MỞ ĐẦU Hêghen đã tổng kết “triết học là sự tổng kết lịch sử tư duy”. Mà lịch sử phát triển của tư duy lại được tổng kết trong lịch sử triết học, vì thế việc nghiên cứu lịch sử triết học là rất cần thiết. Nhưng ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu lịch sử triết học còn ít. Hầu như chỉ tập trung ở một một số trường đại học lớn mang tính chất đặc thù, chuyên ngành. Vì thế, nghiên cứu lịch sử triết học là hết sức cần thiết nhằm đi tìm hiểu cội nguồn lịch sử tư tưởng triết học thế giới. Trong dòng chảy lịch sử triết học nhân loại, nổi lên những triết gia vĩ đại đó là I.Kant, Hêghen, Phơbách của triết học cổ điển Đức …I.Kant được tôn vinh là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức và đã có ảnh hưởng rất lớn đối với các trào lưu triết học phương Tây. Trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của I.Kant chứa đựng những luận điểm phức tạp, đầy mâu thuẫn như những vấn đề về đạo đức, siêu hình học, triết học thực tiễn…hiện nay vẫn còn gây nhiều bàn cãi chưa đi đến hồi kết. Tính tích cực của chủ thể nhận thức, năng lực, giới hạn và cấu trúc của lý tính, mâu thuẫn trong quá trình nhận thức, sự tồn tại và bất tử của Linh hồn, Thượng đế, Thế giới luôn là những nan đề có rất nhiều kiến giải khác nhau xoay quanh và luôn tìm về triết học I.Kant như là những luận điểm khai phá có tính lịch sử. I.Kant đã phân biệt hai lĩnh vực nhận thức: lĩnh vực mà con người có thể nhận thức được đó là thế giới hiện tượng, và lĩnh vực mà lý tính con người dù đã làm cuộc bạo động xâm nhập vào nó nhưng vẫn bất lực, không thể nhận thức được – thế giới vật tự nó. Với những tư tưởng đó, I.Kant đã phê phán mạnh mẽ sự bất lực của siêu hình học truyền thống, khi nó sử dụng phương pháp tiếp cận của khoa học tự nhiên để nhận thức “Vật tự nó”. Theo I.Kant, triết học có sứ mệnh cao cả là cứu nguy cho siêu hình học truyền thống, cần phải tiến hành phê phán chính lý tính. Lý tính đã mắc phải những mâu thuẫn không thể giải quyết, chính những mâu thuẫn đó là động lực để I.Kant chuyển sang lĩnh vực thực hành. Với những suy nghĩ đó, em chọn đề tài: “Quan niệm của I.Kant về Vật tự nó trong Phê phán lý tính thuần túy” làm tiểu luận nghiên cứu.
Trang 1MỞ ĐẦU
Hêghen đã tổng kết “triết học là sự tổng kết lịch sử tư duy” Mà lịch sử
phát triển của tư duy lại được tổng kết trong lịch sử triết học, vì thế việcnghiên cứu lịch sử triết học là rất cần thiết Nhưng ở nước ta hiện nay, việcnghiên cứu lịch sử triết học còn ít Hầu như chỉ tập trung ở một một sốtrường đại học lớn mang tính chất đặc thù, chuyên ngành Vì thế, nghiên cứulịch sử triết học là hết sức cần thiết nhằm đi tìm hiểu cội nguồn lịch sử tưtưởng triết học thế giới
Trong dòng chảy lịch sử triết học nhân loại, nổi lên những triết gia vĩ đại
đó là I.Kant, Hêghen, Phơbách của triết học cổ điển Đức …I.Kant được tônvinh là người sáng lập ra nền triết học cổ điển Đức và đã có ảnh hưởng rất lớnđối với các trào lưu triết học phương Tây Trong tác phẩm “Phê phán lý tínhthuần túy” của I.Kant chứa đựng những luận điểm phức tạp, đầy mâu thuẫnnhư những vấn đề về đạo đức, siêu hình học, triết học thực tiễn…hiện nay vẫncòn gây nhiều bàn cãi chưa đi đến hồi kết Tính tích cực của chủ thể nhận thức,năng lực, giới hạn và cấu trúc của lý tính, mâu thuẫn trong quá trình nhận thức,
sự tồn tại và bất tử của Linh hồn, Thượng đế, Thế giới luôn là những nan đề córất nhiều kiến giải khác nhau xoay quanh và luôn tìm về triết học I.Kant như lànhững luận điểm khai phá có tính lịch sử I.Kant đã phân biệt hai lĩnh vực nhậnthức: lĩnh vực mà con người có thể nhận thức được đó là thế giới hiện tượng,
và lĩnh vực mà lý tính con người dù đã làm cuộc bạo động xâm nhập vào nónhưng vẫn bất lực, không thể nhận thức được – thế giới vật tự nó Với những tưtưởng đó, I.Kant đã phê phán mạnh mẽ sự bất lực của siêu hình học truyềnthống, khi nó sử dụng phương pháp tiếp cận của khoa học tự nhiên để nhậnthức “Vật tự nó” Theo I.Kant, triết học có sứ mệnh cao cả là cứu nguy chosiêu hình học truyền thống, cần phải tiến hành phê phán chính lý tính Lý tính
đã mắc phải những mâu thuẫn không thể giải quyết, chính những mâu thuẫn đó
Trang 2Với những suy nghĩ đó, em chọn đề tài: “Quan niệm của I.Kant về "Vật
tự nó" trong Phê phán lý tính thuần túy” làm tiểu luận nghiên cứu.
Trang 3NỘI DUNG
1 I KANT VỚI TÁC PHẨM PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY 1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và những tiền đề cho sự hình thành triết học I Kant
1.1.1 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội
Lịch sử các nước châu Âu thế kỷ XVII – XVIII đã bước sang mộtgiai đoạn mới, một loạt nước Châu Âu như Anh, Pháp, Italia, Hà Lan…chế độ phong kiến về cơ bản đã rời bỏ vũ đài chính trị - lịch sử của mình
để nhường chỗ cho chế độ tư bản Đặc biệt là vào nửa cuối thế kỷ XVIII,Tây Âu đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội mới, khẳng địnhphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phá tan dần các quan hệ phongkiến, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới với các nhu cầu xã hội và
cá nhân mới
Cách mạng công nghiệp Anh như một biến cố kinh tế quan trọng khẳngđịnh sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới Cùng vớiCách mạng tư sản Pháp làm rung chuyển cả Châu Âu, chúng đánh dấu sự mởđầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại[5, 8]
Với ý nghĩa lịch sử lớn lao, hai cuộc cách mạng đó đã có những ảnhhưởng lớn đến phong trào giải phóng ở các nước châu Âu, được đánhdấu bằng một loạt các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra: cách mạng tư sản
ở Anh, Hà Lan, Pháp, Italia…chấm dứt sự thống trị của chế độ phongkiến hàng nghìn năm gắn liền với hệ thống thần quyền và giáo luật khắtkhe, mở đầu cho sự ra đời và phát triển của chế độ tư bản
Trong thời kỳ đó, nếu nước Anh nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặtcông nghiệp mà trở thành quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, nước Pháp nhờCách mạng Tư sản 1789, giai cấp tư bản đã tiêu diệt chế độ phong kiến,đang tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa, cả châu Âu đangphát triển nhanh và mạnh mẽ, nhưng trái lại nước Đức vẫn triền miên
Trang 4độ quân chủ chuyên chế phân quyền, bị phân hóa cả về kinh tế lẫn chínhtrị Triết học I.Kant đã ra đời trong hoàn cảnh đó, nước Đức hết sức phứctạp và đầy những mâu thuẫn không thể dung hòa Bức tranh toàn cảnh của
xã hội Đức đương thời phủ một màu xám, đúng như lời khắc họa của
Ăngghen:“Không ai cảm thấy mình dễ chịu…Mọi cái đều tồi tệ và tâm
trạng bất mãn bao trùm cả nước Không có giáo dục…không có tự do báo chí, không có dư luận xã hội - không có gì cả ngoài sự đê tiện và tự tư tự lợi,
lề thói con buôn hèn mạt, xum xoe nịnh hót thảm hại, đã xâm nhập toàn dân Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt
thức Đức thời bấy giờ xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực.Đây là nguyên nhân chính d ẫn tới tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, phủnhận sự cải tạo xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tạicủa nhà nước Phổ và xã hội đương thời Họ sử dụng triết học vũ khí phêphán và chuyển tải tư tưởng cách mạng, là nơi gửi gắm, thể hiện khátvọng cải tạo hiện thực của con người Tính chất cải lương thỏa hiệp về tưtưởng chính trị của tầng lớp trí thức Đức đương thời đã có ảnh hưởng lớnđến I.Kant Dưới sự tác động của cả hai sức ép: một bên là sự cổ vũmạnh mẽ của các nhà khai sáng, cách mạng tư sản Pháp- những tư tưởngtiến bộ; một bên là sức ép chính trị của chính quyền chuyên chế Phổđương nhiệm với chính sách trừng trị hà khắc đối với những học giả có
tư tưởng chống đối nhà nước, I.Kant cũng đã chọn con đường cải
lương, thỏa hiệp với luận điểm: “Tôi phải dẹp bỏ nhận thức đi để dành
Tóm lại, triết học I.Kant là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh kinh tế - xãhội Đức đầu thế kỷ XVIII; nó phản ánh một cách đúng đắn thực trạng xã hộiĐức với những mâu thuẫn phát sinh trong lòng xã hội đó Đồng thời triết học
Trang 5I.Kant cũng là sự khai phá tiến bộ trên lĩnh vực tư tưởng, được coi là “lý luận
Đức của cuộc cách mạng tư sản Pháp”
1.1.2 Tiền đề khoa học tự nhiên
Là một nhà khoa học tự nhiên, nhà triết học lỗi lạc, I.Kant khôngthể không chịu ảnh hưởng của những phát minh trong khoa học tự nhiên,
như chính ông khẳng định: “Con đường triết học phải đi là con đường của
sự minh triết, đồng thời cũng là con đường của khoa học mà một khi đã
1185] “Sự tiến bộ của khoa học tự nhiên, kỹ thuật và y học cũng như sự
vén mây ảo thuật của thiên nhiên qua những thành tựu khoa học” Khoa
học tự nhiên có lịch sử phát triển lâu dài mà điểm khởi đầu là các trithức toán học, lẫn phương pháp nghiên cứu I.Kant cho rằng phương phápcủa Newton trong khoa học tự nhiên đã biến sự tùy tiện của các giả thuyết vật
lý thành một phương pháp nghiên cứu đáng tin cậy, là phương pháp dựa vàokinh nghiệm và hình học Tư duy sáng tạo mạnh mẽ của Niutơn là động lựcmạnh mẽ tiếp sức cho I.Kant trong việc nghiên cứu triết học lý luận, mà tiêubiểu là tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” I.Kant nhận thấy rằng triếthọc cũng giống như khoa học tự nhiên phải dựa vào những kinh nghiệmcảm tính, quan sát thực nghiệm và cả lý tính trong đó lý tính đóng vai tròquan trọng bậc nhất
Như vậy, những thành tựu của khoa học tự nhiên đạt được đã đem đếncho I.Kant quan niệm mới về sức mạnh và khả năng trí tuệ của con ngườitrong việc nhận thức và cải tạo thế giới Đó là tiền đề tạo nên diện mạo triếthọc cổ điển Đức nói chung và triết học I.Kant nói riêng, đặc biệt là quan
niệm về Vật tự nó độc đáo và riêng biệt trong tác phẩm Phê phán lý tính
thuần túy.
1.1.3 Tiền đề lý luận
Trang 6Một trong những bậc tiền bối ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng củaI.Kant, nhất là quan niệm về “Vật tự nó” mà I.Kant đã nêu lên trong tácphẩm “Phê phán lý tính thuần túy” chúng ta phải kể đến Đavit Hium.
Đavit Hium (D.Hium ) (1711 – 1776) là một nhà triết học nổi tiếngngười Anh, đại biểu điển hình của thuyết không thể biết “bất khả triluận” và chủ nghĩa hoài nghi, một đại biểu của chủ nghĩa chủ quanđiển hình – chủ nghĩa duy ngã D.Hium tách rời giữa cảm giác của conngười với thế giới bên ngoài, ông cho rằng nhận thức có nguồn gốc từ cảmgiác của con người và không cần đến sự tác động của thế giới bên ngoài - sựvật là sự phức hợp của cảm giác Từ đó, D.Hium cho rằng chúng ta không thểbiết được gì về thế giới này cả, không thể biết được thế giới này thức hay ngủ
nữa? Ông nghi ngờ về sự tồn tại của thế giới bên ngoài “Ông cho rằng: Giới
tự nhiên đã đặt chúng ta ở một khoảng cách khá xa với các điều bí ẩn của nó,
và nó chỉ thể hiện ra cho chúng ta những tri thức về một số đặc tính, vẻ bề
đảnh nó biểu hiện ra bên ngoài như thế nào thì chúng ta biết về nó chừng ấy, còn bản chất vô cùng vô tận của giới tự nhiên thì mãi mãi cách biệt với chúng ta” D.Hium không thừa nhận sự tồn tại khách quan của các sự vật, hiện
tượng trong thế giới
Dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của triết học D.Hium, I.Kant đã xây dựngnên hệ thống triết học của mình, ông cho rằng nhiệm vụ hàng đầu là phải xácđịnh bản chất của con người, toàn bộ các vấn đề triết học phải được hướng vàogiải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người
1.2 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của I.Kant
I.Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 t ại Konixbec Năm 1740, I.Kanthọc triết học tại trường Đại học tổng hợp Konixbec Năm 1746, I.Kant tốt
nghiệp loại xuất sắc với luận văn: “Những suy nghĩ về sự đánh giá đúng đắn
của lực sống” Trong đó ông đã trình bày nguyên tắc sống của mình: “Đối với chúng ta điều đáng quý nhất không phải là đi theo những lối mòn đã có, mà
Trang 7phải biết đi theo con đường mà loài người cần đi” [9, 24] Suốt đời I.Kant đãsống theo nguyên tắc đó và ông đã khá thành công trong sự nghiệp Năm
1755 I.Kant bắt đầu giảng dạy siêu hình học và các môn khoa học tự nhiên ởKonixbec Năm 1770, I.Kant chủ yếu quan tâm đến vấn đề triết học và đã đểlại cho nhân loại một hệ thống triết học độc đáo và sâu sắc Tác phẩm đầu tiên
đánh dấu sự chuyển biến đó là “Phê phán lý tính thuần túy”.
Ngày 12 tháng 2 năm 1804 I.Kant trút hơi thở cuối cùng với nụ cười trên
môi và câu nói “Thế là tốt rồi” Triết học I.Kant được chia làm hai thời kỳ:
Thời kỳ tiền phê phán và thời kỳ phê phán:
Thời kỳ tiền phê phán (1745 - 1769) I.Kant chủ yếu nghiên cứu các vấn
đề toán học, cơ học, thiên văn học Bên cạnh những quan niệm duy vật thời
kỳ này tư tưởng của ông còn xuất hiện sự bế tắc trong việc tìm kiếm và giảiquyết các vấn đề triết học
Thời kỳ phê phán (1770 - 1804), nếu trước đây I.Kant thừa nhận conngười có khả năng nhận thức thế giới, thì giờ đây ông lại cho rằng con ngườikhông nhận thức được thế giới – bất khả tri, trước đây ông đề cao trí tuệ thìnay ông lại đề cao tín ngưỡng I.Kant phủ nhận khả năng nhận thức bản chấtcủa sự sống, ông cho rằng thực thể và tinh thần, hiện thực và tư tưởng là hailĩnh vực hoàn toàn khác nhau, không có liên quan gì với nhau Từ đó, I.Kanthoài nghi khả năng nhận thức thế giới nói chung của con người Với phương
châm “thời đại chúng ta là thời đại phê phán đích thực mà mọi thứ đều phải
“Phê phán lý tính thuần túy” của I.Kant được mọi người thừa nhận là tácphẩm nền tảng của triết học cổ điển Đức Nó là chỗ kết tinh những nhận định
có tính phê phán đối với nhiều trào lưu triết học trước đó (từ Platôn cho tớiWolff), đồng thời là điểm xuất phát và điểm quy chiếu của triết học cổ điểnĐức và có ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển của triết học phương Tây chotới ngày nay
Trang 8Trong ba quyển “Phê phán” nổi tiếng của I.Kant (Phê phán lý tính thuần
túy; Phê phán lý tính thực hành và Phê phán năng lực phán đoán), tác phẩmnày có vị trí đặc biệt, nó là kết tinh những kết quả nghiên cứu trong cả mộtquá trình lâu dài và đầy trăn trở của I.Kant.Ngoài Lời tựa và Lời dẫn nhập,
“Phê phán lý tính thuần thúy” gồm có hai phần chính:
Phần I: Cảm năng học siêu nghiệm gồm hai chương: về không gian vàthời gia; về hai vật liệu chính bên trong của cảm năng, tức hai mô thứcthuần túy của trực quan cảm tính, trụ cột thứ nhất của nhận thức
Phần II: Lôgic học siêu nghiệm nghiên cứu về hai nhóm vật liệu khác:
a Phân tích pháp siêu nghiệm
b Biện chứng pháp siêu nghiệm
2.NỘI DUNG TRONG QUAN NIỆM CỦA I.KANT VỀ "VẬT TỰ NÓ"
Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của khoa học tự nhiên lý thuyết cuối thế kỷXVII – XVIII, cũng như nhiều nhà triết học cận đại, I.Kant đòi hỏi tri thứckhoa học và triết học một sự hoàn hảo tuyệt đối và coi đó chính là lý tưởngcủa tri thức con người Do chưa thoát khỏi quan niệm siêu hình, nên I.Kantcho rằng mọi sự vật trong thế giới bên ngoài chúng ta chỉ tồn tại dưới dạngđơn nhất, cá biệt – thế giới hiện tượng Điều đó buộc I.Kant phải lựa chọnmột trong hai quan niệm sau:
Thứ nhất: Nếu như khẳng định mọi tri thức chúng ta đều là sự phản ánh
các sự vật của thế giới khách quan bên ngoài, thì phải thừa nhận mọi khoa học
và triết học đều chỉ dựa trên những tri thức đơn lẻ, ngẫu nhiên
Thứ hai: Nếu đòi hỏi tính phổ quát và tất yếu của tri thức triết học và
khoa học thì phải thừa nhận nguồn gốc của chúng không phải là sự phản ánhhiện thực khách quan, mà là kết quả sáng tạo của trí tuệ con người
Đứng trước sự lựa chọn trên, I.Kant đã lập luận: Để đạt được mục đích
xây dựng nền tảng tri thức tiên nghiệm của khoa học và tri thức, I.Kant buộc phải thừa nhận “Vật tự nó” (ding an sich) không nhận thức được, mọi tri
Trang 9thức con người không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan tức là “Vật
tự nó”.
Vậy “Vật tự nó” trong quan niệm của I.Kant được hiểu như thế nào?Sau đây chúng ta cùng đi sâu vào tìm hiểu
2.1 “Vật tự nó” và “Thế giới vật tự nó” trong quan niệm của I.Kant
Trong từ điển triết học có định nghĩa : “Vật tự nó là những vật tự nó tồn
Về phương diện nhận thức luận, khái niệm “Vật tự nó” bao hàm những
sự vật tồn tại khách quan, tự nó, không phụ thuộc vào mọi hình thức cảmtính và nhận thức lôgic của con người Về nguyên tắc, con người khôngthể nhận thức được “Vật tự nó” I.Kant gọi “Vật tự nó” là khái niệm đángnghi ngờ… nhưng tồn tại khách quan và không thể nhận thức được bằng mọicách Khái niệm “Vật tự nó” nghĩa là vật cần phải được nhận thức không phảinhư đối tượng cảm tính mà như vật tồn tại tự nó, và để nhận thức được “Vật
tự nó” thì con người cần phải có trực quan trí tuệ phi cảm tính, nhưng trênthực tế con người lại không có khả năng đó vì thế con người không thể nhậnthức được nó Còn lý tính thuần túy của con người không thể đạt được “Vật
tự nó” Suy cho cùng, nhận thức của con người chỉ là hữu hạn và chỉ dừng lại
ở hiện tượng chứ không thể đạt đến bản chất Đây chính là giới hạn không thể
vượt qua được của nhận thức con người “Con người không thể đạt đến thế
giới đó bằng trực quan cảm tính, bởi trực quan chỉ là biểu tượng về hiện tượng, còn những sự vật mà chúng ta trực quan, tự chúng như thế nào, chúng
ta không thể biết được Điều này có nghĩa là, các sự vật nó nằm ngoài giới hạn của trực quan cảm tính, chúng không phải là đối tượng của triết học lý
Trong cuốn Phê phán lý tính thuần túy, I.Kant đã đưa ra giải pháp để
khắc phục sự hạn chế của lý tính bằng cách, ông cho nhận thức của conngười quay trở về với cái Tôi, và dùng tiên nghiệm để tiến vào vùng mà lý
Trang 10Để hiểu đúng được bản chất của “Vật tự nó” điều đó không hề dễ “Vật
tự nó” của I.Kant thực chất nó thuộc “điểm mù của lý tính” và con người chỉ
có thể hiểu nó bằng apriori (tiên nghiệm)
Tiên nghiệm: trong triết học kinh viện, khái niệm tiên nghiệm là những
khái niệm chung rộng nhất, vượt ra ngoài giới hạn của tất cả các khái niệmchung khác, nói lên những tính phổ biến mà người ta nhận thức được bằng
trực giác trước khi có mọi kinh nghiệm Kant viết: “Tôi gọi bất kỳ nhận
thức nào, không phải là về đối tượng mà là về những hình thức của nhận thức về đối tượng là tiên nghiệm, bởi vì nhận thức đó chỉ có một cách tiên
mà I.Kant gọi là “Vật tự nó” I.Kant đã rất vĩ đại khi chỉ ra được sự hạn chếcủa lý tính, và sự sai lầm trong quan điểm khi cho rằng con người có thể dùng
lý tính để biết được tất cả
Thông qua các cảm giác của mình, con người chỉ biết được về sự vậtvới cái vỏ bề ngoài của nó, chỉ biết được những gì mà nó biểu hiện ra bênngoài, tức là hiện tượng, vì thế con người không bao giờ biết được bản chấtđích thực của sự vật – Vật tự nó Vì vậy, nhận thức luận của I.Kant khôngphải là nghiên cứu quá trình con người đi sâu khám phá ra bản chất đích thựccủa sự vật mà là hoạt động nhận thức trong khuôn khổ thế giới hiện tượng.Hiện tượng luận là giới hạn của nhận thức lý tính thuần túy của con người.Như vậy, các sự vật thuộc thế giới “Vật tự nó” mặc dù tồn tại khách quannhưng lại thuộc thế giới bất khả giác – siêu nghiệm Con người chỉ có thể quanniệm được (trong ý thức, tư duy) về thế giới đó bằng tri thức tiên nghiệm mangtính chất phổ quát khả nghiệm, và điều đó tất yếu phải dựa vào năng lực phánđoán tiên nghiệm (phân tích, tổng hợp) có trong toán học, khoa học tự nhiên lýthuyết và siêu hình học chứ không thể nhận thức được bằng tri giác cảm tính và
kinh nghiệm I.Kant viết: “Trong luận giải, đối với vật tự nó, phải dùng tri
thức tiên nghiệm…” I.Kant thừa nhận sự khác biệt giữa “Hiện tượng” và “Vật
tự nó”, sự khác biệt này đã trở thành luận điểm trung tâm trong hệ thống triết