Cũng như đồng bằng sông Cửu Long, ở Tiền Giang, thương lái và nhà máy chế biến là trung gian giữa công ty lương thực và nông dân trên thị trường lúa gạo.. Song, Chính phủ đang triển khai
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGUYỄN THỊ KIM SANG
VAI TRÒ CỦA CÁC TÁC NHÂN TRUNG GIAN TRÊN THỊ TRƯỜNG LÚA, GẠO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
-
NGUYỄN THỊ KIM SANG
VAI TRÒ CỦA CÁC TÁC NHÂN TRUNG GIANTRÊN THỊ TRƯỜNG LÚA, GẠO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này thể hiện quan điểm cá nhân, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Chương trình Giảng dạy Kinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Sở Công Thương Tiền Giang Đặc biệt là Ông Ngô Văn Tuấn – Giám đốc Sở Công Thương Tiền Giang tạo điều kiện cho tôi tham gia học tập trung tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Tôi cũng tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy Huỳnh Thế Du gợi ý luận văn cho tôi, Thầy Vũ Thành Tự Anh tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình học tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, tôi luôn biết ơn sâu sắc tất cả quý Thầy/Cô và các anh/chị nhân viên tạo không khí học tập ấm áp, năng động, chuyên nghiệp, cởi mở và hòa nhã
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn đồng nghiệp tại Sở Công Thương Tiền Giang, đặc biệt là Phòng Quản lý thương mại giúp đỡ và hỗ trợ công việc cho tôi trong thời gian học tập trung
Tôi xin chân thành cảm ơn quý cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác nông nghiệp, các hộ trồng lúa nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp thông tin và tài liệu quý báu cho đề tài luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, các anh chị các khóa MPP7, các bạn đồng khóa MPP8
hỗ trợ tinh thần, động viên, truyền nghị lực cho tôi trong quá trình học tập và viết đề tài nghiên cứu Đặc biệt là các bạn MPP8 cho tôi kỷ niệm đáng quý trong quá trình học tập tại Chương trình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Sang
Trang 5TÓM TẮT
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa cả nước đóng góp 56,83% sản lượng lúa vào năm
2015 Tiền Giang là tỉnh nông nghiệp nằm trong đồng bằng sông Cửu Long và thuộc vùng Đồng Tháp Mười Cũng như đồng bằng sông Cửu Long, ở Tiền Giang, thương lái và nhà máy chế biến là trung gian giữa công ty lương thực và nông dân trên thị trường lúa gạo
Song, Chính phủ đang triển khai thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển liên kết trực tiếp giữa công ty lương thực và nông dân (cánh đồng lớn), nghĩa là sẽ xóa dần thương lái, nhà máy chế biến ra khỏi thị trường lúa, gạo Chính quyền Tiền Giang quyết tâm xây dựng cánh đồng lớn, xem đây là mục tiêu của tỉnh, thể hiện qua việc thành lập Ban chỉ đạo cánh đồng lớn và cụ thể hóa các chính sách của trung ương Tuy nhiên, thực tế không như
kỳ vọng của chính quyền Tiền Giang Sản lượng lúa của tỉnh được tiêu thụ qua thương lái
và nhà máy chiếm đến gần 98%
Nguyên nhân của tình huống này là do thị trường ghi nhận vai trò của tác nhân trung gian (thương lái, nhà máy chế biến) và tồn tại nhiều yếu tố cản trở phát triển liên kết Mặc dù, Kênh 1 (công ty lương thực thu mua lúa trực tiếp của nông dân) có chi phí giao dịch thấp nhất và cánh đồng lớn mang lại lợi ích cho cả nông dân và công ty lương thực nhưng các yếu tố này chưa đủ sức thúc đẩy liên kết Thương lái, nhà máy chế biến tồn tại nhờ vào sự linh hoạt, nhạy bén và đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường; trong khi đó, cánh đồng lớn
không hiệu quả như kỳ vọng vì: (i) các chi phí phi thị trường, (ii) chi phí giao dịch ẩn, (iii)
sự bất trắc về giá cả trên thị trường lúa gạo là chi phí giao dịch khó đo lường, (iv) năng lực tài chính công ty lương thực trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, (v) tồn tại chi phí chìm, (vi) khả năng kiểm soát thực thi hợp đồng, tâm lý ỷ lại của công ty lương thực và nông dân vào
sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, (vii) vấn đề rủi ro đạo đức, (viii) tồn tại thị trường
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HỘP viii
DANH MỤC PHỤ LỤC ix
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin 4
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5.2 Nguồn thu thập thông tin 4
1.6 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 6
2.1 Các khái niệm 6
2.1.1 Giao dịch 6
2.1.2 Chi phí giao dịch 6
2.1.3 Các tác nhân trong thị trường lúa gạo 8
2.2 Cơ sở lý thuyết 8
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước và đóng góp của đề tài 9
2.4 Thiết kế nghiên cứu 11
2.4.1 Xác định chi phí giao dịch 11
2.4.2 Xác định giống lúa và loại gạo 13
2.5 Sơ đồ nghiên cứu 14
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA CÁC TÁC NHÂN TRUNG GIAN TRÊN THỊ TRƯỜNG LÚA, GẠO TẠI TỈNH TIỀN GIANG 15
Trang 73.1 Đặc điểm của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo 15
3.1.1 Thương lái 15
3.1.2 Nhà máy chế biến gạo (nhà máy xay xát, lau bóng) 16
3.2 Khái quát về cánh đồng lớn 16
3.2.1 Khái niệm về cánh đồng lớn 16
3.2.2 Lợi ích, bất lợi từ cánh đồng lớn mang lại 17
3.3 Vai trò của các tác nhân trung gian trong thị trường lúa, gạo tại Tiền Giang 19
3.3.1 Những điểm chung về chi phí giao dịch của các Kênh giao dịch 19
3.3.3 Đánh giá tính thực tế của kết quả nghiên cứu 25
3.4 Nhận định vai trò của tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo tại Tiền Giang 29
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ 32
4.1 Kết luận 32
4.2 Khuyến nghị chính sách 32
4.2.1 Các nhà máy chế biến ký hợp đồng liên kết với nông dân trồng lúa theo mô hình cánh đồng lớn, mở rộng đối tượng tham gia cánh đồng lớn 33
4.2.3 Nâng cao tính thực thi của hợp đồng liên kết 33
4.3 Hạn chế của đề tài 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 39
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Diện tích, sản lượng và năng suất lúa đồng bằng sông Cửu Long 1
Hình 3 1 So sánh chi phí giao dịch ở các huyện Phía Tây và Phía Đông 21
Hình 3 2 So sánh chi phí giao dịch giữa Kênh 1 và Kênh 2 22
Hình 3 3 So sánh chi phí giao dịch giữa Kênh 1 và Kênh 3 24
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Mô tả về giao dịch và chi phí giao dịch lúa, gạo tỉnh Tiền Giang 19 Bảng 3 2 Mô tả về giao dịch và chi phí giao Kênh 1, Kênh 2 22 Bảng 3 3 Mô tả về giao dịch và chi phí giao dịch Kênh 1, Kênh 3 23
Trang 10DANH MỤC HỘP
Hộp 3 1 Vụ Đông Xuân 2016-2017: giá lúa tăng liên tục từ đầu vụ 26 Hộp 3 2 Các phương thức liên kết giữa công ty lương thực và nông dân 27
Trang 11DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 1 Diện tích lúa của các Huyện trên địa bàn tỉnh Tiền Giang năm 2015 39
Phụ lục 1 2 Số cơ sở xay xát, lau bóng và kho chứa lúa, gạo trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 39
Phụ lục 1 3 Các chính sách và quy định liên quan đến xây dựng cánh đồng lớn 40
Phụ lục 1 4 Chính sách hỗ trợ thực hiện cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang 40
Phụ lục 1 5 Thành viên Ban Điều hành cánh đồng lớn tỉnh Tiền Giang 41
Phụ lục 1 6 Diện tích liên kết vụ Đông Xuân 2015-2016 42
Phụ lục 1 7 Danh sách và nội dung phỏng vấn nhà máy 43
Phụ lục 1 8 Danh sách và nội dung phỏng vấn công ty lương thực có liên kết 44
Phụ lục 1 9 Danh sách và nội dung phỏng vấn công ty lương thực không liên kết 45
Phụ lục 1 10 Danh sách và nội dung phỏng vấn nông dân 46
Phụ lục 1 11 Danh sách và nội dung phỏng vấn hợp tác xã, tổ hợp tác 51
Phụ lục 2 1 Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị lúa, gạo đồng bằng sông Cửu Long 53
Phụ lục 2 2 Cơ cấu giống lúa năm 2016 54
Phụ lục 2 3 Cơ cấu gạo xuất khẩu bằng hợp đồng thương mại năm 2016 54
Phụ lục 3 1 Chi tiết chi phí giao dịch bán lúa của nông dân 55
Phụ lục 3 2 Chênh lệch chi phí giao dịch giữa phía Tây và phía Đông 56
Phụ lục 3 3 Chênh lệch giá dịch vụ thực hiện các giao dịch mua bán lúa, gạo 56
Phụ lục 3 4 Chênh lệch chi phí vận chuyển 56
Phụ lục 3 5 Chênh lệch chi phí giao dịch giữa Kênh 1 và Kênh 2 57
Phụ lục 3 6 Chênh lệch phi chí giao dịch giữa Kênh 1 và Kênh 3 58
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa cả nước với sản lượng đạt 25,69 triệu tấn vào năm
2015, đóng góp 56,83% (Tổng Cục Thống kê, 2015) Sản lượng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng liên tục qua các năm trong giai đoạn 2011-2015 nhờ cả năng suất và diện tích gieo trồng cùng tăng
Hình 1 1 Diện tích, sản lượng và năng suất lúa đồng bằng sông Cửu Long
(giai đoạn 2011-2015)
Nguồn: Tổng Cục Thống kê (2011, 2012, 2013, 2014, 2015)
Tiền Giang nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và là một trong ba tỉnh thuộc vùng Đồng Tháp Mười Tiền Giang có 224.745 ha lúa, với sản lượng 1,34 triệu tấn lúa trong 3 niên vụ (Cục Thống kê Tiền Giang, 2015) Diện tích lúa phân bổ nhiều ở các huyện Cai Lậy, huyện Cái Bè (phía Tây), huyện Gò Công Đông và huyện Gò Công Tây (phía Đông) (Phụ lục 1.1)
Ở đồng bằng sông Cửu Long, thương lái và nhà máy chế biến cùng là trung gian giữa công
ty lương thực và nông dân Nhờ tính linh hoạt và nhạy bén thị trường, cùng với số lượng đông, thương lái thu gom 93,1% sản lượng lúa trong Vùng Mặc dù thu mua lúa với sản lượng ít hơn thương lái, nhưng nhà máy chế biến là trụ cột trong khâu chế biến gạo, còn là đối tác đầu vào lớn của công ty lương thực (Võ Thị Thanh Lộc, 2011)
Riêng tại Tiền Giang, nhà máy chế biến thực hiện song song việc thu gom lúa và chế biến gạo Tiền Giang có hơn 420 nhà máy chế biến gạo, với công suất xay xát lúa trung bình từ 2-3 tấn/giờ, công suất lau bóng gạo trung bình từ 2-10 tấn/giờ (Sở Công Thương Tiền Giang, 2011) (Phụ lục 1.2) Trong số những nhà máy này, gần 50% thu mua lúa từ nông
22 23 24 25 26
5.68
5.81 5.76 5.94 5.96
5.5 5.6 5.7 5.8 5.9 6
2011 2012 2013 2014 2015
Năng suất lúa
Năng suất (tấn/ha)
Trang 13dân để chế biến ra gạo thành phẩm, các nhà máy còn lại vừa gia công cho thương lái vừa thu mua lúa Như vậy, cũng như ở đồng bằng sông Cửu Long, thương lái và nhà máy chế biến ở Tiền Giang cùng là trung gian giữa công ty lương thực và nông dân với vai trò thu mua, chế biến gạo
Tuy nhiên, Chính phủ đang hướng đến việc xóa bỏ tác nhân trung gian trên thị trường lúa gạo thông qua cơ chế khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất, gắn với tiêu thụ mà cụ thể là xây dựng cánh đồng lớn Theo đó, hàng loạt các chính sách và quy định được ban hành nhằm điều chỉnh tác nhân tham gia vào thị trường lúa gạo (Phụ lục 1.3) Cùng với Chính phủ, chính quyền Tiền Giang cũng đang thực hiện nhiều hành động với mục tiêu khuyến khích công ty lương thực hợp tác trực tiếp với nông dân trồng lúa, và xem đây là nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã Một trong những hành động của chính quyền Tiền Giang, nhấn mạnh sự quyết tâm của chính quyền tỉnh trong việc khuyến khích liên kết trực tiếp giữa công ty lương thực và nông dân, là đã cụ thể hóa chủ trương xây dựng cánh đồng lớn trên phạm vi toàn tỉnh ngay sau khi Chính phủ ban hành, đồng thời, thành lập Ban Điều hành cánh đồng lớn (sau đây gọi là Ban Điều hành) (Phụ lục 1.4, Phụ lục 1.5)
Song, diễn biến thực tế chưa như kỳ vọng của cả Chính phủ và chính quyền Tiền Giang, có gần 98% sản lượng lúa của tỉnh và 96% lúa của đồng bằng sông Cửu Long vẫn được giao dịch qua thương lái và nhà máy chế biến (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tiền Giang, 2017 và Võ Thị Thanh Lộc, 2011) Qua khảo sát cho thấy, ở Tiền Giang, quy mô diện tích ký kết hợp đồng tiêu thụ lúa giữa công ty lương thực với nông dân còn nhỏ, tỷ lệ thực hiện hợp đồng thấp Riêng vụ Đông Xuân 2015 – 2016, công ty lương thực ký hợp đồng liên kết tiêu thụ lúa trên diện tích 3.150 ha, nhưng chỉ thu mua 1.936 ha, đạt 61,5%diện tích ký kết, chiếm 2,57% diện tích lúa của vụ này (Ban Điều hành, 2016) (Phụ lục 1.6)
Như vậy, với các hành động của chính quyền Tiền Giang, như là chất keo kết dính mối quan hệ hợp tác trực tiếp giữa công ty lương thực với nông dân trồng lúa, xây dựng mô hình cánh đồng lớn, bỏ qua tác nhân trung gian, chưa mang lại kết quả như mong muốn của chính quyền tỉnh Nguyên nhân xảy ra hiện trạng này có phải do vai trò của các tác nhân trung gian (thương lái, nhà máy chế biến) trên thị trường lúa gạo không thay thế
Trang 14được? Đề tài “Vai trò của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo đồng bằng Sông Cửu Long: nghiên cứu điển hình tỉnh Tiền Giang” giúp làm rõ các vấn đề này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng đến phân tích vai trò của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, với nghiên cứu điển hình tại tỉnh Tiền Giang Trên cơ sở đó, tác giả làm rõ nguyên nhân tồn tại trên thị trường lúa, gạo của các tác nhân trung gian, từ
đó, đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao vai trò của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời câu hỏi sau:
(1) Vai trò của các tác nhân trung gian (thương lái, nhà máy chế biến gạo) trên thị trường lúa, gạo là như thế nào?
(2) Nếu các tác nhân trung gian có vai trò tích cực thì Nhà nước cần có chính sách gì để nâng cao năng lực của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo? Trường hợp ngược lại, thì Nhà nước cần làm gì?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo ở tỉnh Tiền Giang,
các công ty lương thực xuất khẩu gạo, các công ty lương thực tham gia cánh đồng lớn, các hợp tác xã, tổ hợp tác, các hộ trồng lúa trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vai trò của các tác nhân trung gian trên thị trường
lúa, gạo để đưa ra nhận định về vai trò của các tác nhân này từ đó đề xuất chính sách phù hợp Không gian nghiên cứu thực hiện ở tỉnh Tiền Giang, tập trung ở các địa bàn có diện tích trồng lúa lớn và có thực hiện chủ trương cánh đồng lớn của tỉnh như huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, thị xã Cai Lậy, huyện Gò Công Tây, huyện Gò Công Đông, thị xã Gò Công Thời gian nghiên cứu là vụ Đông Xuân 2015-2016 (từ tháng 10/2015 đến tháng 02/2016), vụ Đông Xuân 2016-2017 (từ tháng 11/2016 đến tháng 3/2017)
Trang 151.5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định tính, dựa trên lý thuyết về bản chất của Hãng của Ronald
H Coase (1937), cơ chế quản trị của Oliver E Williamson (1985) và lý thuyết về chi phí giao dịch để đánh giá sự đóng góp của các tác nhân trung gian trong thị trường lúa, gạo đồng bằng sông Cửu Long – nghiên cứu điển hình tỉnh Tiền Giang Các thông tin, số liệu
về chi phí giao dịch sẽ được tác giả thu thập từ số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn các hộ trồng lúa, thương lái, nhà máy chế biến và công ty lương thực Tác giả phân tích chi phí giao dịch của từng tác nhân trên thị trường lúa, gạo dựa trên các mô thức tiêu thụ lúa, gạo diễn ra ở Tiền Giang Các nhận định vai trò của thương lái, nhà máy chế biến - khâu trung gian trong thị trường lúa, gạo, sẽ được phân tích từ chênh lệch chi phí giao dịch giữa các
mô hình tiêu thụ lúa, gạo, kết hợp phân tích đặc điểm thị trường của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo Đồng thời, các nhận định của các chuyên gia thị trường, chuyên gia ngành nông nghiệp, cũng là cơ sở để đánh giá vai trò của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo
1.5.2 Nguồn thu thập thông tin
Thông tin thứ cấp: thông tin này được tổng hợp, sàng lọc từ các báo cáo, đề án, tài liệu
của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tiền Giang (Thường trực Ban Điều hành cánh đồng lớn của tỉnh), Sở Công Thương Tiền Giang, Cục Thống kê Tiền Giang, các cơ quan khác như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, các nghiên cứu từ các tổ chức nước ngoài và báo chí về các nội dung liên quan đến thị trường lúa, gạo; mô hình liên kết giữa công ty lương thực và nông dân, các tác nhân trên thị trường lúa gạo, chi phí giao dịch trên thị trường lúa, gạo
Thông tin sơ cấp: thông tin về chi phí giao dịch của các đối tượng nghiên cứu có được từ
việc phỏng vấn trực tiếp Riêng thông tin về chi phí giao dịch của thương lái được thu thập
từ nông dân và nhà máy chế biến Các thông tin sơ cấp khác có được từ việc phỏng vấn trực tiếp với phương pháp lấy mẫu mang tính chất đại diện
Nhà máy chế biến: 06 nhà máy chế biến, thương lái trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và chia
đều cho các huyện phía Đông và Tây của tỉnh (Phụ lục 1.7)
Trang 16Công ty lương thực có liên kết tiêu thụ lúa, gạo với nông dân: tất cả các công ty lương thực
trên địa bàn tỉnh đang thực hiện liên kết với hộ trồng lúa vụ Đông Xuân 2015 - 2016 (Phụ lục 1.8)
Công ty lương thực kinh doanh gạo không có liên kết tiêu thụ lúa với nông dân: 03 công ty
lương thực trên địa bàn tỉnh (Phụ lục 1.9)
Hộ nông dân: 20 hộ nông dân trồng lúa Phương pháp lấy mẫu thuận tiện theo giới thiệu
của Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời, mẫu phải đảm bảo vừa đại diện cho nông dân ở các huyện phía Tây và phía Đông của tỉnh, vừa đại diện cho nông dân đã, đang hoặc chưa từng tham gia cánh đồng lớn, để thấy được chênh lệch chi phí giao dịch của nông dân ở các Kênh tiêu thụ lúa (Phụ lục 1.10)
Tổ chức liên kết: 07 hợp tác xã, tổ hợp tác làm trung gian giữa công ty lương thực và nông
dân trong việc liên kết tiêu thụ lúa với hộ trồng lúa (Phụ lục 1.11)
1.6 Cấu trúc luận văn
Luận văn có tất cả 4 chương Chương 1 giới thiệu bối cảnh nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu Nội dung chính là nêu lên vấn đề chính sách từ đó đưa ra câu hỏi nghiên cứu Chương
2 trình bày cơ sở lý thuyết và thiết kế nghiên cứu Chương này tập trung trình bày về cơ sở
lý thuyết đồng thời xây dựng thiết kế nghiên cứu hướng đến mục tiêu nghiên cứu Chương
3 là chương chính của luận văn, trình bày kết quả phân tích về vai trò của tác nhân trung gian trên thị trường lúa gạo tỉnh Tiền Giang Cuối cùng là Chương 4 trình bày kết luận và khuyến nghị chính sách, hạn chế của đề tài
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Giao dịch
Theo John R Commons (1931) giao dịch đơn giản là việc chuyển giao, cụ thể là chuyển giao quyền sở hữu đối với một sản phẩm hay dịch vụ Oliver E Williamson (1981), cho rằng giao dịch là sự trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua tiền tệ Định nghĩa hẹp hơn, giao dịch là hoạt động mua hoặc bán nguồn lợi của con người Tổng quát hơn, giao dịch là hoạt động giữa doanh nghiệp với cá nhân, giữa doanh nghiệp với nhau, giữa cá nhân với cá nhân
Như vậy, giao dịch trên thị trường lúa, gạo giữa các đối tượng tham gia thị trường như công ty lương thực, tác nhân trung gian, hộ trồng lúa, được hiểu là thỏa thuận trao đổi lúa, gạo, dịch vụ phục vụ sản xuất chế biến gạo thông qua tiền tệ, trong đó, bao gồm cả dịch vụ vận chuyển, sấy lúa, xay lúa, xát gạo
2.1.2 Chi phí giao dịch
Khái niệm về chi phí giao dịch không được nhất quán, tùy theo lĩnh vực giao dịch mà phát sinh chi phí giao dịch tương ứng Tuy nhiên, tựu trung lại, các nghiên cứu cho rằng chi phí giao dịch bao gồm chi phí phát sinh trước, trong và sau quá trình giao dịch bên cạnh chi phí giao dịch do bất cân xứng thông tin, chi phí đầu tư tăng thêm, hay chi phí cơ hội
Các chi phí phát sinh trước, trong và sau quá trình giao dịch
Coase R.H (1937) cho rằng chi phí giao dịch chính là chi phí của việc sử dụng cơ chế giá, trong đó bao gồm các chi phí so sánh mức giá và đàm phán cũng như thực hiện hợp đồng Tổng quan hơn, theo Oliver E.Williamson (1985) chi phí giao dịch có hai phần, chi phí phát sinh trước và sau giao dịch Trong đó, chi phí phát sinh trước khi giao dịch là chi phí soạn thảo, thương lượng và bảo vệ hợp đồng - đề ra các phương án nhằm bảo vệ hợp đồng trước những tình huống xấu Chi phí phát sinh sau khi giao dịch là chi phí thành lập và điều hành, chi phí thực hiện cam kết và chi phí về những rủi ro có thể phát sinh Tương đồng với quan điểm này, Hennart (1993) cũng cho rằng chi phí giao dịch bao gồm chi phí tìm kiếm và ký kết hợp đồng bao gồm chi phí định vị đối tác mong muốn, đàm phán, chi phí chấp nhận giám sát thực thi, chi phí tham khảo các giám sát thỏa thuận khác, chi phí
Trang 18thực hiện các hành động cần thiết để đảm bảo các bên thực hiện hợp đồng R.C.O Matthews (1986) chỉ ra chi phí giao dịch trên quan điểm hợp đồng là các chi phí của việc thu xếp một hợp đồng trước khi ký kết, giám sát, thực thi sau khi được ký kết
Chi phí giao dịch phát sinh do bất cân xứng thông tin
Theo Williamson (1997) do các bên không thể dự đoán tất cả các trường hợp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, do đó, họ phải bỏ ra chi phí để giám sát trong trường hợp thông tin bất cân xứng Wallis và North (1986), Davis (1986) cũng cho rằng chi phí giao dịch bao gồm chi phí của quá trình tìm kiếm và truyền đạt thông tin, chi phí giám sát hành vi, chi phí điều phối, thu mua, tiếp thị, quảng cáo, bán hàng, xử lý các vấn đề pháp lý, vận chuyển, quản lý và giám sát
Chi phí giao dịch phát sinh do đầu tư tăng thêm
Chi phí giao dịch còn bao gồm chi phí đầu tư và những chi phí sản xuất được tăng thêm (Klein và Leffler,1981) Jeffrey H Dyer (1997) cho rằng tổng số lao động phục vụ khâu bán hàng, sản xuất (quản lý, đại lý, người mua, luật sư, hỗ trợ cung ứng) tất cả được chia trên tổng giá trị hàng hóa được mua, bán; nghĩa là chi phí trên mỗi sản phẩm hàng hóa mà các nhân viên đã bán
Chi phí cơ hội
Theo Noel Amenc (2008) chi phí cơ hội xảy ra khi có sự chậm trễ ngoài ý muốn như chậm trễ về truyền tải thông tin giữa người mua và người bán, chi phí vận hành, chi phí thời gian thị trường, chi phí thương mại nhỡ, chi phí điều chỉnh hợp đồng
Ngoài ra, North (1990) cho rằng chi phí giao dịch còn bao gồm chi phí đảm bảo thuộc tính của sản phẩm dịch vụ trao đổi
Từ những khái niệm nêu trên về chi phí giao dịch, trong khuôn khổ bài viết này định nghĩa chi phí giao dịch trong thị trường lúa, gạo được hiểu như sau: chi phí phát sinh trong quá
trình giao dịch (chi phí soạn thảo, thương lượng, bảo vệ hợp đồng, chi phí thương lượng, chi phí điều hành quản lý, thực hiện hợp đồng, chi phí thực hiện cam kết và chi phí về những rủi ro có thể phát sinh, chi phí pháp lý, chi phí hủy hợp đồng, chi phí vận chuyển (chi phí đầu tư hoặc thuê)), chi phí để giám sát trong trường hợp thông tin bất cân xứng, chi phí bảo vệ thuộc tính của lúa, gạo (chi phí kho bãi, chi phí bảo quản lúa, gạo, chi phí
Trang 19sấy lúa), chi phí đầu tư tăng thêm (chi phí xay xát, lau bóng gạo, chi phí thuê mướn lao động tăng thêm), chi phí cơ hội (chi phí hao hụt trong quá trình thực hiện, trì hoãn giao dịch, chi phí thời gian do trì hoãn giao dịch)
2.1.3 Các tác nhân trong thị trường lúa gạo
Thương lái, nhà máy chế biến gạo là tác nhân trung gian trên thị trường lúa gạo, công ty lương thực là tác nhân cuối cùng trong chuỗi giá trị lúa, gạo xuất khẩu (Võ Thị Thanh Lộc, 2011) (Phụ lục 2.1) Riêng đối với các hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất lúa, gạo không phải
là tác nhân trung gian mà được xem là các tổ chức đại diện nông dân
Thương lái lúa
Thương lái được xuất phát từ từ “lái”, là người buôn bán hàng hóa Thương lái là người thu gom lúa trực tiếp từ nông dân (Bùi Khánh Vân, 2011), cũng là trung gian trong thị trường lúa, gạo (Võ Thị Thanh Lộc, 2011) Thương lái không sở hữu thiết bị xay xát, lau bóng và hoạt động với tư cách cá nhân, quy mô nhỏ
Nhà máy chế biến
Nhà máy chế biến là đối tác cung cấp gạo cho công ty lương thực và tiêu thụ lúa của nông dân (Võ Thị Thanh Lộc, 2011) Nhà máy chế biến đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất gạo (Nguyễn Công Thành, 2011) Không như thương lái, nhà máy chế biến hoạt động dưới dạng tổ chức, có đăng ký kinh doanh và có đầu tư thiết bị chế biến gạo
Công ty lương thực
Công ty lương thực thực hiện khâu cuối cùng trên thị trường lúa, gạo xuất khẩu Công ty lương thực vừa mua gạo từ các thương lái, nhà máy vừa thu mua lúa trực tiếp từ nông dân Công ty lương thực khác với các nhà máy ở khâu tổ chức sản xuất và quy mô Các nhà máy chế biến trên địa tỉnh Tiền Giang có công suất trung bình từ 2 đến 5 tấn/giờ, trong khi
đó công suất xay trung bình của công ty lương thực lên đến 10 tấn lúa/giờ, công suất lau bóng trung bình từ 20 đến 30 tấn/giờ (Sở Công Thương Tiền Giang, 2011)
2.2 Cơ sở lý thuyết
Đề tài sử dụng lý thuyết về chi phí giao dịch, trong đó, vận dụng lý thuyết về Bản chất của
Hãng của Ronald H Coase (1937) và cơ chế quản trị của Oliver E Williamson (1985)
Trang 20Theo Ronald H Coase (1937) có hai nguyên nhân chính cho sự ra đời của Hãng Thứ nhất,
chi phí tổ chức cho những giao dịch tăng thêm có thể tăng Ở một mức độ nào đó, chi phí
tổ chức thêm một giao dịch bằng với chi phí thực hiện giao dịch đó ở thị trường mở hay do
Hãng khác thực hiện Thứ hai, khi tăng thêm giao dịch, các Hãng không thể sử dụng các nhân tố sản xuất đạt hiệu quả tối đa Tóm lại, các Hãng lớn sẽ đạt đến mốc mà tại đó nhân
tố sản xuất không khai thác tốt nhất Cũng theo Ronald H Coase (1937) việc mở rộng giao
dịch theo không gian sẽ làm cho chi phí giao dịch tăng Lý thuyết này được áp dụng để nhận định về vai trò của các tác nhân trung gian trong thị trường lúa, gạo
Oliver E.Williamson (1985) cho rằng tồn tại các cấu trúc quản trị phù hợp có ý nghĩa trong việc giảm chi phí giao dịch Cơ chế thị trường hình thành các cấu trúc quản trị khác nhau Nếu các giao dịch được thực hiện bởi cấu trúc quản trị phù hợp thì chi phí giao dịch sẽ được giảm đến mức thấp nhất Lý thuyết này giúp xác định sự hiện diện của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo có phải là cấu trúc quản trị phù hợp hay không thông qua so sánh chi phí giao dịch giữa các cấu trúc quản trị
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước và đóng góp của đề tài
Các nghiên cứu trước về chi phí giao dịch
Zhengchao Lv (2012) chỉ ra những khó khăn trong việc đo lường chi phí giao dịch Định nghĩa về chi phí giao dịch không được đồng nhất (những chi phí nào được xem là chi phí giao dịch và không xem là chi phí giao dịch) và việc xác định chi phí giao dịch được ẩn sau giá trị phi thị trường
Jeffrey H Dyer (1997) phân tích chi phí giao dịch trong ngành công nghiệp ô tô, xem xét chi phí giao dịch ô tô Nguyên nhân chi phí giao dịch giữa các hãng xe khác nhau là do có
sự khác biệt: (1) trong cam kết với các nhà cung cấp; (2) về quy mô và phạm vi trao đổi giữa các nhà cung cấp và sản xuất ô tô, (3) trong việc chia sẻ thông tin, (4) trong hình thức đảm bảo thực hiện hợp đồng, (5) về việc quyết định đầu tư tài sản phục vụ cho giao dịch Laura McCann (2004) sử dụng chi phí giao dịch làm khung phân tích cơ chế phân bổ nước với chi phí giao dịch thấp nhất Những chi phí phát sinh trong việc giám sát và kiểm soát chất lượng nước làm tăng chi phí giao dịch trong quá trình cung cấp nước Mặc dù tác giả tính toán tất cả chi phí giao dịch cả về thị trường và thể chế, nhưng vẫn không dự đoán được các chi phí giao dịch phát sinh sau khi công bố kết quả
Trang 21Noel Amenc (2008) tập trung phân tích về chi phí giao dịch trong lĩnh vực đầu tư Đó là đo lường chi phí giao dịch, ước tính chi phí giao dịch và đánh giá hiệu suất giao dịch Mục đích nhằm đưa ra những thông tin cần thiết và quan trọng giúp cho việc đưa ra quyết định đầu tư một cách hiệu quả hơn Trong lĩnh vực này, tác giả cũng không lường được các chi phí giao dịch phát sinh trong thời gian nghiên cứu và sau kết thúc nghiên cứu
Tóm lại, các nghiên cứu về chi phí giao dịch gặp khó khăn khi lượng hóa và nhận diện chi
phí giao dịch một cách đầy đủ và chính xác Các nhà nghiên cứu cho rằng khó lường trước việc các chi phí giao dịch phát sinh trong quá trình nghiên cứu và sau khi công bố kết quả
Các nghiên cứu trước về thị trường lúa, gạo đồng bằng sông Cửu Long
Võ Thị Thanh Lộc và cộng sự (2011) phân tích chuỗi giá trị lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long Tác giả tiếp cận theo lý thuyết về chuỗi giá trị mô tả chi tiết cấu trúc thị trường lúa, gạo ở đồng bằng sông Cửu Long với bốn kênh tiêu thụ lúa, gạo hàng hóa ở đồng bằng sông Cửu Long Trong nghiên cứu này, tác giả nhận định các tác nhân trung gian (thương lái, nhà máy chế biến) là đối tượng hưởng lợi nhuận nhiều nhất trong toàn bộ kinh tế chuỗi giá trị gia tăng nhờ lợi thế theo quy mô Trong khi đó, mặc dù nông dân được hưởng lợi cao cả về thu nhập và lợi nhuận bình quân trong toàn chuỗi giá trị, nhưng do sản lượng nhỏ nên thu nhập tổng thu nhập mỗi hộ thấp hơn các tác nhân khác trong chuỗi Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao kinh tế chuỗi giá trị gia tăng nhằm nâng cao thu nhập cho người trồng lúa Đồng thời, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của việc liên kết dọc giữa công
ty lương thực và nông dân, giảm tác nhân trung gian trong chuỗi giá trị lúa, gạo đồng bằng sông Cửu Long
Trần Minh Vĩnh và cộng sự (2014) đề ra một số giải pháp phát triển hợp đồng liên kết sản xuất – tiêu thụ lúa gạo ở tỉnh Đồng Tháp Cấu trúc thị trường lúa, gạo ở Đồng Tháp tương đồng với cấu trúc thị trường đồng bằng sông Cửu Long Tác giả miêu tả các phương thức liên kết giữa công ty lương thực và nông dân tại tỉnh Đồng Tháp Các giải pháp nhằm thúc đẩy liên kết được đề xuất, trong đó, nhấn mạnh giải pháp đưa công ty lương thực là hạt nhân trong việc cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra
Điểm chung của các nghiên cứu là đề xuất giải pháp hướng đến xây dựng và phát triển liên kết giữa công ty lương thực và nông dân Qua luận văn này, tác giả phân tích vai trò của
Trang 22tác nhân trung gian với lý thuyết về chi phí giao dịch Từ đó, tác giả nhận diện cấu trúc quản trị có chi phí giao dịch thấp trên thị trường lúa, gạo tỉnh Tiền Giang
2.4 Thiết kế nghiên cứu
2.4.1 Xác định chi phí giao dịch
Theo kết quả khảo sát của tác giả, trên địa bàn tỉnh Tiền Giang có hai cấu trúc quản trị của thị trường lúa, gạo, đó là sự hiện diện của tác nhân trung gian và không hiện diện các tác nhân trung gian trong kênh tiêu thụ lúa, gạo Hai cấu trúc này có thể được chia làm 3 kênh chính trên thị trường lúa gạo tại Tiền Giang
Kênh 1: Nông dân công ty lương thực Trong kênh này, hợp tác xã, tổ hợp tác với vai trò là đại diện nông dân thương thảo, ký hợp đồng với công ty lương thực
Kênh 2: Nông dân nhà máy chế biến công ty lương thực
Kênh 3: Nông dân thương lái công ty lương thực
Do đó, để thấy được vai trò của thương lái và nhà máy chế biến gạo ở Tiền Giang, đề tài thực hiện so sánh chi phí giao dịch giữa các cặp sau:
Cặp 1: So sánh chi phí giao dịch giữa kênh 1 với kênh 2
Cặp 2: So sánh chi phí giao dịch giữa kênh 1 với kênh 3
Chi phí giao dịch Kênh 1 = Chi phí Giao dịch bên bán lúa + Chi phí Giao dịch bên
mua lúa
lương thực Mua, bán lúa
Giao dịch
Trang 23Chi phí giao dịch Kênh 2 = Chí phí Giao dịch 2.1 + Chi phí Giao dịch 2.2
Chi phí Giao dịch 2.1 = Chi phí giao dịch bên bán lúa + chi phí giao dịch bên mua lúa
Bên bán (nông dân)
Chi phí thương thảo, hao hụt lúa (do
thời gian thu hoạch không đúng thời
điểm lúa chín và thời gian chờ bên
mua nhận lúa);
Chi phí bảo quản lúa (trường hợp
bên mua không nhận lúa ngay sau
khi thu hoạch);
Chi phí bốc xếp lúa từ ruộng lên bờ;
Chi phí vận chuyển đến điểm tập kết;
Chi phí tổn thất do hợp đồng bị hủy
Bên mua ( công ty lương thực)
Chi phí tìm kiếm, soạn thảo, thương thảo hợp đồng, thông báo về việc hợp đồng đã ký kết
Chi phí theo dõi, giám sát;
Chi phí điều hành quản lý, quản lý rủi ro; chi phí pháp lý;
Chi phí thu gom lúa (chi phí thực hiện hợp đồng);
Chi phí vận chuyển, bốc xếp, Chi phí bảo quản, hao hụt;
Chi phí sấy;
Chi phí xay xát, lau bóng;
Chi phí cơ hội cho việc đầu tư, ứng vốn sản xuất (giống, thuốc BVTV,
Bên bán (nông dân)
Chi phí thương thảo, hao hụt lúa (do
thời gian thu hoạch không đúng thời
điểm lúa chín và thời gian chờ bên
mua nhận lúa);
Chi phí bảo quản lúa (trường hợp
bên mua không nhận lúa ngay sau
khi thu hoạch);
Chi phí bốc xếp lúa từ ruộng lên bờ;
Chi phí vận chuyển đến điểm tập kết;
Chi phí tổn thất do hợp đồng bị hủy
Bên mua ( nhà máy chế biến)
Chi phí tìm kiếm, thương thảo;
Chi phí bốc xếp, vận chuyển;
Chi phí quản lý, hao hụt;
Chi phí sấy, chi phí bảo quản;
Chi phí xay xát, lau bóng;
Chi phí tổn thất do hợp đồng bị hủy
Trang 24 Chi phí Giao dịch 2.2 = Chi giao dịch bên bán gạo + chi phí giao dịch bên mua gạo
Chi phí giao dịch Kênh 3 = Chí phí Giao dịch 3.1 + Chi phí Giao dịch 3.2
Chi phí Giao dịch 3.1 = Chi phí giao dịch bên bán lúa + chi phí giao dịch bên mua lúa
Chi phí Giao dịch 3.2 = Chi giao dịch bên bán gạo + chi phí giao dịch bên mua gạo
2.4.2 Xác định giống lúa và loại gạo
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm thị trường đối với giống lúa lúa chất lượng cao (Jasmine 85, Nàng Hoa 9, VD 20), lúa thường (IR50404) và loại gạo 5% Việc xác định giống lúa và loại gạo dựa vào ba yếu tố chính Thứ nhất, giống lúa phổ biến trong cơ cấu
Bên bán ( nhà máy chế biến)
Chi phí tìm đầu ra, thương thảo;
Chi phí vận chuyển, quản lý;
Chi phí hao hụt, chi phí bảo quản
gạo
Bên mua ( công ty lương thực)
Chi phí tìm kiếm, thương thảo, Chi phí bốc xếp, quản lý;
Bên bán (nông dân)
Chi phí thương thảo, hao hụt lúa (do
thời gian thu hoạch không đúng thời
điểm lúa chín và thời gian chờ bên
mua nhận lúa);
Chi phí bảo quản lúa (trường hợp
bên mua không nhận lúa ngay sau
khi thu hoạch);
Chi phí bốc xếp lúa từ ruộng lên bờ;
Chi phí vận chuyển đến điểm tập kết;
Chi phí tổn thất do hợp đồng bị hủy
Bên mua ( thương lái)
Chi phí tìm kiếm, thương thảo;
Chi phí bốc xếp, vận chuyển;
Chi phí quản lý, hao hụt;
Chi phí sấy, chi phí bảo quản;
Chi phí xay xát, lau bóng;
Chi phí tổn thất do hợp đồng bị hủy
Bên bán ( thương lái)
Chi phí tìm đầu ra, thương thảo;
Chi phí vận chuyển, quản lý;
Chi phí hao hụt, chi phí bảo quản gạo
Bên mua ( công ty lương thực)
Chi phí tìm kiếm, thương thảo, Chi phí bốc xếp, quản lý;
Chi phí hao hụt
Trang 25giống lúa được gieo trồng vụ Đông Xuân 2015-2016 Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tiền Giang (2016), cơ cấu giống lúa của tỉnh bao gồm lúa thường (chiếm 36%), lúa thơm, đặc sản (chiếm 32,5%), lúa chất lượng cao (chiếm 28,5%) (Phụ lục 2.2) Thứ hai, giống lúa được gieo trồng tại cánh đồng lớn vụ Đông Xuân 2015-2016 trên địa bàn tỉnh với các loại giống Jasmine 85, Nàng Hoa 9 (lúa thơm đặc sản), IR50404 (lúa thường) (Sở Nông nghiệp và PTNT Tiền Giang, 2016) Thứ ba, cơ cấu gạo xuất khẩu theo hợp đồng thương mại năm 2016 của các công ty lương thực xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh Cơ cấu gạo xuất khẩu bao gồm gạo thơm 5% tấm (62%), gạo thường 5% tấm (15,87%), gạo thường 15% tấm (17,63%) (Sở Công Thương Tiền Giang, 2016) Tác giả chọn gạo thơm 5% tấm và gạo thường 5% tấm, vì có tính tương đồng về tỷ lệ tấm (Phụ lục 2.3)
2.4.3 Các giả thuyết về lợi ích của cánh đồng lớn mang lại
Giả thuyết 1: So với nông dân không tham gia cánh đồng lớn, nông dân tham gia cánh đồng lớn hưởng nhiều lợi ích hơn trong quá trình sản xuất và được ưu tiên hưởng các chính sách nông nghiệp?
Giả thuyết 2: Công ty lương thực có thể chủ động nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu xuất khẩu sang thị trường khó tính khi tham gia cánh đồng lớn?
Các giả thuyết này được kiểm định thông qua ý kiến của các nông dân đã hoặc đang ký kết hợp đồng với công ty lương thực, và ý kiến của công ty lương thực về nguyên nhân tham gia cánh đồng lớn
2.5 Sơ đồ nghiên cứu
Xác định đối tượng phỏng vấn
Xây dựng bảng câu hỏi Thiết kế nghiên cứu
Phân tích dữ liệu
Kết luận
Trang 26CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA CÁC TÁC NHÂN TRUNG GIAN TRÊN THỊ
TRƯỜNG LÚA, GẠO TẠI TỈNH TIỀN GIANG
3.1 Đặc điểm của các tác nhân trung gian trên thị trường lúa, gạo
3.1.1 Thương lái
Thương lái có tính linh hoạt và nhạy bén thị trường Nhờ tận dụng ưu điểm này, thương lái vừa mang tính hiệu giá cả vừa làm cầu nối giữa nông dân và công ty lương thực, tham gia nhiều khâu trong chuỗi giá trị lúa, gạo (Nguyễn Công Thành và cộng sự, 2015) Thương lái linh hoạt ở khâu thu mua và vận chuyển Họ có khả năng tổ chức phương thức thu mua và vận chuyển phù hợp với địa hình sông ngòi chằng chịt của đồng bằng sông Cửu Long Họ
sử dụng ghe làm phương tiện vận chuyển cùng với 2 lao động cho việc thu gom bình quân
113 tấn/tháng (Đào Thế Anh và cộng sự, 2013) Nhờ vậy, họ đi đến tận chân ruộng ở vùng sâu, vùng xa để thu mua lúa (Nguyễn Công Thành và cộng sự, 2015) Thương lái nhạy bén với biến đổi của giá cả thị trường, họ có thể ứng biến nhanh trong quá trình thu mua lúa Khả năng ứng biến nhanh giúp thương lái định giá mua lúa linh hoạt hơn
Thương lái hoạt động trong môi trường có tính cạnh tranh cao Thị trường lúa, gạo đồng bằng sông Cửu Long có tính cạnh tranh cao, rào cản gia nhập ngành gần như không tồn tại
Số lượng thương lái khá đông, với gần 10.000 thương lái và địa bàn thu mua khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long, nên khả năng thương lái tác động đến giá cả lúa gạo trên thị trường là rất thấp Phần lớn thương lái có quy mô vốn dưới 500 triệu đồng (chiếm 70%), chỉ có 8% có quy mô vốn hơn 1,2 tỷ đồng, còn lại quy mô vốn dao động từ 500 triệu đồng đến 1,2 tỷ đồng (Nguyễn Đức Thành và cộng sự, 2015)
Hoạt động của thương lái thường bất định về địa bàn thu mua Mỗi thương lái có nhiều khu vực thu mua, thường là liên tỉnh và thu mua qua môi giới (từ địa phương gọi là “cò”) Thương lái Tiền Giang có thể thu mua lúa ở Đồng Tháp, Long An và ngược lại Hơn nữa,
họ thu mua quà “cò”, chứ không trực tiếp thương thảo với nông dân
Mặt khác, thương lái cũng là đối tượng chịu rủi ro bởi diễn biến khó lường của thị trường
Họ gặp rủi ro trong quá trình giao dịch, nhất là rủi ro biến động giá và thu hồi vốn Nếu giá lúa giảm sau khi họ đã thỏa thuận giá mua, thì họ buộc phải lỗ vốn khi mua cao bán thấp, hoặc “bỏ cọc”, khi đó họ sẽ mất uy tín trên thương trường
Trang 273.1.2 Nhà máy chế biến gạo (nhà máy xay xát, lau bóng)
Thời gian hoạt động có tính thời vụ cao Thời gian hoạt động cao điểm của các nhà máy rơi vào tháng 3, tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Các nhà máy tập trung hoạt động do nhu cầu xuất khẩu hơn là chịu ảnh hưởng bởi thời vụ thu hoạch Điều này cho thấy, các nhà máy chế biến là đối tác đầu vào quan trọng, và có sức ảnh hưởng cao đến hoạt động xuất khẩu gạo của công ty lương thực (Nguyễn Công Thành và cộng sự , 2011) Hàng năm, các nhà máy chế biến gạo ở đồng bằng sông Cửu Long xay chà trung bình 33.360 tấn/năm, với khoảng dao động từ 2.040 tấn/năm đến 100.000 tấn/năm Tuy nhiên, các nhà máy vẫn chưa hoạt động hết công suất thiết kế (Nguyễn Công Thành, 2011)
Các nhà máy phân công thực hiện các khâu chế biến gạo dựa vào quy mô Tùy theo quy
mô, các nhà máy thực hiện các công đoạn khác nhau trong quy trình chế biến gạo Với công suất trung bình 2 tấn/giờ các nhà máy thực hiện công đoạn xay (tách vỏ), sản lượng bóc vỏ chiếm 87,5% sản lượng chế biến của nhà máy Các nhà máy có công suất cao hơn thì tỷ lệ thực hiện công đoạn tách vỏ càng giảm Các nhà máy có công suất hơn 20 tấn/giờ thực hiện công đoạn lau bóng gạo, sản lượng gạo lau bóng chiếm 92,5% sản lượng chế biến của nhà máy (Đào Thế Anh và cộng sự, 2013)
Mặc dù các nhà máy còn có khả năng tích tụ vốn, công nghệ và nắm bắt thông tin, nhưng lại không có khả năng kiểm soát thị trường Do hầu như không có rào cản gia nhập ngành, nên có nhiều nhà máy cùng thực hiện công đoạn chế biến gạo Bốn nhà máy hàng đầu chỉ chiếm 3,54% thị phần trên thị trường chế biến gạo ở đồng bằng sông Cửu Long (Lưu Thanh Đức Hải, 2005)
Ngoài ra, nhà máy chế biến thường tập trung dọc các tuyến sông để tận dụng sự thuận tiện của giao thông đường thủy Vận chuyển bằng đường thủy tiết kiệm chi phí hơn so với đường bộ Các chi phí tiết kiệm bao gồm cả chi phí nhiên liệu vận chuyển và chi phí bốc xếp
3.2 Khái quát về cánh đồng lớn
3.2.1 Khái niệm về cánh đồng lớn
“Cánh đồng lớn là cách thức tổ chức sản xuất trên cơ sở hợp tác, liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp, tổ chức đại diện của nông dân trong sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản trên cùng địa bàn, có quy mô ruộng đất
Trang 28lớn, với mục đích tạo ra sản lượng nông sản hàng hóa tập trung, chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh của nông dân trên thị trường nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân và đối tác tham gia.” (Chính phủ, 2013)
Cánh đồng lớn được xác định dựa trên tiêu chí phù hợp với quy hoạch của địa phương, áp dụng đồng bộ quy trình sản xuất và thực hiện một trong các hình thức liên kết sau: (i) liên kết giữa doanh nghiệp tiêu thụ và doanh nghiệp cung cấp đầu vào với nông dân hoặc tổ chức đại diện nông dân; (ii) liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân; (iii) liên kết giữa doanh nghiệp với tổ chức đại diện nông dân; (iv) liên kết giữa các tổ chức đại diện nông dân với nông dân với quy mô diện tích tối thiểu phù hợp với từng địa phương (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014) Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang (2016), quy định quy mô diện tích tối thiểu của cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh đối với cây lúa là 50 ha liền thửa
3.2.2 Lợi ích, bất lợi từ cánh đồng lớn mang lại
Trường hợp ở đồng bằng sông Cửu Long
Chi phí sản xuất giảm, cải thiện năng suất và ổn định đầu ra là các lợi ích nông dân nhận được khi tham gia cánh đồng lớn (Nguyễn Thành Công và cộng sự, 2015) Chi phí sản xuất giảm, năng suất được cải thiện là kết quả của quá trình áp dụng quy trình sản xuất do công ty lương thực đề xuất và hỗ trợ kỹ thuật Chi phí sản xuất bao gồm chi phí giống, chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí lao động và chi phí thuê máy móc Trong đó, chi phí giống được cấu thành bởi lượng giống và giá giống, tham gia cánh đồng lớn, lượng giống giảm mạnh, ngược lại, giá giống tăng nhẹ Các chi phí còn lại giảm so chi phí trước khi tham gia cánh đồng lớn, chỉ ngoại trừ chi phí thuê máy móc là không đổi Nếu các yếu
tố khác không đổi, chi phí sản xuất giảm và năng suất tăng dẫn đến lợi nhuận của nông dân khi tham gia cánh đồng lớn cao hơn trước đó (Hồ Cao Việt, 2014, 2015)
Song, lợi nhuận chưa phải là yếu tố hấp dẫn nông dân tham gia liên kết khi họ phải đối mặt với không ít rủi ro Đó là rủi ro từ thị trường kết hợp rủi ro về niềm tin của nông dân đối với công ty lương thực Trường hợp giá lúa xuống thấp hơn so với giá công ty lương thực cam kết, công ty lương thực tìm cách trì hoãn thời gian thu mua với lý do chưa sắp xếp phương tiện vận chuyển Việc trì hoãn kéo dài sẽ ảnh hưởng đến chất lượng lúa, khi đó, nông dân chịu hao hụt sản lượng và giảm giá bán lúa, do chất lượng lúa không đúng như
Trang 29yêu cầu của hợp đồng đã ký (Nguyễn Công Thành và cộng sự, 2015) Trường hợp hai bên không đi đến thỏa thuận giá, nông dân phải tìm thương lái để bán lúa, lúc này, lợi thế thương lượng của nông dân bị giảm, hơn nữa lòng tin với công ty lương thực bị mai một
Trường hợp tỉnh Tiền Giang
Khi tham gia cánh đồng lớn, nông dân được hỗ trợ kỹ thuật canh tác, ưu tiên thực hiện dự
án hỗ trợ nông nghiệp Trong quá trình sản xuất, nông dân được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn
kỹ thuật sản xuất và phương pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tiết kiệm, an toàn, mà không phải trả chi phí hướng dẫn Công ty Lương thực Tiền Giang ký kết với Công ty Cổ phần Khử Trùng Việt Nam (gọi là tắt VFC), VFC hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân và được phép giới thiệu nông dân các loại thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo an toàn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong hạt gạo (Huỳnh Hũu Hòa, 2017)
Ngoài ra, nông dân còn được ưu tiên tham dự các hội thảo hướng dẫn quy trình canh tác, trong khi các hộ ngoài cánh đồng lớn không được tham dự Đây cũng là yếu tố thu hút nông dân tham gia cánh đồng lớn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tiền Giang, 2017) Các dự án nông nghiệp được ưu tiên thực hiện ở địa bàn có diện tích liên kết lớn, như dự án hỗ trợ đường dẫn nước, xây dựng nhà máy sấy, kho… (Lê Văn Tèo , 2017) Nông dân có thêm lợi ích chi phí sản xuất giảm Công ty lương thực cung cấp loại giống chất lượng và nguồn gốc rõ ràng, nên lúa ít bị lẫn, sâu bệnh, từ đó, chi phí khử lẫn và phun xịt được tiết kiệm Chi phí khử lẫn tiết kiệm đến 90%, chi phí phun xịt tiết kiệm được 180.000 đồng/công/vụ (Nguyễn Văn Việt, 2017) Mặt khác, do được hướng dẫn kỹ thuật nên nông dân giảm lượng giống gieo sạ và chi phí thuốc bảo vệ thực vật (Lê Văn Đợi, 2017)
Hơn nữa, nông dân không bị ép giá nhất là các hộ có diện tích nhỏ hay trà lúa “xấu” Bị ép giá thu mua lúa là cám cảnh mà bà con phải chịu bao đời nay, nhất là vào thời điểm thu hoạch rộ Trong cánh đồng lớn, Công ty lương thực thu mua theo giá thị trường, đặc biệt là
áp dụng cơ chế một giá cho cả cánh đồng (Huỳnh Hữu Hòa, 2017) Công ty lương thực chỉ
áp dụng giá thấp hơn đối với trà lúa bị sập trên diện tích rộng và ảnh hưởng đến màu lúa và chất lượng hạt lúa (Nguyễn Văn Việt, 2017)
Công ty lương thực chủ động nguyên liệu đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Công ty Lương thực Tiền Giang đặt hàng nông dân các giống lúa thị trường xuất khẩu có nhu cầu như Jasmine
Trang 3085, Nàng hoa 9 Công ty đang xây dựng thương hiệu “Gạo Chín Rồng Vàng” với các nguyên liệu gạo chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu khó tính như Nhật Bản, Mỹ,… Sản lượng gạo thơm chiếm 90% trong tổng sản lượng gạo xuất khẩu trực tiếp của Công ty (Công ty Lương thực Tiền Giang, 2016)
3.3 Vai trò của các tác nhân trung gian trong thị trường lúa, gạo tại Tiền Giang
3.3.1 Những điểm chung về chi phí giao dịch của các Kênh giao dịch
Bảng 3 1 Mô tả về giao dịch và chi phí giao dịch lúa, gạo tỉnh Tiền Giang Kênh giao dịch Mô tả về giao dịch Chi phí giao dịch
thực
Chi phí giao dịch của bán lúa (nông dân) + chi phí giao dịch của bên mua lúa (công ty lương thực)
biến công ty lương thực
Chi phí giao dịch mua, bán lúa (giữa nông dân và nhà máy) + Chi phí giao dịch mua, bán gạo (giữa nhà máy và công ty lương thực)
công ty lương thực
Chi phí giao dịch mua, bán lúa (giữa nông dân và thương lái) + Chi phí giao dịch mua, bán gạo (giữa thương lái và công ty lương thực)
Nguồn: Võ Thị Thanh Lộc, 2011 và thông tin khảo sát của tác giả
Điểm chung đầu tiên ở cả ba kênh, là chi phí giao dịch của bên bán lúa bằng nhau Các loại chi phí mà nông dân chịu bao gồm: chi phí thương thảo, chi phí hao hụt, chi phí bảo quản lúa, chi phí bốc xếp, chi phí vận chuyển đến điểm tập kết, chi phí tổn thất do hợp đồng bị hủy, trong đó, chi phí thương thảo, chi phí hao hụt, chi phí bảo quản lúa, chi phí tổn thất do hợp đồng bị hủy không lượng hóa được, do sự thuận tiện của nông dân, sự mơ hồ về lượng hao hụt và tính phi thị trường
Sự thuận tiện của nông dân thấy rõ nhất ở việc thương thảo, bên mua lúa tìm đến tận cánh đồng để mua, nông dân có thể thương thảo giá bán lúa trong lúc lao động tại thửa ruộng của họ Do vừa lao động vừa thương lượng, mà không mất thời gian và công sức cho việc này, nên không phát sinh chi phí thương thảo
Trong quá trình thu hoạch lúa chắc chắn xảy ra hao hụt, đó là lượng lúa rụng trên ruộng, nhưng không xác định được tỷ lệ, do đó, tác giả không tính toán được chi phí hao hụt của
Trang 31nông dân Theo ý kiến của những hộ trồng lúa, khi lúa chín quá mức (từ địa phương gọi là chín rục) sẽ rụng nhiều hơn và ảnh hưởng đến sản lượng Tuy nhiên, họ không xác định được mức hao hụt là bao nhiêu và cũng không có căn cứ để định lượng Ngược lại, khi thu hoạch lúa chưa đạt độ chín cũng ảnh hưởng đến chất lượng và tỷ lệ thu hồi Nhưng theo ý kiến của các bên mua lúa, khó định lượng, phân tách hao hụt do lúa xanh non Định mức thu hồi sau khi sấy, bóc vỏ tùy thuộc vào sản phẩm đầu ra, ví dụ: bóc vỏ lúa ra gạo lức định mức thu hồi là 75%-85%, lúa chế biến ra gạo trắng 5% tỷ lệ thu hồi là 65%, lúa chế biến ra gạo 15% tỷ lệ thu hồi là 70% Hơn nữa, tỷ lệ thu hồi này còn phụ thuộc vào chất lượng lúa và giống lúa (Nguyễn Văn Tám, 2017)
Tính phi thị trường thể hiện rõ nhất ở chi phí bảo quản lúa Nông dân chỉ bảo quản lúa trong trường hợp bên mua không nhận lúa ngay sau thu hoạch, buộc họ phải bảo quản chờ giao lúa Điều đáng chú ý là nông dân không thuê mướn mà tự tổ chức giữ lúa và chỉ mất thời gian một đêm Riêng chi phí tổn thất khi bị hủy hợp đồng chịu ảnh hưởng nhiều bởi biến động của thị trường nên tác giả không lượng hóa được cụ thể Trường hợp công ty lương thực hủy hợp đồng thì nông dân được lợi ở điểm không phải trả chi phí hỗ trợ kỹ thuật, trường hợp thương lái, nhà máy chế biến hủy hợp đồng thì nông dân không phải trả lại tiền đặt cọc, do đó, trước mắt là nông dân không chịu tổn thất Tuy nhiên, tổn thất của nông dân lại xảy ra khi giá lúa sau khi hợp đồng bị hủy giảm hơn giá đã thỏa thuận với bên mua trước đó Mức giảm này tùy thuộc vào giá thị trường nên tác giả không lượng hóa được Tổng chi phí giao dịch của nông dân ở mức từ 86.428 đồng/tấn đến 235.000 đồng/tấn (Phụ lục 3.1)
Điểm chung thứ hai là chi phí giao dịch ở phía Đông (các huyện Gò Công Tây, Gò Công Đông, thị xã Gò Công) cao hơn ở phía Tây (các huyện Cái Bè, Cai Lậy, thị xã Cai Lậy), do hai nguyên nhân (Hình 3.1, Phụ lục 3.2)
Trang 32Hình 3 1 So sánh chi phí giao dịch ở các huyện Phía Tây và Phía Đông
Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào thông tin phỏng vấn
Thứ nhất, chi phí giao dịch phụ thuộc vào giá dịch vụ thực hiện các giao dịch Mức giá dịch vụ sấy ở phía Đông cao gấp đôi phía Tây với mức chênh lệch là 120.000 đồng/tấn Mặc dù, mức chênh lệch giá dịch vụ xay xát thấp hơn dịch vụ sấy – phía Đông chỉ cao gấp rưỡi phía Tây nhưng xét về số tuyệt đối thì mức chênh lệch này khá cao 110.000 đồng/tấn Dịch vụ bốc vác chênh lệch 17.500 đồng/tấn (Phụ lục 3.3)
Thứ hai, chi phí giao dịch chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm địa hình Ở phía Tây nhờ có nhiều kênh lạch nên thuận tiện cho việc vận chuyển lúa bằng ghe với trọng tải từ 20 tấn trở lên Ngược lại, ở phía Đông, chủ yếu vận chuyển lúa bằng đường bộ với trọng tải xe tải 15 tấn Thêm vào đó, chi phí vận chuyển đường bộ cao gấp ba chi phí vận chuyển đường thủy Mức chi phí vận chuyển đường bộ trung bình 200.000 đồng/tấn, mức chi phí vận chuyển đường thủy trung bình 75.000 đồng/tấn (Phụ lục 3.4) Hơn nữa, ở phía Tây, các cánh đồng nằm cặp kênh, lạch nên nông dân chỉ tốn chi phí vận chuyển lúa lên bờ ruộng, còn ở phía Đông phát sinh thêm chi phí vận chuyển lúa đến điểm tập kết (điểm thuận tiện cho xe tải trọng 15 tấn) với mức chi phí 100.000 đồng/tấn
Ở Kênh 2 và Kênh 3 có mức chênh lệch do yếu tố địa lý là 571.072 đồng/tấn, tương đương 59% chi phí giao dịch cùng Kênh ở phía Tây Mức chênh lệch này ở Kênh 1 là 252.503 đồng/tấn, tương đương 39% chi phí giao dịch Kênh 1 ở phía Tây
Trang 333.3.2 So sánh chi phí giao dịch của các Kênh giao dịch
3.3.2.1 So sánh chi phí giao dịch giữa Kênh 1 và Kênh 2
Bảng 3 2 Mô tả về giao dịch và chi phí giao Kênh 1, Kênh 2
Kênh giao
Chi phí giao dịch bán lúa (nông
dân) (1) + chi phí giao dịch mua lúa (công ty lương thực) (2)
công ty lương thực
Chi phí giao dịch mua lúa (1) + chi phí giao dịch bán lúa (2) + chi phí giao dịch bán gạo (3) + chi phí giao dịch mua gạo (4)
Nguồn: Võ Thị Thanh Lộc, 2011 và thông tin khảo sát của tác giả
Hình 3 2 So sánh chi phí giao dịch giữa Kênh 1 và Kênh 2
Nguồn: Tác giả tính toán dựa vào thông tin phỏng vấn
Chi phí giao dịch Kênh 1 thấp hơn Kênh 2 từ 316.284,3 đồng/tấn đến 634.852,7 đồng/tấn (Phụ lục 3.5), do ba nguyên nhân Thứ nhất, số giao dịch nhiều hơn kéo theo chi phí giao dịch cao hơn Trong khi Kênh 1 thực hiện một giao dịch với hai đối tác tham gia giao dịch, thì Kênh 2 thực hiện hai giao dịch với ba đối tác tham gia giao dịch Do đó, Kênh 2 phát sinh lặp lại chi phí giao dịch thương thảo, chi phí vận chuyển, chi phí bốc vác, quản lý, chi phí sấy và lau gạo Tổng các chi phí giao dịch này là 156.300 đồng/tấn, chiếm đến 49,4% mức chi phí giao dịch chênh lệch giữa Kênh 1 và Kênh 2 Tuy nhiên, mức chi phí này thấp hơn chi phí tổn thất hợp đồng ở Kênh 2 (chiếm 79% mức chi phí giao dịch chênh lệch)
Trang 34Thứ hai, chi phí tổn thất hợp đồng là chi phí do các đối tác tham gia giao dịch thỏa thuận, nên mỗi Kênh có mức chi phí khác nhau Chi phí tổn thất do không thực hiện hợp đồng ở Kênh 2 cao hơn Kênh 1 Nhà máy chế biến đặt cọc bình quân 2 triệu đồng/ha, tương đương 250.000 đồng/tấn (năng suất bình quân 8 tấn/ha) Trong khi đó, chi phí tổn thất hợp đồng của công ty lương thực, được xác định là chi phí ngày công lập biên bản hủy hợp đồng Với diện tích 3.150 ha, chi phí hủy hợp đồng là 1.072,4 đồng/tấn
Tuy nhiên, thực tế nhà máy chế biến không mất chi phí hủy hợp đồng, nghĩa là không mất tiền đặt cọc (Lê Văn Tèo, 2017) Trường hợp giá lúa tăng cao hơn giá đặt cọc, họ vẫn mua theo giá đặt cọc Ngượi lại, giá lúa giảm hơn giá đặt cọc, thì họ sẽ tìm cách ép nông dân bán với giá thấp hơn, hoặc chỉ mua đủ số tiền đặt cọc Chỉ khi nào giá lúa giảm quá sâu, thì thương lái mới bỏ cọc Nhưng trường hợp này rất hiếm xảy ra, thậm chí chưa từng xảy ra (Nguyễn Văn Việt, 2017)
Thứ ba, so với Kênh 2 thì Kênh 1 phát sinh nhiều loại chi phí giao dịch mới Các chi phí tìm kiếm, thương thảo hợp đồng, chi phí theo dõi, giám sát, chi phí điều hành, quản lý rủi
ro, chi phí pháp lý, chi phí cơ hội (đầu tư đầu vào không tính lãi), là các chi phí chỉ có ở Kênh 1 Ngoại trừ chi phí cơ hội, các chi phí khác đều giảm nếu cánh đồng lớn đáp ứng điều kiện liền thửa và quy mô lớn Tuy nhiên, nếu quy mô cánh đồng lớn vượt quá ngưỡng tối ưu của nhân tố sản xuất, thì chi phí tìm kiếm, thương thảo hợp đồng, chi phí theo dõi, giám sát, chi phí điều hành, quản lý rủi ro, chi phí pháp lý, sẽ tăng thêm giao dịch (Huỳnh Hữu Hòa, 2017) Chi phí cơ hội của việc đầu tư giống bình quân là 8.807,6 đồng/tấn Chi phí này tính dựa vào tiền lãi ngân hàng trong vòng 4 tháng, với mức lãi tiết kiệm năm 2016
là 7%/năm, tương ứng với số tiền mua giống lúa bình quân trên tấn
3.3.2.2 So sánh chi phí giao dịch giữa Kênh 1 và Kênh 3
Bảng 3 3 Mô tả về giao dịch và chi phí giao dịch Kênh 1, Kênh 3
Kênh giao dịch Mô tả về giao dịch Chi phí giao dịch
lương thực
Chi phí giao dịch bán lúa (nông dân) (1) +
chi phí giao dịch mua lúa (công ty lương
Nguồn: Võ Thị Thanh Lộc, 2011 và thông tin khảo sát của tác giả