MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Hiện nay, báo chí (newspaper, journal) với thế mạnh truyền thông đã và đang trở thành cơ quan “quyền lực thứ tư” sau tam quyền (Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp). Quyền lực báo chí thể hiện ở khả năng tạo lập và định hướng dư luận. Thời đại của Internet trong một thế giới phẳng đã thay đổi quá trình truyền thông báo chí - không còn là quá trình truyền thông một chiều, mà giờ đây là sự tương tác hai chiều và đa chiều. Xu hướng của báo chí truyền thông thế giới là tương tác hơn, đa dạng hơn. Điều này tạo cho báo chí đương đại có tính tương tác cao. 1.2. Báo điện tử là loại hình báo chí phổ biến, có tính tương tác nổi bật và dễ nhận diện nhất. Báo điện tử hiện nay đã thể hiện được những đặc điểm tương tác rõ nét. Báo điện tử có hệ thống phản hồi được hiện lên trên giao diện tờ báo, rất dễ để nhận ra. Ở báo điện tử, tính tương tác nổi rõ do mối quan hệ giữa nhà báo và độc giả tiếp nhận là mối quan hệ mở trong thế đối thoại. Đây là một trong những đặc điểm tiêu biểu của báo điện tử và là nhân tố quan trọng thu hút sự tham gia của công chúng vào quá trình thông tin cùng với nhà báo và tòa soạn. Ngoài ra, đây cũng là cách để tạo hứng thú cho công chúng, thu hút họ trở thành bạn đọc thường xuyên của báo. Vì vậy, tìm hiểu tính tương tác của diễn ngôn báo chí thông qua báo điện tử là tìm hiểu một trong những đặc điểm tiêu biểu của báo chí đương đại. Hơn nữa, nó còn là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn, khả năng thu hút bạn đọc - yếu tố sống còn, lí do cho sự tồn tại của các trang báo điện tử hiện nay. 1.3. Phân tích diễn ngôn nói chung và diễn ngôn báo chí nói riêng là một lĩnh vực đa diện, đa chiều. Lí luận phân tích diễn ngôn cho thấy việc chuyển đối tượng từ câu sang phát ngôn, văn bản sang diễn ngôn thực sự là một sự chuyển hệ quan trọng thay đổi quan niệm về đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ. Với đối tượng là diễn ngôn, nghiên cứu ngôn ngữ đã chuyển sang hệ giao tiếp và các yếu tố văn hóa có tác động đến sự hành chức của ngôn ngữ. Do đó, tìm hiểu tính tương tác trong diễn ngôn báo chí chính là tìm hiểu hoạt động của ngôn ngữ trong một môi trường giao tiếp đặc biệt: lĩnh vực báo chí - công luận. Đó là nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ trong hệ thống với ngôn ngữ ở dạng hành chức trong một phong cách chức năng cụ thể. Công việc này hứa hẹn sẽ mang lại những kết quả thú vị. Chính vì những lí do trên, cho nên chúng tôi quyết định chọn đề tài Tính tương tác của diễn ngôn báo chí qua một số báo điện tử phổ biến hiện nay. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án là chỉ ra tính tương tác của diễn ngôn báo chí thông qua các đặc điểm về nội dung và hình thức của diễn ngôn báo điện tử. Từ đó chỉ ra bản chất tương tác của diễn ngôn báo chí như một thuộc tính bao trùm chi phối mọi đặc trưng của diễn ngôn báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng cơ sở lí thuyết về tương tác của diễn ngôn, tương tác của diễn ngôn báo chí. - Khảo sát hệ thống các bài báo điện tử ở các báo khác nhau để thấy rõ các đặc điểm tương tác. - Chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố thể hiện tính tương tác của thể phát (nhà báo, tòa soạn báo). - Chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố thể hiện tính tương tác của thể nhận (độc giả).
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp mới của luận án 4
6 Cấu trúc của luận án 5
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6
1.1.Tổng quan về đề tài nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu về diễn ngôn, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn báo điện tử 6
1.1.2 Các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử 9
1.2 Cơ sở lí thuyết 13
1.2.1 Khái quát về hoạt động giao tiếp và giao tiếp báo chí 14
1.2.2 Khái quát về diễn ngôn và diễn ngôn báo chí 19
1.2.3 Tính tương tác trong giao tiếp và diễn ngôn 27
Tiểu kết 49
Chương 2: TƯƠNG TÁC CỦA THỂ PHÁT TRONG DIỄN NGÔN BÁO ĐIỆN TỬ 51
2.1 Tương tác giữa các thể phát trong diễn ngôn báo điện tử 52
2.1.1 Tương tác chủ đề 52
2.1.2 Tương tác thể loại 64
2.2 Tương tác giữa thể phát và thể nhận trong diễn ngôn báo điện tử 68
2.2.1 Quyền lực tương tác của thể phát 68
2.2.2 Các yếu tố thể hiện sự tương tác giữa thể phát và thể nhận 70
Tiểu kết 93
Trang 33.1 Hệ thống diễn ngôn phản hồi - diễn ngôn của thể nhận 96
3.1.1 Đặc điểm diễn ngôn phản hồi 96
3.1.2 Các loại diễn ngôn phản hồi 103
3.2 Đối tượng tương tác của thể nhận 106
3.2.1 Tương tác giữa thể nhận với thể phát 106
3.2.2 Tương tác giữa các thể nhận 114
3.3 Các yếu tố thể hiện sự tương tác của thể nhận 117
3.3.1 Hành động ngôn từ 117
3.3.2 Một số phương tiện ngôn ngữ khác 129
Tiểu kết… 145
KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 2.1: Tổng hợp số lượng các bài báo được khảo sát 52
Bảng 2.2: Thống kê lượng bài tương tác chủ đề 55
Bảng 2.3: Phân loại các thể loại 65
Bảng 2.4: Các kiểu tiêu đề 71
Bảng 2.5: Tần số xuất hiện của các kiểu tiêu đề 72
Bảng 2.6: Tần số xuất hiện của các kiểu sapô 78
Bảng 2.7: Phân loại các PTTT dựa vào hành động ngôn từ 85
Bảng 3.1: Số lượng các phản hồi 99
Bảng 3.2: Thống kê lượng bài lấy nguồn từ báo khác 100
Bảng 3.3: So sánh lượng phản hồi giữa bài báo gốc và bài báo lấy lại (1) 102
Bảng 3.4: So sánh lượng phản hồi giữa bài báo gốc và bài báo lấy lại (2) 102
Bảng 3.5: Số lượng các nhóm hành động ở lời trong phản hồi 118
Bảng 3.6: Ví dụ về các nhóm hành động ở lời trong phản hồi 120
Trang 6Hình 1.2: Quá trình giao tiếp báo chí 16
Hình 1.3: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp báo chí……….17
Hình 1.4: Cấu trúc văn bản báo chí 44
YHình 1.5: Cấu trúc văn bản báo chí: cấu trúc hình chữ nhật …………
…….45
Hình 1.6: Cấu trúc văn bản báo chí: cấu trúc kim tự tháp xuôi 46
Hình 1.7: Cấu trúc văn bản báo chí: cấu trúc kim tự tháp ngược 46
Hình 2.1: Đường siêu liên kết chủ đề 54
Hình 2.2: Quy tắc vàng trong viết báo 83
Hình 3.1: Quá trình tương tác của thể phát - thể nhận và các thể nhận 95
Hình 3.2: Phản hồi dưới mỗi bài viết của báo điện tử 97
Hình 3.3: Tương tác của thể nhận 117
Hình 3.4: Một số phương tiện ngôn ngữ trong phản hồi 145
Mô hình Mô hình 1.2: Mô hình truyền thông của Claude Shannon 17
Mô hình 1.3: Mô hình hoạt động trao lời 28
Mô hình 1.4: Mô hình hoạt động đáp lời 28
Mô hình 2.1: Mô hình duy trì và phát triển chủ đề 61
Mô hình 2.2: Mô hình duy trì và phát triển chủ đề ở các chủ đề 62
Mô hình 2.3: Mô hình tương tác thể loại 66
Mô hình 2.4: Mô hình tương tác thể loại cụ thể ở các chủ đề 67
YY Biểu đồ Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ các chủ đề 53
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ xuất hiện của các kiểu tiêu đề 72
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ xuất hiện của các kiểu sapô 79
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Hiện nay, báo chí (newspaper, journal) với thế mạnh truyền thông đã
và đang trở thành cơ quan “quyền lực thứ tư” sau tam quyền (Lập pháp, Hành pháp
và Tư pháp) Quyền lực báo chí thể hiện ở khả năng tạo lập và định hướng dưluận Thời đại của Internet trong một thế giới phẳng đã thay đổi quá trình truyềnthông báo chí - không còn là quá trình truyền thông một chiều, mà giờ đây là sựtương tác hai chiều và đa chiều Xu hướng của báo chí truyền thông thế giới là tươngtác hơn, đa dạng hơn Điều này tạo cho báo chí đương đại có tính tương tác cao
1.2 Báo điện tử là loại hình báo chí phổ biến, có tính tương tác nổi bật và dễ
nhận diện nhất Báo điện tử hiện nay đã thể hiện được những đặc điểm tương tác rõ nét
Báo điện tử có hệ thống phản hồi được hiện lên trên giao diện tờ báo, rất dễ
để nhận ra Ở báo điện tử, tính tương tác nổi rõ do mối quan hệ giữa nhà báo và độcgiả tiếp nhận là mối quan hệ mở trong thế đối thoại Đây là một trong những đặcđiểm tiêu biểu của báo điện tử và là nhân tố quan trọng thu hút sự tham gia củacông chúng vào quá trình thông tin cùng với nhà báo và tòa soạn Ngoài ra, đâycũng là cách để tạo hứng thú cho công chúng, thu hút họ trở thành bạn đọc thườngxuyên của báo
Vì vậy, tìm hiểu tính tương tác của diễn ngôn báo chí thông qua báo điện tử
là tìm hiểu một trong những đặc điểm tiêu biểu của báo chí đương đại Hơn nữa, nócòn là yếu tố tạo nên tính hấp dẫn, khả năng thu hút bạn đọc - yếu tố sống còn, lí docho sự tồn tại của các trang báo điện tử hiện nay
1.3 Phân tích diễn ngôn nói chung và diễn ngôn báo chí nói riêng là một lĩnh
vực đa diện, đa chiều Lí luận phân tích diễn ngôn cho thấy việc chuyển đối tượng
từ câu sang phát ngôn, văn bản sang diễn ngôn thực sự là một sự chuyển hệ quantrọng thay đổi quan niệm về đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ Với đối tượng là diễnngôn, nghiên cứu ngôn ngữ đã chuyển sang hệ giao tiếp và các yếu tố văn hóa cótác động đến sự hành chức của ngôn ngữ
Do đó, tìm hiểu tính tương tác trong diễn ngôn báo chí chính là tìm hiểu hoạt
Trang 8động của ngôn ngữ trong một môi trường giao tiếp đặc biệt: lĩnh vực báo chí - côngluận Đó là nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ trong hệ thống vớingôn ngữ ở dạng hành chức trong một phong cách chức năng cụ thể Công việc nàyhứa hẹn sẽ mang lại những kết quả thú vị.
Chính vì những lí do trên, cho nên chúng tôi quyết định chọn đề tài Tính
tương tác của diễn ngôn báo chí qua một số báo điện tử phổ biến hiện nay
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là chỉ ra tính tương tác của diễn ngôn báo chí thôngqua các đặc điểm về nội dung và hình thức của diễn ngôn báo điện tử Từ đó chỉ rabản chất tương tác của diễn ngôn báo chí như một thuộc tính bao trùm chi phối mọiđặc trưng của diễn ngôn báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí thuyết về tương tác của diễn ngôn, tương tác của diễnngôn báo chí
- Khảo sát hệ thống các bài báo điện tử ở các báo khác nhau để thấy rõ cácđặc điểm tương tác
- Chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố thể hiện tính tương tác của thể phát (nhàbáo, tòa soạn báo)
- Chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố thể hiện tính tương tác của thể nhận (độc giả)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tính tương tác của diễn ngôn báo chíthông qua khảo sát các diễn ngôn của báo điện tử Luận án lựa chọn nghiên cứutrường hợp trên báo điện tử - một loại hình báo chí tiêu biểu của thời đại Báo điện
tử là sự kết hợp của rất nhiều phương tiện: hình ảnh, video clip ; trong luận án,chúng tôi chỉ khảo sát yếu tố văn bản (text)
Có hai phạm vi của diễn ngôn được xem xét trong luận án, đó là:
(1) Diễn ngôn của nhà báo (đại diện cho tờ báo): Diễn ngôn này bao gồm cácdiễn ngôn cơ sở (chứa nguồn tin gốc, cung cấp thông tin đầu tiên) và các diễn ngôn
Trang 9phái sinh trong cùng một tờ báo hoặc các tờ báo khác nhau (các diễn ngôn này cóliên quan về mặt chủ đề, đối tượng được nói đến với diễn ngôn cơ sở).
(2) Diễn ngôn phản hồi của độc giả: diễn ngôn xuất hiện sau khi độc giả tiếpnhận thông tin từ các diễn ngôn trên
Về mặt phạm vi, chúng tôi lựa chọn hai website báo điện tử: Dân trí(dantri.com), VietNamNet (vietnamnet.vn) Theo Alexa (www.alexa.com) - trangweb uy tín trong việc thống kê và thông tin về lượng truy cập website hiện nay, đây
là hai tờ báo nằm trong top các báo điện tử có nhiều người đọc ở Việt Nam Báođiện tử Dân trí luôn thu hút lượng người đọc và bình luận phản hồi lớn cònVietNamNet là tờ báo điện tử đầu tiên của Việt Nam Ngữ liệu chủ yếu của luận án
là 185 bài báo mạng thuộc chuyên mục Giáo dục được xuất bản trong năm 2015 củahai website này Hệ thống các bình luận phản hồi được tính từ thời điểm bài báoxuất bản đến ngày 31/12/2015 Ngoài ra, để đảm bảo tính cập nhật (update) của báochí nói chung và báo điện tử nói riêng; khi phân tích các trường hợp điển hình,chúng tôi có đề cập tới một số bài báo xuất bản thời gian gần đây
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp miêu tả (description): Trên cơ sở miêu tả đặc điểm về
chủ đề, thể loại, cấu trúc, hành động ngôn từ được thể hiện ra bằng ngôn ngữ củadiễn ngôn để nhận diện ra đặc điểm tương tác của diễn ngôn Nhận diện tương tácdiễn ngôn thông qua miêu tả các đặc điểm nội dung và hình thức của nó
(i) Miêu tả định lượng: Các yếu tố có thể định lượng, đo đếm được: số bàibáo, số phản hồi; số chủ đề, số tin liên quan tới một chủ đề cụ thể; số lượng cáchành động ngôn từ Thống kê, phân loại, miêu tả đặc điểm các yếu tố dựa trên tần
số xuất hiện của nó
(ii) Miêu tả định tính: Từ những miêu tả định lượng có những miêu tả địnhtính Đó là những phán đoán, tiên liệu liên quan tới phân tích ngữ cảnh Có nhữngyếu tố có thể nhận diện được trực tiếp: chủ đề (đối tượng được nói đến), phạm vi đềtài; thời gian (tin xuất bản trước, sau), kênh và môi trường truyền tin (mục, trangtin) : tất cả các yếu tố có thể nhìn thấy trên giao diện Có những yếu tố phải nhậndiện gián tiếp như: các quan niệm, thái độ của nhà báo và độc giả (có thể tường minh,
có thể không tường minh); đích diễn ngôn của nhà báo và độc giả có tính hàm ẩn
Trang 104.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn (discourse analysis): Chúng tôi lựa
chọn cách tiếp cận diễn ngôn theo:
(1) đường hướng dụng học (pragmatics): dựa vào lí thuyết hành động nói(speech acts)
(2) đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis)với ba kiểu phân tích tương ứng ba chiều đo đã được Fairclough chỉ ra: 1- Địnhdạng văn bản (miêu tả diễn ngôn), 2- Phân tích quá trình sản sinh và thực hành diễnngôn (tìm hiểu diễn ngôn), 3- Phân tích các đặc điểm văn hóa - xã hội tác động ở bềsâu diễn ngôn (giải thích diễn ngôn)
4.3 Thủ pháp so sánh đối chiếu (comparison): So sánh đối chiếu giữa các
văn bản, các diễn ngôn báo chí cùng một chủ đề thông tin So sánh đặc điểm củadiễn ngôn: về nội dung (tiêu điểm thông tin, độ đậm nhạt của thông tin ); so sánh
về mặt đặc trưng loại hình của diễn ngôn (các thể loại); so sánh diễn ngôn trongcùng một tờ báo và ở các tờ báo khác nhau
5 Đóng góp mới của luận án
Những kết quả của luận án sẽ góp phần điều chỉnh, định hướng sự giao lưu,tương tác báo chí theo hướng tích cực
Trang 116 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; phầnnội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 2: Tương tác của thể phát trong diễn ngôn báo điện tử
Chương 3: Tương tác của thể nhận trong diễn ngôn báo điện tử
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Dẫn nhập
Chương này tổng quan lại các công trình có liên quan tới đề tài nghiên cứu,
hệ thống những tiền đề lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài
1.1.Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm tổng quan các công trình nghiêncứu về diễn ngôn (diễn ngôn, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn báo điện tử) và cácnghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử
1.1.1 Các nghiên cứu về diễn ngôn, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn báo điện tử
1.1.1.1 Các nghiên cứu về diễn ngôn
Tên gọi “Phân tích diễn ngôn” đã có từ năm 1952 với Z.Harris Ông đã đềxuất khái niệm “diễn ngôn - discourse” là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu Sau
đó, các nhà nghiên cứu J McH Sinclair và R M Coulthard (1975); R M.Coulthard (1977) đã sử dụng phổ biến thuật ngữ “diễn ngôn” Năm 1979, R DeBeaugrande đã ấn định sự kết thúc của giai đoạn ngôn ngữ học văn bản để chuyểnsang giai đoạn tiếp theo - giai đoạn phân tích diễn ngôn Từ đây, các công trình của
M Stubbs (1983); G Brown và G Yule (1983); nhà dụng học S C Levinson(1983), D.Nunan (1993) đã nghiên cứu chuyên sâu về diễn ngôn Nổi bật là công
trình Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) của G Brown và G Yule [9] Trong
công trình này, các tác giả đã chỉ ra phương thức để giải mã diễn ngôn gắn với ngữcảnh cụ thể và “phép luận suy” để tìm ra cái được nói đến trong diễn ngôn
Theo Schiffrin (1994), kể từ khi phân tích diễn ngôn trở thành một lĩnh vựcđược nhiều người quan tâm đã có nhiều đường hướng phân tích diễn ngôn ra đời.Thứ nhất, đường hướng dụng học với hai nhánh Một là, dựa trên lí thuyết hànhđộng nói (speech acts), Austin và Searle cho rằng bản chất của các phát ngôn ngônngữ là thực hiện một hành động nói Hai là, dựa trên sự phân biệt các loại ý nghĩakhác nhau của Grice, ông đã lập luận rằng nguyên tắc cộng tác là căn cứ cho việcsuy ra ý định phát ngôn của người nói
Trang 13Một đường hướng khác bắt nguồn từ các lĩnh vực khác nhau như nhân chủnghọc, xã hội học và ngôn ngữ học gọi là đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác(interactional sociolinguistics).
Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse CDA) ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX Đường hướng này quan tâm đến vấn
analysis-đề quyền thế và hệ tư tưởng được thể hiện trong diễn ngôn
Ở Việt Nam, sự quan tâm tới phân tích diễn ngôn bắt đầu từ đầu thập kỷ 80.Các tác giả như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu (1985), Trần Ngọc Thêm (1985),Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo (1991), Diệp Quang Ban (1998), Nguyễn ThiệnGiáp (2000), Nguyễn Hòa… đã nghiên cứu những vấn đề của phân tích diễn ngôn
Nguyễn Hòa (Phân tích diễn ngôn phê phán: Lí luận và phương pháp) [49] coi diễn ngôn như một quá trình giao tiếp tương tác Còn trong Giao tiếp diễn ngôn
và cấu tạo văn bản [8]; Diệp Quang Ban đã hệ thống về văn bản, phân biệt văn bản
và diễn ngôn trong đó nổi bật là quan điểm diễn ngôn là một quá trình, thuộc về mặtnghĩa, gắn với ngữ cảnh sử dụng
Đỗ Hữu Châu trong Đại cương Ngôn ngữ học tập 2 (Ngữ dụng học) [12] có
đề cập đến diễn ngôn như một khái niệm nền tảng của ngữ dụng học và phân biệt nóvới khái niệm câu, phát ngôn Tác giả cũng đã chỉ ra các thành tố nội dung của diễnngôn và sử dụng thuật ngữ này một cách thống nhất trong công trình của mình
Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn nổi bật trên đã cung cấp một cáinhìn tương đối toàn vẹn về diễn ngôn
1.1.1.2 Các nghiên cứu về diễn ngôn báo chí và báo điện tử
Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề báochí và ngôn ngữ báo chí nói chung Có thể kể tên một số công trình nổi bật ở Việt Nam
như: Ngôn ngữ báo chí - Những vấn đề cơ bản (Nguyễn Đức Dân, 2007) [22], Báo chí
- Những vấn đề lí luận và thực tiễn (Khoa Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, 2005) [61], Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí (Hoàng Anh, 2003) [1], Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại
chúng (Hoàng Anh, 2008) [2], Ngôn ngữ báo chí (Vũ Quang Hào, 2002) [36]… Các
Trang 14công trình này, về cơ bản đã cung cấp một hệ thống lí luận đầy đủ về báo chí và phântích diễn ngôn báo chí ở các mặt: cấu trúc một diễn ngôn tin, các thành phần kết cấu,các thể loại… Các công trình mà chúng tôi tiếp cận được có các hướng nghiên cứuchính như:
- Các thành phần kết cấu của diễn ngôn báo chí: những phần hay được
nghiên cứu là tiêu đề (title) và sapô (sapo)
- Các thể loại của diễn ngôn báo chí: tin, phóng sự, thư tín thương mại,quảng cáo, nghị luận, chính trị xã hội…
- Ngôn ngữ, phong cách báo chí thể hiện qua từ ngữ, câu, đoạn văn…
Trong đó, những công trình nghiên cứu về báo điện tử (E-newspaper, online
newspaper: báo điện tử, báo mạng, báo mạng điện tử) đã có những thành tựu bước
đầu Trên thế giới phải kể đến cuốn Writing for web (Viết bài cho web) (1999) của
tác giả Kilian Crawford [dt 2; 61] Đây gần như là tư liệu đầu tiên đề cập đến việc
sử dụng ngôn ngữ trong các bài viết được đăng tải trên báo điện tử Tác giả chỉ dẫnviệc dùng từ, đặt câu, trình bày đoạn văn (như dùng dạng câu chủ động thay cho bịđộng, đặt câu đơn giản, đoạn văn không nên quá 70 chữ, dài nhất là gồm 4 dòng,
các đoạn cách nhau một dòng)… Năm 2002, cuốn Journalism Online (Báo chí trực
tuyến) của Mike Ward [dt 2; 61] chỉ ra những điểm nổi bật mà các nhà báo cần quan
tâm khi sử dụng ngôn ngữ trong loại hình báo chí này (như cần ngắn gọn, súc tích,dung lượng chỉ bằng 50% so với báo in, đi thẳng vấn đề, mỗi câu chỉ mang mộthoặc một thông tin nhất định, dùng từ dễ hiểu và gần gũi)… Các tác giả đã nghiên
cứu khá chi tiết về cách viết báo mạng điện tử Tuy nhiên, đây là những nghiên cứu mang tính tổng thể về việc viết như thế nào, sử dụng ngôn từ như thế nào để phù hợp với việc thông tin trên báo mạng điện tử nói chung chứ không đi sâu vào
một vấn đề cụ thể nào
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về báo mạng điện tử thiên về phân tích các kĩ năng cơ bản để viết báo Các công trình của Nguyễn Thị Trường Giang (2010),
Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản [28]; Vũ Kim Hải, Đinh Thuận (biên
soạn) (2006), Các thủ thuật làm báo điện tử: Thiết kế báo điện tử [35]… tập trung
Trang 15đi vào hướng dẫn cách đặt tít, viết sapô, dung lượng câu… Trên websiteVietnamjournalism.com [120], tác giả Lê Quốc Minh có một số bài viết về vấn đề
sử dụng ngôn ngữ trên báo mạng điện tử như Giật tít trên báo điện tử, Nguyên tắc
viết bài cho báo điện tử, Đặt tít ngắn, Thủ thuật viết bài cho website… loạt bài thiên
về kĩ năng nghề nghiệp chung cho báo điện tử trên cơ sở kinh nghiệm
Tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp chuyên về báo chí và báo điện tử; hệthống các khóa luận tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ xuất hiện tương đối nhiều Các vấn
đề chủ yếu về báo điện tử đã được khai thác ở khá nhiều mảng khác nhau như:thông tin trên báo mạng, tiêu đề, lời dẫn, giao diện, diễn đàn, phỏng vấn, ảnh, độc
giả… Về tổng thể, các công trình đã chỉ ra một số đặc điểm nổi bật của báo điện tử
như: thông tin trên báo điện tử bao gồm thông tin khai thác lại và thông tin tự khaithác, quá trình xử lí thông tin có thể là: lựa chọn nguồn để đưa thông tin lên mạng,làm giàu thông tin bằng các thông tin liên quan…; tiêu đề, lời dẫn trên báo mạng cóđặc điểm ngắn gọn, hấp dẫn trực tiếp người đọc; giao diện, ảnh, đồ họa trên báomạng cần bắt mắt; độc giả của báo mạng rất năng động với những phản hồi…
Những vấn đề này cung cấp kiến thức nền tảng về báo điện tử, tạo điều kiệncho chúng tôi tìm hiểu những đặc điểm có tính chất đặc trưng của tính tương tác
1.1.2 Các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử
Các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử (The interaction
of E-newspaper discourse) đã bước đầu được đề cập đến ở các cấp độ khác nhau.
Về cơ bản, các công trình đã đề cập tới vấn đề các hình thức tương tác và vấn đềđộc giả tương tác với tòa soạn và nhà báo
1.1.2.1 Nghiên cứu về sự tương tác của độc giả với tòa soạn và nhà báo
Đây là những nghiên cứu phổ biến và nổi bật về tính tương tác của diễn ngôn
báo điện tử Hầu hết các tác giả cho rằng tính tương tác của báo điện tử chính là
sự tương tác của độc giả với toà soạn và nhà báo.
Một số công trình đã bước đầu đề cập đến vấn đề này song chưa có những
phân tích đi sâu cụ thể Trong Báo chí - những vấn đề lí luận và thực tiễn [61], các
tác giả khái quát và cho ví dụ về tính tương tác cao của báo điện tử qua vai trò của
Trang 16độc giả phản hồi lại thông tin “Một tin tức gửi đi nhanh chóng nhận ngay phản hồi
của rất nhiều độc giả, nhận xét về nội dung thông tin, chia sẻ tình cảm với người trong cuộc thậm chí phản ứng ngay với tờ báo về cách đưa tin (Ví dụ việc đưa tin về
vụ sóng thần hồi cuối năm 2004 rất được quan tâm nhưng không ít người phàn nàn
về việc đăng tải các hình ảnh quá thương tâm) Đài phát thanh và truyền hình có một
số mục giao lưu hay talkshow cho phép người xem, người nghe gọi điện trực tiếp, nhưng chắc chắn không “bì” kịp với kiểu trao đổi qua Internet” [61; 255].
Hoàng Anh (trong Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông
đại chúng, bài Các đặc điểm của ngôn ngữ báo mạng điện tử) [2] cũng chỉ ra tính
tương tác là một đặc điểm của ngôn ngữ báo điện tử Tác giả phân tích kết cấu
mở là điểm làm cho báo điện tử khác với các loại hình báo chí khác Nhiều tác
phẩm trên báo mạng điện tử có kết cấu mở để thu hút sự tham gia công chúng vào
quá trình thông tin “Xuất phát từ nhận thức rằng thông tin mà nhà báo đưa ra chỉ
là một lát cắt, một khía cạnh nhỏ trong cả mảng thông tin lớn đáng quan tâm, vì thế
nó cần được tiếp nối, được bổ sung, được làm rõ để bảo đảm tính đa dạng, phong phú, nhiều chiều, đáp ứng sự chờ đợi của công chúng, các nhà báo mạng điện tử thường gợi mở thêm nhiều vấn đề để chính độc giả trả lời Nhờ tính tương tác cao, báo mạng cho phép độc giả dễ dàng gửi ý kiến của mình tới tòa soạn và những ý kiến như vậy có thể được biên tập và công bố tức thì.” [2;75]
Như vậy, theo tác giả, tính tương tác của báo mạng điện tử là do vai trò năng động của độc giả Cụ thể hơn, tác giả đưa ra ba cách phổ biến để công chúng
tham gia vào quy trình thông tin trong báo mạng điện tử: Thứ nhất là dạng lấy ý kiến độc giả Thứ hai là dạng giao lưu, hỏi đáp giữa độc giả và các nhân vật Thứ ba
là mời độc giả tham gia vào diễn đàn nhằm thảo luận về một vấn đề thời sự đangđược quan tâm rộng rãi trong xã hội
Tác giả kết luận kết cấu mở của các tác phẩm báo mạng là nhân tố quantrọng giúp tòa soạn thu nhận được nhiều thông tin Ngoài ra, đây cũng là cách đểtạo ra niềm hứng thú cho công chúng, thu hút họ trở thành bạn đọc thường xuyêncủa mình
Trang 17Đây cũng là hướng phân tích trong Những kĩ năng về sử dụng ngôn ngữ
trong truyền thông đại chúng (www.journalism.org) [120] Kết cấu mở của báo
mạng có ba dạng: lấy ý kiến độc giả, đặt câu hỏi độc giả trả lời, giao lưu trực tuyến.Nhờ tính tương tác cao, độc giả gửi ý kiến của mình tới tòa soạn, tòa soạn biên tập
rồi công bố Công trình Các thủ thuật làm báo điện tử (Nxb Thông Tấn 2006) [35]:
đề cập đến sự thay đổi vai trò của độc giả: độc giả bình đẳng, bình luận, tương táclại, phản hồi thông tin, chia sẻ tình cảm với bài báo
Như vậy, các công trình kể trên đã bước đầu chỉ ra tính tương tác của báo mạng điện tử là do sự tương tác qua phản hồi của độc giả với thông tin mà bài
báo đã đưa ra và kết cấu mở của báo mạng chính là đặc điểm thu hút sự tham giacủa độc giả vào quá trình làm báo Đây là sự tương tác giữa độc giả với tòa soạn vànhà báo
Ngoài ra, trên website báo chí www.journalism.org [120] công bố một sốcông trình nghiên cứu trực tiếp về tính tương tác của báo điện tử Các tác giả đã chỉ
ra vai trò của độc giả trong việc tương tác, các phương tiện đa phương tiện để tươngtác, các tiêu chí đo tính tương tác và các biểu hiện tương tác Cụ thể công trình:
Những đặc điểm mang tính tương tác của báo điện tử (Keith Kenney, Alexander Gorelik và Sam Mwangi) Công trình này đề cập tới mô thức mới của truyền thông
và độc giả, đưa ra các tiêu chí đo lường tính tương tác như: công cụ tìm kiếm, siêuliên kết, phản hồi, các đặc điểm đa phương tiện… Ngoài phản hồi thuộc về mặtngôn ngữ, các tiêu chí này đều thuộc về mặt phi ngôn ngữ
Như vậy, nghiên cứu này đã cho thấy có sự tương tác bằng ngôn ngữ và không bằng ngôn ngữ Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ lựa chọn tương tác bằng ngôn ngữ.
Những nghiên cứu trên tuy trực tiếp đề cập tới những biểu hiện cụ thể củatính tương tác song về cơ bản vẫn chỉ tập trung ở những đặc điểm về độc giả, về đặctính đa phương tiện của báo Những biểu hiện này là đúng, là trúng nhưng chưa đủđối với sự tương tác đa dạng của diễn ngôn báo điện tử Độc giả chỉ là một yếu tố,một nhân vật tương tác trong quy trình tương tác của báo điện tử
Trang 181.1.2.2 Nghiên cứu về hình thức tương tác
Phần lớn hệ thống các khóa luận tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ ở các cơ sở đàotạo ([53], [59], [63], [94]…) đã có nghiên cứu cụ thể về tính tương tác của báo điện
tử; song mới chỉ chỉ ra các hình thức tương tác bề mặt của diễn ngôn báo điện tử.
Rất nhiều công trình đã chỉ ra tính tương tác là đặc điểm làm nên sự khácbiệt lớn giữa báo điện tử và các loại hình báo chí còn lại; đồng thời cũng thống kêmột số hình thức tương tác giữa tòa soạn báo mạng và công chúng như: tương tácqua box phản hồi; tương tác qua thư điện tử (e-mail); tương tác qua đường dâynóng; tương tác qua thư tín; tương tác qua hình thức thăm dò dư luận (vote); tươngtác qua giao lưu trực tuyến Từ đó, các tác giả thống kê các hình thức tương tácchính trên báo mạng điện tử như sau: (1) Tương tác giữa người đọc và máy: công cụtìm kiếm (tìm kiếm theo chủ đề, theo ngày tháng, theo từ khóa), hình thức bỏ phiếu(vote), đọc báo theo ý thích, RSS (2) Tương tác giữa độc giả và tòa soạn: hộp thưgóp ý, giao lưu trực tuyến (chat với người nổi tiếng, bàn tròn trực tuyến (3) Tươngtác giữa độc giả với độc giả (4) Tương tác giữa độc giả với phóng viên, BTV
Như vậy, các công trình này thực chất mới chỉ đề cập tới những hình thức tương tác giữa tòa soạn, nhà báo - độc giả, người đọc và máy Những khía cạnh về
nội dung, quan hệ, các nhân tố tương tác hoàn toàn chưa được đề cập đến
Điểm lại các công trình có đề cập đến tính tương tác của diễn ngôn báo chí
và báo mạng điện tử có thể nhận thấy vấn đề này đã bước đầu được quan tâmnghiên cứu Hầu hết các tác giả đã chỉ ra tính tương tác là đặc điểm của báo chí nóichung và đặc biệt thể hiện rõ ở báo mạng điện tử Nguyên nhân được lí giải đó là dobáo điện tử có sự phản hồi của độc giả Phần lớn các công trình đã khảo sát vàthống kê chi tiết, đầy đủ các hình thức tương tác Song thực tế, tính tương tác củadiễn ngôn báo chí là một địa hạt với nhiều vấn đề phức tạp và hấp dẫn hơn rấtnhiều Toàn bộ nội dung, quan hệ và các nhân tố tương tác là những vấn đề đangcòn bỏ ngỏ cần sự nghiên cứu chi tiết Những vấn đề thiên về mặt cấu trúc hìnhthức, ngôn ngữ có tác động lớn và chịu ảnh hưởng bởi tính tương tác hầu như chưađược đề cập tới Luận án sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về tương tác ở cả người
Trang 19phát (nhà báo, tòa soạn) và người nhận (độc giả) Và điểm khác biệt chính là nghiêncứu báo điện tử ở bình diện diễn ngôn với những đặc tính tiêu biểu liên quan tới hệ
tư tưởng - quyền lực - ngữ cảnh - hành động
đó quá trình tương tác đạt hiệu quả Do đó, tương tác chính là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo ra sự biến đổi giữa các yếu tố đó.
Điểm khác biệt giữa tương tác và tác động chính là ở sự tác động qua lại Tácđộng là mối quan hệ một chiều từ A tới B hoặc B tới A nhưng tương tác là mối quan
hệ hai chiều giữa A và B (A tác động B và ngược lại B có sự tác động trở lại A)
Thuật ngữ tương tác (interaction) mà chúng tôi dùng ở đây xuất phát từtương tác hội thoại (interaction in dialogue) và tương tác diễn ngôn (discourseinteraction, discourse in interaction) Tương tác trong tương tác hội thoại được đặttrong phạm vi giao tiếp Tương tác trong tương tác diễn ngôn được xuất phát từ
mệnh đề “diễn ngôn như một sự tương tác xã hội” (discourse as social interaction)
của Van Dijk
Đặc tính về tương tác trong ngôn ngữ được chỉ ra khi ngôn ngữ học nghiêncứu về giao tiếp Vì thế, tương tác ở đây được dùng trong phạm vi giao tiếp và đượchiểu là một vấn đề của giao tiếp Nó là một khái niệm của dụng học mà chỉ từ khi códụng học tương tác mới trở thành một đối tượng nghiên cứu (trong tương tác củahội thoại) Tương tác trong tương tác hội thoại chỉ ra mối quan hệ tương tác giữacác nhân vật giao tiếp (thể phát và thể nhận), tương tác của các nhân tố giao tiếp
Trang 20Ngoài ra, thuật ngữ tương tác xuất phát từ tương tác diễn ngôn với ba nguyên
lí cơ bản đã được thừa nhận là:
1- Giao tiếp là một quá trình tương tác
2- Diễn ngôn là sản phẩm của giao tiếp trong quá trình tương tác
3- Trong quá trình hoạt động, giữa các diễn ngôn luôn có sự tương tác
Diễn ngôn báo chí cũng không nằm ngoài quy luật đó Trong báo chí cótương tác bằng lời và tương tác không bằng lời (ví dụ tương tác qua các hình ảnh,
giao diện website của báo điện tử ) Trong luận án này, chúng tôi chỉ xét đến tương tác bằng lời và thông qua lời, tương tác giữa các nhân vật giao tiếp thông
qua lời và bằng lời trong phạm vi của diễn ngôn báo chí (cụ thể trên các trang tinđiện tử) Nghĩa là những tương tác được nghiên cứu ở đây có liên quan đến ngôn
ngữ Tương tác bằng lời là một trường hợp riêng của tương tác nói chung Tương tác bằng lời là hoạt động giao tiếp sử dụng lời nói giữa những người tham gia giao
tiếp Trong đó, diễn ngôn (sản phẩm của giao tiếp) thông qua các thành phần nộidung thực hiện chức năng tác động đến các nhân vật giao tiếp Lời bao gồm cả dạngnói và dạng viết Trong luận án, tương tác của diễn ngôn báo chí chỉ được xem xétqua lời viết (loại trừ lời nói)
Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các vấn đề về hoạt động giao tiếp
và giao tiếp báo chí, diễn ngôn và diễn ngôn báo chí, tính tương tác trong giao tiếp
và diễn ngôn
1.2.1 Khái quát về hoạt động giao tiếp và giao tiếp báo chí
1.2.1.1 Hoạt động giao tiếp
Theo định hướng xã hội, giao tiếp được hiểu như là một hoạt động mang tínhtương tác giữa những người tham gia để chia sẻ kinh nghiệm cộng đồng xuyên qua
thời gian Vì thế, bản thân hoạt động giao tiếp đã mang tính tương tác cao Hơn
nữa, tương tác còn là một kiểu quan hệ xã hội đặc trưng giữa người với người mà
nó thể hiện nổi bật ở hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ “Hoạt động giao tiếp bằng
ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người (nhóm người) với con người (nhóm người), trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, yêu cầu hoạt động,… đồng
Trang 21thời thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp đối với nội dung giao tiếp và giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [16; 480] Trong hoạt
động giao tiếp bằng ngôn ngữ, tính tương tác thể hiện ở quá trình vận động tươngtác trong hội thoại và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp được hiểu là các nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếpchi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn về mặt hình thức cũng như nội
dung Các nhân tố giao tiếp bao gồm: nhân vật giao tiếp (những người tham gia
vào quá trình giao tiếp: người phát, thể phát (Sp1) và người nhận, thể nhận (Sp2);
nội dung giao tiếp (hiện thực, thực tế khách quan được các nhân vật giao tiếp đưa vào cuộc giao tiếp); tiền giả định giao tiếp (các đặc điểm tự nhiên và xã hội của một dân tộc, một cộng đồng); môi trường giao tiếp (các đặc điểm về thời gian, nơi chốn cụ thể); phương tiện và kênh giao tiếp (hệ thống tín hiệu); đích giao tiếp (ý
đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong một cuộc giao tiếp nhất định) Đíchgiao tiếp là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc giao tiếp bởi nó chi phối gần nhưtoàn bộ việc lựa chọn các yếu tố còn lại
Jakobson là người đưa ra mô hình giao tiếp với sáu yếu tố giao tiếp được sắpxếp theo hàng ngang và hàng dọc như sau:
NGỮ CẢNHNGƯỜI PHÁT THÔNG ĐIỆP NGƯỜI NHẬN
TIẾP XÚCMÃ
Hình 1.1: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp của R Jakobson [dt 8; 31]
Theo hàng ngang có người phát (thể phát), thông điệp và người nhận (thểnhận) Hàng dọc có ngữ cảnh, thông điệp, tiếp xúc và mã Đây là những yếu tố quantrọng với các chức năng khác nhau làm nên quá trình giao tiếp
Có thể hình dung quá trình giao tiếp với hai quá trình mã hóa và giải mã như sau:
Trang 22Hình 1.2: Quá trình giao tiếp
(1) Quá trình mã hóa: là quá trình một người, một tổ chức, một cơ quanchuyển một thông điệp cho đối tượng tiếp nhận Thông điệp đó được gửi đi dướidạng mã hóa (mã hóa bởi chữ viết, hình ảnh, âm thanh )
(2) Quá trình giải mã: là quá trình từng đối tượng tiếp nhận bằng những conđường khác nhau làm cho thông điệp được chuyển đến một cách rành mạch và rõ ràng
Hoạt động báo chí cũng có những đặc điểm tương đồng với hoạt động giao tiếpnói chung
1.2.1.2 Hoạt động giao tiếp báo chí
a Hoạt động báo chí là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Báo chí là một hoạt động giao tiếp sử dụng phương tiện là ngôn ngữ Quátrình truyền tin của báo chí cũng bao gồm hai quá trình mã hóa và giải mã Quátrình mã hóa là quá trình sáng tạo của tác giả (nhà báo) Quá trình giải mã là quátrình tiếp nhận của độc giả Nhà báo truyền đạt thông tin tới người đọc; người đọctiếp nhận thông tin và đánh giá, phản hồi lại theo mô hình:
Mô hình 1.1: Mô hình truyền thông báo chí
(diễn ngôn)
Trang 23Mô hình trên cho thấy trong báo chí, tương tác nổi bật sẽ là sự tác động, giao tiếp hai chiều qua lại giữa thể phát - nguồn phát (tòa soạn, nhà báo ) và thể nhận - nơi nhận (công chúng độc giả) Do tính chất giao tiếp gián cách, không
trực tiếp đối mặt (như giao tiếp hàng ngày) nên tương tác trong báo chí ngoài đượcthực hiện thông qua các diễn ngôn của nhà báo còn được thực hiện thông qua phảnhồi của các độc giả Nhà báo và độc giả ở đây không trực tiếp cùng hiện diện mà có
sự tác động qua lại lẫn nhau thông qua các sản phẩm giao tiếp là các diễn ngôn báochí và các phản hồi sau mỗi bài báo Giao tiếp trong báo chí vì thế là giao tiếp giántiếp, giao tiếp cách mặt
Cụ thể hơn, báo chí là một loại hình truyền thông Điều quan trọng củatruyền thông đó là quá trình truyền đi thông tin với các quá trình như sau:
Mô hình 1.2: Mô hình truyền thông của Claude Shannon [25; 27-28]
Theo C Shannon, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (S) thông qua cáckênh truyền thông đến với người nhận (R) rồi thu được hiệu quả (E) Các yếu tốtrong mô hình truyền thông hai chiều của C Shannon bao gồm:
S (Source, Sender): Nguồn phát, chủ thể truyền thông
M (Message) : Thông điệp, nội dung truyền thông
C (Channel) : Kênh truyền thông
R (Receiver) : Người nhận thông điệp (đối tượng)
E (Effect) : Hiệu quả truyền thông
N
F
Trang 24N (Noise) : Nhiễu (yếu tố gây ra sai số cản trở thông điệp)
b Các nhân tố giao tiếp của hoạt động giao tiếp báo chí
Hoạt động giao tiếp báo chí cũng có đầy đủ các nhân tố giao tiếp: nhân vậtgiao tiếp, nội dung giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp, đích giao tiếp Trong đó, các nhân
tố giao tiếp (đặc biệt nhân tố nhân vật giao tiếp: thể phát và thể nhận) và sự tươngtác của chúng có ảnh hưởng to lớn đến quá trình tạo lập diễn ngôn và lĩnh hội diễnngôn Người phát căn cứ vào các nhân tố giao tiếp để tạo diễn ngôn thích hợp Cònngười nhận, căn cứ vào diễn ngôn và các nhân tố giao tiếp để giải mã diễn ngôn đó
Vì thế, sự tương tác giữa các nhân tố giao tiếp có vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội và giải mã diễn ngôn báo chí.
Hơn nữa, sự tương tác trong báo chí bị chi phối bởi đích của các chủ thể diễnngôn (đích của thể phát và thể nhận) Trong báo chí, đích của thể phát Sp1 và thểnhận Sp2 là khác nhau Về cơ bản có thể thấy, đích của thể phát Sp1 là đưa ra thôngtin và đích của thể nhận Sp2 là tiếp nhận thông tin
Mục đích của thể phát là đưa ra những thông tin quan trọng (thậm chí khôngquan trọng cũng biến thành quan trọng) để thu hút độc giả Có thể thấy các trườnghợp như: (1) thông tin quan trọng - nhà báo đưa thành thông tin quan trọng (2)thông tin không quan trọng - nhà báo đưa thành thông tin quan trọng (3) thông tinquan trọng - có thể bị biến thành không quan trọng (dìm đi) Theo đó, nhà báo sẽ cócác cách trình bày thông tin để thể hiện mục đích của mình Tất cả những điều nàyđều phải thể hiện ra bằng ngôn ngữ Cụ thể, đó là những vấn đề về mặt kết cấu củamột bài báo (tiêu đề, sapô, cấu trúc tin); hành động ngôn từ…
Mục đích của thể nhận là tiếp nhận thông tin Nhà báo tác động tới độc giả
về mặt thông tin, nhận thức và sẽ làm cho họ có những hành động tương ứng Hành
Trang 25động hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hành động nói (comment phản hồi lại) vàlàm (viết một bài báo khác, đi kiện…) Như thế, có hành động mang tính chất ngôn
từ và có hành động mang tính chất phi ngôn từ Chúng tôi chỉ nhận diện chủ yếunhững hành động mang tính chất ngôn từ (được thể hiện bằng ngôn ngữ thông quacác phản hồi), còn những hành động phi ngôn từ thì chỉ có thể tiên liệu chứ không
có khảo sát cụ thể
Như vậy, nếu như với nhà báo, thông tin là cái đã biết và nhiệm vụ của họ làlàm cho độc giả tò mò, kích động về thông tin đó; thì với độc giả, thông tin là cáichưa biết, cái muốn biết Từ muốn biết, độc giả muốn bày tỏ thái độ về những thôngtin vừa được tiếp nhận Có những thái độ mang tính chất cảm tính và có những thái
độ mang tính chất lí tính; những hành vi tương ứng ví dụ: tin hay không tin, xác tínhay không xác tín Điều nhà báo đưa ra thì nhà báo luôn xác tín, còn độc giả có tinhay không thì đó thuộc về sự tiếp nhận của họ
Đích của thể phát và thể nhận sẽ chi phối việc sử dụng ngôn ngữ của thể phát
và thể nhận để thể hiện mục đích Thể phát sẽ sử dụng ngôn ngữ để tạo ra sự tươngtác hấp dẫn cho thông tin đã biết của mình đối với độc giả Còn thể nhận sử dụngngôn ngữ để thể hiện thái độ về các thông tin vừa biết của mình
Tóm lại, bản thân hoạt động giao tiếp đã mang tính tương tác cao Hoạt động
báo chí là một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong đó, tương tác nổi bật là sựtác động, giao tiếp hai chiều qua lại giữa thể phát - nguồn phát (tòa soạn, nhà báo )
và thể nhận - nơi nhận (công chúng độc giả) thông qua các thông điệp Trong quátrình giao tiếp báo chí, các nhân tố giao tiếp (nhân vật giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp,mục đích giao tiếp…) luôn có sự tương tác với nhau Điều đó chi phối hoạt động tạolập và giải mã thông điệp của báo chí
1.2.2 Khái quát về diễn ngôn và diễn ngôn báo chí
1.2.2.1 Khái niệm diễn ngôn
“Diễn ngôn” (còn gọi là ngôn bản, tiếng Anh: discourse, tiếng Pháp:discours) là khái niệm cơ bản trong lí luận phân tích diễn ngôn Có rất nhiều ý kiến
về thuật ngữ này trong sự so sánh với thuật ngữ “văn bản” (text) Về bản chất, thuật
Trang 26ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” không đối chọi nhau mà dường như đây là hai thuậtngữ dùng để gọi tên sản phẩm ngôn ngữ theo những hướng tiếp cận khác nhau Cóthể xác định “văn bản” và “diễn ngôn” như là hai mặt của cùng một đối tượng Nóikhác đi, văn bản là một hình thức biểu hiện bằng chữ viết của diễn ngôn.
Đối tượng của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hoạt động trong hoàn cảnh xãhội - văn hóa, chứ không phải đối tượng tĩnh (tức chuyển sang lời nói chứ khôngphải ngôn ngữ, theo thuật ngữ của F.de.Saussure) Nghiên cứu diễn ngôn tức lànghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (language in use) Nếu như trước đây, ngữ phápvăn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữcảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấungôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản Việc chuyển đối tượng
từ câu/phát ngôn sang diễn ngôn là một sự chuyển hệ quan trọng - chuyển sang hệgiao tiếp Và chỉ ở cấp độ diễn ngôn, chúng ta mới thấy rõ tính chất giao tiếp củangôn ngữ T A Van Dijk trong công trình của D Nunan (1993) [73] cũng xác
nhận: “Phân tích diễn ngôn liên quan đến phân tích ngôn ngữ trong sử dụng - so
sánh với phân tích các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng” Do đó, bản chất của việc phân tích (giải mã) diễn ngôn là
phân tích ngôn ngữ trong sử dụng để làm nổi bật giá trị và hiệu quả giao tiếp củangôn ngữ trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.2.2.2 Hướng tiếp cận diễn ngôn
Có nhiều đường hướng tiếp cận diễn ngôn Một số đường hướng chính trongphân tích diễn ngôn đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Hòa trình bày cụ thể trong
công trình Phân tích diễn ngôn Một số vấn đề lí luận và phương pháp [48] Về cơ
bản có các đường hướng: đường hướng dụng học, đường hướng biến đổi ngôn ngữ,ngôn ngữ học xã hội tương tác, đường hướng dân tộc học giao tiếp, đường hướngphân tích diễn ngôn trong tâm lí học xã hội, đường hướng phân tích diễn ngôn phêphán, đường hướng giao tiếp liên văn hóa, đường hướng phân tích diễn ngôn tổnghợp Các đường hướng này có những khác biệt song đều nhìn nhận ngôn ngữ nhưcông cụ của một quá trình tương tác tạo nghĩa Điểm chung của chúng trong phân
Trang 27tích diễn ngôn là tìm ra mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, văn bản và ngữcảnh, diễn ngôn và giao tiếp Dưới đây, chúng tôi chỉ đề cập tới các hướng tiếp cậndiễn ngôn mà luận án lựa chọn đi theo Đó là đường hướng dụng học và phân tíchdiễn ngôn phê phán.
a Đường hướng dụng học (pragmatics)
Dụng học là một đường hướng phân tích diễn ngôn có đối tượng rộng: ýnghĩa, ngữ cảnh và giao tiếp John Austin (1962) - người thường được coi là cha đẻcủa dụng học, đã phát hiện trong quá trình giao tiếp có một số phát ngôn thực hiệnmột số hành động nhất định Do đó, lí thuyết hành động nói (speech acts) được ápdụng trong phân tích diễn ngôn Searle (1969) là một trong những nhà ngôn ngữ cócông trong việc làm cho lí luận hành động nói có khả năng áp dụng trong phân tíchdiễn ngôn Ông cho rằng hành động nói là đơn vị cơ bản của giao tiếp - tức là đặt nótrong mối quan hệ giữa việc nghiên cứu ngôn ngữ với ý nghĩa và giao tiếp
Nguyễn Hòa đã rút ra: “ lí luận hành động nói đã tập trung xem xét đến ý
nghĩa của phát ngôn như là các hành động chứa nội dung giao tiếp Các hành động được thực hiện cho ta biết các hành động tiếp theo sẽ xảy ra (như hành động đề nghị - chấp nhận hay từ chối), và như vậy là một cơ sở để tạo ra mạch lạc cho diễn ngôn” [48; 81].
Theo Grice, dụng học về cơ bản được dựa trên hai căn cứ là ý nghĩa củangười nói và nguyên tắc cộng tác Grice đã phân chia ra hai loại ý nghĩa là ý nghĩa
tự nhiên (ý nghĩa không hàm chứa ý định của người nói có thể mang nội dung hiệnthực) và ý nghĩa phi tự nhiên (ý nghĩa có chứa đựng nội dung thông báo có chủ địnhcủa người nói) Sự đóng góp của Grice trong việc phân tích diễn ngôn là ở chỗ ông
đã chỉ ra “không phải bao giờ ý nghĩa thông báo của người nói cũng trùng với ý
nghĩa quy ước của các kí hiệu ngôn ngữ” [48; 82] Để có thể giải mã được ý nghĩa
của người nói, Grice cho rằng cả người nói và người nghe cần phải tuân thủ theonguyên tắc cộng tác Thực tế, nguyên tác cộng tác thường bị vi phạm hơn là đượctuân thủ Giá trị của nguyên tắc này ở chỗ nó chính là một phép thử để cho biết cuộchội thoại nào có các nhân vật giao tiếp cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác
Trang 28“Theo Schiffrin, ý nghĩa dụng học theo Grice còn có quan hệ với phân tích diễn ngôn ở chỗ nó thừa nhận diễn ngôn là một hành động giao tiếp được dựa trên lí trí (khi mọi người tham gia vào quá trình giao tiếp tự nguyện tuân thủ hay cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác) cho phép người nói và người nghe tổ chức và sử dụng thông tin trong diễn ngôn cùng với kiến thức văn hóa - xã hội nền và cho họ khả năng diễn đạt nhiều hơn là cái nội dung quy ước được thể hiện thông qua ngôn từ” [dt 48; 86].
Ở diễn ngôn báo chí, việc cố tình hay vô tình vi phạm nguyên tắc cộng tác
sẽ thể hiện được quyền lực của nhà báo Có những diễn ngôn, khi tạo lập nhà báo đã cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác của Grice để tác động đến người đọc.
Điều này tạo nên những hành động ngôn từ gián tiếp
Hành động ngôn từ (HĐNT) có hai loại: trực tiếp và gián tiếp Nó tạo ra hailoại ý nghĩa: ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn tương ứng với phương thứctương tác (PTTT) trực tiếp và gián tiếp trong diễn ngôn báo chí
- Ý nghĩa tường minh (ý nghĩa hiển ngôn, ý nghĩa theo câu chữ): là ý nghĩatrực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ và cấu trúc của phát ngôn mang lại Tương ứng với
ý nghĩa này là PTTT trực tiếp: những điều muốn tương tác được biểu hiện một cáchtrực tiếp, rõ ràng, thông qua các tín hiệu ngôn ngữ tường minh, hiển ngôn
- Ý nghĩa hàm ẩn (đối lập với ý nghĩa tường minh): là ý nghĩa không phải docác yếu tố ngôn ngữ trong phát ngôn đem lại mà phải nhờ suy ý mới nắm bắt được.Tương ứng với ý nghĩa này là PTTT gián tiếp: những điều muốn tương tác đượcbiểu hiện một cách gián tiếp, ẩn giấu, thông qua các tín hiệu ngôn ngữ hàm ẩn
Trong luận án, dựa vào HĐNT của nhà báo (trực tiếp hay gián tiếp) và nhữngtín hiệu ngôn ngữ (tường minh hay hàm ẩn); chúng tôi có những thống kê, phân loại vềPTTT của nhà báo (trực tiếp hay gián tiếp)
Bên cạnh đó, đường hướng dụng học được chúng tôi sử dụng để chỉ ra cáchành động ngôn từ tiêu biểu và điển hình mà độc giả sử dụng để tương tác Độc giả
đã sử dụng rất nhiều hành động ngôn ngữ khác nhau để đạt được mục đích nói củamình Đặc biệt, bên cạnh các hành động ở lời, trong các diễn ngôn báo chí còn cóhành động mượn lời Đó là những phản hồi của độc giả nằm ngoài mục đích tạo lậpdiễn ngôn của nhà báo
Trang 29b Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis)Phân tích diễn ngôn phê phán là hướng nghiên cứu ngôn ngữ từ điểm nhìn
chính trị với mục tiêu làm sáng tỏ quan hệ hệ tư tưởng - quyền lực - ngôn ngữ Những nhà ngôn ngữ có đóng góp quan trọng cho phân tích diễn ngôn phê
phán là Fairclough, Fowler, Kress, Van Dijk, Wodak
Fairclough phát biểu về quan hệ giữa hệ tư tưởng - quyền lực - ngôn ngữ:
“Khi con người tương tác bằng ngôn ngữ, hệ tư tưởng và niềm tin đã gắn trong các hình thức ngôn ngữ được người sử dụng thừa nhận một cách mặc nhiên Hệ tư tưởng liên kết với quyền lực, bởi lẽ chúng là phương tiện tồn tại hợp pháp của những quan hệ xã hội và sự bất bình đẳng về quyền lực Thông qua sự xuất hiện của hệ tư tưởng trong cách thức con người giao tiếp hàng ngày, những quan hệ xã hội, sự bất bình đẳng quyền lực cũng được thừa nhận một cách mặc nhiên Đồng thời, hệ tư tưởng liên kết với ngôn ngữ, bởi lẽ việc sử dụng ngôn ngữ là hình thức phổ biến nhất của hoạt động xã hội, ngôn ngữ là một thực tiễn và tập quán xã hội (social practice)” [dt 40] Do đó, có thể thấy quan hệ quyền lực và ngôn ngữ của
hướng nghiên cứu này thể hiện: 1) Ngôn ngữ được coi là công cụ để truyền đạt, thểhiện quyền lực và các tư tưởng khác; 2) Phân tích diễn ngôn cần mang lại sự hiểubiết về mối quan hệ quyền lực xã hội được thể hiện trong ngôn ngữ và vai trò ngônngữ trong việc duy trì, bảo vệ quyền lực xã hội 3) Quyền lực có thể được thực thi
và cũng có thể mất đi trong đấu tranh xã hội, và ngôn ngữ chính là phương tiệnnguyên cấp của đấu tranh quyền lực [dt 40; 8]
Lí thuyết phân tích diễn ngôn phê phán với mối quan hệ biện chứng giữaviệc sử dụng ngôn ngữ và quyền lực đã cung cấp một hướng tiếp cận phân tíchchính trị đối với văn bản Đồng thời, nó khẳng định sự quan trọng của ngôn ngữtrong sản sinh, duy trì và thay đổi quan hệ xã hội cũng như về khả năng dự phần củangôn ngữ đối với sự điều khiển của cá nhân này đối với cá nhân khác trong xã hội
Đường hướng này quan tâm diễn ngôn như là một quá trình giao tiếp/tươngtác giữa các thành viên của xã hội Diễn ngôn được nhìn nhận như một tập quán và
Trang 30một thực tiễn xã hội Phân tích diễn ngôn trong mối quan hệ với quyền thế, hệ tư tưởng và các mối quan hệ xã hội khác Khái niệm ngữ cảnh đóng vai trò cốt yếu trong lí luận của đường hướng này Ngữ cảnh bao gồm các yếu tố tâm lí, chính trị,
văn hóa, tư tưởng
Trong luận án, đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán trở thành địnhhướng để việc phân tích diễn ngôn báo chí luôn gắn liền với ngữ cảnh và chúngluôn thể hiện một quyền lực và hệ tư tưởng nhất định Song do hệ tư tưởng vàquyền lực đều là những yếu tố không tường minh, đôi khi những suy luận về mangtính chất chủ quan nên trong luận án, chúng tôi hạn chế việc tường minh các vấn đềnày Do đó, đường hướng này giúp luận án dựa vào ngữ cảnh để phân tích các diễn
ngôn báo chí (cụ thể chúng tôi sẽ phân tích ở mục 1.2.3.2a dưới đây).
Tóm lại, trong luận án chúng tôi tiếp cận diễn ngôn theo: (1)- đường hướng
dụng học (chú ý tới hành động nói của các chủ thể diễn ngôn) và (2)- đường hướngphân tích diễn ngôn phê phán (phân tích diễn ngôn trong mối quan hệ với quyềnlực, hệ tư tưởng trong đó ngữ cảnh đóng vai trò cốt yếu)
1.2.2.3 Diễn ngôn báo chí
Báo chí là tên gọi chung của các thể loại thông tin đại chúng Đó lànhững xuất bản phẩm định kỳ nhằm cung cấp tin về các sự vật, hiện tượng hay conngười nổi bật trong xã hội Báo chí là một phong cách chức năng cơ bản với phạm
vi giao tiếp đặc thù là lĩnh vực thông tấn báo chí Đây là một lĩnh vực sử dụng ngôn
từ phù hợp với chủ đề, hoàn cảnh, ngữ vực và thể hiện vai của người tham giagiao tiếp Cụ thể, đó là vai của nhà báo, người đưa tin, người cổ động, người quảngcáo, bạn đọc - tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin về tất cả các vấn
đề thời sự của xã hội
Diễn ngôn báo chí là sản phẩm của quá trình giao tiếp báo chí Sự giao tiếptrong báo chí là một quy trình với bốn yếu tố: người phát tin (nhà báo), sự kiện,phương tiện ngôn ngữ và người nhận tin (người đọc) theo sơ đồ tổng quát:
Trang 31TH£ GIíI B£N NGOµI (Sù kiÖn)
h×nh ¶nh cña thª giíi bªn ngoµi hµnh ng«n (diÔn ng«n)
nhµ
b¸o
ng êi nhËn tin
Thuyªt phôc Ph¶n håi
Hình 1.3: Các yếu tố trong quá trình giao tiếp báo chí [78; 46]
Nhà nghiên cứu Dương Văn Quảng [78; 47] nhấn mạnh rằng, diễn ngôn báochí là yếu tố thứ tư không thể thiếu trong quá trình khép kín của giao tiếp báo chí.Diễn ngôn báo chí không phải là bản sao chụp thế giới bên ngoài, mà thực tế nó làhình ảnh của thế giới đó thông qua lăng kính của người viết Một trong những đặctrưng của giao tiếp báo chí là nhà báo phải biết kiến tạo ngôn ngữ của mình sao cho
để vừa truyền tin, vừa thuyết phục được người nhận tin để họ suy diễn, hiểu đúngđược ý đồ của mình
Phương tiện để tạo thành diễn ngôn báo chí chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ
trong báo chí là sự hòa kết của ba tiểu chức năng cơ bản: chức năng thông tin, chức năng tác động, chức năng liên nhân Thông tin là những nội dung cụ thể, là điều mà
nguồn, người gửi (tòa soạn, nhà báo) gửi gắm trong thông điệp (bài báo) chuyển đếnđích, người nhận (độc giả) với mong muốn thực hiện việc tác động Qua thông tin,ngôn ngữ báo chí thực hiện chức năng tác động có chủ đích, “làm cho đối tượng đích
có những thay đổi trong nhận thức (biết, hiểu, tin tưởng) dẫn đến thay đổi trong hành
vi (hành động theo định hướng của nguồn)” [13; 49] Còn liên nhân là “khả năng tạo
ra sự liên kết chặt chẽ giữa nguồn và đích nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp” [13;50] Điều này thể hiện qua các chiến lược giao tiếp bằng ngôn từ gắn với văn hóa,tâm lí, thói quen của từng nhóm đối tượng đích, của các cộng đồng cụ thể
Hiện nay, báo chí có những loại hình cơ bản sau:
- Báo viết (còn gọi là báo in, báo giấy hay là báo chữ): Thể loại báo chí xuất
Trang 32hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa Ưu điểm làtính phổ cập cao, có nội dung sâu, người đọc có thể nghiên cứu Nhược điểm làthông tin chậm, khả năng tương tác hai chiều (giữa người đọc và người viết) kém.
- Báo nói: Thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là radio bằng ngônngữ Ưu điểm là thông tin nhanh Nhược điểm là không trình bày được các thông tinbằng hình ảnh (phóng sự ảnh) hoặc các thông tin có hình ảnh minh họa
- Báo truyền hình: Thông tin được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh quathiết bị đầu cuối là máy phát hình (đài truyền hình) và máy thu hình (television) Ưuđiểm là thông tin nhanh; nhược điểm là khả năng tương tác hai chiều chưa cao
- Báo điện tử (báo mạng, báo mạng điện tử, báo trực tuyến online): Sử dụnggiao diện website trên Internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh,các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh (video clip) Ưu điểm là thông tincập nhật nhanh, tính tương tác hai chiều cao; nhược điểm là tính phổ cập yếu
Trong các loại hình báo chí, báo điện tử là loại hình báo chí có ưu điểm lớn
về khả năng tương tác cao Nó phá vỡ tính tuyến tính chặt chẽ của ngôn ngữ bởi
trên báo chí, cùng một lúc có thể đồng hiện nhiều diễn ngôn (diễn ngôn của nhà báo
- bài báo và diễn ngôn của độc giả - các phản hồi) Báo mạng ứng dụng các thànhtựu mới nhất của khoa học công nghệ, đã vượt tất cả các loại hình báo chí khác về
độ nhanh nhạy trong cập nhật tin tức, về khả năng kết nối đa chiều với độc giả Vì
thế, các diễn ngôn báo điện tử cũng có thế mạnh tương tác nổi bật Cụ thể, ở một
số khía cạnh sau:
Về nội dung, dung lượng và tốc độ thông tin của diễn ngôn báo điện tử: báo
điện tử có năng lực hàng đầu trong việc xã hội hóa các sự kiện và các vấn đề thời
sự, kết nối và truyền tải một dung lượng thông tin lớn với tốc độ nhanh Báo mạngcập nhật thông tin theo từng giờ, từng phút Hơn nữa, nội dung thông tin có thểđược chỉnh sửa hoặc gỡ bỏ sau khi đã xuất bản để đảm bảo tính chính xác, cập nhật
Để đăng tải thông tin, người ta không cần một hệ thống nhà in hay máy phát sóng
mà chỉ cần một máy tính nối mạng và ấn enter Những tin tức liên quan ở nhữngngày trước đó có thể được đọc lại nhờ sự trợ giúp của những đường link dẫn Báomạng với dung lượng gần như vô tận cũng đã phá vỡ sự gò bó về mặt diện tích củabáo in hay thời lượng phát sóng của truyền hình, phát thanh
Trang 33Về đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn báo điện tử: đa phương tiện, báo điện
tử có thể tích hợp nhiều hình thức đa phương tiện Trên một trang báo mạng, thôngtin không chỉ thể hiện dưới dạng chữ viết mà còn bằng âm thanh và các hình ảnh cảtĩnh lẫn động Do đó, thông tin có thể được chuyển tải qua nhiều hình thức nhưchữ viết, hình ảnh, âm thanh, đồ họa… Điều này đã khiến báo mạng trở thành kênhtruyền thông đa phương tiện, sinh động, hấp dẫn thu hút đông đảo người tham gia.Công nghệ cho phép báo mạng điện tử hỗ trợ khả năng giao tiếp hai chiều với côngchúng trên phạm vi rộng lớn mà không một loại hình nào có được Phát thanh vàtruyền hình cũng tạo được sự tương tác cao nhưng có sự giới hạn về dung lượng,không gian giao tiếp, tần suất và mức độ tương tác trong giao tiếp
Về độc giả diễn ngôn báo điện tử: độc giả báo mạng có đặc điểm nổi bật
thường là trẻ, nhanh nhạy về tư duy và công nghệ Người đọc nhanh nhạy về côngnghệ có khả năng tìm kiếm thông tin với những tiện ích rất nhanh chóng, hiệu quả.Người đọc tư duy và tương tác với tòa soạn qua ý kiến dưới bài, qua email, thăm dò
ý kiến phản hồi; tương tác với công chúng, dư luận xã hội về những vấn đề mà họquan tâm Qua đó, tòa soạn dễ dàng nắm được phản hồi và hiệu quả tác động củanhững sự kiện và vấn đề mà họ đưa ra Người đọc với nhà báo có khả năng giao tiếp
và kết nối siêu liên kết: giữa người đọc với nhân vật trong bài báo và nhà báo;người đọc với người đọc… Vì thế, có thể thấy phương thức thông tin ở báo mạng
đã giảm đi nhiều tính độc quyền, áp đặt thông tin hoặc sự định hướng áp đặt từ phíacác cơ quan quyền lực Mỗi người đều có thể bày tỏ ý kiến đánh giá, thái độ củamình trước những sự kiện và vấn đề thời sự Điều này cũng tạo nên sự tương tác xã
hội đặc biệt cho độc giả báo mạng Tương tác xã hội vừa là đặc điểm, vừa là thế mạnh vượt trội của báo mạng điện tử.
Tóm lại, diễn ngôn báo chí là sản phẩm của quá trình giao tiếp báo chí nên
nó mang những đặc điểm của phong cách báo chí Trong các loại hình báo chí thìbáo điện tử bộc lộ thế mạnh tương tác nổi bật và dễ nhận diện Diễn ngôn báo điện
tử, vì thế, cũng có tính tương tác cao hơn so với các loại hình báo chí khác
1.2.3 Tính tương tác trong giao tiếp và diễn ngôn
1.2.3.1 Tương tác trong hội thoại
Tính tương tác trong giao tiếp được thể hiện nổi bật ở tương tác trong hội
Trang 34thoại bởi hội thoại là “hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó
cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [12; 201] Hội thoại là
sự tương tác bằng lời trong đó tương tác là một trong ba vận động đặc trưng của hộithoại (trao lời, trao đáp, tương tác) Nói đến hội thoại là nói đến các nhân vật tham giahội thoại (người phát, thể phát: Sp1; người nhận, thể nhận: Sp2) và sự tương tác giữacác nhân vật này
Hội thoại được diễn ra trước hết với hoạt động trao lời Đó là hoạt độngngười phát Sp1 tạo ra diễn ngôn và hướng diễn ngôn của mình đến người nhận Sp2theo mô hình:
Mô hình 1.3: Mô hình hoạt động trao lời
Trong hội thoại không chỉ có hoạt động trao lời một chiều mà còn có hoạt độngđáp lời Đó là hoạt động người nhận chuyển thành vai người phát đáp lại lời trao, theo
mô hình: [16; 546]
Mô hình 1.4: Mô hình hoạt động đáp lời
Sự thay đổi luân phiên vai người phát - người nhận giữa các nhân vật giaotiếp làm nên hoạt động trao - đáp trong hội thoại Cuộc hội thoại được hình thànhkhi người nhận đáp lại lời của người phát Nếu lời trao không có lời đáp thì khôngthành cuộc hội thoại
Trong báo chí, đầu tiên, người phát (Sp1) là nhà báo (đại diện cho tòa soạnbáo) sẽ thực hiện hoạt động trao lời Nhà báo tạo ra diễn ngôn báo chí và hướng nótới người nhận (Sp2) là các độc giả Sau đó, độc giả đọc báo, thực hiện hoạt độngđáp lời trở lại (phản hồi) Lúc này, độc giả từ vai người nhận đã chuyển thành vaingười phát để đáp lời Trong hội thoại thông thường, sự thay đổi vai người phát -
Sp1
Sp2 Diễn ngôn Sp1
Diễn ngôn Sp2
Trang 35người nhận sẽ diễn ra luân phiên tạo thành nhiều cặp trao - đáp Chúng tôi nhậnthấy, trong báo chí, các bài báo thuộc thể loại phỏng vấn cũng có rất nhiều cặp trao
- đáp giữa nhà báo và đối tượng được phỏng vấn Song ở luận án này, chúng tôi sẽ
chỉ xem xét một cặp trao - đáp lớn bao trùm toàn bộ bài báo Đó là việc nhà báo trao lời (thông qua bài báo) và độc giả đáp lời (thông qua phản hồi) Nhà báo trao
một lời nhưng nhận được vô số lời đáp của các độc giả Vì thế, trong báo chí luônxảy ra hiện tượng một bài báo với rất nhiều phản hồi
Trong hoạt động trao - đáp, các nhân vật thông qua diễn ngôn tác động qua lại
lẫn nhau làm thay đổi nhau và làm nên sự tương tác trong hội thoại Tương tác chính
là tác động chủ yếu trong hội thoại Đó là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các
nhân vật hội thoại nhằm tạo nên sự điều hòa, nhịp nhàng của cuộc hội thoại, như sửdụng các tín hiệu hòa phối về lượt lời, các cặp kế cận, các cặp củng cố, sửa chữa…
Từ đó, các thoại nhân ảnh hưởng lẫn nhau, tác động đến cách ứng xử của từngngười trong quá trình hội thoại Trước khi hội thoại, giữa các thoại nhân có sự khácbiệt (tri thức, tâm lí, tình cảm…) Trong hội thoại và qua hội thoại sự khác biệt mấtdần đi “Hội thoại là một vũ điệu giữa những nhân vật tương tác.” [dt 11; 219-220]
Sự tương tác trong báo chí, do đó, cũng được tạo thành do sự tác động qua lạicủa các nhân vật là nhà báo và độc giả
Như vậy, tương tác là một vận động tiêu biểu trong hội thoại Tương tác hội
thoại trong báo chí được thể hiện ở cặp trao - đáp: toà soạn, nhà báo (người phát,thể phát) - độc giả (người nhận, thể nhận) Các nhân vật này có sự tác động qua lạivới nhau thông qua các diễn ngôn làm nên tính tương tác trong diễn ngôn báo chí
1.2.3.2 Tương tác trong diễn ngôn
a Đặc điểm tương tác diễn ngôn
Van Dijk đã đưa ra mệnh đề “Diễn ngôn như một sự tương tác xã hội” đồngthời chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố cần chú ý khi tiến hành phân tích diễn ngôn
Mệnh đề này cũng là tên một cuốn sách nổi tiếng của ông (Discourse as social
interaction) [103] Tập đầu của cuốn sách này đã chỉ ra rằng bên cạnh những hướng
phân tích trừu tượng theo cấu trúc, diễn ngôn có thể được nghiên cứu trong phạm vi
Trang 36của quá trình tri nhận thực tiễn “Diễn ngôn không nên bị phân tích chỉ như loại hình,
ý nghĩa và như một quá trình của trí óc mà còn như những cấu trúc và cấp bậc phức
tạp của sự tương tác, thực tiễn xã hội và những tính năng của chúng trong ngữ cảnh,
xã hội và văn hóa” (Discourse should be studied not only as form, meaning and mental process, but also as complex structures and hierarchies of interaction and social practice and their function in context, society and culture) [103; 6].
Điều này đồng nghĩa với việc chú ý tới hiện tượng mang tính thực tiễn, xãhội và văn hóa của diễn ngôn Diễn ngôn được tạo lập và thấu hiểu bởi người sử
dụng ngôn ngữ “Những người sử dụng ngôn ngữ tham gia diễn ngôn, hoàn thành
những hành động mang tính xã hội và tham gia vào quá trình tương tác xã hội, điển hình là trong đối thoại và những dạng thức khác của đối thoại.” (Language users engaging in discourse accomplish social acts and participate in social interaction, typicially so in conversation and other form of dialogue) [103; 2].
Dijk trong nghiên cứu của mình đã đưa ra quan điểm phổ biến và thừa nhận tính
xã hội của diễn ngôn (discourse to be social): “Diễn ngôn là một loại hình của hành động và tương tác xã hội” (Discourse is a form of action and interaction) [103; 6].
Theo đó, con đường để tìm hiểu diễn ngôn là “từ cấu trúc và quá trình đến hoạt động
mang tính xã hội trong ngữ cảnh và xã hội” (from structure and process to social action in context and society) [103; 2].
Vì thế, theo Dijk, khi phân tích diễn ngôn cần chú ý các yếu tố sau:
1- Hành động (action): chúng ta xác định diễn ngôn như hành động nhưng
cụ thể hành động nào và điều gì đã khiến diễn ngôn trở thành một loại hình của
tương tác xã hội? (We have defined discourse as action, but what exactly is action
and what makes discourses a form of social interaction? [103; 6])
2- Ngữ cảnh (context): Những nghiên cứu về diễn ngôn mang tính xã hội
thường nghiên cứu về diễn ngôn trong ngữ cảnh Nhưng ý niệm về ngữ cảnh không
được nghiên cứu một cách chi tiết như văn bản hay lời nói (Social discourse analysis
typically studies discourse in context However, although frequently used, the notion
of context is not always analysed in as much detail as text and talk [103; 7]).
Trang 373- Quyền lực (power): Cả ngữ cảnh của hành động và diễn ngôn đều mô tả
người tham gia - những thành phần của những nhóm xã hội khác nhau Quyền lực là
ý niệm then chốt trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhóm xã hội Nếu bất
kỳ đặc điểm nào của ngữ cảnh và xã hội tác động đến văn bản và lời nói (và ngược
lại) thì đó chính là quyền lực (Both action and discourse contexts feature
participants who are members of different social groups Power is a key notion in the study of group relations in society If any feature of context and society at large impinges on text and talk (and vice versa), it is power [103; 7].)
4- Hệ tư tưởng (ideology): Ở một cấp độ khác, những hệ tư tưởng cũng thiết
lập mối liên kết giữa diễn ngôn và xã hội Hệ tư tưởng là nhân tố tri nhận khác đốivới quyền lực Nó chi phối cách người sử dụng ngôn ngữ tham gia vào diễn ngôn.Cùng lúc, diễn ngôn còn cần thiết cho sự tạo lập của hệ tư tưởng
Để minh chứng về hệ tư tưởng, Dijk đưa ra những phân tích về bài phát biểucủa ngài Rohrabacher (diễn ngôn được đưa ra phân tích rất chi tiết trong tập đầu
cuốn Discourse as social interaction) Trong bài phát biểu này, những hậu quả tiêu
cực của Pháp chế về Quyền công dân được Rohrabacher tô đậm Đặc biệt là nhữngảnh hưởng của nó đối với phụ nữ - đối tượng mà Đảng của ông cam kết bảo vệ.Đồng thời họ cũng chính là những con người được ông tái hiện như những nạn nhânkhốn khổ của chính sách tự do Theo Dijk, tất cả những mô tả này đều mang ngụ ý
nên diễn ngôn sẽ mang tính tư tưởng (ideological [103; 33-34] ).
Trong nghiên cứu của mình, Dijk bàn nhiều về hệ tư tưởng của tập thể và
cho rằng những tập thể nhận thức qua các thành viên (groups think through their
members [103; 31]) Các thành viên lại chính là những người tham gia vào diễn
ngôn - những người gắn với văn bản và lời nói Vì thế, theo cách này, các tập thể
hoạt động thông qua những thành viên của họ Và ông đi đến kết luận: “Hệ tư
tưởng của người nói trong vai trò như một thành viên của tập thể có thể được truyền tải qua mọi cấp độ và mọi đặc điểm của diễn ngôn, cũng như của ngữ cảnh” (All levels and structural properties of discourse and context may ‘code for’ the ideologies of language users acting as group members) [103; 34].
Trang 38Như vậy, qua những nghiên cứu của Dijk có thể khẳng định rằng hệ tư tưởng
là một yếu tố cần chú ý khi phân tích diễn ngôn và chỉ ra sự tương tác của diễnngôn Diễn ngôn mang tính tư tưởng và nó được thể hiện thông qua những ngườitham gia vào diễn ngôn đặc biệt là người nói Hệ tư tưởng là yếu tố ở cấp độ vĩ môbao trùm và chi phối diễn ngôn
Dưới đây, chúng tôi sẽ đề cập tới các yếu tố còn lại theo trình tự từ vĩ mô đến
vi mô: quyền lực - ngữ cảnh - hành động
a1 Quyền lực
Từ góc độ tiếp cận ngôn ngữ học, quyền lực không đơn thuần chỉ quyềnthống trị hay áp bức của giai cấp thống trị và bị trị theo cách hiểu truyền thống;quyền lực tồn tại trong giao tiếp ngôn ngữ một cách khách quan, ngoài ý muốn chủquan của con người Là một một phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ vừa là công cụtruyền tải những quan hệ quyền lực; vừa chịu sự chi phối, điều chỉnh của quyền lực
“Quyền lực là sự kiểm soát hành động, điều mà đòi hỏi sự kiểm soát đối với
ý thức của cá nhân hay cộng đồng và ẩn sau đó là sự kiểm soát đối với những diễn ngôn cộng đồng” (Power is control of action, which requires control of personal and social cognitions, which presupoposes control of public discourse”) [103; 22].
Một trong những luận điểm nổi tiếng của M Foucault (1926 - 1984) vềquyền lực và ngôn ngữ là “Quyền lực xuyên thấm vào điều khiển cách tư duy vàcách nói năng giao tiếp của con người” Đối với ông, quyền lực không đơn thuần là
sự cưỡng bức hay ngăn trở tự do hay ý nguyện của người khác mà còn là “điều kiệntạo thành tất cả mọi lời nói” và “diễn ngôn có thể vừa là một công cụ, vừa là hệ quảcủa quyền lực” [dt 4; 40] Như vậy, tư tưởng về quyền lực là một trong những tưtưởng chủ đạo tạo nên mối quan hệ giữa diễn ngôn và xã hội Nói cách khác, muốnhiểu về các chức năng cơ bản của diễn ngôn trong tương tác và xã hội thì nhận thứcsâu sắc về nguồn gốc của quyền lực của diễn ngôn là cần thiết
Nhận thức về quyền lực là rất rộng, ở đây chúng tôi chỉ chỉ ra các cách thức
mà diễn ngôn liên quan tới quyền lực Theo Dijk, tư tưởng chủ đạo dùng để xác định
quyền lực xã hội chính là tư tưởng về sự kiểm soát hành vi và lí trí (control of action
Trang 39and mind) Những quyền lực trong xã hội không đơn thuần mang tính vũ lực mà phần
nhiều lại mang tính tâm lí Vì thế, thay vì kiểm soát hành vi của người khác một cách
chặt chẽ bằng vũ lực, người ta sẽ kiểm soát lí trí người khác qua những hành động
và bằng lời nói Nói cách khác, “một trong những phương tiện quyết định được dùng
để tác động đến lí trí của người khác và khiến cho họ hành động như những gì ta mong muốn chính là văn bản và lời nói” (one of the crucial means used to influence others people’s minds so that they will act as we want is text or talk” [103; 17] Kết
luận này giúp chúng ta có thể thấy mối quan hệ cơ bản và rõ ràng nhất giữa diễn ngôn
và quyền lực (relationship between power and discourse).
Cụ thể, “diễn ngôn không chỉ là một phương tiện trong sự đảm nhiệm của
quyền lực mà còn cùng lúc là nguồn gốc của quyền lực” (discourse is not only a means in the enactment of power, as are other actions of the powerful, but at the same time itself a power resource) [103; 20] Quyền lực kiểm soát quá trình hình
thành diễn ngôn đồng thời diễn ngôn thể hiện sự kiểm soát của quyền lực
Điều đặc biệt là sự kiểm soát này hoàn toàn không có sự ép buộc, thay vì cácmệnh lệnh, yêu cầu, gợi ý hay lời khuyên trực tiếp; chúng ta có thể gián tiếp khiếnngười khác tự tạo lập hành vi mà chúng ta muốn thông qua các diễn ngôn Nói như
Dijk thì “nếu diễn ngôn của chúng ta có thể khiến họ tin tưởng theo cách như vậy
và chúng ta có thể hoàn toàn gián tiếp kiểm soát hành động của họ thì chúng ta đã thao túng họ hoàn toàn bằng lời nói và văn bản” (if our discourse can make people belive in this way and we thus indirectly control their actions such that they are in our best interest, we have successfully manipulated them through text and talk)
[103; 19] Sự thao túng này chính là quyền lực của diễn ngôn Quyền lực thể hiện ở
việc kiểm soát hành động của những đối tượng khác qua việc dùng diễn ngôn kiểmsoát lí trí của họ (về mặt kiến thức, thái độ, hệ tư tưởng)
Vì thế, một trong những điều quan trọng nhất của phân tích diễn ngôn chính
là chỉ ra quyền lực được thể hiện qua và bằng các diễn ngôn như thế nào? Trên cơ
sở nào, người tạo lập diễn ngôn được nói như vậy và việc nói như vậy có tác độngđến các đối tượng nào? Sự tác động dẫn đến sự thay đổi như thế nào trong nhận
Trang 40thức, hành động? Và tất cả những điều đó được biểu hiện bằng các phương tiệnngôn ngữ như thế nào?
Mối quan hệ giữa diễn ngôn, lí trí và quyền lực đang được sử dụng rộng rãitrong những văn bản và lời nói đại chúng, rất tiêu biểu là ở lĩnh vực báo chí Diễnngôn báo chí mang đậm tính chính trị - xã hội và quyền lực Ở đây, quyền lực củadiễn ngôn được thể hiện trước hết ở vai của nhà báo Nhà báo là người được quyềnnói tất cả những vấn đề về xã hội Và việc nhà báo nói như vậy luôn có tác độngđến tất cả đối tượng độc giả đọc bài báo đó
Quyền lực của diễn ngôn (bao gồm sự tác động và làm cho một đối tượngnào đó có sự biến đổi) chính là biểu hiện cho tính tương tác của diễn ngôn báo chí
Có thể nói, tính tương tác của diễn ngôn được thể hiện gốc rễ ở vấn đề quyền lựccủa diễn ngôn
Song để có thể kiểm soát lí trí của người khác qua diễn ngôn, quyền lực cầnthiết phải kiểm soát những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến người đó Những kiểmsoát này được thể hiện trong các ngữ cảnh
a2 Ngữ cảnh
Từ điển The Encyclopedia of Language and Linguistics định nghĩa: “Ngữ
cảnh là bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [dt 10; 97] Cụ thể, tập hợp các
nhân tố: nhân vật giao tiếp, hiện thực được nói tới, hoàn cảnh giao tiếp và môitrường giao tiếp được gọi chung là ngữ cảnh
Ngữ cảnh là một khái niệm quan trọng trong lí luận phân tích diễn ngôn Bảnchất của phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong ngữ cảnh cụ thể của chúng
và do đó, yếu tố quan trọng trong giải mã diễn ngôn là ngữ cảnh I Bellert, 1971 đã
đưa ra khái niệm: “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn S 1 ,… S n , trong đó việc giải thuyết nghĩa của mỗi phát ngôn S i (với 2 ≤ i ≤ n) lệ thuộc vào sự giải thuyết những phát ngôn trong chuỗi S 1 , …, S i-1 Nói cách khác, sự giải thuyết thỏa đáng một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước” [dt 10; 199] Khái
niệm này nhấn mạnh vai trò của ngữ cảnh