Về tính tất yếu của thời kỳ quá độTrung thành với CNMLN, HCM khẳng định việc trải qua TKQĐ là bước đi tất yếu của con đường tiến lên CNXH, Bác chỉ rõ:“Con đường của chúng ta ngày nay ở miền Bắc là qua TKQĐ tiến lên CNXH chỉ có đi theo con đường ấy, miền Bắc nước ta mới vĩnh viễn thoát khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu và xây
Trang 1TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ VÀ KINH TẾ QUÂN SỰ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
I Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trong thời kỳ quá độ
1 Về đặc điểm, nhiệm vụ và độ dài của thời kỳ quá độ ở nước ta
* Về tính tất yếu của thời kỳ quá độ
Trung thành với CNM-LN, HCM khẳng định việc trải qua TKQĐ là bước
đi tất yếu của con đường tiến lên CNXH, Bác chỉ rõ:
“Con đường của chúng ta ngày nay ở miền Bắc là qua TKQĐ tiến lênCNXH chỉ có đi theo con đường ấy, miền Bắc nước ta mới vĩnh viễn thoát khỏicảnh đói nghèo, lạc hậu và xây dựng cơ sở vững chắc cho sự nghiệp thống nhất
Tổ quốc” (Tập 10, tr 79)
* Về đặc điểm của thời kỳ quá độ
Đặc điểm lớn nhất của TKQĐ ở VN là chúng ta bước vào TKQĐ lênCNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinhqua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
* Về nhiệm vụ kinh tế của TKQĐ
Theo HCM, thời kỳ quá độ có hai nhiệm vụ:
- Xây dựng quan hệ sản xuất mới
- Xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
HCM viết: “Cuộc cách mạng XHCN là một cuộc biến đổi khó khăn và sâusác nhất Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng
có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thóiquen… có gốc rễ từ ngàn năm, chúng ta phải thay đổi QHSX cũ, xóa bỏ giai cấpbóc lột, xây dựng QHSX mới không có áp bức bóc lột” và “phải xây dựng nềntảng vật chất và kỹ thuật của CNXH” (Tập 8, tr 493, Tập 10, tr 3)
* Về độ dài của TKQĐ
Theo Bác đó là một thời kỳ lịch sử lâu dài, song dài bao nhiêu là phụ thuộcvào nỗ lực chủ quan của chính chúng ta: “Việt Nam là một nước nông nghiệp
Trang 2lạc hậu, công cuộc đổi mới xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơnviệc đánh giặc TKQĐ của chúng ta chắc chắn sẽ đòi hỏi ba, bốn kế hoạch dàihạn Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn đấu thi đua xây dựng thì TKQĐ
có thể rút ngắn hơn” (Tập 9, tr 175)
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
a, Vai trò của nông nghiệp, nông thôn
* Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu bảo đảm nhu cầu ăn, mặc, ở cho toàn xã hội.
- Nước ta là nước nông nghiệp, đại đa số dân cư sống ở nông thôn, phầnlớn lao động làm nông nghiệp, bởi vậy HCM luôn coi nông nghiệp là ngành SXchính, là cơ sở để phát triển KT đất nước
Trong thư gửi Điền chủ nông gia VN, Bác viết: “VN là một nước sống vềnông nghiệp Nền kinh tế nước ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xâydựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệpmột phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịch thì nước
ta thịnh”1
- HCM cho rằng nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm, bảo đảmnhu cầu, ăn, mặc, ở của nhân dân
+ Về vấn đề ăn: Thấu hiểu nạn đói năm 1945, Bác nhắc lại: “ Việt Nam ta
có câu tục ngữ “có thực mới vực được đạo” Trung Quốc cũng có câu tục ngữ
“Dân dĩ thực vi thiên”
Hai câu ấy tuy đơn giản nhưng rất đúng lẽ
Muốn nâng cao đời sống nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề
ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác) Muốn giải quyết vấn đề ăn thì phảilàm thế nào cho có đầy đủ lương thực”2 Do vậy, Bác luôn nhắc nhở các tầng lớpnhân dân phải đẩy mạnh tăng gia SX, trồng nhiều cây lương thực, hoa màu, pháttriển chăn nuôi gia súc, gia cầm…
1 HCM, Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, tập 4, tr 215.
2 Sđd, tập 10, tr 543 – 544.
Trang 3+ Về vấn đề mặc: Người chỉ rõ chính quyền mới phải “Làm cho dân cómặc”3.
+ Về vấn đề ở: Người cho rằng đây là một mặt của vấn đề dân sinh, là vấn
đề rất quan trọng Người đánh giá: “Nông thôn của ta, nhà ở của đồng bào phầnnhiều đang ọp ẹp, tối tăm, chẳng ra sao, chẳng có hàng lối gì… Khi trước nhànào lo làm nhà ấy, làm thế nào cũng được Nhưng bây giờ không phải như thế.Bây giờ mình phải đổi mới nông thôn Nông thôn mình phải quang đãng sạchsẽ”4
HCM luôn quan tâm và lo cho dân từ những việc làm cụ thể, Người thườngxuyên vận động nhân dân trồng cây gây rừng để vừa có gỗ, tre làm nhà vừa bảo
vệ môi trường sinh thái: “Mùa xuân là tết trồng cây; Làm cho đất nước càngngày càng xuân”
* Nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân khác.
- Thứ nhất, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp.
Người nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp đối với công nghiệp: “Sản xuấtnông nghiệp… cung cấp nguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu công nghiệp, thủcông nghiệp, công nghiệp và cung cấp nông thổ sản để mở rộng quan hệ buônbán với nước ngoài”5
- Thứ hai, phát triển nông nghiệp nhằm xây dựng cơ cấu kinh tế quốc dân
thống nhất
+ HCM nhận thức rất rõ mối quan hệ và tác động qua lại giữa nông nghiệp,công nghiệp và các ngành KT khác Người nối: “Người thì có hai chân Kinh tếmột nước thì có hai bộ phận chính: nông nghiệp và công nghiệp Người khôngthể thiếu một chân, thì nước không thể thiếu một bộ phận kinh tế”6 Bác còn
3 Sđd, tập 4, tr 152.
4 Sđd, tập 10, tr 446.
5 Sđd, tập 8, tr 91
6 Sđd, tập 8, tr 77
Trang 4nhấn mạnh: “Nông nghiệp không phát triển thì công nghiệp cũng không pháttriển được”7.
+ HCM chỉ ra mối quan hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp và thươngnghiệp, ba mặt này có mối quan hệ khăng khít tác động lẫn nhau trong một cơcấu kinh tế quốc dân thống nhất Trong tạp chí sinh hoạt Thương nghiệp, năm
1956, người viết: “ Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có
ba mặt quan trọng: Nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Ba mặt công tácquan hệ mật thiết với nhau Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp vàcông nghiệp”8
+ Trong kháng chiến chống Pháp, nhấn mạnh nông nghiệp là chính, là mặttrận cơ bản, là mặt trận hàng đầu: “Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buônbán, nông nghiệp Nghành nào cũng quan trọng Nhưng lúc này, quan trọng nhất
là nông nghiệp, vì “có thực mới vực được đạo”
i, Nông nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp lương thực cho nhân dân,cung cấp đủ nguyên liệu cho nhà máy, cung cấp đủ nông sản để xuất khẩu
ii, Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cầnthiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân, cung cấp máy bơm, phân bón,thuốc trừ sâu… để đẩy mạnh nông nghiệp “Công nghiệp phát triển thì nôngnghiệp mới phát triển Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ nhau
và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước mới nhanh
và nhanh chóng đi đến mục đích Thế thì mới thực hiện được liên minh côngnông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm lo, sung sướng chonhân dân”9
* Nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp.
Nông nghiệp phát triển, nông dân sẽ có nhiều hàng hóa đưa ra thị trường do
đó lại thúc đẩy thương nghiệp phát triển Người chỉ rõ: “Thương nghiệp đưa
7 Sđd, tập 10, tr 619.
8 Sđd, tập 8, tr 174
9 Sđd, tập 10, tr 544 – 545.
Trang 5hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyênliệu cho thành thị tiêu dùng”10.
b, Các giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
* Phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp.
- Cùng với việc nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp, nhưng HCM vẫnkhẳng định về chiến lược lâu dài là phải phát triển công nghiệp để tạo ra phânbón, máy móc, thuốc trừ sâu, hàng tiêu dùng cần thiết phục vụ nông nghiệp,nông thôn và nông dân Người chỉ rõ: “Quan trọng nhất trong đời sống của nhândân là vấn đề ăn Để giải quyết vấn đề ăn thì lương thực phải dồi dào Muốn vậythì công nghiệp phải giúp nông nghiệp có nhiều máy móc làm thủy lợi, máy cầy,máy bừa, nhiều phân hóa học…”11
- Người chỉ ra rằng: muốn ấm no thực sự thì phải phát triển công nghiệp,phải công nghiệp hóa đất nước Năm 1960, trong bài viết Con đường phía trước,Bác vạch rõ: “Nước ta vốn là nước nông nghiệp lạc hậu Đó là chỗ bắt đầu đicủa chúng ta Ngay đến năm ngoái, trong SX của miền Bắc, công nghiệp mớichỉ chiếm không đầy 2 phần, còn nông nghiệp và thủ công nghiệp chiếm đếntám phần, Mấy triệu nông dân và ngót một nửa triệu thợ thủ công là nhữngngười đang cung cấp phần lớn thức ăn, vật dùng cho nhân dân, hiện vẫn dùngnhững đồ rất thô sơ để sản xuất Như vậy thì làm sao làm cho đời sống nhân dânthật dồi dòa được
Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta sử dụng máy móc
để SX một cách thực sự rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trongnông nghiệp Máy sẽ chắp thêm cánh tay cho người, làm cho sức người tăng lêngấp trăm, nghìn lần và giúp người làm những việc phi thường
Muốn có nhiều máy móc thì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ramáy móc, ra gang, thép, than, dầu… đó là con đường phải đi của chúng ta, conđường công nghiệp hóa nước nhà
10 Sđd, tập 8, tr 174.
11 Sđd, tập 11, tr 352.
Trang 6Hiện nay, chúng ta lấy SX nông nghiệp làm chính, vì muốn mở mang côngnghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu Nhưng công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường ấn no thực sự của nhândân ta”12.
* Xây dựng quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp.
- Thứ nhất, đa dạng hóa các hình thức sở hữu ruộng đất trong nông nghiệp.
+ Trước 1945, nền kinh tế VN là nền kinh tế thuộc địa, mạng nặng tínhchất sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, đồng thời có yếu tố tiền tư bản chủnghĩa Thực dân Pháp thi hành chính sách độc quyền kinh tế như độc quyềnchiếm ruộng đất, độc quyền ngoại thương để vơ vét, bóc lột nhân dân ta…Nhậnthức rõ điều đó, HCM đã hình thành tư tưởng về một nền kinh tế độc lập, dânchủ định hướng XHCN sẽ được xây dựng sau khi đánh đổ thực dân phong kiến,giành độc lập cho dân tộc Theo Bác nền kinh tế dân chủ: “Sản nghiệp lớn (nhưcông nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp đểgiao cho Chính phủ công nông hòa bình quản lý
c, Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa, lãnh chúa chia cho dân cầynghèo
d, Bỏ sưu thuế cho dân cầy nghèo
e, Mở mang công nghiệp và nông nghiệp”13
+ Từ 1945 - 1954, khi CMT8 thành công và bước vào kháng chiến chốngPháp, chính phủ CM và Chính phủ kháng chiến thực hiện nhiều chính sách dânchủ đem lại quyền lợi thiết thực cho nhân dân, đặc biệt là nông dân, như tịch thuruộng đất của địa chủ thực dân và địa chủ việt gian chia cho nông dân không córuộng đất hoặc có ít ruộng đất Đến cuối 1958, giai cấp địa chủ phong kiến cơbản bị xóa bỏ, khẩu hiệu “ruộng đất về tay dân cầy” cơ bản được thực hiện + Trong thời gian kháng chiến, ở vùng giải phóng, HCM đã đưa ra quanđiểm sử dụng nền kinh tế nhiều thành phần với các hình thức sở hữu đa dạng
12 Sđd, tập 10, tr 40 - 41.
13 Sđd, tập 3, tr 1-2.
Trang 7Theo Bác, nền kinh tế dân chủ ở nước ta (vùng tự do), trong kháng chiến chốngthực dân Pháp có các thành phần kinh tế sau:
- Kinh tế của địa chủ phong kiến bóc lột địa tô
- Kinh tế quốc doanh có tính chất chủ nghĩa xã hội
- Kinh tế hợp tác xã (hợp tác xã tiêu thụ, hợp tác xã cung cấp và các hội đổicông của nông dân) có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội
- Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ
- kinh tế tư bản tư nhân Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũnggóp phần xây dựng kinh tế
- Kinh tế tư bản quốc gia (Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và
do nhà nước lãnh đạo Trong thành phần kinh tế này, tư bản của tư nhận là chủnghĩa tư bản, tư bản của nhà nước là chủ nghĩa xã hội)”14
+ Trong thời kỳ từ 1954 - 1969, HCM luận giải nhiều về CNXH, nhất là tưtưởng về xây dựng nền kinh tế dân chủ Bác phân tích nhiều về vấn đề xây dựnghợp tác xã trong nông nghiệp
Theo Bác, tiến lên CNXH, tất yếu phải tổ chức hợp tác hóa nông nghiệp.Cuối tháng 10 - 1955, trong bài nói chuyện tại Hội nghị giảm tô và cải cáchruộng đất, Người chỉ rõ, nông thôn không chỉ dừng lại ở cải cách ruộng đất màcòn phải tổ chức hợp tác xã nông nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện, tự giác,quản lý dân chủ và cùng có lợi, “xã hội hóa nông nghiệp”15
- Thứ hai, quản lý và phân phối phải được tiến hành công khai, minh bạch.
+ HCM khẳng định trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta, tất yếu tồn tại nềnkinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế quốcdoanh đóng vai trò lãnh đạo, làm nền tảng cho xã hội mới Từ việc nhận thứcnhiều hình thức sở hữu đến tất yếu thừa nhận nhiều hình thức quản lý và phânphối khác nhau: “Từ làm chủ tư liệu sản xuất, họ phải được làm chủ việc quản lý
14 Sđd, tập 7, tr 221.
15 Sđd, tập 8, tr 76.
Trang 8kinh tế, làm chủ phân phối sản phẩm lao động”16; “Một xã hội bình đảng, nghĩa
là ai cũng phải lao động và có quyền lao động”17
+ Người chỉ rõ, CNXH là công bằng, hợp lý, nhưng sự công bằng hợp lý đóphải theo nguyên tắc làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm khônghưởng, những người già yếu, bệnh tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm non.Trên cơ sở những nguyên tắc phân phối của CNXH Người cho rằng “Chế độkhoán là một điều kiện của CNXH”18; theo Bác: “Làm khoán là ích chung mà lạilợi riêng… làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”19
c, Phát triển một nền nông nghiệp toàn diện
HCM luôn quan tâm xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện Chỉ pháttriển nền nông nghiệp toàn diện mới khai thác một cách hiệu quả mọi nguồn lựccủa đất nước, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng và đa dạng của sản xuất cũng nhưtiêu dùng Ở nông thôn phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, nghĩa là phảiphát triển cả nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp; trong nông nghiệp lại phảiphát triển toàn diện cả trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ… Về thăm nông dân tỉnhHưng Yên, Người phát biểu: “Sản xuất phải toàn diện, sản xuất thóc là chính,đồng thời phải rất coi trọng hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi,thả cá và nghề phụ”20; tại hội nghị tổng kết cuộc vận động HTX nông nghiệp ởcác tỉnh miền núi, Bác nhấn mạnh: “Sản xuất phải toàn diện, trồng cây lươngthực và cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, phát triển nghề rừng, chú trọngđẩy mạnh chăn nuôi, vì miền núi có nhiều khả năng chăn nuôi”21 Theo HCM,một nền nông nghiệp toàn diện là:
- Có ngành trồng trọt phát triển toàn diện
- Có ngành chăn nuôi phát triển toàn diện
- Có ngành lâm nghiệp phát triển toàn diện
- Có ngành ngư nghiệp phát triển toàn diện
Trang 9- Có các ngành nghề phụ phát triển.
“Miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ là nguồn lợi đểtăng thu nhập” và Người nhắc nhở: “Phát triển thích đáng kinh tế phụ gia đìnhcủa xã viên”22
- Có quy hoạch, kế hoạch phát triển
“Trong kế hoạch 5 năm, còn nói đến việc bắt đầu khoanh vùng nôngnghiệp Như nơi nào SX lúa nhiều và tốt thì nơi đó thành vùng SX lúa chính, nơinào SX chè nhiều và tốt thì nơi đó thành vùng SX chè là chính, v.v Làm nhưvậy thì sẽ sử dụng một cách hợp lý và có lợi nhất của cải giàu có của đất nước ta
và sức lao động dồi dào của nhân dân ta Làm như vậy thì sau này dùng máymóc cũng dễ và tiện”23
d, Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
- Thứ nhất, phải quan tâm đến phát triển thủy lợi đảm bảo việc tưới, tiêu
nước kịp thời
Nông nghiệp nước ta là nền SX lúa nước, bởi vậy vấn đề thủy lợi được đặtlên hàng đầu Người nói: “Làm thủy lợi thì phải khó nhọc trong vài năm để đượcsung sướng muôn đời” và người chỉ ra: “Làm thủy lợi cần phải kết hợp côngtrình lớn với công trình vừa và công trình nhỏ; cần phải kết hợp việc giữ nướcvới việc dẫn nước và việc thoát nước”24 “Giặc lụt là đồng minh của giặc đói;Muốn chống giặc đói thì phải chống giặc lụt; Muốn chống giặc lụt thì phải kịpthời đắp đê, giữ đê”25
- Thứ hai, phải quan tâm đến phát triển điện và giao thông nông thôn.
Giao thông là mạch máu của nền kinh tế đất nước Phát triển giao thông làgóp phần thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế cũng như đời sống văn hóa của nôngdân và nông thôn Bác nói: “Đắp đường lớn là do Trung ương phụ trách, Bộ giaothông chịu trách nhiệm Nhưng địa phương có thể làm những đường nhỏ, làng
22 22, Sđd, tập 10, tr 352, 407.
23 Sđd, tập 10, tr 407, 408.
24 Sđd, tập 10, tr 397.
25 Sđd, tập 7, tr 532.
Trang 10này qua làng khác, thì xã tự động làm Nhiều xã làm tốt Nên làm cho đồng bàothấy rõ lợi ích của việc làm thêm đường sá”26.
- Thứ ba, phải quan tâm đến xây dựng nhà ở cho nhân dân.
Thấm nhuần tư tưởng của C.Mác, HCM thường xuyên quan tâm đến cáccác vấn đề ăn, mặc, ở cho dân Đối với nông thôn người nói: “Chúng ta đangchuẩn bị xây dựng nông thôn mới Việc đầu tiên của nông thôm mới là xây dựngnhà ở cho đàng hoàng”27
- Thứ tư, phải quan tâm đến phát triển giáo dục, y tế, nâng cao trình độ dân
trí và sức khỏe cho nhân dân
Bác nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phảitrồng người”28
e, Tăng cường sự giúp đỡ, hỗ trợ của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân
- Chính sách giá cả:
Người nêu phương châm định giá: “Giá cả quy định là phải chăng, vừa lợicho nhân dân, vừa lợi cho Chính phủ”29; “Mua bán phải theo giá cả thích đáng…Giá cả phải bảo đảm cho Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi để xâydựng nước nhà”30
- Chính sách thuế nông nghiệp:
Phải thực hiện chính sách thuế để khuyến khích sản xuất, khuyến khíchtăng năng suất lao động: “Thuế phải khuyến khích sản xuất Cho nên Nhà nướcchỉ thu thuế những cây trồng chính Trồng xen kẽ được miễn thuế Tăng vụ chưaquá ba năm, vỡ hoang chưa quá năm năm, đều chưa phải nộp thuế”31
- Một số chính sách giúp đỡ, hỗ trợ khác của Nhà nước như: hỗ trợ về vốn,giáo dục đào tạo, khoa học - công nghệ, thị trường …v.v
3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về sở hữu và các thành phần kinh tế ở Việt Nam
Trang 11a, Tư tưởng Hồ Chí Minh về sở hữu
* Quan niệm của HCM về vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất.
Tư tưởng này được thể hiện chủ yếu qua ba tác phẩm: Đường cách mệnh,viết năm 1927; Thường thức chính trị, viết năm 1953; Báo cáo về dự thảo Hiếnpháp sửa đổi, tại kỳ họp thứ 1, Quốc hội khóa I, nước VN dân chủ cộng hòa.Thể hiện trên các nội dung:
- Thứ nhất, HCM cho rằng: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ,
đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nóichung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy”32 Sự phát triểntất yếu đó là do quá trình sản xuất vật chất con người đã làm cho LLSX biến đổikhông ngừng và do đó QHSX cũng không ngừng biến đổi để phù hợp với tínhchất và trình độ LLSX, Bác viết: “Lịch sử loài người là do người lao động sángtạo ra Người lao động sáng tạo ra của cải, luôn luôn nâng cao sức sản xuất Sảnxuất phát triển tức là xã hội phát triển Chế độ nào hợp với sức sản xuất thì đứngvững Nếu không hợp thì giai cấp đại biểu của sức sản xuất mới sẽ nổi lên cáchmạng lật đổ chế độ cũ”33
- Thứ hai, sở hữu là một mặt của QHSX Nó phản ánh mối quan hệ giữa
các tầng lớp, các giai cấp trong XH đối với vấn đề chiếm hữu những TLSX Khixuất hiện chế độ tư hữu thì xã hội cũng phân thành giai cấp
“Tất cả của cải vật chất trong XH, đều do công nhân và nông dân làm ra.Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn và pháttriển Song những người lao động thì suốt đời nghèo khó, mà có một số ngườikhông lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng” Vì đâu có nỗi chẳng công bằngnày? Vì số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội”34
- Thứ ba, với tư cách là một mặt và là mặt quan trọng nhất của QHSX,
quan hệ sở hữu chi phối hoàn toàn quan hệ quản lý và quan hệ phân phối
32 Sđd, Tập 7, CTQG, H, 2002, tr 247
33 Sđd, tập 7, tr 246
34 Sđd, tập 7 tr203.
Trang 12Trong XH phong kiến, HCM chỉ ra: “Địa chủ chiếm tư liệu sản xuất, tức làruộng đất, nông cụ, vân vân, làm của riêng nhưng họ không cầy cấy Nông dânbuộc phải mướn ruộng đất của địa chủ, phải nộp tô cho địa chủ, lại còn phải hầu
hạ và lễ lạt địa chủ, nông dân không khác gì nô lệ”35
- Thứ tư, muốn kinh tế phát triển thì QHSX phải phù hợp với tính chất và
trình độ của LLSX “Lao động tập thể, thì các tư liệu sản xuất và những thứ sảnxuất ra, phải là của chung mới đúng”36
Dưới chế độ PK và chế độ TBCN, lao động đã là tập thể (đã xã hội hóa),nhưng TLSX lại do những địa chủ và nhà tư bản chiếm giữ Đó là nguyên nhândẫn đến tình trạng kinh tế lậc hậu, dẫn đến mâu thuẫn và bất công xã hội Đócũng là nguyên nhân dẫn đến cách mạng xã hội Cách mạng xã hội là nhằm thiếtlập một QHSX phù hợp với LLSX đã xã hội hóa
* Tư tưởng HCM về các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất ở Việt Nam.
- Trong thời đại mới ngày nay, đi lên CNXH là sự phát triển tất yếu, nhưngđối với các nước chậm phát triển như VN, HCM cho rằng:“Phải kinh qua chế độdân chủ mới, rồi tiến lên CNXH”37
- Về kinh tế, đó là sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu trên thực tế TheoHCM:
“Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sảnxuất như sau:
- Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân
- Sở hữu của HTX tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động
- Sở hữu của người lao động riêng lẻ
- Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”38
- Mục đích của nước ta là đi lên CNXH Nền kinh tế của CNXH dựa trênchế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Với chế độ sở hữu, Người chỉ rõ:
“Mục đích của chế độ ta là xóa bỏ hình thức sở hữu không XHCN làm cho nền
35 Sđd, tập 7, tr 203.
36 Sđd, tập 7, tr 205
37 Sđd, tập 7, tr 247.
38 Sđd, tập 9, tr 588.
Trang 13kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựatrên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể”39.
- Để đạt mục đích trên, Nhà nước phải có cách xử lý khác nhau đối với cáchình thức sở hữu hiện thời Cụ thể: “Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữutoàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo cho nóphát triển, ưu tiên kinh tế HTX là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân laođộng; Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó pháttriển”40
“Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác Nhà nước bảo
hộ quyền sở hữu về TLSX của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tạo cáchlàm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện.Đối với những nhà tư sản công thương, nhà nước không xóa bỏ quyền sởhữu về TLSX và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằmlàm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước Đồngthời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thứccông tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”41
b, Tư tưởng Hồ Chí Minh về các thành phần kinh tế
Tư tưởng HCM về các TPKT chủ yếu nằm trong 3 tác phẩm như đã đề cập
ở sở hữu TLSX, ngoài ra còn được đề cập trong báo cáo của Người trước Quốchội nước VN dân chủ cộng hòa Khóa I, Khóa II, trong các kỳ Đại hội II, III, củaĐảng
* Về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta (trong vùng tự do).
Trong nền kinh tế còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu tất yếu còn tồn tạinhiều TPKT Mặt khác, nước ta bước vào thời kỳ dân chủ mới (Thời kỳ chuyểntiếp từ chế độ thực dân lên CNXH) nên tất yếu còn tồn tại những TPKT của chế
độ cũ mà chúng ta chưa cải tạo được và những TPKT mới được xây dựng
HCM khẳng định: “Hiện nay kinh tế nước ta có những TPKT như sau:
39 39, 40, Sđd, tập 9, tr 588.
40
41 Sđd, tập 9, tr 589.
Trang 14- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô.
- Kinh tế quốc doanh có tính chất chủ nghĩa xã hội
Vì tài sản các xí nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của Nhà nước, chứkhông phải của riêng Trong các xí ngiệp quốc doanh thì xưởng trưởng, côngtrình sư và công nhân đều có quyền tham gia quản lý, đều là chủ nhân Việc sảnxuất thì do sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ nhân dân
- Các HTX tiêu thụ và HTX cung cấp, có tính chất nửa CNXH Nhân dângóp nhau để mua những thứ mình cần dùng, hoặc để bán những thứ mình sảnxuất không phải kinh qua các người con buôn, không bị họ bóc lột
Các hội đổi công ở nông thôn, cũng là một loại HTX
- Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghệ, họ thường tự túc ít có
gì bán và cũng ít khi mua gì Đó là một thứ kinh tế lạc hậu
- kinh tế tư bản tư nhân Họ bóc lột công nhân, nhưng đồng thời họ cũng
góp phần vào xây dựng kinh tế
- Kinh tế tư bản quốc gia là nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và
do Nhà nước lãnh đạo Trong loại này, tư bản của tư nhân là CNTB Tư bản củaNhà nước là CNXH”42
* Về chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các TPKT trong thời kỳ dân chủ mới
- Đối với kinh tế địa chủ phong kiến và tư sản mại bản
Bản chất của giai cấp địa chủ PK và tư sản mại bản là bóc lột và phảnđộng Do đó thái độ rứt khoát của Đảng và Nhà nước ta là phải kiên quyết từngbước xóa bỏ TPKT này thông qua con đường cải tạo QHSX và cải cách ruộngđất Trong Chính cương vắn tắt của Đảng do HCM biên soạn năm 1930 đã thểhiện rõ chủ trương này Cụ thể:
“a, Thủ tiêu hết các thứ quốc trái
b, Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của
tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp giao cho Chính phủ công nông binh quản lý
42 Sđd, tập 7, tr 221.
Trang 15c, Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dânnghèo…”43.
Trong báo cáo trước Quốc hội nước VN dân chủ cộng hòa, khóa I, Kỳ họpthứ 3 ngày 1/12/1953, HCM đã trình bày rõ các vấn đề về cải cách ruộng đấtnhư sau:
“Ý nghĩa của cải cách ruộng đất là:
Cách mạng ta là cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân chống đế quốc xâmlược và chống phong kiến, chỗ dựa của đế quốc…
Nông dân ta chiến 90% dân số mà chỉ chiếm được 3 phần 10 ruộng đất, màquanh năm khó nhọc, suốt đời nghèo nàn
Giai cấp địa chủ phong kiến không đầy 5% dân số, mà chúng và thực dânchiếm 7 phần 10 ruộng đất, ngồi mát, ăn bát vàng Tình trạng ấy thật là khôngcông bằng…
Chỉ có thực hiện cải cách ruộng đất, người cầy có ruộng, giải phóng sức SX
ở nông thôn khỏi ách trói buộc của giai cấp địa chủ phong kiến, mới có thể chấmdứt tình trạng bần cùng và lạc hậu của nông dân, mới có thể phát động mạnh mẽlực lượng to lớn của nông dân để phát triển SX và đẩy mạnh kháng chiến đếnthắng lợi hoàn toàn
Mục đích của cải cách ruộng đất là: tiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữuruộng đất, thực hiện người cầy có ruộng, giải phóng sức SX ở nông thôn, pháttriển SX đẩy mạnh kháng chiến
Phương châm của cải cách ruộng đất là: Phóng tay phát động quần chúngnhân dân, dựa vào quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, tổ chức giáo dục
và lãnh đạo quần chúng nông dân đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từngbước, có trật tự, có lãnh đạo chặt chẽ
Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng nông dân, một cuộc đấu tranhgiai cấp ở nông thôn, rất rộng lớn, gay go và phức tạp, cho nên chuẩn bị phảithật đầy đủ, kế hoạch phải thật rõ ràng, lãnh đạo phải thật chặt chẽ, địa điểm
43 Sđd, tập 3, tr 1,2.
Trang 16phải định cẩn thận, thời hạn phải nắm chắc chắn” và “phải kiên quyết làm choviệc cải cách ruộng đất thành công”44.
Tuy nhiên trong gần 4 năm thực hiện với nhiều đợt cải cách, trong quá trìnhthực hiện nhiều địa phương có tư tưởng nóng vội và thái độ quan liêu đã vấpphải những sai lầm, thậm chí sai lầm nghiêm trọng Chính phủ và HCM đã đausót thừa nhận và đã phải tiến hành sửa sai
Năm 1957, cải cách ruộng đất ở các vùng tự do cả nước cơ bản đã hoànthành Thành phần kinh tế phong kiến đã bị xóa bỏ Nền kinh tế dân chủ mới chỉcòn 5 TPKT:
“A, Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH, vì nó là của chung của nhân dân)
B, Các HTX (nó là nửa CNXH, và sẽ tiến đến CNXH)
C, Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vàoHTX, tức là nửa CNXH)
D, Tư bản của tư nhân
E, Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinhdoanh)
Trong 5 loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả Chonên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng CNXH chứ không theo CNTB”45
- Chính sách đối với các TPKT trong chế độ dân chủ
HCM khẳng định 4 chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ như sau:
“1 Công tư đều có lợi Kinh tế quốc doanh là công Nó là nền tảng và sứclãnh đạo của kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó vànhân dân ta phải ủng hộ nó Đối với những người phá hoại nó, trộm cắp củacông, khai gian lậu thuế, thì phải trừng trị
Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủcông nghệ Đó cũng là lực lượng cần thiết cho công cuộc xây dựng kinh tế nướcnhà Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển Nhưng họ phải phục tùng sựlãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân
44 Sđd, tập 7, tr 178 - 183.
45 Sđd, tập 7, tr 247 - 248.
Trang 172, Chủ thợ đều lợi Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột nhưng Chính phủngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi củacông nhân Đồng thời vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được sốlợi hợp lý, không yêu cầu quá mức.
Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia SX lợi cả đội bên
3, Công nông giúp nhau Công nhân ra sức SX nông cụ và các thứ cần dùngkhác, để cung cấp cho nông dân Nông dân thì ra sức tăng gia SX để cung cấplương thực và các thứ nguyên liệu cho công nhân Do đó mà càng thắt chặt liênminh giữa công nông
4, Lưu thông trong ngoài Ta ra sức khai lâm thổ sản để bán cho các nướcbạn và để mua những thứ ta cần dùng Các nước bạn mua các thứ ta đưa ra vàbán cho ta những hàng hóa ta chưa chế tạo được Đó là những chính sách mậudịch, giúp đỡ lẫn nhau rất có lợi cho kinh tế ta
Bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triển kinh tế nước ta”46
Một điều rất đặc biệt là trong các bài viết, bài nói, HCM chưa bao giờ đề cập đến TPKT có vốn đầu tư nước ngoài Nhưng tuyệt nhiên người không có thái độ đối lập, kỳ thị với những người nước ngoài đang làm ăn sinh sống tại
VN Trong lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô giải phóng 10/10/1954: “Nhân dịp này
tôi có vài lời cùng các bạn ngoại kiều Các bạn người buôn bán, kinh doanh, tiểuthương, tiểu chủ, công nhân và trí thức, đã chung sống với nhân dân Việt Nam,các bạn đã khai cơ lập nghiệp ở Việt Nam… Vì vậy, tôi khuyên các bạn: Cácbạn cứ yên lòng làm ăn như thường Nhân dân và Chính phủ Việt Nam sẽ giúp
đỡ và bảo hộ các bạn”47 Đó là tư duy rất cởi mở và tiến bộ
c, Phát triển kinh tế hợp tác xã - nội dung trọng tâm trong tư tưởng HCM
về thành phần kinh tế
Trong tất cả các TPKT tồn tại ở nước ta HCM quan tâm nhiều nhất đếnphát triển của kinh tế HTX Người đã dành nhiều thời gian và công sức đểnghiên cứu lý luận tuyên truyền, vận động và chỉ đạo thực hiện phong trào hợp
46 Sđd, tập 7, tr 221 – 222.
47 Sđd, tập 7, tr 361.
Trang 18tác hóa nhằm thúc đẩy sự ra đời, phát triển và củng cố HTX Sự quan tâm đặcbiệt của người đến TPKT này xuất phát từ tình thương đối với nhân dân laođộng và xuất phát từ tình hình KT - CT - XH cụ thể của nước ta thời kỳ trước vàsau CM tháng 8.
a, Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám
HCM đã nhận định chắc chắn rằng: Cách mạng sẽ thành công và sau cáchmạng thành công phải xây dựng đời sống mới Do đó một phần nội dung trongtác phẩm “Đường cách mệnh” đã được HCM trình bày một cách hệ thống, toàndiện và chặt chẽ những vấn đề lý luận về HTX Trong tác phẩm được chia thànhnhiều phần nội dung: Tư cách một người cách mệnh; Cách mệnh là gì?; Lịch sửcách mệnh mỹ; Cách mệnh Pháp; Lịch sử cách mệnh Nga; Quốc tế và các tổchức quốc tế; Cách tổ chức công hội; tổ chức dân cày; Hợp tác xã
* Về mục đích của HTX
“Tuy cách làm thì có khác nhau ít nhiều, nhưng mục đích thì nước nàocũng như nhau Mục đích ấy thì trong Tuyên ngôn của HTX Anh đã nói: “Cốtlàm cho những người vô sản giai cấp hóa ra anh em Anh em thì phải làm giùmnhau, nhờ lẫn nhau Bỏ hết thói cạnh tranh”; “HTX trước là có ích lợi cho dân,sau là bớt sức bóp nặn của tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa”48
Trang 194 HTX sinh sản”50.
* Về cách thức tổ chức HTX
“Không phải làng nào cũng lập mỗi làng một HTX Cũng không phải mỗilàng phải lập cả mấy HTX Cũng không phải có HTX này thì không lập đượcHTX kia Chẳng qua theo hoàn cảnh nơi nào lập được HTX nào và có khi haiHTX - mua và bán - lập chung cũng được… HTX chỉ có hội viên mới đượchưởng lợi, chỉ có hội viên mới có quyền, nhưng những việc kỹ thuật như tínhtoán, xem hàng hóa, cầm máy, v.v, thì có phép mướn người ngoài
Đã vào hội thì bất kỳ góp nhiều góp ít, vào trước vào sau, ai cũng bìnhđẳng như nhau”51
b, Trong thời gian cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc
Sau khi hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế (1955 - 1957), miền Bắcbước vào thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH, mặc dù bận rất nhiều công việcnhưng HCM luôn quan tâm đến việc xây dựng và củng cố HTX Trên giườngbệnh Bác vẫn cố gắng viết lời giới thiệu Điều lệ tóm tắt HTX sản xuất nôngnghiệp
* Về đường lối xây dựng HTX
HCM đã chỉ rõ: “Muốn phát triển nông nghiệp thì trước hết phải xây dựngtốt phong trào đổi công ở khắp mọi nơi và trên cơ sở đó sẽ xây dựng HTX nôngnghiệp từ thấp đến cao”52 và “Đường lối cải tạo XHCN của Đảng đối với nôngnghiệp là đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công (có mần mốngXHCN), tiến lên HTX cấp thấp (nửa XHCN), rồi tiến lên HTX cấp cao(XHCN)”53
Trang 20“Là cải thiện đời sống của nông dân, làm cho nông dân được lo ấm, mạnhkhỏe, được học tập, làm cho dân giàu, nước mạnh Dân có giàu thì nước mớimạnh Đó là mục địch riêng và mục đích chung của việc xây dựng HTX”54.
* Về nguyên tắc tổ chức và quản lý HTX
- Việc xây dựng các tổ đổi công và HTX phải làm từ nhỏ đến lớn và “phảitheo nguyên tắc tự nguyện, tự giác, không gò ép”55
- Việc quản lý phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh
- Việc phân phối “phải chú ý phân phối cho công bằng” và “Phải làm thếnào cho xã viên trong HTX thu nhập nhiều hơn thu nhập của nông dân trong tổđổi công và tổ viên trong tổ đổi công thu nhập cao hơn thu nhập của nông dâncòn làm ăn riêng lẻ”56
3 Phát triển SX chung của HTX là chính, nhưng cần chiếu cố đúng mức
SX gia đình của xã viên
4 Về quy mô HTX chỉ nên có từ 150 hộ đến 200 hộ, không nên quá nhiều,quá nhiều thì khó quản lý
5 HTX bậc cao thì SX và thu nhập cũng phải cao mới xứng danh cao củanó
7 Quản trị phải dân chủ, công bằng, minh bạch
54 Sđd, tập 9, tr 537.
55
56 Sđd, tập 9, tr 410.
Trang 218 Cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động và dân quân tự vệ cầnphải xung phong gương mẫu trong mọi công việc.
9 Phải chú ý phát triển công nghiệp địa phương nhằm phục vụ cho nôngnghiệp”57
* Nhà nước đối với HTX
“Chính phủ phải cố gắng phục vụ lợi ích của HTX của nông dân và nhândân nói chung HTX nông dân phải bảo đảm làm tròn nghĩa vụ đối với Nhànước Làm như vậy thì ích nước lợi nhà, xã viên có lợi, HTX có lợi”58
* Sự lãnh đạo của Đảng đối với HTX
“Ngày nay Đảng lãnh đạo nông dân xây dựng HTX Phong trào hợp tác hóaphát triển mạnh mẽ, mở đường cho nông dân tiến tới no ấm Đảng lại đề ra kếhoạch 5 năm phát triển nông nghiệp… Để hoàn thành kế hoạch đó, Đảng phảităng cường sự lãnh đạo của mình… cái gốc trong việc lãnh đạo HTX vẫn là chi
bộ đảng ở cơ sở”59
4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế
a, Tư tưởng HCM về quản lý nền kinh tế quốc dân
* Về cơ cấu kinh tế trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta
- Về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ đặc điểm đất nước, ngay từ đầu, HCM đã xác định cơ cấu kinh
tế nước ta là: cơ cấu công - nông nghiệp hiện đại và đưa ra quan niệm độc đáo
về cơ cấu công nông nghiệp và vai trò của thương nghiệp trong phát triển KT
-XH ở TKQĐ
i, Công nông nghiệp là hai ngành SX ra những SP đáp ứng những nhu cầukhác nhau của nền kinh tế và XH
ii, Hai ngành không tách rời nhau mà có mối quan hệ hữu cơ với nhau:
“Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế… Công nghiệpphát triển thì nông nghiệp mới phát triển Cho nên công nghiệp và nông nghiệp
57 Sđd, tập 10, tr 397 - 398.
58 Sđd, tập 10, tr 415.
59 Sđd, tập 10, tr 415
Trang 22phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đềuthì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích”60.
iii, Tại Hội nghị BCT bàn về những phương hướng khôi phục và phát triểnkinh tế sau hòa bình lập lại, có ý kiến muốn tập trung lực lượng vào XD, pháttriển CN nặng để nhanh chóng đưa nền kinh tế tiến lên, HCM cho rằng: “Mấynăm kháng chiến ta chỉ có nông thôn, bây giờ mới có thành thị, nếu muốn CNHgấp thì chủ quan…, cho nên trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp… Ta chonông nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi đến thủ công nghiệp và công nghiệpnhẹ, sau mới đến công nghiệp nặng”61
iiii, Lý do HCM lựa chọn con đường phát triển kinh tế sau 1954 là ưu tiênphát triển nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm gốc
Một là, Miền Bắc vừa thoát khỏi hậu quả chiến tranh, hậu quả do địch lập
vành đai trắng, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi, nhất là các tỉnh đồng bằng rất nghiêmtrọng nên vấn đề quan trọng hàng đầu là giải quyết cái ăn, cái mặc, rồi mới đếncác vấn đề khác
Hai là, phát triển nông nghiệp tạo cơ sở để phát triển nông nghiệp, vì nước
ta là một nước nông nghiệp, mọi việc phải dựa vào nông nghiệp
“Phải có một nền nông nghiệp phát triển thì công nghiệp mới phát triểnnhanh”; “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấyphát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính Nếu không phát triển nông nghiệpthì không có cơ sở để phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyênliệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp làmra”62
Ba là, nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.
Đó là 3 nhân tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, vì vây, phải đi từ nôngnghiệp, phải coi “phát triển nông nghiệp là cực kỳ quan trọng”63
60 HCM, Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2002, tập 10, tr 544 – 545.
61 Biên bản Hội nghị Bộ Chính trị ngày 10/12/1954, Văn bản lưu tại Văn phòng Trung ương Đảng.
62 Sđd, tập 10, tr 14 -15; tr180.
63 Sđd, tập 10, tr 544.
Trang 23Nhiệm vụ quan trọng trong suốt TKQĐ lên CNXH là CNH để biến nước ta
từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp: “Nhiệm vụ quantrọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủnghĩa xã hội”64
Sự tồn tại và khả năng tương tác giữa công nghiệp và nông nghiệp đượcthực hiện qua một mắt khâu trung gian là thương nghiệp Vì vậy, việc cải tạo vàxây dựng nông nghiệp, công nghiệp không thể tách rời cải tạo và xây dựngngành thương nghiệp Vì: “Trong nền kinh tế quốc dân có 3 mặt quan trọngnông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Ba mặt công tác quan hệ mật thiếtvới nhau Thương nghiệp là khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp Thươngnghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nôngsản, nguyên liệu cho thành thị tiêu dùng Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thìkhông liên kết được giữa nông nghiệp và công nghiệp, không củng cố đượccông nông liên minh Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nôngnghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc”65
- Về cơ cấu thành phần của nền kinh tế.
+ HCM là người đầu tiên chủ trương phát triển nền kinh tế với CCNTPtrong TKQĐ lên CNXH ở nước ta
Về lý luận, Người kế thừa trực tiếp các luận điểm của Lênin về nền kinh tếnhiều thành phần trong NEP Cách sắp xếp thứ tự các TPKT của Lênin là làm rõ
sự vận động của các chế độ sở hữu trong lịch sử theo hướng từ thấp đến cao,đồng thời chỉ ra tính chất tiệm cận và mức độ gần gũi của các TPKT khác nhauvới TPKT xã hội chủ nghĩa (Kinh tế nông dân gia trưởng, có tính chất tự nhiên;
SX hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước; chủnghĩa xã hội)
Theo HCM, dưới chế độ dân chủ mới: “Trong chế độ dân chủ mới, có nămloại kinh tế khác nhau:
A Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH…)
64 Sđd, tập 10, tr 13.
65 Sđd, tập 8, tr 174.
Trang 24B Các HTX (nó là nửa CNXH…).
C Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ…
D Tư bản của tư nhân
E Tư bản nhà nước”66
Cách sắp xếp TPKT của HCM bề ngoài ngược với cách xếp của Lêninnhưng không tạo nên sự đối lập mà là sự bổ sung hợp lý HCM căn cứ vào vaitrò thực tế của từng TPKT trong đời sống KTXH Việt Nam Theo tiêu trí này,TPKT XHCN ở vị trí cao nhất, bởi nó là nền tảng kinh tế của chế độ mới, là chỗdựa của Nhà nước
+ HCM cũng là người Việt Nam đầu tiên dành sự quan tâm đặc biệt đến sựphát triển kinh tế hợp tác Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” HCM đã dànhhẳn một chương viết về HTX
+ Ngoài TPKT xã hội chủ nghĩa, HCM còn thừa nhận sự tồn tại kháchquan, tất yếu, lâu dài của các TPKT khác (Như đã trình bầy ở trên)
* Về cơ chế quản lý kinh tế.
- Hệ thống bộ máy quản lý kinh tế quốc dân.
Theo HCM hạnh phúc của ND từng bước được nhân lên, trước hết do thànhquả lao động của chính họ; song để đem lại hạnh phúc thực sự, lâu bền và toàndiện cho toàn XH thì vai trò của Nhà nước hết sức to lớn, có ý nghĩa quyết định,
vì nhà nước là của dân, do dân và vì dân
+ Vai trò thể hiện ở chính sách cụ thể phát triển KT - XH trong từng giađoạn, thời kỳ, theo mục tiêu chiến lược…
+ Thể hiện ở hệ thống pháp luật đầy đủ, toàn diện, chặt chẽ, bảo đảm chomọi người trong xã hội thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, được hưởng nhữngquyền lợi chung
+ Đặc điểm cơ bản trong tư duy quản lý kinh tế của HCM là tất cả mọi thaotác đều quy về nhân tố người lao động Tổ chức SX và QLKT cũng xuất phát từnhân tố con người và nhằm mục đích phục vụ con người Sử dụng đúng người,
66 Sđd, tập 7, tr 247, 248.
Trang 25đúng việc như dụng mộc Sử dụng không đúng người đúng việc thì không có
ĐK để tăng năng suất LĐ, nâng cao chất lượng Tổ chức lao động hợp lý là vìviệc xếp người, không vì người mà đặt việc
i, Quản lý kinh tế, trước hết là phải quản lý người lao động Quản lý chặtchẽ phải đi đôi với giáo dục; giáo dục hệ thống luật, giáo dục tính tự giác chongười lao động “Ở xí nghiệp phải biết quản lý; có quản lý mới biết thu vào, tiêu
ra, mới biết lỗ lãi, mới biết ai làm tốt, ai làm xấu, ai làm vượt mức, ai khôngvượt múc, muốn làm được như thế phải biết quản lý”67
ii, Muốn quản lý tốt phải có người quản lý giỏi, nhưng trước hết người quản lýphải nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn.HCM yêu cầu “Cán bộ tham gia lao động, công nhân tham gia quản lý”
iii, Tham gia quản lý, người lao động thực sự thực hiện nghĩa vụ và quyền lợicông dân của mình; có điều kiện phát hiện những hợp lý hay chưa hợp lý để đềxuất với người quản lý cách thức phát huy hoặc biện pháp khắc phục, giúp người
QL điều chỉnh phương pháp, biện pháp kịp thời, làm tốt nhiệm vụ quản lý
iiii, HCM cho rằng công tác cải tiến quản lý, công tác cải tiến kỹ thuật vàcải tiến tổ chức như kiềng ba chân Ba cái chân phải bằng nhau thì kiềng mớiđứng vững được Muốn làm tốt cả 3 việc phải thực hiện dân chủ; dân chủ làđộng lực phát triển, mất dân chủ là mất đi thái độ thực sự cầu thị, lắng nghe ýkiến thẳng thắn, làm mất đi sự bàn bạc để đi tới khẳng định sáng kiến, có khảnăng thực hiện để đem lại nhiều lợi ích cho tập thể Cái yếu kém nhất và cũng làcái xấu nhất của người quản lý là bóc nghẹt dân chủ Bác nhắc nhở: ‘Phải tìmcách tổ chức sắp đặt cho hợp lý, để 1 người có thể làm việc như 2 người, 1 ngày
có thể làm việc của 2 ngày, 1 đồng có thể dùng bằng 2 đồng”68
- Về phương thức tác động
+ Hệ thống các mục tiêu phát triển kinh tế và quản lý kinh tế
i, Về mục tiêu phát triển kinh tế
67 Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Cao bằng, Bác Hồ với Cao Bằng, 1985, tr 165 – 157.
68 Sđd, tập 6, tr 468.
Trang 26Năm 1945, HCM khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập tự do rồi
mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết
rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”69, “Tất cảđường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đờisống nhân dân”70
Sau này khi bàn về CNXH, Bác cho rằng: “Làm cho dân giàu, nước mạnh”
vì vậy, phải đẩy mạnh SX, phát triển KT nhằm “Làm cho người nghèo thì đủ ăn;Người đủ ăn thì khá giàu;
Người khá giàu thì giàu thêm”71
ii, Về mục tiêu quản lý
Đây là lĩnh vực được HCM đặc biệt quan tâm và coi đó là “Cái chìa khóa”
để phát triển kinh tế quốc dân Muốn phát triển LLSX, tăng W thì phải quản lýtốt Quan điểm cơ bản của HCM về QLKT là quan điểm hạch toán, làm ăn phải
có HQKT: “Quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp: phải có lãi.Cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn, món gì đáng tiền,người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải tính toán cẩn thận Về mặt này thìchúng ta thiếu sót nhiều”72
+ Công tác kế hoạch hóa
Trước lúc đi xa, Người căn dặn Đảng ta: “Đảng cần phải có kế hoạch thậttốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhândân”73 Công tác KHH là một trong những phương thức tác động quan trọng đếnđối tượng quản lý
i, Kế hoạch phải nhìn xa, thấy rộng: “Khi kế hoạch phải nhìn xa Có nhìn
xa mới quyết định đúng đắn thời kỳ nào phải làm công việc gì là chính Phảithấy rộng Có thấy rộng mới sắp đặt các ngành hoạt động một cách cân đối Khi
Trang 27đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỷ mỷ, chu đáo, thật sát vớimỗi cơ sở Đó là “một bộ ba” để hoàn thành tốt kế hoạch”74.
ii, Phải đảm bảo vấn đề dân chủ trong việc làm kế hoạch, phải từ trênxuống dưới và từ dưới lên trên
iii, “Phải thiết thực, phải làm được Chớ làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kểhàng triệu nhưng không thực hiện được”75
iiii, Có chỉ tiêu kế hoạch, biện pháp rồi, “Phải có tinh thần cố gắng rất cao
để thực hiện bằng được kế hoạch đã đề ra Chỉ tiêu kế hoạch một phần, biệnpháp phải hai phần, cố gắng phải ba phần”76
+ Các công cụ quản lý kinh tế cụ thể
Để kích thích SX phát triển, HCM đã sớm nhận thấy phải biết tác động vàonhu cầu và lợi ích thiết thân của người lao động Có cơ chế, chính sách phải làmsao kết hợp được lợi ích của nhà nước, của tập thể và của cá nhân người laođộng Ngoài ra phải sử dụng các công cụ đòn bẩy trong quản lý kinh tế
i, Công cụ tiền lương: “Bây giờ anh em mong được lên lương có chínhđáng không? Có Nhưng lương tăng gấp đôi mà hàng đắt, vẫn không ăn thuagì… Tiền và hàng phải đi đôi với nhau”77
ii, Công cụ khoán sản phẩm
Người đã đề cập đến vấn đề khoán trong nông nghiệp và trong côngnghiệp Khoán sản phẩm là một công cụ quản lý có tính đòn bẩy đem lại lợi íchcho tập thể và người lao động Là đòn bẩy kinh tế vì khoán có tác dụng khuyếnkhích tăng WLĐ, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế “Chế độ khoán làmột điều kiện của CNXH, nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ,cho nhà máy tiến bộ Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng Công nhân SX ranhiều vải, cố gắng nhiều, hưởng nhiều; làm khoán tốt thích hợp và công bằngdưới chế độ ta hiện nay Nếu người công nhân nào thiếu tinh thần trách nhiệm,
74 Sđd, tập 11, tr 367.
75 Sđd, tập 5, tr 65
76 Sđd, tập 10, tr 261.
77 Sđd, tập 8, tr 297.
Trang 28thiếu kỷ luật lao động thì làm cho mau nhưng không tốt, như vậy là không đúng
và làm khoán phải nâng cao số lượng nhưng luôn luôn phải giữ chất lượng”78.iii, Thực hành tiết kiệm
Bác mong mọi người hiểu nội dung, ý nghĩa sâu sắc của tiết kiệm Tiếtkiệm là để tích lũy vốn, “Nó giúp chúng ta dành dụm từng đồng thành những sốvốn lớn… Như vậy mới dồn được phần lớn vốn của nhà nước vào việc CNH xãhội chủ nghĩa”79
Để thực hành tiết kiệm cũng như “xây” phải đi liền với “chống” lãng phí,
xa hoa Bác kêu gọi thực hành tiết kiệm đi đôi với chống xa hoa lãng phí:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Cần kiệm xây dựng nước nhà mới ngoan,
Mừng xuân, xuân cả thế gian,
Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”80
Để thực hành tiết kiệm, ngăn chặn sự lãng phí, phải có biện pháp quản lýmột cách hiệu quả Theo Bác, tăng cường quản lý ngân sách nhà nước là biệnpháp quan trọng hàng đầu “Đúng, chế độ chi tiêu của Nhà nước là một sự “ràngbuộc”, nhưng đó là một sự ràng buộc rất cần thiết và rất hay Nó ràng buộcnhững kẻ lãng phí, những người thích phô trương Nó ràng buộc cả những ngườichỉ biết việc trước mắt mà không thấy việc lâu dài, chỉ biết việc của bộ phậnmình mà không thấy việc chung của cả nước Nhưng chính nhờ đó mà nó lạichặt xiềng, chắp cánh cho kinh tế nước ta tiến lên như ngựa thần trên con đườngXHCN Nó giúp chúng ta dành dụm từng đồng xu thành những số vốn lớn Nóvít kín các lỗ thủng, các khe hở, không để của cải dành dụm của chúng ta bị haohụt, phân tán”81
Một cách thức khác nhằm thực hành tiết kiệm là mở rộng đầu tư Đó làviệc khuyến khích các tầng lớp nhân dân gửi tiền tiết kiệm Huy động vốn
78 Sđd, tập 8, tr 341.
79 Sđd, tập 10, tr 55 – 56.
80 Sđd, tập 10, tr 39.
81 Sđd, tập 10, tr 55.
Trang 29nhàn rỗi trong dân nhằm đưa vào SX, thì đồng vốn ấy mới sinh sôi nảy nởcàng thêm nhiều.
iiii, Cải cách hành chính cũng là một công cụ đòn bẩy quan trọng trongquản lý kinh tế Bộ máy hành chính phình ra bao nhiêu thì trở thành gánh nặngcho ngân sách nhà nước bấy nhiêu Lượng tiền bỏ ra chi trả lương cho khối hànhchính càng lớn, thì lượng tiền đưa vào SX càng hạn chế Đó là chưa kể sự thấtthoát đồng tiền qua việc mua sắm những thứ đắt tiền không cần thiết, như xâydựng trụ sở làm việc quá lớn…
b, Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý sản xuất
* Quản lý sản xuất phải toàn diện
Để thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống nhân dân cần xây dựngnền sản xuất vững mạnh Để đạt được cần có sự cố gắng, đóng góp của tất cảcác ngành, các TPKT trong nền kinh tế quốc dân
- Để phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa cần phải cải tiến quản lýSXKD “Chúng ta cần phải tập trung lực lượng làm cho nước ta sản xuất ngàycàng nhiều lương thực; trồng nhiều cây công nghiệp; chăn nuôi ngày càng nhiềutrâu, bò, lợn, gà…” và như vậy, “nhất định phải cải tiến quản lý, cải tiến kỹthuật”82
- Để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ không thể chỉ dựa vào mộtngành, một lĩnh vực mà cần phải tạo ra sự phát triển đồng đều, vững chắc Cán
bộ quản lý phải nhận thức: CN và nông nghiệp như là hai chân của nền kinh tếđất nước Chân phải thật vững chắc, thật khỏe thì kinh tế mới tiến bộ thuận lợi
và nhanh chóng
i, Đối với ngành CN nặng “Nhiệm vụ công nghiệp nặng rất nặng nề nhưngrất vẻ vang”, vai trò của CN nặng như một công cụ đắc lực “Để nâng cao khôngngừng đời sống của nhân dân, để xây dựng thắng lợi CNXH”83
82 Sđd, tập 11, tr 32.
83 Sđd, tập 11, tr 352.
Trang 30ii, Đối với ngành công nghiệp nhẹ, Người nhắc nhở: “Ngành công nghiệpnhẹ quan hệ rất khăng khít với đời sống hằng ngày của nhân dân Vì vậy, nhiệm
vụ CN nhẹ là rất quan trọng”84
iii, Lĩnh vực thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp hàng hóa, coi đó làmột bộ phận, một yếu tố quan trọng cùng với CN địa phương thúc đẩy sự tăngtrưởng của nền kinh tế
* Quản lý sản xuất theo phương châm “nhanh, nhiều, tốt rẻ”
Trong bài báo trên báo nhân dân số tháng 3/1960, Bác phân tích từng chữ
“nhanh, nhiều, tốt, rẻ”, Người viết “Nhiều, nhanh, tốt, rẻ là phương châm củachúng ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trước hết nói về nhiều Vì có làm ra nhiều của cải, mới có thể vừa tăng tíchlũy để mở rộng sản xuất, vừa nâng cao mức tiêu dùng của nhân dân lao động.Muốn làm ra nhiều của cải phải có hai điều kiện: Một là, phải có nhiềungười SX Hai là, mỗi người phải SX được nhiều Hai điều này thật ra không hềtách rời nhau”85
“Chúng ta làm nhiều, làm nhanh là cốt tăng nhanh mức sống của nhân dânlao động và tăng nhanh tích lũy để xây dựng CN, mở mang kinh tế Cho nên,nhiều, nhanh phải đi đôi với tốt, rẻ Nếu chỉ vì nhiều, nhanh mà không nghĩ đếntốt, rẻ thì kết quả cuối cùng vẫn là không nhiều, không nhanh”86
Trang 31Người nói: «Điều quan trọng trước hết vẫn là nâng cao WLĐ Tăng WLĐ
là tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời gian lao động Đó là cách làm vừa nhanh,vừa rẻ » ; « Nhưng còn một cách tiết kiệm vốn nữa mà công nhân ta thường ítnghĩ đến Đó là việc làm cho vốn « quay vòng nhanh Biết làm cho vốn quayvòng nhanh, thì có ít vốn mà dùng được nhiều lần, nên SX được nhiều »88
5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực và nhân tố con người trong xây dựng và phát triển kinh tế
a, Tư tưởng HCM về mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế
* Quan điểm của HCM về mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế
- Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn VN, HCM đã đề
ra mục tiêu lâu dài và cao cả cho cách mạng Việt Nam là: Xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội để nhân dân được sung sướng, ấn no, tự do, hạnh phúc
- Ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, nhận thức thựctrạng nhân dân đang đói, HCM đã đưa ra mục tiêu hàng đầu là cứu đói
“Một là, nhân dân ta đang đói - Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp,Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta … làmviệc như nô lệ
Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này Vừarồi nạn lụt đã phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo Điều đó càng làm cho tình hìnhtrần trọng hơn Những người thoát chết nay cũng bị đói Chúng ta phải làm thếnào cho họ sống”89
- HCM còn đề nghị Chính phủ phát động một “chiến dịch tăng gia SX” và
mở cuộc lạc quyên “hũ gạo tiết kiệm” và Người gương mẫu thực hiện trước
- Trong kế hoạch kiến quốc của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủcộng hòa đã chỉ rõ mục tiêu đề ra cụ thể của thời kỳ kháng chiến kiến quốc là:
“1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
88 Sđd, tập 10, tr 91 – 93.
89 Sđd, tập 4, tr 7, 8.
Trang 324 Làm cho dân có học hành”90.
- Thời kỳ 1954 - 1969: khôi phục kinh tế và xây dựng CNXH ở miền Bắc,
tư tưởng HCM thể hiện rõ ràng nhất và sâu sắc nhất, mục tiêu là đưa miền Bắctiến lên CNXH và từng bước nâng cao đời sống nhân dân
Trong báo cáo dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa Inước VN dân chủ cộng hòa, HCM chỉ rõ: “Nước VN dân chủ cộng hòa tiến dần
từ chế độ dân chủ nhân dân lên CNXH bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh
tế quốc dân theo CNXH, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế XHCNvới công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Chínhsách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là không ngừng phát triển SX
để nâng cao mãi đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân”91
Nhiều lần Bác nhắc lại trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau: “Xãhội chủ nghĩa là tất cả mọi người phải ra sức lao động xây dựng CNXH; CNXHxây dựng được mọi người mới sung sướng, ấm no”92
Với cán bộ, đảng viên của đảng bộ Hà Nội, Bác giải thích: “Mục đích củaCNXH là gì?
Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”93
* Phương pháp để thực hiện mục tiêu
- Trước hết, phải tuyên truyền để cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân
dân hiểu được con đường đi lên CNXH là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp vớiquy luật khách quan và điều kiện cụ thể của VN “Tuyên truyền là đem một việc
gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”94; “Muốn đồng tâm hiệp lực,muốn bền gan thì trước ai ai cũng phải hiểu rõ vì sao mà phải làm, vì sao màkhông làm không được, vì sao mà ai ai cũng phải gánh một vai, vì sao phải làmngay, không nên người này ngồi chờ người khác Có như thế mục đích mới