm hiểu nhau, không hề diễn ra cuộc yêu đương như những thanh niên trong văn học lãng mạn của Tự lực văn đoàn
Gia cảnh nhà mẹ chồng Dần cũng không lấy gì làm khá giả “Ông cũng khổ, nhưng tôi còn khổ hơn ông, thày cháu chết đi, tôi chỉ được có mình cháu là con trai, ông có thương tôi…” Như vậy là môn đăng hộ đối rồi, hai gia đình, hai
hoàn cảnh giống nhau, họ chọn nhau làm thông gia Có lẽ những người có hoàn cảnh như Dần cũng không bao giờ dám nghĩ mình có thể vào làm dâu một gia
Trang 31đình nào khấm khá hơn, cũng giống như bà lão, cái nghèo, cái khổ bà không dám hỏi chỗ nào hơn cho con trai mình Môn đăng hộ đối trong quan hệ hôn nhân ở nông thôn là điều vô cùng quan trọng, bởi lẽ chỉ trong hoàn cảnh giống nhau họ mới có thể thấu hiểu và cảm thông cho nhau Gia đình nhà chồng Dần neo người, nhà chỉ có hai mẹ con, vì thế mà bà mẹ chồng mong cưới sớm có lẽ cũng là một phần để đáp ứng nhu cầu về người làm trong gia đình Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp thủ công trước đây, thì lao động dựa hoàn toàn vào con người, người ta cần người làm, cưới vợ về cũng là vì lý do đó Nhớ lại
truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Mị mang cái danh là con dâu nhà Pá
Tra nhưng thực chất lại là người ở Và trong gia đình nhà Pá Tra không phải chỉ có một mình Mị phải chịu cảnh đó mà còn nhiều cô Mị khác cũng vậy Như vậy, dù ở các vùng miền khác nhau song hôn nhân của những người nông dân –
cả miền núi và miền xuôi phần lớn là để phục vụ nhu cầu làm nông, nhu cầu làm kinh tế trong gia đình
Khác với Dần (Một đám cưới), cuộc hôn nhân của Ngạn (Nhìn người ta sung sướng) có điểm “sáng” hơn, nhưng nó cũng không phải đến từ tình yêu
đôi lứa mà nó đến vì Ngạn muốn bà mình vừa lòng, bởi lẽ sau cái gật đầu đồng
ý của Ngạn là một cái thở dài đến ngao ngán “Ngạn sẽ gật đầu một cái và thở dài theo luôn” Ngạn lấy vợ, lấy một người mà Ngạn chẳng mấy khi gần nhưng
cô gái ấy lại được lòng bà Ngạn, cũng vì “bà cụ thương Duyên cùng một cảnh như bà hồi trẻ”, như vậy là môn đăng hộ đối rồi
Trong cưới hỏi, nếu môn đăng hộ đối là phương diện tâm lý thì tục thách cưới là phương diện kinh tế Nếu nhà trai không nộp đủ tiền cưới cho nhà gái, cho làng thì sẽ không được đón dâu Nhìn lại cuộc hôn nhân bất thành của
Trang 32thằng con trai Lão Hạc ta mới hiểu rõ điều này Thằng con trai của lão và đứa
con gái “mê nhau lắm”, đây là lần hiếm hoi ta bắt gặp được tình yêu của đôi trẻ
trong truyện ngắn Nam Cao, ấy vậy mà nó lại không thành Không thành bởi lẽ
tiền thách cưới nặng quá : “nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu…cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc Lão Hạc không lo được” Cùng chung tâm lý với lão Hạc là nỗi lo lắng của bà Quản Thích (Nửa đêm), bà lo cho thằng cháu mình không lấy được vợ bởi những đám gần thì
chẳng ai chịu gả con cho thằng cháu bà, cái thằng vừa là con thằng Thiên Lôi lại vừa ngờ nghệch, còn những đám ở xa thì những người nghèo như bà không
có tiền Có biết bao nhiêu tình yêu không thành vì tục thách cưới quá nặng, cũng có biết bao nhiêu đám cưới khốn đốn vì những tục lệ cưới xin nặng nề,
đám càng xa thì tiền nộp treo càng nặng Trong Rửa hờn, người đọc vẫn nhớ
cái tỉnh cảnh của đôi vợ chồng trẻ, vì chẳng có tiền cưới cheo gì nộp cho làng
mà đến lúc đứa con ra đời đã không thể khai sinh Phải chăng, qua những cuộc hôn nhân khốn đốn ấy, Nam Cao muốn phê phán cái tục cưới xin nặng nề, nó
đã gieo rắc lên người dân nghèo bao nhiêu tai họa Thiết nghĩ, nếu không có cái tục thách cưới kia hay chí ít nó được giảm nhẹ hơn thì thằng con trai lão Hạc đã không phải bỏ nhà mà đi như thế và lão cũng không phải chết một cách tức tưởi như vậy,mà hơn thế người ta hoàn toàn có thể nghĩ đến một tương lai tươi sáng hơn cho đôi vợ chồng trẻ
Bên cạnh những cảnh thách cưới nặng nề thì cũng có những gia đình nghèo, họ thấu hiểu cho nhau mà nhẹ nhàng hơn rất nhiều Cùng trở lại với gia đình Dần trong cuộc bàn chuyện cưới xin Người ta thấy được sự cảm thông, thấu hiểu của bố Dần đối với bà cụ Cái thấu hiểu ở đây là thấu hiểu cho cảnh
Trang 33nghèo, phải chăng vì ở cùng trong cảnh đó với nhau nên người ta dễ mà hiểu cho nhau hơn Đám cưới Dần được tối giản một cách tối đa, ông bố Dần cũng
không có gì là thách “Xin nhiều thì mang tiếng; với lại người ta lấy gì mà đưa cho mình được? Vay công vay nợ lắm vào thì về sau lại chỉ khổ chúng mày Tao phải bảo người ta:muốn may cho mày thế nào thì may lấy, tao không dám nhận” Đọc đến đây người ta thầm nghĩ, giá như người cha nào cũng nghĩ được
như cha của Dần thì cuộc sống sẽ dễ chịu biết bao
Ngoài những thủ tục cưới xin nặng nề cũng không thể không đề cập đến những nét văn hóa tốt đẹp, nó trở thành một điểm sáng trong văn hóa nông
thôn Các cụ ta vẫn có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện”, và cũng không ai
có thể quên sự tích cau trầu là tình nghĩa vợ chồng thủy chung, gắn bó Bởi thế, trong cưới hỏi, dù nghèo khó, thiếu thốn đến đâu người ta cũng phải sắm cơi trầu để hỏi cưới Trong đám cưới của Dần người ta không thấy sự vui mừng hồ hởi mà là một không khí ảm đạm bởi đó là đám cưới chui, còn chưa được trọn vẹn Thế nhưng những gì là bắt buộc thì nó vẫn không thể thiếu, đó là hình ảnh
cơi trầu khi xin dâu, dẫu ở đây nó không được chu toàn “chú rể xách một chẽ cau, chừng một chục quả Vào đến nhà, y lúng túng không biết đặt đâu” Nhìn lại đám cưới của dì Hảo (Dì Hảo), dù nó diễn ra vào một buổi chiều có sương bay, đón dâu vào lúc tờ mờ tối, dù “nhà người ta có trở” nhưng cũng không thể không “biện cơi trầu bát nước” để mà xin dâu Đây là một yếu tố văn hóa
bất biến, nó là một nét đẹp vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay Đưa chi tiết này vào truyện, Nam Cao muốn khẳng định với người đọc rằng cái gì thuộc về truyền thống, mà đã là truyền thống tốt đẹp thì không gì có thể bỏ được
Trang 342.2.2 Tục tang ma
Nếu hôn nhân được xem là một việc hệ trọng của đời người thì tang ma cũng không thể xem nhẹ Tang ma không đơn thuần là tiễn đưa, chôn cất một người đã chết mà kéo theo đó còn rất nhiều thủ tục khác Người Việt xưa, đặc biệt là những người ở vùng nông thôn thường lo liệu trước cho cái chết của mình Họ chuẩn bị từ cỗ quan tài cho đến tiền lo ma chay Bởi lẽ, khi người ta chết đi thì cái việc chôn cất không còn là việc riêng gì của con cháu trong gia đình mà nó là việc của cả làng, vì vậy nó kèm theo cả việc ăn uống cho những người đến giúpvà hơn nữa càng không thể chôn một người như một con vật đã chết Cũng với quan niệm, chết không phải là hết, chết là bước sang một cuộc sống mới ở thế giới bên kia nên thậm chí có những đám ma còn ăn uống linh
đình Trở lại với truyện ngắn Lão Hạc , trước khi chết lão đã chu tất mọi việc
bởi chết chưa phải là hết cho người còn sống Hiểu điều đó, lão Hạc đã lo liệu
trước cho cái chết của mình “lão còn được hăm nhăm đồng bạc, muốn gửi tôi
để lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả”, bởi lúc này lão chỉ sống có một mình biết trông cậy vào ai Sau cái chết mới cả là một đại sự, bởi lẽ “Người không phải là con chó, người không thể chết như con chó chết:chết còn làm lợi cho kẻ khác Người chết phải đem chôn Lại không thể cầm cái mai, moi một đống đất lên mà chôn, như chôn một con mèo chết vào gốc một cây khế cho cây khế ngọt Phải mua cỗ gỗ Phải mời xóm, mời làng Phải có bát nước, miếng trầu Phải biện lưng cơm cho những người khiêng Ấy, với phận nghèo Nếu cái thể còn vay mượn được thì còn phải đến trăm thứ khác Cái chết ở thôn quê là một
Trang 35cái gì rầy rà to” (Làm tổ) Thế mới hiểu, cái sự lo liệu cho cái chết của mình
còn to tát hơn việc lo cho mạng sống
Bên cạnh đó, xót thương là việc không thể tránh bởi lẽ “nghĩa tử là nghĩa tận” Nếu cái chết của Lão Hạc, một người ăn ở hiền lành, chu tất thì sự
xót thương của mọi người là điều hiển nhiên Ông giáo chua xót khi mất đi một
người hàng xóm, một người đáng trân trọng để mà thốt lên “Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt” , thế nhưng cũng có những người khi sống gây bao
nhiêu tai họa, lúc chết vẫn có những tiếng khóc dẫu chỉ là khóc hờ Đó không ai
khác chính là cái thằng Thiên lôi giết người ấy, thế mà khi hắn chết “người mẹ nuôi vẫn mong hắn chết , bây giờ muốn khóc và khóc thật Có ai hiểu được cái nước mắt của loài người! Vợ kế đã run sợ mà lấy nó, đã nguyền rủa nó, bây giờ cũng khóc Chao ôi! Những giọt châu của loài người” Đến đây người đọc lại nhớ tới Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, khi mà đám con cháu bỗng rất vui mừng
và phấn khởi bởi cái chết của cụ tổ Thật chua xót, cũng một kiếp người vậy mà
có những cái chết để lại bao suy ngẫm và cũng có những cái chết khiến người
ta nhẹ lòng như bớt đi được một mối hiểm họa vậy
Sẽ là thiếu sót nếu trong đám ma mà không có người đọc điếu văn Đây
là những lời thương xót của người sống dành cho người chết, có khi là tình cảm,là kỉ niệm giữa họ với nhau, có khi là công lao của người chết lúc còn
sống Anh Phúc chết (Điếu văn) trong sự thờ ơ của người vợ, nhưng bên cạnh anh vẫn còn những người bạn như “tôi”, “tôi” xót thương cho cảnh của anh
Phúc, xót xa cho cảnh hai đứa con anh bị đói nheo nhóc Toàn bộ câu chuyện là cuộc đời anh Phúc từ lúc còn sống đến khi chết, những thiệt thòi, những gắng gượng của anh để rồi cuối cùng chết trong đau đớn Thế nhưng, sự đời không
Trang 36thể mãi u ám như vậy được, hai đứa con anh sẽ được “một bàn tay bạn bè sẽ nắm lấy bàn tay chúng cùng đi tới một cuộc đời đẹp hơn” Như vậy, ở đây lời
điếu văn ấy không chỉ đơn giản là sự xót xa trước cuộc đời, trước cái chết của anh Phúc mà nó còn là một lời hứa hẹn với người bạn xấu số
Đề cập đến vấn đề này , Nam Cao muốn qua đó để giữ gìn những truyền thống tốt đẹp vốn có của văn hóa nông thôn, nhưng một mặt ông cũng phê phán những hủ tục, những tục lệ rườm rà làm con người ta khốn đốn Đó là những giá trị sâu sắc mà tác giả muốn truyền đạt đến và nó vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay
2.3 Trật tự nông thôn
Người dân Việt Nam ở đồng bằng Bắc Bộ có những điểm chung nhau về
sự hệ lụy giữa cá nhân với gia đình, làng, nước Yếu tố văn hóa này in đậm trong ý thức của mỗi người dân nơi đây Và trong cơ cấu tổ chức ở nông thôn thì thường được liên kết theo kiểu các gia đình liền kề nhau, xung quanh làng
có lũy tre bao bọc, có cây đa, cổng làng, có nơi thờ tự chung, có lễ hội dân gian, mùa vụ… Đặc biệt, nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ lại chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của Nho giáo nên những lề thói, những khuôn phép, thứ bậc tôn ti trong gia đình, dòng tộc, làng xã đều được xem trọng trong đời sống hàng ngày Đình làng được coi như một trung tâm văn hóa, chính trị của mỗi làng, mọi sinh hoạt đều được tổ chức tại đây, đây là nơi biểu hiện rõ nhất cho quan hệ thứ bậc trong làng Gắn với đình làng là sự phân chia về địa vị, thân phận của mỗi người
Như đã nói, Nam Cao sinh ra và lớn lên ở làng quê Bắc Bộ, ông viết nhiều về nông thôn, về những sinh hoạt, lối sống của người nông dân Vì thế,
Trang 37hầu hết trong tác phẩm của mình, dù ít hay nhiều, ở những mức độ khác nhau Nam Cao đều đề cập đến vấn đề ngôi thứ
Đình làng là một biểu tượng văn hóa rất Việt Nam Đình làng gắn với những cuộc hội họp bàn bạc, nó tạo nên đặc trưng của tính tự trị và sự tồn tại lâu đời của nông thôn Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung
Gắn với sinh hoạt đình làng là sự phân chia ngôi thứ, nó liên quan đến lợi ích vật chất và tinh thần của những người có chức sắc trong làng, chính nơi đây cũng nảy sinh nhiều hủ tục, nhiều tệ nạn đè nặng lên đời sống của những người dân nghèo Với con mắt sắc sảo, sự quan sát tỉ mỉ, Nam Cao đã tái hiện lại một cách sâu sắc những câu chuyện oái oăm xoay quanh vấn đề ngôi thứ ở chốn đình trung
Trọng danh vị là tâm lí phổ biến của người dân, tâm lí này hoàn toàn dễ hiểu đối với những người nông dân quanh năm lam lũ Tâm lí này cũng gắn với ước mơ đổi đời của họ Đất lề quê thói, đời sống cộng đồng buộc người nông dân phải sống theo mọi người, không một cá nhân nào có thể tồn tại riêng lẻ mà phải duy trì theo cộng đồng, theo đúng lệ làng Vì vậy, ngoài việc lo thiên tai hạn hán, lo mùa màng thì chính việc lo lắng về chức vị, về những đóng góp là nguyên nhân khiến cho giấc mơ về một cuộc sống no đủ của người nông dân
không bao giờ thành hiện thực Cùng đọc lại truyện Mua danh ta sẽ phần nào
thấu hiểu hơn nỗi khổ đó của người nông dân
Ước mơ về một mùa màng bội thu là ước mơ chung của nhiều gia đình
và nhà anh Bịch cũng không ngoại lệ Năm nay gia đình anh được trời thương nên vườn trầu lại tốt lạ lùng, cứ ngỡ ấy là điềm lành, là cái mà anh có thể trông cậy vào để nuôi đàn con nheo nhóc Thế nhưng, trời thương mà người đời
Trang 38chẳng thương cho anh, cụ Túy đã dòm ngó cái giàn trầu và gợi ý anh mua lấy cái chức “hương trưởng” Nào, một người ăn chẳng đủ, quanh năm làm nghề xúc dậm anh có dám mơ tưởng gì đến chức tước đâu, chỉ mong có cái ăn mà nuôi bốn đứa con nhỏ Những tưởng giàn trầu sẽ giúp anh thực hiện giấc mơ đó
thế nhưng vừa từ chối việc mua chức hương trưởng với cụ Túy thì “Mấy hôm sau, làng lại nhốn nháo lên về việc bắt phu Người ta đồn rằng: lớp này bắt những tám mươi người đàn ông với bốn chục đàn bà”, cái tin ấy khiến anh
Bịch không khỏi hoang mang Vợ chồng Bịch nghĩ đến cảnh nếu anh bị bắt phu
thì “mẹ con tôi cũng phải bỏ làng mà đi nốt”, nhưng giờ tính nước nào cũng
không xong, thật là chua xót Nhìn anh Bịch lúc này, không ai là không xót xa
thương cảm “Hắn ngồi bó củi, cằm nghếch trên đầu gối Mặt hắn thưỡn ra, vừa tức tối vừa chán nản Một chút nước mắt chạy vòng quanh.” Và rồi, cuối cùng
anh vẫn phải cắn răng mà mua lấy cái chức hương trưởng để tránh cho mình
khỏi bị bắt phu và “cũng chưa bao giờ chức hương trưởng trong làng lại rẻ như thế ấy” chỉ một trăm đồng là xong tất cả Vậy là đã xong xuôi cuộc mua
bán danh vọng, cũng đồng nghĩa với nó là anh Bịch đã mất trắng đi vườn trầu vào chức hương trưởng Những tưởng mọi việc như vậy đã êm xuôi nào ai ngờ hết cái tủi nhục khi làm ông hương của anh Bịch Vì không có tiền để khao danh cho làng nên cái chức của anh chỉ được ghi trong hương ước của làng chỉ mấy cụ tiên chỉ biết chứ dân làng không ai hay Thế nên, lúc anh ra đình cái
chức ấy cũng chẳng đủ oai để dẹp lũ trẻ con mà lại còn mang nhục vào thân “- Hương cái con khỉ! Chưa làm rượu đã vác mặt ra đình! Bộ thằng tớ có chào nó
là ông hương” Ấy thế là “tiền mất tật mang” đã vậy còn bị dọa “Muốn cách không?” thật là khổ hết chỗ nói Vậy là cái nghèo vẫn cứ đeo bám, cái chức mà
Trang 39anh mua được cũng không giúp ích được gì Nỗi lòng của anh Bịch cũng chính
là hoàn cảnh của rất nhiều người nông dân lúc bấy giờ, họ bị chèn ép bởi những địa vị, những ngôi thứ trong làng Ở cái chốn làng quê ấy, người nông dân không thể nào ngóc đầu lên được bởi những trò oái oăm, gàn dở
Khác với Bịch, có được chức hương trưởng một cách bất đắc dĩ thì Trạch
văn Đoành (Đôi móng giò) từ một anh đi câu, lại leo lên được hàng Cửu phẩm
nhờ tiền bạc và cái cốt yếu là nhờ vào mánh khóe của mình, thế nhưng chẳng
lúc nào hắn được yên với các bậc chức sắc trong làng, lúc nào hắn cũng bị “các ông về hùa với nhau để chành chẽ hắn, hễ động hắn mở miệng ra là chèn” Không hiền và non như Bịch, từ khi “đi lính chào mào sang bên Tây về” hắn
khôn và ranh mãnh hơn nhiều chứ không còn cái ngù ngờ của một anh nông dân Ban đầu hắn dùng tiền của mình để làm một ông kì mục, thế nhưng một thằng bỏ làng chán chê mà đi, con một lão đi câu chết mất xác lại làm to như vậy thì đời nào người ta chịu Thế nên các ông trong làng chẳng ai chịu nhường
chiếu cho một thằng “không chôn nổi bố”, hắn bị chành chẽ, bị nói móc đến
thân phận mình Nhưng, thói đời và tính ngang bướng dạy cho hắn phải kìm chế để tìm cơ hội mà trả thù Vậy là hắn ngấm ngầm soi mói các ông để mà vạch tội Ở cái làng quê ấy thì thiếu gì những con sâu mọt chuyên đục khoét của người dân vậy thì thiếu gì tội để mà tố cáo các ông Vậy là ông Cửu Đoành
đã làm được,“Đùng một cái hắn đưa bốn ông lên huyện vì việc bao chiếm công điền Đùng một cái nữa, hắn đưa mấy ông khác lên huyện vì việc lạm tiền công quỹ Rồi đùng một cái nữa…và cái nữa…Luôn năm sáu cái đùng như vậy hắn làm các ông liểng xiểng” Ấy thế mà hắn khôn, hắn không nhận một vài mối lợi mà các ông dàn hòa với hắn bởi hắn thừa biết như vậy thì “há miệng mắc
Trang 40quai” thế nhưng hắn thực sự là kẻ cao tay khi cũng thôi không kiện các ông
nhưng có ai ngờ rằng, các ông ở trong làng cũng không mong sự có mặt của
ông , thành ra “ông cứ ở nhà cho đến hết đám cho quan viên mừng” ấy thật là
một trò ngược đời Tuy nhiên, ông Cửu Đoành lại không như ông Hương Bịch bởi vì ông có tiếng nói và bởi vì ông ranh mãnh khiến người ta phải sợ, thế nên
khi mọi người tế xong, ông mới ung dung “hai tay thọc trong túi áo ba- đờ - xuy sắc chó gio vênh vênh cái mặt lên trời đi ra đình” Có lẽ nhìn cảnh tượng
ấy, mấy quan viên trong làng không khỏi tức tối nhưng họ lại không thể đuổi ông về, họ vẫn cố nín nhịn mà tươi cười, mà vồn vã chào đón ông Vậy là ông
đã làm tròn được cái trách nhiệm của một ông Cửu phẩm khi cũng góp mặt ở đình Rồi sự góp mặt của ông đã gây ra những rắc rối mà chẳng ai ngờ đến, nó xuất phát từ hai cái móng giò Bốn cái móng giò của con lợn tế thần, lệ làng vẫn là dành cho bốn ông to nhất bất ngờ lại bị mất hai cái, người này đổ cho người kìa nhưng ông Cửu Đoành cứ thản nhiên như không mà mỉm cười bởi với ông còn nhiều thứ to tát hơn hai cái móng giò ấy Thế nhưng, khi ông ném hai cái móng giò trong túi áo ra để thưởng cho cô hầu rượu và anh kép thì mới thực sự là bất ngờ Giá như ông cứ lấy và ỉm nó đi thì đã không có chuyện, đằng này, đôi móng giò dành cho người to nhất làng nay lại được quăng ra như quăng đi một khúc xương vậy Vậy mà lạ thay chẳng cụ nào dám lên tiếng và