1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ đề CƯƠNG ôn THI môn QUAN hệ KINH tế QUỐC tế, SAU đại học

20 317 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 167,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kn: Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ giữa hai hoặc nhiều nước với nhau, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế được thực hiện dưới nhiều hình thức được hình thành và phát triển trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế.Cơ sở khách quan của quan hệ kinh tế quốc tế Một là, quan hệ kinh tế quốc tế là một quá trình tất yếu được quyết định bởi bản chất xã hội của lao động và phân công lao động quốc tế.Phân công lao động quốc tế là sự chuyên môn hóa của một quốc gia vào sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ nào đó, dựa vào lợi thế tuyệt đối hoặc lợi thế so sánh của nước mình để cung cấp cho các quốc gia thông qua trao đổi buôn bán.

Trang 1

Câu 1.1: Cơ sở khách quan của quan hệ kinh tế quốc tế

*K/n: Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ giữa hai hoặc nhiều nước với nhau, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế được thực hiện dưới nhiều hình thức được hình thành và phát triển trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế.

*Cơ sở khách quan của quan hệ kinh tế quốc tế

Một là, quan hệ kinh tế quốc tế là một quá trình tất yếu được quyết định bởi bản chất xã hội của lao động và phân công lao động quốc tế.

Phân công lao động quốc tế là sự chuyên môn hóa của một quốc gia vào sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ nào đó, dựa vào lợi thế tuyệt đối hoặc lợi thế so sánh của nước mình để cung cấp cho các quốc gia thông qua trao đổi buôn bán

Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng Từ đó phân công lao động phát triển vượt khỏi phạm vi quốc gia, hình thành phân công lao động quốc tế tạo cơ sở cho quan hệ hàng hóa tiền tệ phát triển và làm cho quan hệ kinh tế quốc tế trở thành xu thế lớn của thế giới

Hai là, xuất phát từ tận dụng lợi thế trong phát triển kinh tế của các quốc gia

Quan hệ kinh tế quốc tế cơ bản dựa trên lợi thế của mỗi quốc gia: tuỳ theo điều kiện tự nhiên và đặc điểm riêng để mỗi quốc gia phát huy lợi thế của mình

Lợi thế tuyệt đối - tập hợp những đặc tính riêng có của chủ thể mà đối thủ của nó không có - được xem xét như trường hợp đặc biệt của học thuyết về lợi thế

so sánh nói chung Quốc gia sẽ chỉ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu những hàng hóa mà họ không có lợi thế

Lợi thế so sánh là tập hợp những đặc tính vượt trội (đặc tính hơn hẳn) của chủ thể so với đối thủ cạnh tranh Các quốc gia có thể chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác, nhưng lại có lợi thế tuyệt đối lớn hơn giữa hai sản phẩm trong nước (tức là có lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh) và nhập khẩu những sản phẩm mà lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn giữa hai sản phẩm trong nước

Ba là, do yêu cầu phát triển kinh tế thị trường của mỗi quốc gia

Kinh tế thị trường tạo ra động lực phát triển và mở rộng quan hệ giữa các quốc gia, trước hết là các quan hệ kinh tế, sau đó tới các quan hệ khác như chính trị, văn hóa, v.v Toàn cầu hoá phản ánh một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là động lực chủ yếu thúc đẩy, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế

Bốn là, do lợi ích của quan hệ kinh tế quốc tế mang lại mà mỗi quốc gia

có thể tận dụng được.

Sự lựa chọn tất yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều lợi ích mà quan hệ kinh tế quốc tế tạo ra cho các nước: 1) Giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội 2) Tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế 3) Nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia; tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự kinh tế quốc tế 4) Tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và

Trang 2

các đối tác quốc tế; tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng và chất lượng tiêu chuẩn quốc tế 5) Tạo điều kiện để nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới để đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước và không bị lệ thuộc; giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội 6) Giúp duy trì môi trường hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế để các nước tập trung cho phát triển; mở ra khả năng cho các nước phối hợp giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới

Câu 1.2 Chủ trương và giải pháp hợp tác quốc tế về KHCN?

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần thiết lập vị thế mới của Việt Nam và được xác định là một động lực thúc đẩy các hoạt động khoa học và công nghệ nước ta, nhằm khai thác có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, thu hút nguồn lực và công nghệ nước ngoài để nâng cao và phát triển trình độ khoa học và công nghệ trong nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và từng bước hội nhập vào nền kinh tế tri thức của thế giớ

Trước yêu cầu của tình hình mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương quan trọng, đồng thời tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 2011 - 2020 chỉ rõ phát triển khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành động lực then chốt của quá trình phát triển Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11-4-2012, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 - 2020 cũng khẳng định:

hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ là mục tiêu, đồng thời là giải pháp quan trọng để góp phần đưa khoa học và công nghệ Việt Nam sớm đạt trình

độ quốc tế

Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ phải được thực hiện tích cực, chủ động, sáng tạo, bảo đảm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi

Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng xác định quan điểm phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới

Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ về hợp tác khoa học và công nghệ với gần 70 nước, tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ Hơn 80 hiệp định hợp tác khoa học

và công nghệ cấp chính phủ và cấp bộ đã được ký kết và đang thực hiện Việt Nam đang là thành viên của gần 100 tổ chức quốc tế và khu vực về khoa học và công nghệ Từ năm 2000 đến nay, có hơn 540 thỏa thuận, hợp đồng hợp tác quốc tế được thực hiện tại các cơ sở nghiên cứu triển khai các cấp; hơn 400 nhiệm vụ nghiên cứu song phương giữa các tổ chức khoa học và công nghệ Việt Nam với các tổ chức khoa học và công nghệ của các nước trên thế giới đã và đang được thực hiện

Trang 3

Quá trình hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ của Việt Nam thời gian qua đã bắt đầu gắn kết với yêu cầu thực tiễn của các ngành, địa phương, bước đầu phục vụ có hiệu quả cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nội dung và hình thức hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ ngày càng đa dạng và phong phú hơn (bao gồm hợp tác nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ, trao đổi chuyên gia, tổ chức hội thảo, hội nghị, trình diễn công nghệ, hội chợ triển lãm công nghệ,…) Các lĩnh vực hội nhập được mở rộng, từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, khoa học xã hội - nhân văn, khoa học tự nhiên, nghiên cứu liên ngành Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ trong thời gian qua đã góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ, thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ trong nước

Tuy nhiên, trên thực tế, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay vẫn chưa đủ năng lực để tham gia hiệu quả vào các hoạt động khoa học và công nghệ quốc tế và khu vực; hàm lượng khoa học và công nghệ đóng góp cho các hoạt động khoa học và công nghệ quốc tế và khu vực còn thấp Các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các trường đại học chưa đủ năng lực và điều kiện xúc tiến mở rộng các hoạt động hội nhập quốc tế do cơ sở vật chất, kỹ thuật không đồng bộ, môi trường làm việc chưa chuyên nghiệp, cán bộ nghiên cứu đầu đàn và nhân viên kỹ thuật có trình độ còn thiếu, Phần lớn các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ trong thời gian qua mới chỉ được thực hiện trong khuôn khổ các hiệp định/thoả thuận hợp tác song phương hoặc đa phương Mối quan hệ hợp tác thường diễn ra “một chiều”, trong đó các đối tác của Việt Nam thường là “bên nhận, bên được hỗ trợ”, các đối tác nước ngoài là “bên cho, bên hỗ trợ”

Giải pháp trong thời gian tới

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện

truyền thông để nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, các cá nhân, doanh nghiệp và toàn xã hội về tầm quan trọng của hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời

kỳ mới

Hai là, xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án, nhiệm vụ nghiên

cứu chung trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương, đa phương Khuyến khích hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu, cá nhân trong nước với các đối tác nước ngoài Thu hút nguồn kinh phí từ nước ngoài thông qua các dự án nghiên cứu tại Việt Nam Tăng cường

tổ chức và chủ trì các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế tại Việt Nam và tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học ở nước ngoài Tổ chức triển lãm giới thiệu các thành tựu khoa học và công nghệ mới, tiên tiến của các nước và Việt Nam

Ba là, phát huy hiệu quả hoạt động của mạng lưới đại diện khoa học và

công nghệ Việt Nam ở nước ngoài Thu hút các chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các chương trình, dự án nghiên cứu, đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh ở Việt Nam, trong đó chú trọng đến các nhóm nghiên cứu khoa học trẻ

Bốn là, xây dựng và triển khai nội dung, kế hoạch hợp tác khoa học và

công nghệ tầm quốc gia với các nước mạnh về khoa học và công nghệ và là đối tác chiến lược của Việt Nam Hình thành các trung tâm nghiên cứu khoa học xuất sắc trên cơ sở hợp tác dài hạn giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học của Việt Nam và của nước ngoài Thí điểm hợp tác xây dựng một số viện khoa học và công nghệ tiên

Trang 4

tiến có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Năm là, xây dựng mạng lưới chuyên gia tìm kiếm công nghệ, tổ chức hội

nghị, hội thảo khoa học; sinh hoạt chuyên đề, giao lưu giữa các nhóm chuyên gia tìm kiếm công nghệ với các doanh nghiệp, tổ chức cơ quan trong nước có nhu cầu tìm kiếm công nghệ nước ngoài; Tiến hành thí điểm cử các nhà khoa học và công nghệ trẻ Việt Nam vào làm việc trong các doanh nghiệp công nghệ của thế giới

Sáu là, xây dựng danh mục đặt hàng công nghệ cần tìm kiếm và tổ chức

tìm kiếm công nghệ Xây dựng và hỗ trợ thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và thông tin dữ liệu về hội nhập quốc

tế về khoa học và công nghệ./

Câu 2.1: Xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay

Các quốc gia trên thế giới hiện nay dù lớn hay nhỏ, sớm hay muộn đều đi theo xu hướng tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác kinh tế khu vực và thế giới, đa phương, đa chiều, đa lĩnh vực, trong đó thương mại là một trong những lĩnh vực được coi là trọng tâm Đặc điểm nổi bật về xu hướng phát triển thương mại quốc tế ngày nay là:

1 Nội dung hoạt động thương mại rộng lớn mang tính quốc tế, chi phối hầu hết các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội Do đó, thương mại ngày nay không chỉ là những hoạt động mua bán sản phẩm hàng hóa vật thể mà còn bao gồm cả những hành vi mua bán và dịch vụ phi vật thể, tất cả đều nhằm thu lợi nhuận

2 Hình thành các loại hình công ty, tập đoàn lớn, công ty xuyên quốc gia,

đa quốc gia, với phạm vi hoạt động không biên giới và hình thành các tổ chức, hiệp hội thương mại khu vực và toàn cầu Phạm vi tác động của thương mại quốc tế ngày nay mang ý nghĩa vô cùng sâu rộng, bao gồm nhiều thành phần thương mại, nhiều thương nhân và hợp thành mạng lưới chằng chịt các loại hình kinh doanh và dịch vụ; vừa liên doanh, liên kết, vừa tự do hoá, vừa độc quyền, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, vừa bình đẳng và không bình đẳng trong kinh doanh, đều cùng nhau tham gia hoạt động mua bán và dịch vụ trên thị trường, trên cơ sở hành lang pháp luật quốc gia và luật lệ quốc tế

3 Xu thế liên doanh liên kết thương mại song phương, đa phương, bình đẳng ngày càng mở rộng và không ngừng phát triển Đặc điểm kinh doanh thương mại ngày nay gồm hai chiều hướng: Một là, kinh doanh chuyên ngành, theo một sản phẩm hay một thương hiệu nhất định thành một hệ thống trên toàn cầu Hai là, tổ chức mô hình những công ty, tập đoàn kinh doanh tổng hợp với nhiều loại hình, nhiều hàng hóa và dịch vụ khác nhau để nâng cao ưu thế cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường khu vực và thị trường thế giới

4 Tự động hóa, hiện đại hóa, áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, mua bán qua mạng, hoạt động kinh doanh và dịch vụ mang tính phổ biến và ngày càng phát triển

5 Do cạnh tranh trên thị trường ngày càng quyết liệt, thương mại không ngừng cải tiến phương thức phục vụ hiện đại và luôn luôn đổi mới dịch vụ theo xu hướng lấy người tiêu dùng làm trọng tâm và coi khách hàng như "thượng đế"

Một số vấn đề đặt ra Việt nam cần quan tâm

Từ những đặc điểm trên đây của thương mại trong thời đại ngày nay và đặc biệt là khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức WTO, đặt ra cho nước ta một

số vấn đề phải đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển quan hệ thương mại quốc tế:

Trang 5

Một là, phải có chính sách thương mại đúng đắn, phù hợp nhằm khai thác

triệt để lợi thế so sánh thông qua quan hệ buôn bán quốc tế để chiếm lĩnh và mở rộng thị trường khu vực và thị trường thế giới cho mình

Lý thuyết này chỉ rõ: Khi tham gia trao đổi mua bán thương mại quốc tế, các quốc gia phải biết lựa chọn sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa có lợi thế so sánh tốt nhất và nhập khẩu những hàng hóa mà mình sản xuất bất lợi nhất Đây cũng là một bài học mà chúng ta đã rút ra qua 30 năm đổi mới nền kinh tế Một số sản phẩm của nước ta đang có lợi thế tuyệt đối trên thị trường quốc tế cần phải đẩy mạnh xuất khẩu

Hai là, lựa chọn mặt hàng và thị trường có lợi nhất cho mình để phát triển

và mở rộng quan hệ thương mại quốc tế

Trong quan hệ thương mại thế giới, cần đa phương hóa, linh hoạt hoá thị trường, mở rộng buôn bán với nhiều nước Song ở giai đoạn trước mắt đối với nước

ta kinh tế chưa phát triển cao, các điều kiện về khoa học - kỹ thuật còn nhiều hạn chế, khả năng cạnh tranh còn yếu, cần lựa chọn những mặt hàng có chất lượng cao xây dựng thành thương hiệu quốc tế và những thị trường có khả năng và ưu thế riêng đối với mình để khai thác và tham gia xuất, nhập khẩu buôn bán thương mại, dịch vụ, trên cơ sở đó từng bước giành chỗ đứng trên thị trường thế giới

Ba là, hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động thương mại cả ở thị

trường trong nước và thị trường ngoài nước Đây là vấn đề hết sức cần thiết để phát triển lành mạnh thị trường trong nước làm cơ sở hậu phương cho phát triển thị trường ngoài nước Thị trường trong nước phát triển vững chắc là điều kiện quan trọng để mở rộng thị trường ra ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu và chủ động nhập khẩu của nước ta, ngược lại thị trường ngoài nước được phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy thị trường trong nước phát triển mạnh hơn, phục vụ tốt hơn cho sản xuất và đời sống

Bốn là, thực hiện tốt các cam kết với WTO, TPP và các cam kết song

phương khác về thương mại Việc này chỉ có lợi cho ta, một mặt chứng tỏ với thế giới rằng Việt Nam là nước làm ăn nghiêm chỉnh đúng luật, đúng cam kết; mặt khác tranh thủ được sự ủng hộ của thế giới và đặc biệt là của tổ chức thương mại thế giới WTO, khi chúng ta gặp phải những khó khăn, rào cản và tranh chấp về thương mại quốc tế

Năm là, phát huy tốt vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước về thương

mại

Để phát huy đến mức cao nhất lợi thế so sánh thương mại, thì điều quan trọng là phải có những con người quản lý có tri thức mới về thương mại, cùng với những cơ chế, chính sách thương mại đúng đắn phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới và phù hợp xu thế phát triển và hội nhập kinh tế -thương mại khu vực và thế giới Do vậy, vấn đề cốt lõi để thực hiện mục đích trên là phải nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng quản lý Nhà nước đối với thương mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta Nhà nước phải làm tốt chức năng quản lý kinh tế vĩ mô nói chung và quản lý hoạt động thương mại quốc tế nói riêng

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đóng vai trò là người định hướng chiến lược, quy định khung pháp luật, đề ra những mục tiêu chung cho sự phát triển, công bằng, thống nhất điều hoà các quyền lợi chung và cá nhân

Nhìn chung các nước hiện nay, kể cả các nước đã phát triển và các nước chậm và đang phát triển đều coi trọng việc kết hợp giữa cơ chế thị trường tự do và

sự điều tiết của Nhà nước trong quản lý kinh tế thị trường để nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 6

Đẩy mạnh phát triển thương mại và dịch vụ quốc tế là xu hướng tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước đã phát triển; do năng lực sản xuất ngày càng lớn, cho nên luôn luôn ở tình trạng thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất Hoạt động thương mại quốc tế ngày càng mở rộng và cạnh tranh thị trường thế giới ngày càng gay gắt là tất yếu Trong tình hình đó, để có lợi thế trong quan hệ thương mại thế giới, chen chân được vào thị trường thế giới và bảo đảm không thất bại thì nước ta cần có những chính sách thương mại quốc tế khôn ngoan, linh hoạt, mềm dẻo, vừa phù hợp với điều kiện của nước mình, vừa phù hợp thông lệ quốc tế, vừa đảm bảo luật pháp quốc gia, vừa đảm bảo luật lệ của "sân chơi" thị trường quốc tế

Câu 2.2 Những hình thức quan hệ kinh tế quốc tế

Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ giữa hai hoặc nhiều nước với nhau, là tổng thể quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế được thực hiện dưới nhiều hình thức được hình thành và phát triển trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế.

Những nguyên tắc trong quan hệ kinh tế quốc tế: Bình đẳng, Cùng có

lợi,Tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

* Những hình thức chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế

- Thương mại quốc tế:Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và

dịch vụ giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên

Hiện nay, do tác động của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và

xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế có những đặc điểm mới: Tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP, tốc độ tăng trưởng ngoại thương hàng hóa “vô hình” nhanh hơn ngoại thương hàng hóa “hữu hình” Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có sự biến đổi sâu sắc theo hướng tăng tỷ trọng các hàng hóa, sản phẩm công nghiệp chế biến so với các sản phẩm thô, sơ chế, nguyên liệu.Cạnh tranh trong thương mại quốc tế diễn ra gay gắt và đa dạng, không chỉ về mặt chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng Cơ cấu thị trường quốc tế ngày càng mở rộng không chỉ hàng hóa, dịch vụ thông thường mà còn chuyển sang lĩnh vực tài chính, tiền tệ, công nghệ, dịch vụ văn hóa tinh thần

Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới vừa qua, thương mại quốc tế đang đứng trước những thách thức đó là: 1) Quá trình dịch chuyển trọng tâm quyền lực và ảnh hưởng kinh tế trong nền kinh tế toàn cầu cũng như tác động của sự dịch chuyển này đối với sự hợp tác và lãnh đạo toàn cầu 2) Công nghệ và chi phí vận tải được hậu thuẫn của các chính sách đầu tư và buôn bán tự do đã làm thay đổi các cơ cấu sản xuất Thị phần buôn bán quốc tế liên quan đến dây chuyền cung ứng toàn cầu ngày càng tăng, trong đó các thành phần sản phẩm được sản xuất xuyên biên giới ở nhiều địa chỉ khác nhau 3) Sự bùng nổ của chủ nghĩa khu vực và tác động của nó đến các thoả thuận thương mại đa phương với hơn 300 hiệp định thương mại ưu đãi đã có hiệu lực trên thế giới

- Tài chính tiền tệ quốc tế

Đó là sự di chuyển các luồng tiền vốn giữa các quốc gia gắn liền với các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao, quân sự…giữa các chủ thể của các quốc gia và tổ chức quốc tế thông qua việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ ở mỗi chủ thể nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của các chủ thể đó trong quan

hệ quốc tế

Trang 7

Các quốc gia, các chủ thể của các quốc gia có thể tham gia vào các tổ chức tiền tệ, tài chính thế giới và khu vực như WB, IMF, ADB; tham gia vào các thị trường tài chính, tiền tệ như bảo hiểm và chứng khoán; điều chỉnh các cơ chế, chính sách, luật pháp theo các quy định của WTO để mở cửa thị trường tài chính

- Đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là hình thức cơ bản của quan hệ kinh tế đối ngoại Nó là hoạt động mà hai hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư nhằm mục đích sinh lợi Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đến nước nhận đầu tư

Mặt tích cực, nó làm tăng thêm nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, nâng cao trình độ tay nghề, khai thác tài nguyên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

Mặt hạn chế, đầu tư quốc tế có khả năng làm tăng phân hóa giàu nghèo, làm cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, tăng tính phụ thuộc với bên ngoài, Do đó, đối với nước nhận đầu tư, cần tính toán kỹ lưỡng trong việc xây dựng, thẩm định, ký kết và triển khai dự án

- Du lịch quốc tế

Khi kinh tế phát triển, năng suất lao động càng cao, thu nhập của con người tăng lên nhu cầu du lịch ngày càng tăng Du lịch bao gồm các hoạt động như:

tổ chức, hướng dẫn du lịch, sản xuất cung ứng hàng hóa dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, lưu trú, tham quan, giải trí, tìm hiểu, lưu niệm…của

du khách

- Xuất nhập khẩu lao động quốc tế

Xuất khẩu lao động là hình thức đưa người lao động và chuyên gia đi làm thuê cho các nước có nhu cầu về lao động Xuất khẩu lao động bao gồm xuất khẩu lao động tại chỗ và ra nước ngoài Trường hợp ngược lại là nhập khẩu lao động

Xuất nhập khẩu lao động sẽ mang lại cho các quốc gia những lợi ích to lớn như: Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập ngoại tệ cho người lao động

và cho ngân sách nhà nước; góp phần đào tạo, rèn luyện tay nghề và kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của hoạt động này, cần làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, mở rộng thị trường lao động, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường

* Hợp tác quốc tế về khoa hcj và công nghệ

Liên hệ: Trong hội nhập quốc tế về kinh tế, Đảng ta xác định rõ 5 quan

điểm chỉ đạo, bao gồm:

Một là: Phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo

đảm độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường

Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quá

trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh

tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và

cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng

Bốn là: Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế

hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng những quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia

Năm là: Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu

giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh

Trang 8

giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ diễn biến hoà bình đối với nước ta

Câu3.1: Pt các lý thuyết TMQT

Thương mại quốc tế là hoạt động trao đổi mua bán hàng hoá và dịch vụ giữa các nước với nhau, là sự phụ thuộc giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế trên cơ sở khai thác được các lợi thế của đất nước trong quan hệ kinh tế quốc tế nhằm đạt được lợi ích kinh tế tối đa, phát triển kinh tế trong nước và tham gia vào phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế

* Lý thuyết Trọng thương

Tư tưởng chính: Một quốc gia muốn thịnh vượng phải gia tăng khối lượng tiền tệ, vì vậy phải phát triển mạnh ngoại thương Moncretien cho rằng: Nội thương là ống

doanh nhân: phải chấp nhận sự lường gạt (dân tộc này làm giàu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác; phải hạ thấp lương của công nhân để giảm chi phí nằm tăng khả năng cạnh tranh;

Nhà nước phải can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế bằng các biện pháp: thực hiện chính sách xuất siêu; lập hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch; thực hiện nhiều biện pháp nâng đỡ xuất khẩu

Hạn chế: chưa giải thích hết bản chất của thương mại quốc tế; nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp Khi cho rằng lợi nhuận thương nghiệp là do lĩnh vực lưu thông, do mua rẻ bán đắt mà có

* A Smith

Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự

do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thế tuyệt đối

Một hàng hoá được coi là có lợi thế tuyệt đối khi chi phí sản xuất tính theo giờ công lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá đó phải thấp hơn nước khác

Như vậy điều then chốt trong lập luận về lợi thế tuyệt đối là sự so sánh chi phí sản xuất của từng mặt hàng giữa các quốc gia

Theo A.Smith, lợi thế tuyệt đối được quyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu và kỹ năng tay nghề chỉ nước đó mới có mà thôi, về tay nghề là nguyên nhân của mậu dịch quốc tế và quyết định cơ cấu của mậu dịch quốc tế

Tuy nhiên ông chưa giải thích được triệt để, liệu thương mại có đem lại lợi ích nếu có quốc gia sản xuất tất cả các sản phẩm với hiệu quả cao hơn đối tác thương mại của mình

* D.Ricardo

Theo D.Ricardo giữa các nước không chỉ khác biệt về điều kiện tự nhiên

và tay nghề mà còn khác biệt về điều kiện sản xuất nói chung trên thực tế lợi thế tuyệt đối cuả mỗi quốc gia không có nhiều, do đó phần lớn các quốc gia tiến hành buôn bán với nhau không chỉ ở những mặt hàng có lợi thế tuỵệt đối mà còn đối với

cả những mặt hàng dựa trên lợi thế tương đối

Tuy nhiên, David Ricardo chưa đề cập đến chi phí vận tải và cơ cấu tiêu dùng của mỗi quốc gia, nên không xác định được giá tương đối trong trao đổi sản phẩm giữa các nước

Như vậy, thương mại quốc tế dựa trên căn bản lợi thế so sánh của mỗi quốc gia: tùy theo điều kiện tự nhiên và đặc điểm riêng, mỗi quốc gia có lợi thế mặt nào, sẽ chú trọng đến các hình thức đối ngoại phù hợp với lợi thế đó

Trang 9

* Lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có

Để khắc phục những hạn chế trong lý thuyết lợi thế so sanh của D.Ricardo, hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển: Eli Hecksher và B.Ohlin đã đưa ra mô hình H-O để trình bày lý thuyết ưu đãi về các nguồn lực sản xuất vốn có Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng TMQT là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nước đều hướng tới chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu

tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) trong sản xuất những sản phẩm nhất định

Như vậy cơ sở lý luận của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo nhưng ở trình độ cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất (các nguồn lực sản xuất )

Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của TMQT ngày nay, song quy luật H-O vẫn là quy luật chi phối động thái phát triển của TMQT và được nhiều quốc gia vận dụng trong hoạch định chính sách TMQT

* Thuyết chu kỳ sống sản phẩm

do K.Verum đề xướng năm 1966, sau đó được nhiều học giả phát triển và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó lý thuyết TMQT

Theo đó, có rất nhiều sản phẩm phải trải qua một chu kỳ sống bao gồm bốn giai đoạn: giới thiệu; phát triển; chín muồi và suy thoái Để kéo dài chu kỳ sống của một sản phẩm, xét trên quy mô thị trường thế giới, các hãng thường hay thay đổi địa điểm sản xuất, mở rộng sản xuất sang khu vực thị trường khác tuỳ thuộc vào từng giai đoạn của chu kỳ sống Kết quả là tạo nên quan hệ thương mại giữa các quốc gia về sản phẩm đó và quan hệ này thay đổi tuỳ theo các giai đoạn của chu kỳ

* Thuyết bảo hộ hợp lý

Ngược lại với trào lưu của các học thuyết ủng hộ tự do hoá thương mại, thuyết bảo hộ với nhiều biến tướng khác nhau được phát triển và vận dụng trong chính sách TMQT của một số quốc gia trong đó có Mỹ, Đức (cuối thế kỷ XIX)

Tư tưởng cơ bản của thuyết này là nếu áp dụng chính sách tự do hoá thương mại có nhiều ngành sản xuất được gọi là “ngành công nghiệp non trẻ” cần thiết phải duy trì nhưng có nguy cơ bị tiêu diệt trước sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài, do đó cần phải có các biện pháp bảo vệ các ngành sản xuất này

Như vậy, cho đến nay có khá nhiều học thuyết về TMQT đã được đề xuất, phát triển và ứng dụng Tuy nhiên chưa có một lý thuyết nào đủ mức hoàn chỉnh để có thể dựa vào đó để hoạch định chiến lược và chính sách XNK của quốc gia Hơn nữa một số học thuyết hoặc chỉ đưa ra mô hình chính sách trong điều kiện tĩnh, chưa khai thác các yếu tố động của bản thân hoạt động kinh tế, hoặc chỉ được

lý luận với những mô hình phức tạp Tuy nhiên, tất cả các học thuyết dù ít hay nhiều vẫn còn chỗ đứng trong điều kiện hiện đại và cần phải nghiên cứu vận chúng

Ngày nay các lý luận gia hiện đại về TMQT trên cơ sở kế thừa và phát triển các học thuyết TMQT đã đưa ra các quan điểm, các lý thuyết khác nhau về TMQT với 3 trường phái chính: trường phái thứ nhất ủng hộ tự do mậu dịch và có các tên gọi biến tướng như mở cửa, tự do hoá ngoại thương, hướng vào xuất khẩu Trường phái thứ hai ủng hộ bảo hộ mậu dịch và có tên gọi biến tướng như đóng cửa thay thế nhập khẩu, mô hình đàn ngỗng trời Trường phái thứ ba kết hợp 2 kiểu chính sách trên với liều lượng khác nhau

Trang 10

Câu 3.2: Đánh giá thực trạng, đề xuất vấn đề cần giải quyết trong QHKT ở nước ta hiện nay

Phó thủ tướng Vũ Khoan

Với nhiều nỗ lực thay đổi tư duy, quan điểm và hành động, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực:

Một là, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước, các tổ chức quốc tế

Chúng ta đã là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO cũng như nhiều định chế tài chính như WB, ADB, IMF Ngoài ra, ta đã có quan hệ thương mại với trên hai trăm quốc gia và vùng lãnh thổ ở khắp các châu lục; trên một trăm quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư ở Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam đã có dự án đầu tư ở trên bảy mươi quốc gia và vùng lãnh thổ

Hai là, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Nếu như tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1986 - 1990 chỉ đạt 4,4%/năm thì bình quân thời kỳ 1991 - 2011 đạt 7,34%/năm Đặc biệt, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,46% Do ảnh hưởng từ những biến động của nền kinh tế thế giới, tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 - 2013 giảm xuống còn 5,6% đưa nước

ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và ra khỏi danh sách các nước kém phát triển sau 30 năm đổi mới

Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu, từ năm 1986 đến nay, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng đều qua các năm So với năm 1986 (kim ngạch xuất khẩu đạt 789,1 triệu USD) thì kim ngạch xuất khẩu năm 2013 tăng gấp khoảng 167 lần (132,2 tỷ USD) Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên thị trường 220 nước và vùng lãnh thổ, hầu hết các châu lục Nước ta có vị thế ngày càng lớn trong xuất khẩu hàng hóa toàn cầu và được xếp vào nhóm 30 nền kinh tế xuất khẩu hàng hóa hàng đầu thế giới Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất, nhập khẩu, thậm chí là có xuất siêu

Ba là, thúc đẩy và thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trong năm 2013, tổng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam đã đạt 22,35 tỷ USD Khu vực doanh nghiệp FDI đã giải quyết việc làm cho khoảng hơn 2 triệu lao động trực tiếp, và hàng chục triệu lao động gián tiếp, chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, góp phần tăng vốn đầu tư phát triển xã hội, tăng kim ngạch xuất khẩu, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn đề

xã hội

Bốn là, góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế, cải thiện tích cực môi trường trong nước

Trong thời gian gần 10 năm trở lại đây, để thực hiện các cam kết gia nhập WTO, hệ thống pháp luật của ta đã và đang tiếp tục được hoàn thiện theo hướng ngày càng trở nên rõ ràng, minh bạch hơn, tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng trong nước

Một số hạn chế của quá trình gần 30 năm hội nhập kinh tế quốc tế\

Thứ nhất, trong một thời gian dài trước khi tham gia các (FTA) việc

tham gia các FTA chưa thực sự chủ động và mới chỉ tập trung vào các lợi ích mang tính ngắn hạn như cắt giảm thuế quan, mà chưa chú trọng đúng mức đến các mục tiêu dài hạn như nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng, cải cách môi trường, thể chế trong nước

Ngày đăng: 20/08/2017, 19:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w