1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ đề CƯƠNG ôn THI môn KINH tế NGUỒN NHÂN lực, SAU đại học

38 339 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 296,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KN CCKT:Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân trong những điều kiện về thời gian và không gian nhất định. KN CCNNL:Cơ cấu nguồn nhân lực phản ánh tỷ trọng nguồn nhân lực theo từng tiêu thức nghiên cứu trong nguồn nhân lực xã hội. Tỷ trọng nguồn nhân lực được tính theo % bằng cách so sánh NNL theo từng tiêu thức với tổng NNL.Kết quả của phân bố NNL giữa các ngành và nội bộ ngành sẽ hình thành cơ cấu NNL theo ngành kinh tế và nội bộ ngành; KQ của phân bố NNL giữa các thành phần kinh tế hình thành CCNNL theo TPKT; KQ của phân bố NNL giữa các vùng... CCNNL theo vùng; thành thị nông thôn ... CCNNL Thành thị nông thôn.

Trang 1

và nông thôn Liên hệ

* K/N CCKT:Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa

các bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân trong những điều kiện về thời gian vàkhông gian nhất định

* K/N CCNNL:Cơ cấu nguồn nhân lực phản ánh tỷ trọng nguồn nhân lực theo từng tiêu

thức nghiên cứu trong nguồn nhân lực xã hội Tỷ trọng nguồn nhân lực được tính theo %bằng cách so sánh NNL theo từng tiêu thức với tổng NNL

Kết quả của phân bố NNL giữa các ngành và nội bộ ngành sẽ hình thành cơ cấu NNLtheo ngành kinh tế và nội bộ ngành; KQ của phân bố NNL giữa các thành phần kinh tếhình thành CCNNL theo TPKT; KQ của phân bố NNL giữa các vùng CCNNL theovùng; thành thị - nông thôn CCNNL Thành thị -nông thôn

* Giải thích cơ cấu kinh tế; cơ cấu nguồn nhân lực.

Theo C.Mác cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quátrình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất.Mác đồng thời nhấn mạnhkhi phân tích cơ cấu phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng cơ cấuchính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội.Nhưvậy cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành lĩnh vực bộ phận kinh tế với vị trí tỉ trọng tươngứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành

Phân tích cơ cấu phải theo 2 phương diện:

phương diện thứ nhất mặt vật chất kĩ thuật của cơ cấu bao gồm:

Cơ cấu theo ngành nghề lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng vị trí tỉ trọng các ngành lĩnh vực bộ phận cấu thành nền kinh tế.

Cơ cấu theo quy mô trình độ kĩ thuật công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành lĩnh vực bộ phận cấu thành nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp khai thác tài nguyên tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất.

Phương diện thứ hai xét theo cơ cấu kinh tế về mặt kinh tế-xã hội bao gồm:

Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội

Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất.

Cơ cấu nguồn nhân lực.

Cơ cấu NNL thường được hiểu như là cấu trúc của NNL, bao gồm các thành tố phân loạitheo một tiêu chí nào đó cùng với tỉ trọng tương quan giữa các thành tố đó Nội dung cụthể của cơ cấu NNL phụ thuộc vào quan niệm về NNL Cho đến nay, các định nghĩa vàquan niệm về NNL thường được xem xét theo hai hướng chủ yếu

Hướng thứ nhất cho rằng NNL là năng lực của những người đang tham gia hoặc có tiềmnăng tham gia vào hoạt động lao động nào đó để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có ích cho

xã hội Với nghĩa rộng như thế về NNL, các thành tố cơ bản của NNL của một quốc gia

sẽ gồm:

Số giáo viên (tiểu học và trung học) trên 10.000 dân; số kĩ sư và nhà khoa học trên10.000 dân; số y bác sĩ, nha sĩ trên 10.000 dân; tỉ lệ học sinh đi học ở cấp tiểu học (%)của nhóm tuổi từ 5 đến 14; tỉ lệ học sinh đi học cả cấp tiểu học và trung học; tỉ lệ học sinh

Trang 2

đi học ở cấp trung học (%) của nhóm tuổi từ 15 đến 19; tỉ lệ học sinh đi học đại học (%)trong nhóm tuổi từ 20-24 Trong cơ cấu chung này, người ta còn phân biệt NNL trình độcao, bao gồm: Nhân lực làm việc trong các ngành kinh doanh, quản lí, hành chính ở cảcác cơ quan, doanhnghiệp nhà nước và tư nhân, trong đó có các cơ sở giáo dục; các nhàkhoa học, kĩ sư, kiến trúc sư, nhà nông học, bác sĩ, bác sĩ thú y, các nhà kinh tế, luật sư,

kế toán, nhà báo, nghệ sĩ; đội ngũ giáo viên có trình độ, được hiểu là những cá nhân đượcgiáo dục tối thiểu 12 năm; đội ngũ kĩ thuật gồm những người hỗ trợ về nông nghiệp, y tá,trợ lí về cơ khí, đội ngũ kĩ thuật viên, nhân viên cao cấp, quản đốc, thợ thủ công trình độcao, công nhân có tay nghề cao như nhân viên tốc kí; nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu, cácnhà lãnh đạo về lao động, thẩm phán, các quan chức của ngành công an và quân đội Hướng thứ hai cho rằng NNL bao gồm lực lượng lao động có độ tuổi từ 15 trở lên Theoquan niệm này, cơ cấu NNL có thể phân loại theo trình độ đào tạo và theo vị trí côngviệc Cơ cấu NNL theo trình độ đào tạo thường bao gồm các thành tố sau:

- Số lượng (tỉ lệ) lao động tốt nghiệp đại học/cao đẳng trở lên;

- Số lượng (tỉ lệ) lao động tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp;

- Số lượng (tỉ lệ) lao động có bằng cấp công nhân lành nghề;

- Số lượng (tỉ lệ) lao động không có bằng cấp

Cơ cấu NNL theo vị trí công việc thường bao gồm các thành tố sau:

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà quản lí;

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà phát minh sáng chế;

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà chuyên môn bậc cao (bằng đại học);

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà chuyên môn bậc trung;

- Số lượng (tỉ lệ) công nhân lành nghề;

- Số lượng (tỉ lệ) công nhân không lành nghề

Ngoài ra, người ta có thể xem xét cơ cấu NNL dưới các khía cạnh ngành nghề, cung cầu,trình độ nghề nghiệp, địa phương, v.v

* Giải thích mối quan hệ giữa chuyển dịch CCKT và chuyển dịch CC NNL

Giữa chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,tác động qua lại với nhau, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế quyết định chuyển dịch cơcấu lao động Mặc dù sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đều chịu sự tácđộng của nhiều yếu tố như: vốn đầu tư, vốn nhân lực, môi trường lập pháp, nhưng chúngvận động theo các hướng, cường độ khác nhau, trong đó cơ cấu kinh tế thường chuyểndịch trước và nhanh hơn, định hướng cho thay đổi cơ cấu lao động Cùng với tiến bộ khoahọc và công nghệ và phát triển kinh tế cần phát huy vai trò tích cực của các chủ thể, đặcbiệt là của Nhà nước, trong đó phân bố nguồn nhân lực xã hội, định hướng việc làm đểthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nhanh hơn và tiến bộ hơn

* Liên hệ

- CDCCN KT

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, trong

đó quý I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,87%; quý IV tăng 7,01% Mứctăng trưởng năm nay cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ2011-2014[1], cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét Trong mức tăng 6,68% của toàn nềnkinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm

2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xâydựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, đóng góp 3,2 điểm phầntrăm; khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm

Trang 3

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp có mức tăng cao nhất với7,69%, nhưng do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm vào mứctăng chung; ngành nông nghiệp mặc dù tăng thấp ở mức 2,03% do ảnh hưởng của thiêntai, hạn hán, nhưng quy mô trong khu vực lớn nhất (chiếm khoảng 75%) nên đóng góp0,26 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,80%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm, là mứctăng trưởng thấp nhất của ngành này trong 5 năm qua[2] do đối mặt với nhiều khó khăn

về thời tiết, dịch bệnh, giá cả và thị trường tiêu thụ sản phẩm

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,39% so với nămtrước, trong đó côngnghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,60%, cao hơn nhiều mức tăng củamột số năm trước[3], đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng của khu vực II và góp phần quantrọng trong mức tăng trưởng chung Ngành khai khoáng tăng 6,50% Ngành xây dựng đạtmức tăng 10,82% so với năm trước, đây là mức tăng cao nhất kể từ năm 2010[4]

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởngchung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 9,06% so vớinăm 2014, đóng góp 0,82 điểm phần trăm vào mức tăng chung; hoạt động tài chính, ngânhàng và bảo hiểm tăng 7,38%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bấtđộng sản được cải thiện hơn với mức tăng 2,96%, cao hơn mức tăng 2,80% của nămtrước và chủ yếu tập trung vào mua nhà ở, đóng góp 0,16 điểm phần trăm

Quy mô nền kinh tế năm nay theo giá hiện hành đạt 4192,9 nghìn tỷ đồng; GDP bìnhquân đầu người năm 2015 ước tính đạt 45,7 triệu đồng, tương đương 2109 USD, tăng 57USD so với năm 2014 Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục có sự chuyển dịch nhưng tốc

độ chậm, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,00%; khu vựccông nghiệp và xây dựng chiếm 33,25%; khu vực dịch vụ chiếm 39,73% (thuế sản phẩmtrừ trợ cấp sản phẩm là 10,02%) Cơ cấu tương ứng của năm 2014 là: 17,70%; 33,21%;39,04% (thuế là 10,05%)

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2015, tiêu dùng cuối cùng tăng 9,12% so với năm 2014,đóng góp 10,66 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 9,04%, đónggóp 4,64 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ làm giảm 8,62điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung

- CDCCNNL

Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho biết, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của

cả nước tính đến thời điểm 01/01/2016 là 54,61 triệu người, tăng 185 nghìn người so vớicùng thời điểm năm 2014, trong đó lao động nam chiếm 51,7%; lao động nữ chiếm48,3% Đến thời điểm trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 48,19 triệungười, tăng 506,1 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2015 ước tính52,9 triệu người, tăng 142 nghìn người so với năm 2014 Đặc biệt, tỷ lệ lao động trong độtuổi đã qua đào tạo năm 2015 ước tính đạt 21,9%, cao hơn mức 19,6% của năm 2014,trong đó lao động qua đào tạo khu vực thành thị đạt 38,3% (Năm 2014 là 35,9); khu vựcnông thôn đạt 13,9% (Năm 2014 là 12,0)

Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, ở thanh niên là vấn đề đáng quanngại Cụ thể, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015 có sự gia tăng là2,31% (Năm 2013 là 2,18%; năm 2014 là 2,10%), trong đó có xu hướng tăng thất nghiệp

ở khu vực nông thôn (năm 2015 là 1,83% so với năm 2013 là 1,54%; năm 2014 là1,49%)

Trang 4

Điều này được lý giải bởi nền kinh tế khởi sắc với sự phát triển mạnh của khu vực côngnghiệp và dịch vụ là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ởkhu vực thành thị.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2015 lên tới 6,85% (Năm 2013 là6,17%; năm 2014 là 6,26%) Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 25 tuổi trở lên năm 2015

Ước tính trong năm 2015 cả nước có 56% lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộnông, lâm nghiệp, thủy sản có việc làm phi chính thức (Năm 2013 là 59,3%; năm 2014 là56,6%), trong đó thành thị là 47,1% (Năm 2013 là 49,8%; năm 2014 là 46,7%) và nôngthôn là 64,3% (Năm 2013 là 67,9%; năm 2014 là 66,0%)

Câu 2 Giải thích, chứng minh câu nói con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển? Liên hệ thực tiễn VN?

Con người là một thực thể vật chất rất phức tạp, là đối tượng của nhiều ngành khoa họckhác nhau và càng ngày khoa học càng phát hiện thêm nhiều điểm mới ở con người

tự nhiên chứa đựng tính xã hội và cũng không có cái xã hội tách rời cái tự nhiên

Con người trong quá trình tồn tại không chỉ tác động vào tự nhiên, làm biến đổi thế giới

tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất người,

- Hồ Chí Minh: con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dântộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó Mục tiêu của CNXHchính là con người, để thực hiện mục tiêu đó cần có những động lực mà trong đó conngười giữ vai trò quan trọng nhất, giữa mục tiêu và động lực có mqh biện chứng và tácđộng qua lại với nhau Càng chăm lo con người – mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ tạo thànhcon người – động lực tốt bất nhiêu Ngược lại, tăng cường sức mạnh con người – độnglực sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu

1 Con người là mục tiêu của sự phát triển:

Con người muốn tồn tại và phát triển được cần phải được thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu về sản phẩm vật chất và tinh thần Để có được những sản phẩm đó, con người phảitiến hành sản xuất ra chúng Chính xuất phát từ những nhu cầu đó mà con người trở thànhmục tiêu của sự phát triển Nhu cầu con người ngày càng phong phú về số lượng và nângcao về chất lượng thì sản xuất càng được cải tiến để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp.Mặt khác, trong nền sản xuất và trao đổi hàng hóa, những sản phẩm sản xuất ra suy chocùng là để thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người

2 Con người là động lực của sự phát triển:

Trang 5

Để thỏa mãn nhu cầu của mình, con người phải tiến hành sản xuất Muốn sản xuất, conngười phải có nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ và hợpthành các nguồn lực cho sự phát triển, trong đó nguồn lực con người là yếu tố cách mạngnhất và động nhất.

+ Nguồn lực con người là yếu tố cách mạng nhất vì nó sáng tạo ra những CCLĐ, nguyênnhiên vật liệu, năng lượng để thay thế cho hoạt động lao động của con người, tạo ranhững bước nhảy vọt trong kỹ thuật sản xuất, thể hiện khả năng chế ngự, làm chủ và khaithác tự nhiên của con người,

+ Nguồn lực con người là yếu tố động nhất vì sự sáng tạo của con người là vô tận, sựsáng tạo đó dẫn đến ngày càng giảm chi phí về nguồn lực con người cho việc sản xuất sảnphẩm, do đó làm gia tăng khả năng tăng NSLĐ

Cần phải nhấn mạnh rằng, NNL là nguồn lực về con người, gắn liền với cuộc sống conngười vì vậy mới là động lực của sự phát triển Mặt khác, mục tiêu và động lực của sựphát triển là hai phạm trù khác nhau song cùng nằm trong một chủ thể đó là con người.Điều đó chỉ rõ mâu thuẫn biện chứng và sự phức tạp trong lĩnh vực quản lý con người màcác nhà quản lý phải tính đến

3 Thực tiễn Việt Nam

Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đang bước vào thời kỳ phát triển thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Định hướng phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” về thực chất là phát triển vì con người, vìcuộc sống ấm no, hạnh phúc cho quần chúng nhân dân lao động Mọi sự phát triển của xãhội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá đều do con người quyết định vàđều hướng về con người, vì cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn của mỗi con người, mỗi giađình trong cộng đồng dân tộc Việt nam CNH, HĐH vì mục tiêu con người đó là phải lấy

mới-sự phát triển của con người Việt nam làm thước đo chung

Mục tiêu của sự nghiệp cách mạng nước ta sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh và hạnhphúc cuả nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh cuả cả xã hội, cuả toàn dân tộc; là sự pháttriển mang tính chất xã hội chủ nghiã, là sự phát triển hiện đại Nghiã là, chúng ta phảiphát triển nền KKTT định hướng XNCH; đồng thời đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.Thực tiễn chúng ta đã và đang khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả mọi tiềm năng,thế mạnh và mọi nguồn lực trong nước cũng như ngoài nước; trong đó nguồn lực conngười giữ vị trí vô cùng quan trọng Các thành tựu cuả quá trình đó lại phục vụ cho sựphát triển cuả con người

4 Giải pháp:

- Về chính trị, chúng ta xây dựng một nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân Pháthuy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi phương diện, không ngừng nâng cao hiệu quảquản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, mở rộng quan hệ ngoại giao,nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế

- Về kinh tế, chúng ta đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triểnnền kinh tế trên tất cả mọi lĩnh vực, áp dụng khoa học – kĩ thuật vào sản xuất, nâng caođời sống vật chất cho nhân dân Bên cạnh đó,Đảng và Nhà nước còn thi hành các chínhsách nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, chú trọng hỗ trợ, phát triển đời sống chonhân dân các vùng dân tộc thiểu số, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn

- Về văn hóa - xã hội: Đảng và Nhà nước thi hành nhiều chính sách văn hóa tiến bộ, nỗlực loại bỏ mê tín dị đoan ra khỏi đời sống nhân dân Coi trọng giáo dục, đặt giáo dục

Trang 6

vào vị trí trung tâm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, coi “trồng người” lànhiệm vụ chiến lược lâu dài…

- Về chính sách:

Chính sách quản lý con người phải dựa trên nguyên tắc “thật sự tôn trọng con người” đó

là ton trọng quyền sinh sống, quyền làm việc và quyền tự tìm cho mình con đường làmgiàu chính đáng Tạo điều kiện tốt nhất để người lao động có thể phát huy hết khả năngcủa mình

+ Chính sách quản lý con người phải vừa cứng rắn nhưng lại vừa mền dẻo cứng rắn làđảm bảo tính nghiêm khắc của kỷ luật, tính nghiêm minh của pháp luật Trong guồngmáy SX, mỗi con người là một thành viên, bất cứ một sự vi phạm kỷ luật lao động nàocũng có thể dẫn đến thiệt hại lớn về hoạt động SXKD Đảm bảo tính mềm dẻo chính làlàm cho sự biến đổi cuat rạng thái tâm lý người lao động phù hợp với sự thay đổi của môitrường xung quanh

+ Cần tạo ra những cơ hội để cho con người phát triển một cách toàn diện, đòi hỏi khinghiên cứu, hoạch định, thực thi chính sách cần am hiểu những vấn đề kỹ thuật quản lý

và am hiểu tâm lý con người và vận dụng một cách sáng tạo trong những điều kiện cụ thể

Câu 3: Đồng chí hãy phân biệt khái niệm nguồn nhân lực và nguồn lao động Giải thích và chứng minh Dân số - Cơ sở hình thành nguồn nhân lực Liên hệ thực tiễn Việt Nam.

Trả lời :

Dân số và nguồn nhân lực luôn được coi là một trong những vấn đề quan trọng đối với sựphát triển của mọi quốc gia Nhờ số dân đạt đến một quy mô đáng kể mới có thể phâncông lao động, chuyên môn hóa, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy xãhội phát triển như ngày nay Tuy nhiên, quy mô và tốc độ gia tăng dân số đã và đang đặt

ra những vấn đề rất nghiêm trọng đe dọa sự phát triển của nhiều nước có dân số quá đông

và đồng thời tạo nên những sức ép mới cho môi trường chung của trái đất Chính vì vậy,trên nhiều diễn đàn hiện nay, các vấn đề của dân số và nguồn nhân lực đang thu hút sựquan tâm rộng khắp của nhiều chính phủ các quốc gia, của nhiều tổ chức quốc tế, cũngnhư của các cộng đồng

* Giải thích các khái niệm nguồn nhân lực, Khái niệm nguồn lao động

Nguồn nhân lực: Là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia

lao động.

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa :

+ Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội,cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển

+ Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sựphát triển kinh tế - xã hội

Nguồn nhân lực được xem xét, đánh giá ở hai phương diện: số lượng và chất lượngnguồn nhân lực

+ Số lượng nguồn nhân lực là chỉ quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính…

+ Chất lượng nguồn nhân lực là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phongcách, đặc điểm lối sống, tinh thần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thutiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Điểm khác nhau giữa các nước trong quan niệm về nguồn nhân lực là ở độ tuổi quy định

Có nước quy định tuổi bước vào hoặc bước ra sớm hơn, có nước lại muộn hơn Tuy

Trang 7

nhiên, ngày nay hầu hết các nước đều quy định cận dưới của độ tuổi lao động là 15, còntuổi bước ra thì tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi quốc gia.

Nguồn lực lao động (Nguồn lao động) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả

năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.

Khái niệm này được coi là cung tiềm năng về lao động

guồn lực lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng

- Nguồn lực lao động xét về mặt số lượng bao gồm: dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm

và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đihọc, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và nhữngngười thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định) Nhưvậy nguồn lực lao động bao gồm:

+ Đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc Những người trong tuổi lao động nhưng: Thất nghiệp,

đi học, làm công việc nội trợ chính trong gia đình, và những người không có nhu cầu làmviệc, những người thuộc tình trạng khác (nghỉ hưu trước tuổi…)

- Nguồn lực lao động xét về mặt chất lượng: được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay

nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động

* Giải thích và chứng minh dân số -cơ sở hình thành các nguồn nhân lực :

- Trình bày tổng quát mối quan hệ

Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của quy mô, cơ cấu và chất lượngdân số Nước nào có quy mô dân số lớn thì có quy mô nguồn nhân lực lớn và ngược lại.Mặt khác, cơ cấu tuổi của dân số có ảnh hưởng quyết định đến quy mô và cơ cấu nguồnlao động Mặc dù dân số là cơ sở hình thành các nguồn lao động, nhưng mối quan hệ giữadân số và các nguồn lao động không phụ thuộc trực tiếp vào nhau trong cùng một thờigian, mà việc tăng hoặc giảm gia tăng dân số của thời kỳ này sẽ làm tăng hoặc giảmnguồn lao động của thời kỳ sau đó từ 15 đến 16 năm Bởi vì con người từ khi sinh ra đếnkhi bước vào tuổi lao động phải mất từ 15 đến 16 năm Vì thế, việc giảm gia tăng dân sốcủa Việt Nam hiện nay là nhằm giảm nguồn lao động của Việt Nam trong 15 đến 20 nămtới Hơn nữa, tốc độ tăng giảm dân số và tốc độ tăng nguồn nhân lực trong cùng thời kỳ

có thể không giống nhau Chẳng hạn, ở Việt Nam trong thời kỳ gần đây tốc độ tăngnguồn nhân lực nhanh hơn tốc độ tăng dân số Mặt khác quy mô nguồn nhân lực có tácđộng trở lại đối với quy mô dân số Thật vậy, một quốc gia có quy mô nguồn nhân lựclớn cũng có nghĩa là quy mô nguồn nhân lực lớn cũng có nghĩa là quy mô của người cókhả năng sinh sản lớn, do đó làm cho quy mô dân số có thể tăng nhanh làm gia tăng dân

số Cụ thể:

Quan hệ giữa quy mô dân số và quy mô nguồn nhân lưc

Quy mô và cơ cấu dân số (theo giới tính và theo tuổi) ờ các nước khác nhau cung rất khácnhau, nhưng dù có khác nhau thì dân số của mỗi nước cũng chỉ ứng với một trong 3 thápdân số sau:

Tháp dân số trẻ: Tỷ lệ người dưới tuổi lao động rất cao, khoảng hơn 40%; số người hếttuổi lao động chi chiếm khoảng 10%; nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển, mứcsống thấp Những nưóc này thường gặp khó khăn, như sổ lượng nguồn nhân lực dồi dào,mức sinh cao nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp Cung nhân lực về sổ lượng lớn tạosức ép việc làm và thường thừa nhân lực, thiếu việc làm và thất nghiệp

Quan hệ giữa chất lượng dân số và chất lượng NNL

Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu thức:

Trang 8

Liên hệ thực tiễn Việt Nam

Ở nước ta, dân số và nguồn nhân lực đang trở thành vấn đề ngày càng được xã hội quantâm, bởi khả năng tạo ra các tác động nhiều chiều tới sự nghiệp PTCN Đặc biệt, trướcnhững biến động đang diễn ra, “cơ cấu dân số vàng” ở nước ta sẽ sớm qua đi, tình trạnggià hóa dân số lại nhanh hơn, cơ cấu giới tính của dân số đang có xu hướng mất cân đốihơn, nguồn nhân lực phân bổ không đồng đều giữa các địa phương, chất lượng nguồn lựcvốn đã thấp nay lại có nguy cơ giảm sút,… Bên cạnh những cơ hội đang mở ra cần phảinắm bắt và vận dụng hiệu quả, hiện trạng dân số và xu thế biến động nêu trên đang tạo ranhiều thách thức mới cho sự nghiệp PTCN

* Thành tuu

- Dân số: Việt Nam có quy mô dân số trên 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7

châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á Dân số phân bố không đều và có sự khácbiệt lớn theo vùng Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nông thôn (khoảng 68

% - năm 2013) Trình độ học vấn của dân cư ở mức khá; tuổi thọ trung bình tăng khánhanh (năm 2013 đạt 73,1 tuổi)

- Lao động: Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng 52.207.000 người; hàng năm

trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Thể lực và tầm vóccủa nguồn nhân lực đã được cải thiện và từng bước được nâng cao Lao động Việt Namđược đánh giá là thông minh, khéo léo, cần cù, tuy nhiên ý thức kỷ luật, năng lực làmviệc theo nhóm,… còn nhiều hạn chế

- Đào tạo: Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Theo số liệu

thống kê sơ bộ năm 2013, số sinh viên đại học và cao đẳng là 2.058.922 người, số tốtnghiệp là 405.900 người; số học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp là 421.705người

- Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượnglao động từ 15 tuổi trở lên là 17,9%, trong đó ở thành thị là 33,7%, nông thôn là 11,2%,phân theo giới tính tỷ lệ này là 20,3% đối với nam và 15,4% đối với nữ; tỷ lệ nhân lựcđược đào tạo trình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo ngàycàng tăng (năm 2010 là 5,7%, năm 2013 là 6,9% )

- Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng: Theo cách tính năng suất lao động đo

bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá hiện hành chia cho tổng số người làmviệc bình quân trong 01 năm, năng suất lao động năm 2005 là 21,4 triệu đồng/người năm

2013 là 68,7 triệu đồng/người

Câu 4 Đồng chí hãy phân biệt giữa tăng NSLĐ với tăng CĐLĐ Tại sao nói trong tổ chức tiền lương phải tuân thủ nguyên tắc : “Đảm bảo tăng tốc độ lương bình quân

Trang 9

phải nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân” Liên hệ thực tiễn Việt Nam.

1 phân biệt giữa tăng NSLĐ với tăng CĐLĐ NSLĐ

NSLĐ là sức SX của LĐ cụ thể có ích Nó được đo bằng số lượng sản phẩm được SX ratrong một đơn vị thời gian nhất định hoặc số lượng thời gian LĐ hao phí để SX ra mộtđơn vị sản phẩm

+ Ví dụ:

1h sản xuất 10 móng ngựa  6phút/1móng ngựa

1h sản xuất 20 móng ngựa  3phút/1móng ngựa

Như vậy, khi NSLĐ tăng lên, số lượng sản phẩm làm ra tăng lên, TGLĐ 1 đơn vị sảnphẩm giảm xuống, lượng giá trị 1 sản phẩm giảm xuống, nhưng tổng giá trị không đổi.Đặc trưng của NSLĐ:

- Là con số bình quân (vì tính cho 1 đơn vị thời gian hoặc thời gian bình quân tính cho 1đơn vị sản phẩm)

- NSLĐ chỉ tính cho những đối tượng, những khu vực SX kinh doanh, nơi có sản phẩm

cụ thể

- NSLĐ phản ánh hiệu quả hoạt động của con người, nó là chỉ tiêu chất lượng

NSLĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ thành thạo trung bình của người người

LĐ, mức độ phát triển của KH&CN, mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào SX, trình

độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của TLSX, và các điều kiện tự nhiên

Tăng NSLĐ

Tăng NSLĐ là sự tăng lên của sức SX Khi đó có sự thay đổi trong cách thức LĐ, một sựthay đổi làm rút ngắn thời gian LĐ XH cần thiết để SX ra một hàng hoá, sao cho số lượng

LĐ ít hơn mà lại có được sức SX ra nhiều giá trị sử dụng hơn

Bản chất của tăng NSLĐ: Giảm hao phí LĐ để SX ra 1 đơn vị sản phẩm Khi NSLĐ tănglên thì quan hệ giữa phần LĐ sống và phần LĐ quá khứ thường xuyên có sự biến đổi

CĐLĐ cũng phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của TLSX, đặcbiệt là nó phụ thuộc vào thể chất, tinh thần của người LĐ

Sự giống nhau giữa tăng NSLĐ và tăng CĐLĐ

Chúng đều thuộc sức SX của LĐ

Đều dẫn đến số lượng sản phẩm SX ra trong một đơn vị thời gian tăng lên

Sự khác nhau giữa tăng NSLĐ và tăng CĐLĐ

Tăng NSLĐ không chỉ làm cho số lượng sản phẩm SX ra trong một đơn vị thời gian tănglên mà còn làm cho giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm xuống

Tăng NSLĐ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố máy móc, kỹ thuật, do đó nó gần như là mộtsức SX vô hạn

Trang 10

Tăng CĐLĐ làm cho số lượng sản phẩm SX ra tăng lên trong một đơn vị thời gian nhưnggiá trị của một đơn vị hàng hoá không thay đổi.

Tăng CĐLĐ phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người LĐ, do đó nó là yếu tốcủa sức SX có giới hạn nhất định

Như vậy, tăng NSLĐ có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển KT - XH

2 Trong tổ chức tiền lương phải tuân thủ nguyên tắc : “Đảm bảo tăng tốc độ lương bình quân phải nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân”.

Giữa tiền lương ,thu nhập và NSLĐ có một điểm gắn kết như sợi dây dàng buộc,đó là quátrình lao động Quá trình lao động gồm nhiều hoạt động lao động,sử dụng sức lao động đểtạo ra NSLĐ làm ra sản phẩm.Quá trình lao động đã làm hao phí sức lao động của ngườilao động để tạo ra sản phẩm nên người lao động phải được nhận một khoản tiền để bù đắplại lượng lao động đã hao phỉ trong quá trình lao động,đó là tiền lương

Trong mối quan hệ giữa tiền lương,thu nhập và NSLĐ,tốc độ tăng của tiền lương thấphơn tốc độ tăng của năng suất lao động.Như trên đã nói,giữa tiền lương,thu nhập vàNSLĐ có mối quan hệ nhưng mối quan hệ đó như thế nào,làm ra bao nhiêu hưởng bấynhiêu hay chỉ hưởng một phần của cải làm ra ,khi NSLĐ tăng lên thì tiền lương cũng tănglên một lượng tương ứng hay chỉ tăng lên thêm một phần của làm ra.Thực tế cho thấy tốc

độ tăng năng suất lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân.Tức là lượng vật chất làmđược thêm phải nhiều hơn phần được hưởng thêm do một số nguyên nhân sau

+ Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh.Trong nền kinh tế thị trường,trong sản xuất

để cạnh tranh được thì giá thành sản phẩm phải thấp tức là phải giảm chi phí cho một đơn

vị sản phẩm.Tiền lương là một chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm,giảm chi phítiền lương cho một đơn vị sản phẩm làm giảm giá thành sản phẩm

+ Do NSLĐ chỉ là một bộ phận của tổng năng suất.NSLĐ tăng lên do nhiều yếu tố kháchquan và chủ quan như công nghệ sản xuất,môi trường lao động,tài nguyên thiênnhiên ,con người trong đó có tiền lương.Như vậy tiền lương chỉ góp một phần làm tăngNSLĐ.Khả năng tăng NSLĐ là lớn hơn so với khả năng tăng tiền lương

+ Do yêu cầu của tích luỹ Như trên đã nói,NSLĐ tăng lên có một phần do công nghệ sảnxuất vậy cần thiết phải trích một phần lợi nhuận từ kết quả do tăng NSLĐ để tích luỹnhằm không ngừng đầu tư ,đổi mới trang thiết bị công nghệ để quay trở lại phục vụ sảnxuất,làm tăng NSLĐ Như vậy,sản phẩm làm thêm được do tăng NSLĐ không được dùnghoàn toàn cho tăng thêm tiền lương làm tốc độ tăng của tiền lương luôn bé hơn tốc độtăng NSLĐ

* Liên hệ thực tiễn Việt Nam

Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, năng suất lao động xã hội của toàn nềnkinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương đươngkhoảng 3.657 USD/lao động) Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toànnền kinh tế năm 2015 ước tính tăng 6,4% so với năm 2014

Tính theo giai đoạn, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiệnđáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng3,9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm; giai đoạn 2011-2015 tăng4,2%/năm Năng suất lao động năm 2015 tăng 23,6% so với năm 2010 Với những nỗ lựctăng năng suất lao động thời gian qua góp phần không nhỏ thu hẹp dần khoảng cáchtương đối của năng suất lao động Việt Nam so với nước ASEAN

Tuy nhiên, Báo cáo cũng nêu rõ mức tăng 23,6% trong giai đoạn 2010-205 vẫn thấp hơn

so với mục tiêu đề ra là tăng 29%-32%

Trang 11

Năng suất lao động của nước ta hiện nay vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khuvực và không đồng đều giữa các ngành và lĩnh vực Khoảng cách tương đối về năng suấtlao động tuy đã giảm đáng kể, nhưng khoảng cách tuyệt đối (chênh lệch mức năng suấtlao động) giữa Việt Nam với các nước ASEAN có trình độ phát triển cao hơn như Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a lại gia tăng.

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do: Cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch, laođộng trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, trong khi năng suất lao động ngành nông nghiệp

ở nước ta còn thấp Máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu; chất lượng, cơcấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa đáp ứng yêu cầu Trình độ tổ chức, quản lý vàhiệu quả sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập, tăng trưởng chủ yếu dựa vào đóng gópcủa yếu tố vốn và lao động, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp.Ngoài ra, còn một số “điểm nghẽn” và “rào cản” về cải cách thể chế và thủ tục hànhchính\

_> ảnh hưởng thế nào trong chính sách tiền lương

- nếu xét trong tổng thể, thì chỉ có kết quả của lần cải cách chính sách tiền lương và cácchính sách liên quan năm 1993 là đã tạo ra những thay đổi rất cơ bản Đó là: Mở đầu chochuyển đổi chính sách tiền lương và các chính sách có liên quan sang cơ chế thị trường;

cơ bản tính đúng, tính đủ tiền lương, xóa bỏ bao cấp, đặc biệt đối với lao động trong khuvực sản xuất, kinh doanh; Giảm khá lớn tính bình quân, cào bằng trong chính sách vàphân phối tiền lương; Một bước quan trọng tách bạch tiền lương giữa khu vực sản xuất,kinh doanh với khu vực hưởng lương từ ngân sách, giao nhiều quyền chủ động về tiềnlương cho doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập có thu, giảm bớt mức độ canthiệp cụ thể, trực tiếp của Nhà nước đối với khu vực này; Hình thành hai trụ cột chính của

an sinh xã hội là bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tách các quỹbảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế độc lập với ngân sách nhà nước Mức ưu đãi người cócông được thay đổi cơ bản, cải thiện lớn mức sống người có công và gia đình họ…

- Thẳng thắn nhìn nhận vấn đề, thì trong hơn 22 năm qua, tiền lương, bảo hiểm xã hội,chính sách người có công vẫn còn nhiều bất ổn, hằng năm phải điều chỉnh, mà vẫn cònđầy những hạn chế, bất cập được tích tụ Cụ thể như sau:

(i) Toàn bộ hệ thống chế độ tiền lương, từ quy định mức lương tối thiểu đến các thang,bảng, mức lương, phụ cấp lương, đến tuyển dụng, xếp lương, trả lương, nâng ngạch, bậclương… còn thiếu đồng bộ, bất nhất, vẫn mang dáng dấp bao cấp Tiền lương hầu nhưkhông có tác động nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và ngườihưởng lương từ ngân sách, không gắn nhiều với cải cách hành chính Từ năm 1993 đếnnăm 2015, chúng ta đã có tới 13 lần điều chỉnh, mức lương tối thiểu chung của khu vựcchi từ ngân sách nhà nước tăng từ 120 ngàn đồng lên 1,242 triệu đồng/tháng, gần 10,4lần Hằng năm ngân sách nhà nước bố trí hàng chục ngàn tỷ đồng để thực hiện cải cáchtiền lương, mà chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước không đượcnâng cao, thậm chí giảm sút Càng chủ trương tinh giản biên chế, thì biên chế lại càngtăng; nhiều cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương cán bộ lãnh đạo nhiều hơnchuyên viên; Lực lượng vũ trang bậc quân hàm thì cao, sĩ quan nhiều như hạ sĩ quan,chiến sĩ; Bộ máy quản lý “hợp trên, phình dưới” vẫn trì trệ, phiền hà, gây lãng phí lớncho ngân sách nhà nước Tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác quá thấp đối với khoảng1/3 đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đang ngày đêm làm việc tận tâm, có tráchnhiệm, chất lượng và hiệu quả, nhưng lại quá cao với nhiều cán bộ, công chức, viên chứclàm việc không hiệu quả (khoảng 2/3)

Trang 12

(ii) Tiền lương thực hiện (thực nhận) ngày càng bình quân, chắp vá, phá vỡ quan hệ tiềnlương chung Điều đáng lưu ý là, thu nhập ngoài tiền lương ở nhiều ngành, nghề, vị trícông tác, chức vụ, ngày một biến tướng, tăng cao, đa dạng, phức tạp, vượt khỏi tầm kiểmsoát của Nhà nước Thu nhập từ các dự án, từ nhà, đất được cấp hoặc mua theo chế độ,giá ngoại giao ngày càng tăng, nhiều hình thức bao cấp trá hình phát triển Một bộ phậncán bộ, công chức, viên chức trở nên giàu có, không quan tâm nhiều đến tiền lương,chênh lệch thu nhập, phân hóa giàu - nghèo ngày càng lớn ngay trong nội bộ khu vực nhànước Trừ lực lượng vũ trang, bộ phận lớn còn lại tiền lương chưa phải là nguồn thu nhậpbảo đảm cuộc sống của người làm công hưởng lương, chưa phải là động lực khuyếnkhích cán bộ, công chức, viên chức toàn tâm làm việc, góp phần làm trong sạch bộ máy,chống tham nhũng, tiêu cực, phiền hà.

(iii) Càng xã hội hóa quỹ tiền lương chi từ ngân sách càng tăng cao, gánh nặng đóng gópcủa người dân và người thụ hưởng cho chi tiêu công, dịch vụ công cộng ngày một lớn,thiếu công khai, minh bạch và không mấy hiệu quả

(iv) Chính sách bảo hiểm xã hội càng sửa đổi càng thêm rối, phức tạp mà không khắcphục được các hạn chế, bất cập cơ bản trước đó Chính sách người có công hầu như vẫn

do ngân sách nhà nước bảo đảm, chưa thực hiện đúng tinh thần nghị quyết của các kỳ đạihội Đảng là ổn định mức sống bản thân và gia đình người có công bằng mức sống dân cưtại địa bàn trên cơ sở bảo đảm cơ bản của Nhà nước, sự hỗ trợ của xã hội và bản thânngười có công; mức trợ cấp ưu đãi xác định có tính cào bằng, thiếu sự chia sẻ, tạo ra sựchênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các đối tượng Bảo trợ, trợ giúp xã hội tăng cao,nặng về bao cấp, tạo tâm lý ỷ lại của một bộ phận không nhỏ đối tượng thụ hưởng…

- Giải pháp thúc đẩy tăng NSLĐ đến năm 2020

+ Một là, tăng cường ứng dụng, đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh

của các DN.

+ Hai là, đẩy nhanh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

+ Ba là, nhanh chóng nâng cao chất lượng nhân lực.

+ Bốn là, đẩy mạnh công cuộc cải cách chính sách tiền lương, lấy tiền lương làm động lực thúc đẩy tăng NSLĐ.

+ Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thu gọn đầu mối và tinh giản biên chế khu vực hành chính, sự nghiệp.

Câu 5: Đồng chí hãy giải thích các khái niệm về nguồn nhân lực? Giải thích nội dung của phát triển nguồn nhân lực Phân biệt đào tạo với phát triển nguồn nhân lực Giải thích và chứng minh tại sao đào tạo nguồn nhân lực là hình thức công cụ quan trọng để phát triển nguồn nhân lực Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nay

MB:Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Trình độ

phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia Vìvậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng đao tạo và phát triển nguồn nhân lực.Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đạo tạo vàphát triển nguồn nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyểnđổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời phát triển nguồn nhân lựctrở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia

1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quantrọng ưong dân số, đóng vai trò tạo ra cùa cài vật chất và tinh thần cho xã hội Tuỳ theo

Trang 13

cách tiếp cận khái niệm nguồn nhân lực có thể khác nhau, do đó, quy mồ nguồn nhân lựccũng khác nhau Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người: nguồn nhânlực là khả năng lao động của xã hội, của toàn bộ những người có ca thể phát triển bìnhthường có khả năng lao động Với cách tiếp cận dựa vào trạng thái hoạt động kinh tế củacon người: nguồn nhân lực gồm toàn bộ những người đang hoạt động trong các ngànhkinh tế, vân hoá, xã hội Với cách tiếp cận dựa vào khả năng lao động của con người vàgiới hạn tuổi lao động: nguồn nhân lực gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động,

có khả năng lao động không kể đen trạng thái có việc làm hay không Với khái niệm nàyquy mô nguồn nhân lực chỉnh là nguồn lao động

=> cách phân biệt khái niệm như trên giúp cho các nhà hoạch định chính sách có biệnpháp khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực

2 Phân biệt đào tạo với phát triển nguồn nhân lực.

* Về nội hàm (khái niệm)

- Đào tạo nguồn nhân lực là hoạt động học tập nhăm trang bị kiến thức về nghề nghiệpgiúp cho người lao động hoàn thành công việc được giao tốt hơn.Đào tạo nguồn nhân lực

là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ ch người laođộng để họ có thế nhận một nghề nào đó, hay để làm tốt hơn một công việc nào đó, hoặc

để làm những công việc khác trong tương lai

- Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng)là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chứcđược tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra sự thay đổi hành vingề nghiệp của người lao động.Phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ những hoạt động tácđộng vào người lao động, để người lao động có đủ khả năng phục vụ cho nhu cầu về laođộng trong tương lai

* Xét về mặt nội dung:

Phát triển nguồn nhân lực gồm 3 loại hoạt động: đào tạo, giáo dục và phát triển.Trong đó:Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kĩ năng) là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ngườilao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình

Giáo dục là các hoạt động tập thể chuẩn bị cho người lao động bước vào một nghềnghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai

Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của ngườilao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướngtương lai của tổ chức hoặc phát triển khả năng nghề nghiệp của họ

3 Giải thích nội dung của phát triển nguồn nhân lực.

ề nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm: hợp lý hóa quy mô, cơ cấu nguồn nhânlực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó, phát triển nguồn nhân lực về chấtlượng (trên cả 3 phương diện thể lực, trí lực và tâm lực) là nội dung trọng yếu

+ Thể lực chính là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh họckhông có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao động – nghề nghiệp nào đó, cósức khỏe để tiếp tục học tập, làm việc lâu dài…thể lực không khỏe mạnh sẽ hạn chế lớn

sự phát triển trí tuệ của cá nhân và cộng đồng xã hội nới chung

+ Trí lực là yếu tố trí tuệ, tinh thần là cái nói lên tiềm lực văn hóa tinh thần của conngười, nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người trí lựclf yếu tố ngày càng

có vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là trong thời đại khoahọc kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay, khối óc con người làm ra mà ngày naynhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình

Trang 14

+ Tâm lưc hây đạo đức cá nhân,phản ánh những giá trị và những chuẩn mực đạo đức xãhội những giá trị, chuẩ mực đó phản nhs bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức mà xã hộivươn tới, được cá nhân lĩnh hội và thể hiện trog đời sống của mình, nhất là trong laođộng, trog lối sống và nếp sống hàng ngay Các giá trị chuẩn mực đó phải thể hiện thànhhiệu quả công việc, đóng góp

4 Taị sao đào tạo nguồn nhân lực là hình thức/công cụ quan trọng để phát triển nguồn nhân lực

- Để nâng cao năng lực cạnh tranh một trong những khâu đột phá, then chốt là phải nângcao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực, đặc biệt phải phát triển và nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực

- Đe đầu tư phát triền vốn nhân lực, một mặt, các quốc gia phải đề cao vai ừò của giáodục - đào tạo, coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Mặt khác, cần phân tích sosánh chi phí- lợi ích kinh tế và phi kinh tể của các quyết định giáo dục - đào tạo để thấy

rõ mức độ hiệu quả của đầu tư

- Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc mộtnghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng vànhiệm vụ của mình Đào tạo được chia ra đảo tạo mới và đào tạo lại

5 Liên hệ thực tiễn Việt Nam hiện nam

* Thành tuu

- Lao động: Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng 52.207.000 người; hàng năm

trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động Thể lực và tầm vóccủa nguồn nhân lực đã được cải thiện và từng bước được nâng cao Lao động Việt Namđược đánh giá là thông minh, khéo léo, cần cù, tuy nhiên ý thức kỷ luật, năng lực làmviệc theo nhóm,… còn nhiều hạn chế

- Đào tạo: Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Theo số liệu

thống kê sơ bộ năm 2013, số sinh viên đại học và cao đẳng là 2.058.922 người, số tốtnghiệp là 405.900 người; số học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp là 421.705người

- Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượnglao động từ 15 tuổi trở lên là 17,9%, trong đó ở thành thị là 33,7%, nông thôn là 11,2%,phân theo giới tính tỷ lệ này là 20,3% đối với nam và 15,4% đối với nữ; tỷ lệ nhân lựcđược đào tạo trình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo ngàycàng tăng (năm 2010 là 5,7%, năm 2013 là 6,9% )

- Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng: Theo cách tính năng suất lao động đo

bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá hiện hành chia cho tổng số người làmviệc bình quân trong 01 năm, năng suất lao động năm 2005 là 21,4 triệu đồng/người năm

2013 là 68,7 triệu đồng/người

* hạn chế chủ yếu của nguồn nhân lực nước ta:

- Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địaphương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gâylãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội

- Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu so với nhu cầu

xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam

- Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môncao có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực hành vàkhả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp

Trang 15

- Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp, năng lực sử dụng ngoại ngữ là công

cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực còn rất hạn chế Trong môi trường làm việc

có yếu tố nước ngoài, ngoại ngữ, hiểu biết văn hoá thế giới luôn là điểm yếu của lao độngViệt Nam

- Tinh thần trách nhiệm làm việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, ý thức văn hoácông nghiệp, kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao

- Năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới

* Giải pháp phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2015-2020

- Một là, đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực

- Hai là, bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực

- Ba là, đổi mới giáo dục và đào tạo

- Bốn là, chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

Câu 6: Phân biệt tạo việc làm với giải quyết việc làm Đồng chí hãy giải thích và chứng minh việc làm cho người lao động là một giải pháp khắc phục mất cân đối thị trường lao động VN trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

1 Phân biệt tạo việc làm và việc làm

* Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng, chấtlượng sức lao động và các điều kiện kinh tế, xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất vàsức lao động

* Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăngđược thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội Như vậy,giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạtđược việc làm hợp lý và có hiệu quả

Giải quyết việc làm là khái niệm bao hàm cả tạo việc làm cho người lao động

2 Thực trạng mất cân đối thị trường lao động Việt Nam

* Sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động:

Cung lao động có quy mô lớn, tốc độ tăng nhanh nhưng còn hạn chế về chất lượng

+ Quý I/2016, dân số nước ta là hơn 94 triệu người Quy mô lực lượng lao động cũng khálớn Lực lượng lao động tiềm năng là khoảng 70 triệu người, số người trong độ tuổi laođộng là hơn 54 triệu người

+ Tốc độ tăng nguồn lao động của nước ta xấp xỉ 2,6 % Mỗi năm nước ta bổ sung từ 1,2– 1,5 triệu lao động, gây khó khăn cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Bêncạnh quy mô lớn, tốc độ tăng nhanh tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong dân số cònthấp Nếu tính chung trong cả nước, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động so với dân số đủ 15tuổi trở lên là 71,1%, điều đó cho thấy nước ta chưa tận dụng hết cung lao động tiềmnăng

- Chất lượng cung lao động còn thấp:

Trang 16

+ Trình độ học vấn chưa cao: Trong dân số, hoạt động kinh tế của những người đủ tuổilao động trở lên tỷ lệ chưa biết chữ là trên 4%, chưa tốt nghiệp THCS là 32,5% và tốtnghiệp THPT trở lên là khoảng 21%.

+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp:

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng/chứng chỉ còn thấp 11,27 triệu người (chiếm 20,7%lực lượng lao động) tăng 265 ng ìn người (2,22%) so với quý 4/2015 Tỷ lệ lao động cóCMKT khu vực thành thị gấp 2,8 lần khu vực nông thôn (36,88% so với 13,13%); tỷ lệlao động có CMKT của nữ thấp hơn nam 18,30% so với (22,96%)

Tương quan trình độ giữa đại học trở lên - cao đẳng - trung cấp - sơ cấp là: 0,35

1-0,35-0,57-+ Thể lực còn hạn chế: Các chỉ số về thể lực như cân nặng, chiều cao trung bình củangười lao động Việt Nam thường thấp hơn các nước trong khu vực Chiều cao trung bìnhcủa đào ông Việt Nam là 1,62m, phụ nữ là 1,52m Nước ta có tỷ lệ dân số thuộc dạng gầy

so với tiêu chuẩn còn cao (chiếm 42,27% dân số năm 2005)

+ Ý thức lao động chưa cao, thể hiện ở chấp hành giờ giấc làm việc chưa chặt chẽ, chưa

có tác phong công nghiệp, tính hiệp tác và phối hợp tập thể còn yếu, kiến thức, kĩ năng vềnhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu…

- Cầu lao động cũng có những hạn chế nhất định:

+ Về số lượng, việc tính toán cầu lao động ở nước ta còn thiếu chính xác và thườngxuyên, chủ yếu dựa vào số liệu khảo sát điều tra của các cơ quan chức năng quản lý laođộng xã hội

+ Về chất lượng: chất lượng lao động ngày càng đòi hỏi cao, các nhà tuyển dụng đang thự

sự chú trọng vào năng lực, trình độ của người lao động Rất nhiều lao động VN khôngđáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng

* Giá cả sức lao động chưa phản ánh đúng giá trị, chưa tác động đến cân bằng cung cầu lao động.

Tiền lương cho người lao động ở các khu vực kinh tế vẫn còn thấp so với mức sống tốithiểu và nhu cầu cuộc sống của người lao động Như đối với đối tượng cán bộ công chức,viên chức, dù có cải thiện tiền lương lên rất nhiều (hiện nay mức lương cơ sở là1.210.000 đồng) nhưng đời sống của lực lượng lao động này vẫn còn gặp nhiều khó khăn

* Di chuyển lao động trong nước và quốc tế còn hạn chế, thiếu linh hoạt

- Di chuyển lao động phản ánh khả năng nhạy cảm và linh hoạt của thị trường lao động

Ở nước ta, di chuyển lao động chủ yếu từ Bắc vào Nam, từ ngành nông nghiệp sangngành công nghiệp và dịch vụ, hay từ nông thôn ra thành thị

- Di chuyển lao động quốc tế đang ngày càng tăng, năm 1995 mới chỉ có hơn 10 vạn laođộng xuất khẩu, 6 tháng đầu năm 2016, số lượng người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài là 54.131 lao động, đạt 54.13% kế hoạch năm 2016 và bằng 96.36% so vớicùng kỳ năm ngoái

- Người lao động ở nước ta làm việc ở hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu tại cácthị trường: Đài Loan (54.11%), Nhật Bản (28.93%), Hàn Quốc (7.46%), Malaysia (3%),

Trang 17

* Các hình thức và các kênh giao dịch còn chưa đa dạng và hoạt động chưa hiệu quả.

Giao dịch lao động được tiến hành thông qua các hợp đồng lao động; thông qua hình thứcthuê mướn lao động theo mùa vụ hoặc thuê mướn lao động trực tiếp theo giờ thông quacác chợ lao động

Ở nước ta hiện nay, các kênh giao dịch trên thị trường lao động thông qua tuyển dụng,các trung tâm giới thiệu việc làm, tham gia hoạt động xuất khẩu lao động, các hội chợ laođộng, triền lãm lao động và việc làm, chợ lao động tự phát tại các đô thị và nông thôn…

* Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, thiếu độ tin cậy

Hiện nay, việc quản lý thị trường lao động ở nước ta chưa có sự thống nhất, phối hợp chặtchẽ giữa các cơ quan chức năng, Bộ LĐ, TB & XH, Tổng cục thống kê, Liên đoàn Laođộng, các tổ chức, doanh nghiệp…, Trung ương và địa phương Các cuộc điều tra khảo sát,công cụ xử lý… để có cập nhật được thông tin còn hạn chế

* Quý 1/2016, tình hình thiếu việc làm và thất nghiệp được thể hiện như sau:

- Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là hơn 1,07 triệu người (chiếm 2,25% tổng

số lao động), nam là 647.900 người, nữ là 424.400 người Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp ởkhu vực thành thị là 3,08% tổng số lao động, ở nông thôn là 1,83%; Tỷ lệ thất nghiệp củathanh niên (từ 15 – 24 tuổi) là 540.700 người, chiếm 6,63% tổng số lao động, người lớn(trên 25 tuổi) là 1,35% tổng số lao động

- trong tổng số 1,6 triệu lao động có thời gian làm việc dưới 35 giờ/tuần, có 821,1 nghìnngười trong độ tuổi lao động bị thiếu việc làm , tăng 62,8 nghìn người so với quý 4/2015.Khu vực nông thôn chiếm 86,8% tổng số lao động thiếu việc làm; ngành NLN-TS chiếm79,7%; lao động tự làm và lao động hộ gia đình chiếm 77,0% Tỷ lệ thiếu việc làm là1,76% , tăng nhẹ so với quý 4/2015 (1,61%) Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là2,28%, cao gấp 3 lần khu vực thành thị (0,70%); của lao động ngành nông lâm, thủy sản

là 3,64%; của lao động hộ gia đình là 3,67% và lao động tự làm là 2,19%

* Để khắc phục thiếu việc làm và thất nghiệp thì tạo việc làm là một giải pháp đặc biệt quan trọng

Tạo việc làm đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức cũng như cá nhânngười lao động, tạo thành cơ chế tạo việc làm, trong đó có cơ chế 3 bên với sự tham giacủa người lao động, nhà nước và người sử dụng lao động

- Về phía người lao động, muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập cao phải có kếhoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sức lao động của mình, có nghĩa là phải tự mìnhhoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, tổ chức xã hội để tham gia đào tạo, phát triển,

có nghề nghiệp để tham gia vào thị trường lao động

- Về phía nhà nước, Nhà nước tạo hành lang pháp lí, ban hành các luật lệ, chính sách liênquan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo môi trường pháp lý kếthợp sức lao động với tư liệu sản xuất

- Về phía người sử dụng lao động cần có thông tin về thị trường đầu vào và đầu ra của laođộng để không chỉ tạo ra chỗ làm việc mà còn phải duy trì và phát triển chỗ làm việc chongười lao động

* Các giải pháp tạo việc làm:

Thứ nhất, cần ban hành Luật Việc làm để quy định cụ thể về chính sách việc làm của

Nhà nước Trong đó, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm tạo việc làm mà phải có trách

Trang 18

nhiệm định hướng phát triển việc làm hướng tới thúc đẩy và bảo đảm việc làm bền vữngcho người lao động; có những quy định về các giải pháp cụ thể của Nhà nước

Thứ hai, cần gắn kết chính sách việc làm với chính quá trình và kế hoạch tổng thể về tái

cấu trúc kinh tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững chủ động phát triển có tổchức các thị trường lao động có nhiều tiềm năng và hiệu quả kinh tế cao, nhất là thịtrường lao động chất lượng cao về kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển, công nghệ thông tin

và xuất khẩu ỉao động

Thứ ba, chính sách việc làm cần được thực hiện trong đồng bộ và đồng thời, thậm chí đi

trước một bước với các chính sách kinh tế khác Đặc biệt, công tác đào tạo nghề cần bámsát nhu cầu thị trường và đi trước, đón đầu các quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội ở cácđịa phương, nhất là những địa bàn có tốc độ đô thị hóa và tốc độ tái cấu trúc kinh tế-xãhội nhanh

Sớm bổ sung các chính sách việc làm mới, trong đó đặc biệt chú ý phát triển nguồn nhânlực trình độ cao trong các ngành, lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quảtăng trưởng kinh tế cao, như kinh tế nông nghiệp sử dụng công nghệ cao, kinh tế biển,công nghệ thông tin và xuất khẩu lao động có kỹ thuật, cũng như khai thác tốt đội ngũ laođộng từ nước ngoài trở về nước sau khi kết thúc hợp đồng lao động ở nước ngoài Mặtkhác, cần tạo môi trường áp lực cao để người lao động Việt Nam khắc phục ảnh hưởngcủa lao động trong nền sản xuất nhỏ, tiểu nông, manh mún, được học tập và rèn luyệntrong các trường dạy nghề trọng điểm chất lượng cao, trường đại học đẳng cấp quốc tế,được quản lý theo mục tiêu bảo đảm chất lượng đào tạo và gắn với nhu cầu của xã hội.Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi phát triển sản xuất,tạo việc làm, chính sách hỗ trợ họcnghề, hỗ trợ người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên cho người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc cáchuyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn Tiếp tục thực hiện chiến lược, cácchương trình, đề án về việc làm và dạy nghề, khẩn trương nghiên cứu xây dựng chươngtrình việc làm cho người thất nghiệp, thiếu việc làm

Thứ tư, chính sách việc làm phải phát huy được các nguồn lực của xã hội vào việc tạo

việc làm và đảm bảo việc làm Tăng cường huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp vàcác tổ chức cho đào tạo nâng cao trình độ người lao động Thực hiện các cơ chế, chínhsách ưu đãi (gồm những giải pháp ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ về đất đai

và ưu đãi tín dụng, hỗ trợ về đào tạo nhân lực chất lượng cao thuộc ngành nghề mũinhọn) để khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo với các hình thứckhác nhau như đặt hàng với các cơ sở đào tạo, tự tổ chức đào tạo nhân lực trong doanhnghiệp và thành lập các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để đào tạo nhân lực cho bảnthân doanh nghiệp và cho xã hội Huy động các nguồn vốn của dân để đầu tư xây dựng cơ

sở đào tạo, tổ chức các loại quỹ khuyến học, khuyến tài

Trên đây là những giải pháp cơ bản cần được tiến hành đồng bộ và có hiệu quả nhất với

sự nỗ lực của toàn xã hội, của toàn hệ thống chính trị trong quá trình thực hiện chính sáchlao động, việc làm của nước ta trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại và sửdụng hợp lý nguồn lực lao động xã hội để phát triển nền kinh tế nước ta, hướng tới mụctiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Trang 19

Câu 7: Đồng chí hãy giải thích khái niệm và nội dung phát triển NNL Cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực là gì? Phân tích cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH Liên hệ thực tiễn những bất hợp lý về cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay Theo đồng chí cần có những giải pháp gì để khắc phục bất hợp lý đó?

1 Khái niệm và nội dung phát triển NNL

*Phát triển nguồn nhân lực.

Có rất nhiều các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm phát triển nguồn nhân lực (nhưquan niệm của UNESCO; ILO; ) Tuy nhiên, vận dụng vào lý thuyết phát triển, có khái

niệm phát triển nguồn nhân lực như sau: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng quy

mô (số lượng) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý

Phát triển NNL có thể ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô Về mặt vĩ mô phát triển NNL đượchiểu PTNNL theo lãnh thổ, một nước, một địa phương Về mặt vi mô PTNNL được hiểuPTNNL của một tổ chức Dù là phạm vi vi mô hay vĩ mô thì cả ba mặt số lượng, chấtlượng và cơ cấu trong phát triển nguồn nhân lực gắn chặt với nhau, trong đó yếu tố quyếtđịnh nhất của phát triển là chất lượng nguồn nhân lực phải được nâng cao

Thời gian qua, nguồn nhân lực được đào tạo đã bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế và hội nhập quốc tế Các nhà trường không còn đào tạo những gì mình có mà đãchuyển hướng đào tạo cái mà xã hội cần Đối tác sử dụng lao động cũng đặt ra các yêucầu thực tế hơn trong việc đặt hàng các nhà trường

- Đào tạo NNL đảm bảo số lượng, chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng nhânlực

- Đào tạo ngành nghề, chuyên môn mà xã hội đang cần, nhất là công nhân kỹ thuật cao

- Gắn kết lợi ích, trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo và người sử dụng nguồn nhân lực

2 Cơ cấu nguồn nhân lực: là cơ cấu phản ánh tỷ trọng nguồn nhân lực theo từng tiêu

thức nghiên cứu trong nguồn nhân lực xã hội.Tỷ trọng nguồn nhân lực được tính theophần trăm (%) bằng cách so sánh nguồn nhân lực theo từng tiêu thức với tổng nguồnnhân lực

Cơ cấu nguồn nhân lực gồm: cơ cấu NNL theo tuổi, theo giới tính, phân theo thành thị

-nông thôn, theo ngành kinh tế, theo thành phần kinh tế

3 Cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH

Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Theo số liệu thống kênăm 2013, số sinh viên đại học và cao đẳng là 2.058.922 người, số tốt nghiệp là 405.900người; số học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp là 421.705 người Tuy nhiên, chấtlượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địaphương,… chưa đồng nhất, chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gâylãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội

Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượnglao động từ 15 tuổi trở lên là 17,9%, trong đó ở thành thị là 33,7%, gấp 3 lần tỷ lệ này ởkhu vực nông thôn là 11,2%, phân theo giới tính tỷ lệ này là 20,3% đối với nam và 15,4%

Ngày đăng: 20/08/2017, 19:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w