Phương pháp nghiên cứu định lượng: Tác giả thu thập thông tin, số liệu có liên quan đến đề tài từ BCTC đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM từ
Trang 1LÊ VĂN THỪA
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2LÊ VĂN THỪA
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Bùi Văn Dương
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3Tôi cam đoan rằng luận văn “Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hành Vi Quản
Trị Lợi Nhuận Trên Báo Cáo Tài Chính Tại Các Công Ty Niêm Yết Trên Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của
chính tôi
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các lý thuyết có liên quan và tham khảo các nghiên cứu trước đây của nhiều tác giả Dữ liệu, phương pháp ước lượng và kết quả là trung thực và đáng tin cậy
Không có sản phẩm nghiên cứu của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
TP.HCM, ngày tháng năm Tác giả
Lê Văn Thừa
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Xác định vấn đề nghiên cứu 3
a/ Đối tượng nghiên cứu 3
b/ Mục tiêu nghiên cứu 3
c/ Câu hỏi nghiên cứu 3
d/ Phạm vi nghiên cứu 4
e/ Phương pháp nghiên cứu 4
III Đóng góp của luận văn 5
a/ Về mặt lý luận 5
b/ Về mặt thực tiễn 5
IV Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 6
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.3 Nhận xét 10
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 12
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 13
2.1 Lợi nhuận 13
Trang 52.2.2 Thủ thuật quản trị lợi nhuận lợi nhuận 15
2.2.2.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán 15
2.2.2.2 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán 16
2.2.2.3 Quản trị lợi nhuận thông qua các quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh doanh 16
2.2.3 Cơ sở hành vi quản trị lợi nhuận – Cơ sở dồn tích 17
2.2.3.1 Kế toán theo cơ sở tiền 17
2.2.3.2 Kế toán theo cơ sở dồn tích 17
2.2.4 Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận 18
2.2.4.1 Động cơ về thị trường chứng khoán 19
2.2.4.2 Động cơ về tiết lộ/che giấu các thông tin 20
2.2.4.3 Động cơ về pháp lý 20
2.2.4.4 Động cơ về tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành 21
2.2.4.5 Những động cơ bên trong 21
2.2.5 Những tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận 21
2.2.6 Các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận 22
2.2.6.1 Mô hình The Healy Model (1985) 23
2.2.6.2 Mô hình DeAngelo (1986) 24
2.2.6.3 Mô hình Friedlan (1994) 25
2.2.6.4 Mô hình The Jones Model (1991) 25
2.2.6.5 Mô hình Dechow, Sloan and Sweeney (1995) – Mô hình Modified Jones (1991) 26
2.2.6.6 Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005) 27
2.2.6.7 Mô hình Phạm Thị Bích Vân (2012) 27
Trang 63.1 Quy trình nghiên cứu 30
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 30
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 30
3.2 Giả thiết nghiên cứu 31
3.2.1 Đòn bẩy tài chính 31
3.2.2 Đa dạng đầu tư 33
3.2.3 Biến tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư 33
3.2.4 Quy mô công ty 34
3.2.5 Chất lượng kiểm toán 35
3.2.6 Tỷ lệ độc lập của HDQT 36
3.3 Mô hình nghiên cứu và đo lường 37
3.4 Chọn mẫu và dữ liệu nghiên cứu 39
3.5 Phương pháp phân tích số liệu 40
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 43
4.1 Xử lý số liêu 43
4.2 Kết quả thống kê mô tả 44
4.2.1 Biến phụ thuộc QTLN 44
4.2.2 Các biến độc lập, biến giả 45
4.3 Phân tích tương quan 47
4.4 Kiểm định giả thiết về trị trung bình của hai tổng thể (Independent-samples T-test) 48
4.4.1 Biến phụ thuộc và biến Chất lượng kiểm toán 49
4.4.2 Biến phụ thuộc và biến đa dạng đầu tư 50
Trang 74.5.2 Kiểm định vấn đề đa cộng tuyến 52
4.5.3 Kiểm định d của Durbin – Watson 56
4.6 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 58
TỔNG KẾT CHƯƠNG 4 61
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị 62
5.3 Hạn chế đề tài 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8BCTC Báo cáo tài chính
CBTT Công bố thông tin
CEO Giám đốc điều hành
DA Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
QTLN Quản trị lợi nhuận
Trang 9Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả Biến phụ thuộc - Hành vi quản trị lợi nhuận 44
Bảng 4.2 Kết quả thống kê mô tả các biến độc lập (HOSE) 44
Bảng 4.3 Kết quả bảng tần số biến độc lập (biến định tính) KIEMTOAN 45
Bảng 4.4 Kết quả bảng tần số biến độc lập (biến định tính) DAUTU 46
Bảng 4.5 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập, biến phụ thuộc 47
Bảng 4.6 : Bảng kết quả kiểm định Independent – samples T-test đánh giá sự khác biệt quản trị lợi nhuận giữa nhóm kiểm toán thuộc Big 4 (1) và ngoài Big 4 49
Bảng 4.7 : Bảng kết quả kiểm định Independent – samples T-test đánh giá sự khác biệt về quản trị lợi nhuận giữa nhóm có đa dạng đầu tư (1) và nhóm không 50
Bảng 4.8: Bảng ANOVA cho kiểm định F 51
Bảng 4.9: Kết quả đánh giá sự phù hợp của mô hình 52
Bảng 4.10: Bảng kết quả hồi quy đa biến 53
Bảng 4.11: Bảng ANOVA cho kiểm định F sau khi loại biến DONBAYDD 54
Bảng 4.12: Bảng kết quả hồi quy đa biến sau khi loại biến DONBAYDD 54
Bảng 4.13: Bảng ANOVA cho kiểm định F sau khi loại biến DAUTU 55
Bảng 4.14: Bảng kết quả hồi quy đa biến sau khi loại biến DAUTU 55
Bảng 4.15: Kết quả thống kê Durbin-Watson 56
Bảng 4.16: Tổng hợp về kết quả hồi quy từ nghiên cứu 57
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng phát triển và thu hút sự quan tâm của đại đa số xã hội Trong thị trường đó, có thể nói báo cáo tài chính là một trong những công cụ thực hiện được chức năng truyền tải thông tin tài chính có hiệu quả nhất đến nhà đầu tư và các bên có liên quan Báo cáo tài chính giúp nhà đầu tư và các bên liên quan có thể đánh giá đúng đắn thực trạng doanh nghiệp để từ đó có thể phân bổ nguồn vốn một cách tối ưu
Mặc dù báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết thường được kiểm toán, tuy nhiên, những giới hạn nhất định trong khả năng của công tác kiểm toán cũng như những khe hở trong các chuẩn mực kế toán đã làm hạn chế khả năng phát hiện được hết các sai sót và gian lận Một điển hình cụ thể mới đây như trường hợp của cổ phiếu Eximbank (mã: EIB) bị đưa vào diện cảnh báo trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM từ ngày 1/4/2016 Theo Thời báo Kinh Doanh - 06/04/2016: “Nguyên nhân
là do sau khi điều chỉnh hồi tố, lợi nhuận chưa phân phối tại ngày 31/12/2014 của Eximbank đã bị lỗ 834,56 tỷ đồng, thay vì mức lãi 114,01 tỷ đồng Báo cáo kiểm toán hợp nhất năm 2015 cũng điều chỉnh lợi nhuận chưa phân phối tại ngày 31/12/2015, từ lãi 161 tỷ đồng xuống lỗ 817,47 tỷ đồng Do bị lỗ luỹ kế hai năm liên tiếp nên cổ phiếu EIB bị rơi vào diện cảnh báo theo quy định chế niêm yết chứng khoán của Hose Được biết, báo cáo tài chính năm 2014-2015 của Eximbank lần lượt được kiểm toán bởi hai công ty uy tín là Ernst &Young Việt Nam và KPMG Dù được hai đơn vị kiểm toán
“soi” kỹ báo cáo, số liệu lợi nhuận mà Eximbank công bố đến giờ lại thành lãi “ảo”, lỗ thật Hơn nữa, cổ phiếu EIB có thể bị cảnh báo sớm hơn từ một năm trước nếu kết quả kiểm toán chính xác ngay từ đầu.”
Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là thông tin về lợi nhuận có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định nhiều bên liên quan Những hành
vi điều chỉnh lợi nhuận theo mục đích của nhà quản lý có thể làm cho báo cáo tài chính
Trang 11không còn phản ánh được bản chất thực sự của tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định nhiều bên liên quan
Trước thực trạng đó, tác giả đã tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận Tác giả nhận thấy nhân tố đa dạng đầu tư và nhân tố tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư chỉ mới được tác giả Nasrollah Takhtaei et al (2013) nghiên cứu và chưa nhận thấy có nghiên cứu nào trong nước khảo sát nhân tố này Vì thế trong luận văn này, tác giả sẽ đi vào nghiên cứu và khảo sát 3 nhân tố: đòn bẩy tài chính, đa dạng đầu tư và nhân tố tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy: nhân tố quy mô công ty có 5 tác giả nghiên cứu (Huỳnh Thị Vân (2012), Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014), Trần Thị Mỹ Tú (2014) và Iram Naz et al (2015)) Tuy nhiên, tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) và Iram Naz et al (2015) cho kết quả không có ý nghĩa thống
kê trong khi Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) cho kết quả nghịch biến và 2 tác giả còn lại cho kết quả đồng biến Vì thế, trong luận văn này, tác giả sẽ chọn nhân tố quy
mô công ty để khảo sát lại
Ngoài ra, tác giả còn nhận thấy: nhân tố chất lượng kiểm toán có 4 tác giả nghiên cứu (Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Trần Thị Mỹ Tú (2014), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) và Phan Thị Thanh Trang (2015)) Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) cho kết quả chất lượng kiểm toán không ảnh hưởng đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp trong khi 3 tác giả còn lại cho kết quả nghịch biến Và nhân tố tỷ lệ độc lập của HDQT có 3 tác giả nghiên cứu (Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Trần Thị Mỹ Tú (2014) và Giáp Thị Liên (2014)) Tuy nhiên, tác giả Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) cho kết quả không có ý nghĩa khảo sát trong khi 2 tác giả còn lại cho kết quả nghịch biến Vì thế, trong luận văn này, tác giả sẽ chọn nhân tố chất lượng kiểm toán và tỷ lệ độc lập của HDQT để khảo sát lại
Trước thực trạng đó, tôi đã chọn đề tài “Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hành Vi Quản Trị Lợi Nhuận Trên Báo Cáo Tài Chính Tại Các Công Ty Niêm Yết Trên Sàn
Trang 12Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh” Trên cơ sở thu thập, phân tích số
liệu, dữ liệu thực tế của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM,
đề tài đưa ra các kết luận khái quát để từ đó đưa ra một số đóng góp nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận
II Xác định vấn đề nghiên cứu
a/ Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự ảnh hưởng của 6 nhân tố đến hành vi quản trị lợi nhuận trên Báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM
b/ Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM
Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM
Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM
Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM
c/ Câu hỏi nghiên cứu
Có hay không có hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM?
Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM?
Có hay không có mối quan hệ giữa hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM với các nhân tố ảnh hưởng được xác định?
Trang 13Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố có mối quan hệ với hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM diễn ra như thế nào?
d/ Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: BCTC đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM, tuy nhiên, tác giả trừ ra tất cả các công ty thuộc ngành Tài chính, Ngân hàng và Bảo hiểm, bởi vì các công ty thuộc các ngành này, các quy định hiện hành về lập và trình bày BCTC không hoàn toàn đồng nhất với các công
ty thuộc các ngành còn lại trong toàn bộ mẫu này
Về thời gian: dữ liệu, số liệu và thông tin cần thiết cho đề tài được thu thập từ năm 2013 đến năm 2016 Đây là khoảng thời gian gần với năm hiện hành
e/ Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định lượng, kết hợp với nghiên cứu định tính
Phương pháp định tính: nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước kết hợp với cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả Từ đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu, các giả thiết nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Tác giả thu thập thông tin, số liệu có liên quan đến đề tài từ BCTC đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM từ năm 2013 đến năm 2016 (website:
http://finance.vietstock.vn/ ) để xác định giá trị Biến phụ thuộc – Biến kế toán dồn tích
có thể điều chỉnh theo mô hình nhận diện điều chỉnh lợi nhuận Modified Jones (1991)
- Mô hình Dechow, Sloan and Sweeney(1995) và các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu của tác giả Dữ liệu thu thập được tổng hợp thành dạng bảng (panel data)
để phục vụ cho việc nghiên cứu Tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 để xử lý bảng số liệu thu thập được, từ đó, tác giả tiến hành kiểm định tính đa cộng tuyến, tính tương quan, tiến hành hồi quy mô hình và phân tích các chỉ số cần thiết để đảm bảo cho mô hình phù hợp
Trang 14Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích thông tin, số liệu để rút ra những vấn đề lý luận, từ đó xác định giải pháp nhằm hạn
chế tác động tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC
III Đóng góp của luận văn
a/ Về mặt lý luận
Nghiên cứu này góp phần bổ sung và hoàn thiện mô hình xác định các nhân tố
ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên Báo cáo tài chính với 2 nhân tố mới (Đa
dạng đầu tư, tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư) Bên cạnh đó, bài nghiên cứu này có ý nghĩa trong việc kiểm định lại kết quả của một vài nhân tố trong mô hình của các nghiên cứu trước đây
b/ Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu trình bày và đánh giá thực trạng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin có được cái nhìn về thông tin lợi nhuận chính xác hơn để làm cơ sở cho các quyết định
Trên cơ sở kết quả thu được, tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC để từ đó giúp tăng cường tính trung thực của thông tin lợi nhuận trên BCTC
IV Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, Luận văn gồm 5 chương:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ
HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nasrollah Takhtaei, Mohammad Amin Ojaghi and Seyed Hamid Sahafi
Esfandabadi, “Effect of Financial Leverage and Investment Diversification on Income-Increasing Earnings Management”, Middle-East Journal of Scientific
Research (2013)
Trong bài tạp chí này, tác giả sử dụng biến đòn bẩy tài chính, biến đa dạng đầu
tư và biến tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư là 3 biến độc lập chính Tác giả sử dụng mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) để nhận diện, đo lường Biến phụ thuộc – Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được Kết quả cho thấy hành
vi quản trị lợi nhuận có quan hệ nghịch biến với đòn bẫy tài chính và đa dạng đầu tư, còn đối với biến tích hợp đòn bẩy tài chính cùng đa dạng đầu tư thì lại có quan hệ đồng biến
Dwi Lusi Tyasing Swastika, “Corporate Governance, Firm Size, and Earning Management: Evidence in Indonesia Stock Exchange”, IOSR Journal of Business
and Management (2013)
Bài tạp chí khảo sát 4 yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận bao gồm: số lượng thành viên trong hội đồng quản trị, tỷ lệ độc lập của hội đồng quản trị, quy mô công ty và chất lượng công ty kiểm toán Tác giả sử dụng mô hình của Kothari, Leone and Wasley (2005) để nhận diện, đo lường Biến phụ thuộc – Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được Kết quả cho thấy biến số lượng thành viên trong hội đồng quản trị có mối quan hệ đồng biến với hành vi quản trị lợi nhuận, trong khi biến quy mô công ty và chất lượng công ty kiểm toán có mối quan hệ nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận và tỷ lệ độc lập của HDQT không có ý nghĩa thống kê
Iram Naz, Khurram Bhatti, Abdul Ghafoor and Habib Hussain Khan, “Impact of Firm Size and Capital Structureon Earnings Management:Evidence from Pakistan”, European Journal of Business and Management (2015)
Trang 16Bài tạp chí nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của quy mô công ty và cơ cấu vốn (Tỷ lệ nợ dài hạn / Vốn cổ phần) đối với hành vi quản trị lợi nhuận Tác giả sử dụng
mô hình Modified Jones (1994) để nhận diện, đo lường Biến phụ thuộc – Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được Kết quả cho thấy biến cơ cấu vốn có mối quan hệ nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận trong khi biến quy mô công ty không có ý nghĩa khảo sát
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Minh Trang, “Kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị”, Tạp
chí nghiên cứu khoa học (2011)
Bài tạp chí đã trình bày tổng quát về các kỹ thuật: lựa chọn phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản mà các nhà quản trị có thể sử dụng để điều chỉnh tăng giảm lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của mình
Huỳnh Thùy Vân, “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Kế toán (2012)
Bằng phương pháp định tính, tác giả đưa ra 3 nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết gồm: năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế TNDN và quy mô doanh nghiệp Tác giả đã thu thập
số liệu trên báo cáo tài chính năm 2008-2010 của các doanh nghiệp năm đầu niêm yết trên 2 sàn giao dịch chứng khoán (Hose và HNX) dựa trên 2 mô hình được lựa chọn là
Mô hình DeAngelo (1986) và Mô hình Friedlan (1994) Qua phân tích kết quả kiểm nghiệm, tác giả có kết luận là: 1/ Phần lớn các tổ chức niêm yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán 2/ Khả năng điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết phụ thuộc (thuận chiều) vào điều kiện ưu đãi thuế TNDN công ty được hưởng 3/ Mức điều chỉnh lợi nhuận không phụ thuộc vào quy mô công ty
Nguyễn Thị Minh Trang, “Vận dụng mô hình của DeAngelo và Friedland để nhận dạng hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị” Tạp chí Đông Á số
6/2012
Trang 17Bài báo nghiên cứu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị ở 4 loại hình doanh nghiệp khác nhau Đó là công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp nhà nước Kết quả nghiên cứu cho thấy ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có các nguyên nhân điều chỉnh lợi nhuận khác nhau Thường đối với các công ty cổ phần, động cơ điều chỉnh lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp không phải lúc nào cũng được ưu tiên lựa chọn
mà có thể động cơ điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài chiếm ưu thế hơn Các loại hình doanh nghiệp còn lại vì không bán chứng khoán trên thị trường nên ít quan tâm đến việc điều chỉnh tăng lợi nhuận để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài Vì vậy, đối với các loại hình doanh nghiệp này thường sẽ ưu tiên lựa chọn điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế TNDN phải nộp
Nguyễn Trí Tri, “Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi phối thu nhập trên báo cáo tài chính”, Tạp chí Kế toán & Kiểm toán (2013)
Dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm, bài tạp chí đã tổng hợp và đưa ra kết quả là hành vi chi phối thu nhập bị tác động bởi các yếu tố: lương và thưởng cho nhà quản lý, giá cổ phần, hợp đồng vay vốn, chất lượng của hoạt động kiểm toán BCTC, sự độc lập của hội đồng quản trị, ủy ban kiểm toán và môi trường pháp lý
Trần Thị Tuyết Hoa, “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm giảm thuế TNDN phải nộp: trường hợp các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính ngân
hàng trường Đại học Kinh Tế TP.HCM (2014)
Bài nghiên cứu khảo sát sự tác động của 11 biến độc lập (Thay đổi CEO, tỷ lệ
sở hữu cổ phần của CEO, vốn điều lệ, lợi nhuận sau thuế, chi phí thuế TNDN hoãn lại, hưởng chính sách ưu đãi thuế, thay đổi thuế suất, hưởng chính sách tháo gỡ khó khăn, ghi nhận doanh thu chưa thực hiện doanh thu theo tiến độ, ghi nhận dự phòng và phát hành chứng khoán) Tác giả sử dụng mô hình DeAngelo (1986) để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận kết hợp với yếu tố thuế TNDN bị truy thu, truy hoàn để xác định Biến phụ thuộc- Hành vi điều chỉnh thu nhập làm giảm thuế TNDN phải nộp Kết quả thu được cho kết luận về 4 biến độc lập: Hưởng chính sách ưu đãi thuế, ghi nhận doanh thu chưa thực hiện doanh thu theo tiến độ, Ghi nhận số lượng các khoản dự
Trang 18phòng và ghi nhận chi phí thuế TNDN hoãn lại là các biến có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm giảm thuế TNDN phải nộp và mô hình hồi quy dự báo khả năng chính xác 93.96%
Giáp Thị Liên, “Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán trường Đại học Kinh
Tế TP.HCM (2014)
Bài nghiên cứu khảo sát sự tác động của nhóm các nhân tố quản trị công ty (1 biến kiểm soát là lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD của công ty và 8 biến độc lập: Tách vai trò chủ tịch HDQT với tổng giám đốc, tỷ lệ thành viên không điều hành trong HDQT, tỷ lệ thành viên độc lập trong HDQT, quy mô HDQT, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát không kiêm nhiệm trong công ty, tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát có chuyên môn tài chính – kế toán – kiểm toán, tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi thành viên Hội đồng quản trị không điều hành, tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi Ban giám đốc, tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi Ban kiểm soát) Tác giả sử dụng mô hình Modified Jones (1994) để nhận diện,
đo lường Biến phụ thuộc – Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được Kết quả cho thấy 4 biến độc lập (Tách vai trò chủ tịch HDQT với tổng giám đốc, tỷ lệ thành viên không điều hành trong HDQT, tỷ lệ thành viên độc lập trong HDQT, tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi Ban giám đốc) và biến kiểm soát (lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD của công ty) có mối quan hệ nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận Các biến còn lại không có ý nghĩa thống kê
Nguyễn Thị Uyên Phương, “Nghiên cứu việc điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành kế toán năm 2014
Trong luận văn, tác giả đã kết luận rằng các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận trong những năm phát hành bổ sung cổ phiếu nhằm thu hút nhà đầu tư để đợt chào bán được thành công Cụ thể các công ty có quy mô càng lớn thì mức độ điều chỉnh lợi nhuận càng cao
và chất lượng kiểm toán không ảnh hưởng đến quyết định điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 19 Trần Thị Mỹ Tú, “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán
trường Đại học Kinh Tế TP.HCM (2014)
Bài nghiên cứu khảo sát sự tác động của 4 nhân tố: tỷ lệ độc lập của hội đồng quản trị, quy mô của công ty kiểm toán BCTC cho doanh nghiệp niêm yết, quy mô của doanh nghiệp và đòn bẫy tài chính Kết quả cho thấy 2 biến độc lập (tỷ lệ độc lập của hội đồng quản trị, quy mô của công ty kiểm toán BCTC cho doanh nghiệp niêm yết)
có quan hệ nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận trong khi 2 biến còn lại (quy mô của doanh nghiệp và đòn bẫy tài chính) có quan hệ đồng biến với hành vi quản trị lợi nhuận
Phan Thị Thanh Trang, “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế chuyên
ngành Kế toán trường Đại học Kinh Tế TP.HCM (2015)
Bài nghiên cứu khảo sát sự tác động của 5 nhân tố: Quy mô công ty, công ty kiểm toán (quy mô và chất lượng), thời gian hoạt động, ngành nghề kinh doanh và điều kiện kinh tế Biến phụ thuộc là hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong năm đầu, năm trước và sau năm niêm yết Tác giả sử dụng mô hình Friedlan (1994) để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Kết quả cho thấy nhân tố công ty kiểm toán quan hệ nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận, nhân tố ngành nghề kinh doanh không có ý nghĩa thống kê và 3 nhân tố còn lại có quan hệ đồng biến với hành vi quản trị lợi nhuận Ngoài ra, bài nghiên cứu cho kết quả 100% các công ty có hành vi điều chỉnh lợi nhuận qua các năm trước, trong và sau năm niêm yết Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể giữa trung bình mẫu điều chỉnh lợi nhuận giữa năm trước khi niêm yết và năm đầu niêm yết, đồng thời, tồn tại sự khác biệt giữa trung bình mẫu điều chỉnh lợi nhuận giữa năm đầu niêm yết và năm sau niêm yết
1.3 Nhận xét
Trên đây tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi
Trang 20quản trị lợi nhuận (Phụ lục 01 đính kèm bên dưới) Nhận thấy nhân tố đa dạng đầu tư
và nhân tố tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư chỉ mới được tác giả Nasrollah Takhtaei et al (2013) nghiên cứu và chưa nhận thấy có nghiên cứu nào trong nước khảo sát nhân tố này Tại Việt Nam, một đất nước đang trong giai đoạn phát triển, vấn đề đầu tư đa dạng khá mạnh mẽ Vì thế trong luận văn này, tác giả sẽ đi vào nghiên cứu và khảo sát 3 nhân tố: đòn bẩy tài chính, đa dạng đầu tư và nhân tố tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư đối với các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM
Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy: nhân tố quy mô công ty có 5 tác giả nghiên cứu (Huỳnh Thị Vân (2012), Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014), Trần Thị Mỹ Tú (2014) và Iram Naz et al (2015)) Tuy nhiên, tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) và Iram Naz et al (2015) cho kết quả không có ý nghĩa thống
kê trong khi Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) cho kết quả nghịch biến và 2 tác giả còn lại cho kết quả đồng biến Vì thế, trong luận văn này, tác giả sẽ chọn nhân tố quy
mô công ty để khảo sát lại
Ngoài ra, tác giả còn nhận thấy: nhân tố chất lượng kiểm toán có 4 tác giả nghiên cứu (Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Trần Thị Mỹ Tú (2014), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) và Phan Thị Thanh Trang (2015)) Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) cho kết quả chất lượng kiểm toán không ảnh hưởng đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp trong khi 3 tác giả còn lại cho kết quả nghịch biến Và nhân tố tỷ lệ độc lập của HDQT có 3 tác giả nghiên cứu (Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Trần Thị Mỹ Tú (2014) và Giáp Thị Liên (2014)) Tuy nhiên, tác giả Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) cho kết quả không có ý nghĩa khảo sát trong khi 2 tác giả còn lại cho kết quả nghịch biến Vì thế, trong luận văn này, tác giả sẽ chọn nhân tố chất lượng kiểm toán và tỷ lệ độc lập của HDQT để khảo sát lại
Trang 21TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trong nước được trình bày đã nghiên cứu về các mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, kỹ thuật điều chỉnh lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định điều chỉnh lợi nhuận của công ty cổ phần niêm yết Còn các công trình nghiên cứu nước ngoài hầu hết là các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các biến độc lập và hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các quốc gia khác nhau, trong các thời điểm khác nhau Dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu này, trên cơ sở phân tích lựa chọn có
sự tham khảo ý kiến của chuyên gia, tác giả tiếp tục kế thừa một vài nhân tố để xem xét mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của chúng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận Những nhân tố được đề cập ở đây là: đòn bẩy tài chính, đa dạng đầu tư, tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư, quy mô công ty, chất lượng kiểm toán và tỷ lệ độc lập của HDQT
Trang 22CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH
VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
2.1 Lợi nhuận
Lợi nhuận là thước đo kết quả HĐKD của doanh nghiệp Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Mục tiêu cuối cùng và quan trọng của một công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận:
- Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson at al (1958) định nghĩa rằng: “ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”
- Theo VAS 17 thì: “lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán” Lợi nhuận đối với kế toán tài chính thường được công bố rộng rãi ra bên ngoài, đặc biệt là đối với công ty cổ phần niêm yết, các công bố này là tài liệu nghiên cứu cho cơ quan thuế, nhà đầu tư và một số ngân hàng thương mại Lợi nhuận đối với kế toán quản trị chủ yếu phục vụ cho ban lãnh đạo, hội đồng quản trị và nội bộ doanh nghiệp
- Từ các quan điểm trên, theo góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động đưa lại, là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp
Tóm lại, theo đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi quản trị lợi nhuận (cụ thể là của nhà quản trị) trên BCTC tại các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM, vì thế, đề tài hướng đến nghiên cứu lợi nhuận thuộc phạm vi kế toán
Trang 23tài chính, nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được kiểm toán và công bố rộng rãi trên trang mạng thông tin đại chúng (http://finance.vietstock.vn/) Vì có như vậy, đề tài mới có căn cứ để xác định có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
2.2 Hành vi quản trị lợi nhuận
2.2.1 Khái niệm
Hành vi điều chỉnh lợi nhuận đã trở thành một lĩnh vực được nghiên cứu sâu rộng trên thế giới Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về hành vi điều chỉnh lợi nhuận Các nhà nghiên cứu thường phát triển định nghĩa riêng của họ về hành vi điều chỉnh lợi nhuận để phù hợp với mục đích của họ ( Noronha, et al., 2008)
Davidson và các cộng sự (1987) định nghĩa, quản trị lợi nhuận là quy trình bao gồm các bước có cân nhắc kỹ lưỡng trong khuôn khổ của các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận, nhằm mang lại mức lợi nhuận mong muốn Theo Schipper (1989) cho rằng, quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân
Theo Levitt (1998) thì điều chỉnh lợi nhuậnlà hành động nhằm làm cho báo cáo tài chính phản ánh mong muốn của nhà quản trị chứ không phải là hoạt động tài chính cơ bản của công ty
Tương đồng với các quan điểm trên, Parfet (2000) cũng cho rằng điều chỉnhlợi nhuận được thực hiện nhằm che giấu hoạt động tài chính thực bằng cách tạo ra các nghiệp vụ kế toán không có thực hoặc làm các dự toán không hợp lý
Tuy nhiên, ngược lại những quan điểm trên, Beneish (2001) lại cho rằng mục đích điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý là nhằm công bố thông tin với chất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các nhà đầu tư khám phá ra các mong đợi của
họ về các dòng tiền mà doanh nghiệp sẽ mang đến trong tương lai
Ngoài ra, tùy thuộc vào mục tiêu công bố thông tin, Ronen và Yaari (2008) đã phân loại khái niệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thành ba nhóm như sau:
- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): các nhà quản lý dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toán một cách
Trang 24linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai Đây được xem là nhóm có lợi và gia tăng chất lượng chất lượng báo cáo tài chính
- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các nhà quản lý lựa chọn các chính sách kế toán trong và ngoài giới hạn cho phép nhằm làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp hoặc vì lợi ích của họ
- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): là hành vi sử dụng các thủ thuật của quản lý để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của báo cáo tài chính
Theo PGS.TS Nguyễn Công Phương (2009): Điều chỉnh lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán
Trong nghiên cứu này tác giả xin trình bày định nghĩa về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Healy &Wahlen (1999) cũng tương đồng với nhận định của TS Đường Nguyễn Hưng (2013) như sau: “Hành vi điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện khi các nhà quản lý sử dụng các xét đoán trong báo cáo tài chính và trong cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế để thay đổi báo cáo tài chính nhằm đánh lừa các bên có liên quan về kết quả hoạt động kinh doanh tiềm ẩn của doanh nghiệp, hoặc nhằm tác động đến các kết quả của hợp đồng mà chúng phụ thuộc vào số liệu kế toán được báo cáo” Theo định nghĩa trên ta có thể hiểu nhà quản lý có hai thủ thuật để tác động điều chỉnh lợi nhuận theo mong muốn chủ quan: Thủ thuật điều chỉnh lợi nhuận thông qua các xét đoán kế toán
và thông qua cấu trúc các nghiệp vụ kinh tế Dưới đây là một số phương pháp điều chỉnh lợi nhuận được tập hợp bởi Tiến sĩ Đường Nguyễn Hưng (2013) cũng tương tự như quan điểm này
2.2.2 Thủ thuật quản trị lợi nhuận lợi nhuận
2.2.2.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán
Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn:Nếu doanh nghiệp
ghi nhận doanh thu, giá vốn theo tiến độ hoàn thành thì phương pháp này cho phép
Trang 25doanh nghiệp có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua các ước tính mức độ hoàn thành công việc
Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định:Lựa chọn phương pháp khấu
hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ
Lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ: Doanh nghiệp có thể
điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tại thời điểm chưa phát sinh chi phí và mức trích này sẽ gia tăng chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho: Doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương pháp đánh giá sản phẩm
dở dang khác nhau từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và lợi nhuận trong kỳ
Lựa chọn phương pháp kế toán chi phí lãi vay: Đối với khoản chi phí lãi vay
tùy trường hợp có thể được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ hoặc ghi nhận như là chi phí phát sinh Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán, do đó trong trường hợp này doanh nghiệp có thể lợi dụng kế toán chi phí lãi vay để điều chỉnh lợi nhuận
2.2.2.2 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán
Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh: Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ, ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp
Ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán: Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch
vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng, ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng
2.2.2.3 Quản trị lợi nhuận thông qua các quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh doanh
Quyết định về thời điểm lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ: Nhà
quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua quyết định thời điểm thanh lý, nhượng
Trang 26bán TSCĐ để đẩy nhanh hay làm chậm lại việc ghi nhận lợi nhuận thua lỗ của các hoạt động khác
Quyết định quản lý về việc thực hiện nghiệp vụ tiêu thụ: Nhà quản lý có thể
quyết định đẩy lùi thời điểm lập hóa đơn bán hàng sang kỳ sau hoặc ngược lại để điều chỉnh doanh thu, giá vốn trong kỳ
Quyết định về việc thực hiện các khoản chi phí nghiên cứu và triển khai: Doanh
nghiệp có thể cắt giảm các chi phí này hoặc quyết định thời điểm ghi nhận để tăng lợi nhuận hoặc ngược lại
Quyết định về các khoản đầu tư: Doanh nghiệp có thể bán các khoản đầu tư
đang sinh lời hoặc thực hiện nghiệp vụ mua bán cổ phần để biến các doanh nghiệp khác trở thành công ty con, công ty liên doanh, liên kết từ đó thay đổi lợi nhuận
2.2.3 Cơ sở hành vi quản trị lợi nhuận – Cơ sở dồn tích
2.2.3.1 Kế toán theo cơ sở tiền
Đây là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở thực thu – thực chi tiền Theo phương pháp này, doanh thu và chi phí được ghi nhận khi thực nhận tiền và thực chi tiền Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay chỉ được sử dụng để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ Kế toán theo cơ sở tiền có một ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình bày thông tin trong BCTC Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “hữu hình”, số tiền và ngày thu chi tiền được xác định chính xác, cụ thể, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản
lý
2.2.3.2 Kế toán theo cơ sở dồn tích
Ngược lại với kế toán theo cơ sở tiền, kế toán theo cơ sở dồn tích là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở dự thu / dự chi Đây là một trong những nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp Theo định nghĩa của Chuẩn mực kếtoán (VAS 01): “mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính
Trang 27của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu, hoặc thực tế chi tiền, hoặc tương đương tiền” Theo dự thảo Chuẩn mực chung, kế toán dồn tích phản ánh các giao dịch, sự kiện về các nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ nợ tại kỳ phát sinh ngay cả khi là các khoản thu và các khoản chi phát sinh trong một kỳ khác Việc phản ánh này là quan trọng vì các thông tin và sự thay đổi về các nguồn lực kinh tế và các nghĩa vụ nợ của đơn vị báo cáo giúp việc đánh giá kết quả của đơn vị báo cáo tốt hơn là những thông tin chỉ về các khoản thu và chi tiền trong kỳ đó Thông tin về kết quả kinh doanh của đơn vị báo cáo trong kỳ hữu ích cho việc đánh giá khả năng tạo tiền trong quá khứ và tương lai của đơn vị Các thông tin
đó thể hiện sự gia tăng trong các nguồn lực kinh tế và khả năng tạo tiền thuần thông qua các hoạt động của đơn vị báo cáo mà không phải là việc bổ sung trực tiếp các nguồn lực từ các nhà đầu tư và chủ nợ
Tuy nhiên, do khoản thu và chi có thể được ghi nhận khi chưa được thu hay chi, dẫn đến vấn đề quan trọng luôn cần phải xem xét, đó là doanh thu và chi phí đã thực
sự phát sinh chưa và nếu đã phát sinh rồi thì đã được ghi nhận chưa Việc ghi nhận doanh thu chi phí trong trường hợp này có thể chịu ảnh hưởng bởi quyết định chủ quan của nhà quản lý Đây chính là cơ hội cho nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua các giao dịch không bằng tiền nhằm đạt được các mục tiêu nào đó
2.2.4 Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận
Hành vi quản trị lợi nhuận không phải là hoạt động không có tính rủi ro Những rủi ro của các giám đốc là ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của họ và thậm chí có thể liên quan đến vấn đề pháp lý Do đó, các nhà quản trị chỉ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận khi lợi ích mang lại sẽ cao hơn những rủi ro và các chi phí có liên quan Theo S.Verbruggen, J.Christaens, and K.Milis (2008), có 5 động cơ cho hành vi quản trị lợi nhuận: thị trường chứng khoán, tiết lộ/che giấu các thông tin, động cơ về pháp lý, tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành, và những động cơ bên trong
Trang 282.2.4.1 Động cơ về thị trường chứng khoán
Đầu tư chứng khoán là một hoạt động chứa đựng rủi ro do đó các nhà đầu tư thường phụ thuộc vào quan điểm và dự báo của các chuyên viên phân tích chứng khoán Vì vậy, việc đón đầu các dự đoán của các chuyên viên phân tích để công bố các thông tin về doanh nghiệp theo như dự đoán của các chuyên viên này là lý do thúc đẩy doanh nghiệp và các nhà quản lý sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm gia tăng các lợi ích mang lại từ việc cổ phiếu lên giá
Việc đón đầu các dự đoán từ các chuyên viên phân tích cũng quan trọng trên góc độ gia tăng giá trị thị trường của công ty niêm yết hoặc làm gia tăng thu nhập cho các nhà quản lý do việc điều hành công ty đáp ứng được các yêu cầu trong kế hoạch đã đặt ra nhất là trường hợp các nhà quản lý có nắm giữ các cổ phiếu của công ty
Động cơ tối đa hóa lợi ích mang lại từ cổ phiếu được thực hiện trong các trường hợp phổ biến như sau:
- Sử dụng điều chỉnh thu nhập theo hướng để giảm các khoản lỗ nhỏ hoặc tránh cho các trường hợp sút giảm về thu nhập so với năm trước, so với kế hoạch
- Liên quan đến thu nhập của nhà quản lý phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, giá trị thị trường của công ty hoặc việc nắm giữ cổ phiếu của các nhà quản lý
- Liên quan đến các giao dịch nội bộ
- Trong trường hợp phát hành cổ phiếu
Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy rằng hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện trong một số tình huống trong thị trường chứng khoán Cụ thể, chẳng hạn như khi bán cổ phiếu ra công chúng (Ducharme et al., 2001), và khi phát hành thêm cổ phiếu (Shivakumar, 2000) Ngược lại với hành vi phát hành cổ phiếu, thì hành vi mua lại cổ phiếu cũng là cách để quản trị lợi nhuận Vafeas et al (2003) tìm thấy bằng chứng cho rằng các nhà quản lý làm cho lợi nhuận giảm thông qua các khoản trích trước trước khi mua lại cổ phiếu Bens et al (2003), cho rằng giám đốc điều hành của công ty sử dụng mua lại cổ phiếu như một công cụ quản trị lợi nhuận khi lợi nhuận dưới mức cần thiết để đạt được sự tăng trưởng mong muốn trên mỗi cổ phiếu
Trang 29Tại Việt Nam, Huỳnh Thị Bích Vân (2012) cung cấp bằng chứng cho thấy phần lớn các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu
2.2.4.2 Động cơ về tiết lộ/che giấu các thông tin
Điều chỉnh thu nhập đồng nghĩa với việc điều chỉnh các thông tin tài chính để đạt được các mục tiêu Rất khó để các công ty và và nhà quản lý thông tin đến các đối tượng của mình một cách trực tiếp Do đó, họ có thể dùng điều chỉnh thu nhập như là một tín hiệu để thông báo đến các đối tượng này chủ ý của họ Bên cạnh đó việc che dấu thông tin liên quan đến lợi ích cá nhân, che dấu các điểm yếu, các khoản thua lỗ cũng là các động cơ khiến cho các công ty, nhà quản lý sử dụng điều chỉnh thu nhập
Trong nghiên cứu của Rosner (2003) đã cho thấy sự tồn tại của quản trị lợi nhuận có thể chỉ đơn giản là che giấu thông tin Đôi khi thật sự khó khăn cho các doanh nghiệp để đưa ra những mục tiêu trong hoạt động kế toán của mình để tham gia thị trường
2.2.4.3 Động cơ về pháp lý
Các công ty có tầm ảnh hưởng thị trường hoặc các công ty trực tiếp bị điều chỉnh bởi một luật định thường sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm tạo ra các ảnh hưởng đến chính sách hoặc đối phó lại các chính sách Ví dụ, khi chính phủ dự tính các điều chỉnh giảm về thuế suất các công ty thường điều chỉnh thu nhập để cho thấy
sự khó khăn của doanh nghiệp để mức thuế mới sẽ điều chỉnh giảm nhiều hơn dự tính Hoặc đối với các điều kiện niêm yết, phát hành thêm chứng khoán cũng dẫn đến việc các công ty sẽ sử dụng điều chỉnh thu nhập để đáp ứng các tiêu chuẩn này
Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quy định về pháp lý cũng là động cơ làm xuất hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Haw et al (2005) đã nghiên cứu quản trị lợi nhuận ngày càng tăng ở Trung Quốc như là một phản ứng với quy định của chính phủ yêu cầu tối thiểu là 10% lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho các công ty muốn phát hành trái phiếu hay chào bán cổ phiếu Johnston và Rock (2005) đã nghiên cứu hành vi quản trị làm giảm lợi nhuận ở các doanh nghiệp bị đe dọa bởi các luật Superfund
Trang 30Như là quy định các ngân hàng phải có một khoản tồn quỹ nhất định, hay các công ty bảo hiểm phải có một tình hình tài chính tốt, hay các doanh nghiệp cung cấp các mặt hàng thiết bị thì phải đạt một số chỉ tiêu về tỷsuất sinh lời nhất định (Nguyễn Trí Tri, 2012) Với quy định khắt khe đó có thể dẫn tới các doanh nghiệp trong ngành này khi gặp khó khăn, họ có thể sẽ thao tác để đáp ứng quy định Tương tự, Nguyễn ThịMinh Trang (2012) cũng cho thấy các doanh nghiệp không niêm yết tại Việt Nam
có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
2.2.4.4 Động cơ về tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành
Một giám đốc điều hành mới sẽ có khuynh hướng làm cho thu nhập năm họ tiếp quản giảm so với những năm liền kề sau đó để chứng tỏ khả năng điều hành của mình Bên cạnh đó việc các giám đốc điều hành trước khi nghỉ cũng có thể sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm đạt được những lợi ích từ các cổ phiếu nắm giữ hoặc có được vị trí trong Hội đồng quản trị Hoặc là một nhà quản trị của một công ty đang làm ăn thua
lỗ sẽ cố gắng điều chỉnh theo xu hướng tăng lợi nhuận để tránh bị sa thải
Có 2 bài nghiên cứu đưa ra bằng chứng về hành vi quản trị lợi nhuận: khi có sự thay đổi của CEO (Godfrey et al., 2003) và khi các CEO về nghỉ hưu (Reitenga and Tearny, 2003)
2.2.4.5 Những động cơ bên trong
Trong một công ty, quản trị lợi nhuận giúp thay đổi báo cáo tài chính, hoặc để cấu trúc lại các giao dịch nhằm tránh được những giới hạn tạo ra bởi các dự toán hoặc
để đáp ứng được các chỉ tiêu đánh giá thành quả thực hiện Động cơ này có thể xuất phát từ phía nhà quản lý cấp cao để đối phó với các cổ đông bên ngoài nhưng chủ yếu
sẽ rơi vào trường hợp các nhà quản lý cấp trung để tạo ra hiệu quả quản lý như mong đợi từ các cấp trên, để thăng tiến hoặc đạt được các mục tiêu kế hoạch đã đề ra
2.2.5 Những tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận
Cựu Chủ tịch của SEC –Leviit (1998) cho rằng điều chỉnh lợi nhuận là một trò chơi của những con số (“Numbers game”) và là “một trò chơi nếu không được giải
Trang 31quyết sớm sẽ gây hậu quả xấu cho hệ thống BCTC của nước Mỹ” (trích trong Biegelman & Bartow, 2012, p.65)
Các học giả nghiên cứu về kế toán lại có nhận thức khác nhau về tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận Một số học giả cho rằng điều chỉnh lợi nhuận có thể
có lợi bằng cách cung cấp một phương tiện cho quản lý để truyền tải thông tin cá nhân của họ dựa trên hoạt động công ty, và tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với các nhà đầu tư có thể được giảm thiểu nếu chi phí thông tin là thấp (Schipper, 1989; Arya, et al., 2003) Tuy nhiên, có một nguy cơ tiềm tàng trong việc mất mát tài sản của cổ đông khi mà có sự xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý Khi nhà quản lý được bồi thường một cách rõ ràng hoặc hiển nhiên dựa trên hiệu quả hoạt động của công ty thì họ có thể sẽ che giấu hiệu quả hoạt động thực sự bằng cách điều chỉnh lợi nhuận để có được một khoản bồi thường cao hơn Việc điều chỉnh lợi nhuận này cũng làm tăng thông tin bất đối xứng giữa nhà quản lý và các nhà đầu tư Các nhà đầu
tư thường đánh giá giá cổ phiếu và đưa ra quyết định mua bán dựa trên thông tin thu thập Một sự cung cấp thông tin sai lệch có thể gây ra cho các nhà đầu tư những quyết định sai lầm Một số nghiên cứu tìm thấy rằng các nhà đầu tư rất nhạy cảm với hành vi điều chỉnh lợi nhuận Dechow et al (1996) cung cấp bằng chứng cho thấy có một sự sụt giảm khoảng 9% trong giá cổ phiếu của những công ty đang bị SEC điều tra về hành vi điều chỉnh lợi nhuận Như vậy, hành vi điều chỉnh có thể gây bất lợi cho nhà đầu tư và thậm chí còn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thực sự của công ty, hành vi điều chỉnh lợi nhuận thì tương đồng với nguy cơ phá sản (Võ Văn Nhị & Hoàng Cẩm Trang, 2013) Các công ty càng điều chỉnh lợi nhuận thì nguy cơ phá sản càng cao
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu trên cơ sở hành vi quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng tiêu cực và cần nghiên cứu để tìm biện pháp khắc phục
2.2.6 Các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận
Cơ sở của hành vi điều chỉnh lợi nhuận là kế toán theo cơ sở dồn tích Kế toán
cơ sở dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp
Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từ HĐKD trong một kỳ sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ sở tiền hiện nay được sử dụng
Trang 32để lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Từ đó, lợi nhuận trình bày trên Báo cáo kết quả HĐKD và dòng tiền trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có một độ vênh Các nhà nghiên cứu kế toán gọi độ vênh đó là tổng biến kế toán dồn tích (Total accruals-TA)
Lưu chuyển tiền thuần
từ HĐKD kỳ t
Lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD được lập trên cơ sở tiền nên không thể điều chỉnh được, muốn điều chỉnh lợi nhuận thì nhà quản lý phải điều chỉnh tổng biến kế toán dồn tích (TA) Trong tổng biến kế toán dồn tích lại gồm biến kế toán dồn tích không điều chỉnh (Nondiscretionary accruals –NDA) và dồn tích có điều chỉnh (Discrectionary accruals –DA) Biến NDA phản ánh điều kiện kinh doanh cụ thể của từng đơn vị do đó không bị điều chỉnh bởi nhà quản lý, ví dụ như độ dài của chu kì kinh doanh, chu kì sống của sản phẩm Ngược lại, đối với biến DA thì nhà quản lý có thể điều chỉnh thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán hay tác động vào nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Các nhà nghiên cứu cho rằng biến DA đại diện cho hành vi điều chỉnh lợi nhuận nhưng các nhà nghiên cứu không thể quan sát một cách trực tiếp Vì vậy, các nhà nghiên cứu phải thông qua hai cách: một là xem xét sựlựa chọn chính sách kế toán
và hai là tính toán biến NDA
2.2.6.1 Mô hình The Healy Model (1985)
Theo mô hình này, tác giả giả định rằng khi không có hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị, DA bằng 0 và TA chính là NDA NDA chính là giá trị trung bình của TA Hay nói cách khác, NDA không thay đổi từ năm này sang năm khác
Trang 33t
TAitNDAit =
n: số năm trong kỳ ước tính
t: năm sự kiện (năm nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận)
i: công ty i cần nghiên cứu hành động điều chỉnh lợi nhuận
2.2.6.2 Mô hình DeAngelo (1986)
Mô hình DeAngelo so sánh tổng biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t với
TA thời kỳ t-1 và chênh lệch giữa hai thời kỳ này chính là các biến kế toán được điều chỉnh (DA) Mô hình của DeAngelo giả định rằng các thành phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) sinh ra là ngẫu nhiên và bằng với tổng số biến kế toán dồn tích (TA) của thời kỳ t-1 hay nói cách khác NDA không đổi qua hai năm, do đó sự thay đổi trong tổng số biến kế toán dồn tích (TA) giữa thời kỳ t và thời kỳ t-1 được giả định là
do việc thực hiện các điều chỉnh kế toán
Phần biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện:
Trang 34thay đổi trong biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA) phụ thuộc vào sự tăng trưởng.Ví dụ quy mô công ty lớn, đầu tư thêm máy móc, thiết bị, nhà xưởng, làm cho chi phí khấu hao tăng, dẫn đến phần NDA tăng Điều này có thể dẫn đến kết luận không đúng về việc thực hiện điều chỉnh kế toán để lập BCTC Nhược điểm này đã được khắc phục bởi mô hình Friedlan (1994)
2.2.6.3 Mô hình Friedlan (1994)
Mô hình Friedlan giả định rằng sự thay đổi trong tổng số trích trước giữa hai giai đoạn gồm có hai thành phần: (1) Sự thay đổi do tăng trưởng và (2) Sự thay đổi do lựa chọn kế toán của tổ chức phát hành Khi một công ty phát triển, số biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh và biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh tăng theo Để kiểm soát ảnh hưởng của yếu tố tăng trưởng đến tổng số biến kế toán dồn tích (TA) ,
mô hình giả định một tỷ lệ tương ứng so sánh giữa tổng số biến kế toán dồn tích (TA)
và doanh thu được sử dụng Tổng số biến kế toán dồn tích (TA) được cho là điều chỉnh
là sự khác biệt giữa tổng số biến kế toán dồn tích (TA) trong thời kỳ t được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng của thời kỳ t và tổng số biến kế toán dồn tích (TA) thời kỳ t-1 được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng thời kỳ t-1 Mô hình này như sau:
2.2.6.4 Mô hình The Jones Model (1991)
Theo Jones, phần NDA phụ thuộc vào doanh thu, quy mô của tài sản cố định (nguyên giá) Vì vậy Jones sử dụng mức biến động về doanh thu thuần và nguyên giá tài sản cố định để dự đoán phần NDA Mô hình trình bày như sau:
Trang 35Phần biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện được xác định theo phương trình sau:
∆REV: Doanh thu thuần kỳ t – Doanh thu thuần kỳ t-1
PPEt: Nguyên giá TSCĐ hữu hình
Ait-1: Tổng tài sản cuối kỳ t-1
Các tham số α1, α2, α3 ở mô hình trên được tính bằng ước lượng OLS của a1, a2, a3 trong mô hình sau:
2.2.6.5 Mô hình Dechow, Sloan and Sweeney (1995) – Mô hình Modified Jones (1991)
Dechow, Sloan and Sweeney (1995) đã cải tiến mô hình của Jones (1991) bằng cách điều chỉnh sự thay đổi của doanh thu bằng sự thay đổi của tài khoản nợ phải thu
Mô hình được phát triển nhằm giảm sự sai số của mô hình trong việc xác định biến dồn tích bất thường khi nhà quản lý chi phối doanh thu Mô hình Jones được cải tiến như sau:
Phần biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện được xác định theo phương trình sau:
Trong đó RECit = Phải thu khách hàng cuối kỳ t – Phải thu khách hàng cuối kỳ t -1 Các tham số α1, α2, α3 ở mô hình trên được tính bằng ước lượng OLS của a1, a2, a3 trong mô hình sau:
Trang 36Suy ra phần biến kế toán có thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện được xác định theo phương trình sau:
DAit
Dechow, Sloan and Sweeney(1995) đã chỉ ra rằng mô hình Modified Jones đã phát hiện ra hành vi quản trị lợi nhuận tốt hơn so với mô hình Jones (1991) và các mô hình khác như mô hình của Healy (1985) hoặc DeAngelo (1986) Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng hai mô hình Jones và Modified Jones đã cho kết quả đáng tin cậy về biến dồn tích có thể điều chỉnh (Guay, Kothari and Watts, 1996)
2.2.6.6 Mô hình Kothari, Leone and Wasley (2005)
Kothari, Leone and Wasley (2005) đã tiếp tục phát triển mô hình của Jones (1991) và Dechow, Sloan and Sweeney (1995) trên cơ sở xem xét biến về kết quả hoạt động Mục đích của tác giả là nghiên cứu mối quan hệ tuyến tính giữa biến dồn tích và kết quả hoạt động Mô hình tuyến tính có xem xét kết quả hoạt động của Kothari, Leone and Wasley (2005) như sau:
NDAt
= α1
1 + α2
Dựa vào mô hình Jones (1991) Phạm ThịBích Vân đã điều chỉnh các biến trong
mô hình để phù hợp với đặc điểm của các doanh nghiệp Việt Nam như sau:
NDAt
= α1
1 + α2
Trang 37NDAt: Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được năm t
REVt: Doanh thu thuần năm t
EXPt: Tổng cộng của chi phí giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
PAYt: Khoản phải trả người bán năm t
DEPt: Chi phí khấu hao tài sản cố định năm t
PROt: Chi phí dự phòng (giảm giá hàng tồn kho, phải thu khó đòi, giảm giá đầu tư ngắn hạn, dài hạn) năm t
Trang 38TỔNG KẾT CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của bài nghiên cứu Trong đó, tác giả đã tóm tắt lại các kiến thức về lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận Thông qua một số khái niệm về lợi nhuận, đề tài chọn hướng nghiên cứu lợi nhuận thuộc phạm vi kế toán tài chính, nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được kiểm toán và công bố rộng rãi trên trang mạng thông tin đại chúng, vì có như vậy, đề tài mới có căn cứ để xác định có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị
Đối với hành vi quản trị lợi nhuận, mặc dù đã trở thành vấn đề được nghiên cứu sâu rộng nhưng vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và tác giả tổng hợp lại một số định nghĩa hành vi quản trị lợi nhuận của một số nghiên cứu Đồng thời, tác giả trình bày 2 nhóm thủ thuật chính của hành vi điều chỉnh lợi nhuận là điều chỉnh lợi nhuận thông qua các xét đoán kế toán và điều chỉnh lợi nhuận thông qua cấu trúc các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày 5 động cơ điều chỉnh lợi nhuận thường được nhắc đến trong các nghiên cứu (thị trường chứng khoán, tiết lộ/che giấu các thông tin, động cơ về pháp lý, tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành, và những động cơ bên trong), những tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận và những mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận
Công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán là đối tượng phải công bố BCTC Do đó, vấn đề đặt ra là BCTC phải minh bạch, đầy đủ, rõ ràng nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng, đặc biệt là các nhà đầu tư Tuy nhiên, vì để thu hút nhà đầu tư hoặc để phục vụ cho một mục đích nào đó, các nhà quản trị sẽ tìm cách điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ, làm lệch lạc thông tin kế toán Từ những cơ sở lý thuyết về lợi nhuận và hành vi quản trị lợi nhuận ở Chương 2 sẽ tạo tiền đề cho tác giả nghiên cứu, phân tích và đánh giá được thực trạng hành về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin trong Báo cáo tài chính
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính
Phương pháp định tính: nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước kết hợp với cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả Từ đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu, các giả thiết nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định lượng: thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu nhằm kiểm định mô hình và các giả thiết đã đề xuất
Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, phân tích thông tin, số liệu để rút ra những vấn đề lý luận, từ đó xác định giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC
3.1.2 Quy trình nghiên cứu
Bước 1:
Tổng hợp và đúc kết các nghiên cứu trước đây liên quan đến việc đo lường hành vi quản trị lợi nhuận, các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận và cách thức đo lường các nhân tố ảnh hưởng đó Hệ thống hóa một cách đầy đủ về các lý thuyết nền tảng liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Trên cơ sở đó, tác giả xác định được lỗ hổng nghiên cứu đó là: nhân tố đa dạng đầu tư và nhân tố tích hợp đòn bẩy tài chính với đa dạng đầu tư chỉ mới được tác giả Nasrollah Takhtaei et al (2013) nghiên cứu và chưa nhận thấy có nghiên cứu nào trong nước khảo sát nhân tố này
Bên cạnh đó, tác giả nhận thấy: nhân tố quy mô công ty có 3 tác giả nghiên cứu (Huỳnh Thị Vân (2012), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) và Trần Thị Mỹ Tú (2014)), tuy nhiên, tác giả Huỳnh Thị Vân (2012) cho kết quả không có ý nghĩa thống kê trong khi 2 tác giả còn lại cho kết quả đồng biến Vì thế, trong luận văn này, tác giả chọn nhân tố quy mô công ty để khảo sát lại
Trang 40Ngoài ra, tác giả còn nhận thấy: nhân tố chất lượng kiểm toán có 4 tác giả nghiên cứu (Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Trần Thị Mỹ Tú (2014), Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) và Phan Thị Thanh Trang (2015)) Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thị Uyên Phương (2014) cho kết quả chất lượng kiểm toán không ảnh hưởng đến hành
vi điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp trong khi 3 tác giả còn lại cho kết quả nghịch biến Và nhân tố tỷ lệ độc lập của HDQT có 3 tác giả nghiên cứu (Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013), Trần Thị Mỹ Tú (2014) và Giáp Thị Liên (2014)) Tuy nhiên, tác giả Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) cho kết quả không có ý nghĩa khảo sát trong khi 2 tác giả còn lại cho kết quả nghịch biến Vì thế, trong luận văn này, tác giả sẽ chọn nhân tố chất lượng kiểm toán và tỷ lệ độc lập của HDQT để khảo sát lại
Xử lý thông tin, số liệu bằng phần mềm SPSS 20 và Excel
Bước 4:
Phân tích, bàn luận kết quả nghiên cứu, nhận xét và đề xuất kiến nghị
3.2 Giả thiết nghiên cứu
Trong phần này, các giả thiết được nêu ra để kiểm nghiệm đều dựa kế thừa những nghiên cứu trước, những lý thuyết hiện có nhằm tạo cơ sở vững chắc cho các biến được xét đến
3.2.1 Đòn bẩy tài chính
Công ty có đòn bẩy cao có thể có nguy cơ phá sản nếu họ không thể thực hiện thanh toán các khoản nợ của họ, họ cũng có thể là không thể tìm thấy các khoản vay mới trong tương lai Đòn bẩy tài chính tăng sẽ làm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận
ở các công ty, bởi việc trả nợ sẽ làm giảm lượng tiền mặt có sẵn mà các nhà quản lý có thể sử dụng để đầu tư vào các dự án Đồng thời, khi được đánh giá là có tỉ lệ đòn bẩy