1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tư tưởng của khổng tử về giáo dục và sự ảnh hưởng của “nhân lễ nghĩa” tới đời sống xã hội hiện nay tiểu luận cao học

16 351 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 259 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTrong thập niên đầu thế kỷ XXI, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão. Việc bùng nổ thông tin và xu thế quốc tế hóa của thời đại đã đặt ra những vấn đề về lối sống, về quan hệ ứng xử, sử dụng các thành tựu của khoa học thực tiễn... Trong cầu trường như vậy, không thể không bàn đến vấn đề văn hoá; bởi các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương... biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển. (Nghị quyết Hội nghị thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII).“Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Tiếp tục kế thừa văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI khẳng định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội”. Tuy nhiên, bên cạnh tiến bộ đã đạt được, giáo dục ở nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập mà Đảng quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp. Chưa giải quyết đồng bộ 3 nhiệm vụ của giáo dục: “dạy chữ”, “dạy nghề” và “dạy người”. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục”, vì vậy việc nghiên cứu “Tư tưởng của Khổng Tử về giáo dục và sự ảnh hưởng của “Nhân Lễ Nghĩa” tới đời sống xã hội hiện nay” là vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bão Việc bùng nổ thông tin và xu thế quốc tế hóa của thời đại đã đặt ra những vấn đề về lối sống, về quan hệ ứng xử, sử dụng các thành tựu của khoa học thực tiễn Trong cầu trường như vậy, không thể không bàn đến vấn đề văn hoá; bởi "các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động

xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển" (Nghị quyết Hội nghị thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII)

“Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Tiếp tục kế thừa văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XI khẳng định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội” Tuy nhiên, bên cạnh tiến bộ đã đạt được, giáo dục ở nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập mà Đảng quan tâm nhất là chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp Chưa giải quyết đồng bộ 3 nhiệm

vụ của giáo dục: “dạy chữ”, “dạy nghề” và “dạy người” Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục”, vì

vậy việc nghiên cứu “Tư tưởng của Khổng Tử về giáo dục và sự ảnh hưởng của “Nhân - Lễ - Nghĩa” tới đời sống xã hội hiện nay” là vấn đề hết sức cần

thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

Trang 2

PHẦN I

TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ

I Sơ lược về cuộc đời của Khổng Tử:

Khổng Tử (551-479TCN) tên là Khâu, tự là

Trọng Ni, ông là nhà triết học, nhà chính trị và là

nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc cổ đại Tổ

tiên Khổng Tử là người nước Tống dời sang nước

Lỗ Ông được sinh ra ở nước Lỗ - nơi bảo tồn

nhiều di sản văn hóa nhà Chu

Khổng Tử được 3 tuổi thì bố mất Là người

thông minh, lớn lên trong thời loạn lạc, các nước chư hầu gây họa binh đao, tranh giành quyền binh, chiến tranh liên miên hàng thế kỷ khiến trăm họ lầm than, điêu đứng từ đó Khổng Tử ôm mộng binh bang, tế thế, lập trí giúp nước, cứu đời, thực thi những hoài bão của mình Song tới năm 35 tuổi, Khổng Tử không được vua các nước chư hầu tin dung nên bèn về quê hương mở trường dạy học theo đúng lễ xuất xứ của bậc đại quân tử “Tiến vi quan, đạt vi sư” Học trò khắp nơi đến theo học Họ kính cẩn gọi ông là tiên sư, học trò của ông đã có lúc lên đến 3000 người, trong đó nổi lên là Nhan Hồi và Tăng Sâm Khổng Tử có 4 năm làm quan tại nước Lỗ với các chức vụ: Đại tư khấu, Nhiếp tướng sự Nhưng vua nước Lỗ hoang dâm, mê đắm tửu sắc, không màng tới chính sự Từ đó Khổng Tử đã nhìn thấy kết cục chẳng có gì tốt đẹp

ở nhà vua, cho nên ông xin từ quan về quê dạy học và toàn tâm nghiên cứu,

Trang 3

xác định lại các loại sách đời trước và viết bộ Xuân Thu nổi tiếng Khổng Tử thọ 73 tuổi

II Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử:

Hạt nhân tư tưởng của Khổng Tử đề xướng và xuyên suốt truyền bá trong các lớp môn sinh là “ nhân”, chữ nhân theo quan niệm của Ông mang một ý nghĩa rộng lớn, gắn bó chặt chẽ với đạo - đạo đức - lòng yêu thương con người, yêu thương vạn vật Theo Khổng Tử, gốc của nhân là hiếu lễ nghĩa, trung thực vị tha, xả thân cứu người như chính Khổng Tử đã nói:

“Theo ta, người có đức nhân là: Bản thân mình muốn đứng vững trong cuộc sống thì phải giúp người khác đứng vững trong cuộc sống Mọi việc đều có thể từ mình mà nghĩ đến người khác, có thể nói đó là biện pháp thực hiện điều nhân” (Luận Ngữ - Ung dã) Nhân theo Khổng Tử còn là: “kỷ sở bất dục, vi thư ư nhân” Để thực hiện được Nhân, Khổng Tử cho rằng con người phải có

lễ Lễ là các quy phạm đạo đức hợp thành một hệ thống quy tắc xử thế Trong suốt cuộc đời làm thầy của mình, bên cạnh dạy chữ, bao giờ Khổng Tử cũng chú trọng vào dạy người, ở đây đề cao thuyết đức trị

Từ nội dung của học thuyết mà Khổng Tử đã áp dụng vào giáo dục mang tính nhập thế và tích cực Ông đề xướng “thuyết tôn hiền” Những tư tưởng ấy của Khổng Tử trong bối cảnh rối ren của xã hội đương thời rất khó thực hiện, song đó là những quan niệm có giá trị được thế hệ sau kế thừa, phát triển và đến nay vẫn còn đáng trân trọng về nội dung, chủ trương và cả phương pháp giáo dục

1 Mục tiêu giáo dục:

Là đào tạo, bồi dưỡng người “nhân”, “quân tử” để làm quan, điều hòa mâu thuẫn giai cấp, “khôi phục lễ nghĩa” trong xã hội đầy rối ren Xét về mặt chính trị về cơ bản là bảo thủ, ít tiến bộ, nhưng về giáo dục thì mang tính tiến

bộ và vượt thời đại

Khổng Tử cho rằng học là để ứng dụng, để có ích với đời, với xã hội, chứ không phải chỉ để làm quan sang, bổng hậu Tiếp đó, học để hoàn thiện

Trang 4

nhân cách, để làm người quân tử với chí khí của bậc đại trượng phu - hình mẫu của con người trong xã hội phong kiến Người quân tử trước hết phải tu dưỡng đạo đức thì mới có thể làm việc lớn (tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) Khổng Tử quan niệm: “người quân tử ăn không được đầy đủ, ở không được yên vui, làm việc siêng năng và thận trọng với lời nói, tìm người đạo đức để sửa mình; như vậy mới được coi là người ham học” Thứ ba mới là học để tìm tòi điều lý, ký đó là của trời đất vạn vật rất phức tạp Khi tìm ra được hệ thống điều lý thì có thể hiểu được sự khác nhau của sự vật Với quan điểm này, giáo dục góp phần làm nên bản chất xã hội của con người Với mục đích này, Khổng Tử đã thể hiện tư tưởng vượt thời đại, một xã hội muốn phát triển vững mạnh phải có con người đủ đức, đủ tài Vì thế Đảng và Nhà nước ta chủ trương giáo dục là quốc sách hàng đầu góp phần xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội

Tuy nhiên, mục đích giáo dục của Khổng Tử là nhằm thực hiện mục đích chính trị của Nho gia, là thể hiện tư tưởng thân dân của nhà cầm quyền Bởi vì người làm quan có giáo dục sẽ hiểu được chức phận của mình không làm điều hại dân, người dân có giáo dục sẽ hiểu được nghĩa vụ và quyền lợi của mình để thực hiện

2 Chủ trương giáo dục của Khổng Tử:

Trong “Luận ngữ”, Khổng Tử chủ trương “hữu giáo vô loại”, bất cứ ai chỉ cần “đem cho thầy một bó nem” là ông đều nhận làm học trò, không phân biệt giai cấp, quý tiện, sang hèn Tư tưởng này được học trò Mạnh Tử kế thừa

và phát huy đường lối bình dân giáo dục của Khổng Tử trên phạm vi quảng đại, với các hình thức đa dạng Khác với Khổng Tử, Mạnh Tử chủ trương hình thành một mạng lưới trường công từ làng đến kinh đô, từ trường hương học đến trường quốc học, đó là trường để giáo hóa dân chúng Hệ thống trường học mở rộng theo quan niệm của Mạnh Tử là điều kiện, là biện pháp thiết thực để bình dân giáo dục

Trang 5

3 Nội dung giáo dục:

Nội dung giáo dục luân lý đạo đức của Khổng Tử được thể hiện trong

“Luận ngữ” “Luận ngữ” chủ trương rèn luyện tính thiện cho dân bằng phương pháp “cất nhắc người tốt, dạy dỗ người không tốt thì dân khuyên nhau làm điều thiện” (4, tr 40) Mục đích giáo dục đều thể hiện cho dân không làm điều ác, không phạm tội Nếu không giáo hóa dân, để dân phạm tội rồi giết, như vậy tàn ngược Với quyết định này, thì trước hết phải dạy cho dân biết điều thiện, ác để mà thực thi

Những chủ trương của Khổng Tử, là những nội dung giáo dục nhằm phục vụ quan điểm chính trị, nhằm cải tạo xã hội đương thời Ông tuyệt nhiên không phải dạy “văn học”, dạy “ngôn ngữ” Khổng Tử rất coi trọng việc học Kinh Thi, không học Kinh Thi thì không biết gì để nói Theo Khổng Tử, Kinh Thi có thể làm cho phấn khởi, có thể làm cho ta đoàn kết, có thể làm cho ta biết căm thù, gần thì để thờ cha mẹ, xa thì thờ vua, nhưng căn bản là bồi dưỡng đức hạnh, kiến thức, để “thờ cha”, “thờ vua”

Ngoài ra, nội dung giáo dục của Khổng Tử còn thể hiện trong việc giáo hóa huấn luyện kỹ năng thực hành cho dân Khổng Tử cho rằng “Bậc thiện dạy dân bảy năm thì có thể dung dân vào việc chiến đấu được”, “đưa dân không được dạy dỗ ra đánh giặc, tức là bỏ dân” (4 tr 227) Quan niệm này thể hiện trong quan niệm của Khổng Tử ít nhiều quý trọng sinh mệnh con người,

dù đó là tính mạng của tứ dân bách tính tầm thường Nguyễn Hiến Lê cho rằng: dạy dân tới bảy năm mới đưa ra trận, cổ kim chưa thấy bao giờ Quả đúng như vậy! Sau bảy năm người dân được giáo hóa rèn luyện, sẵn sang xông pha nơi trận mạc, liều chết với giặc để giữ nước

Tuy nhiên trong lĩnh vực huấn luyện kỹ năng thực hành cho dân, Khổng Tử không tránh khỏi những hạn chế xã hội Trung Hoa thuở ấy là xã hội nông nghiệp, thế mà Khổng Tử không dạy cách làm ruộng làm vườn Khi Phàn Trì xin ông dạy cách trồng cây, thì ông đã trách rằng: “Gã Phàn Trì chí nhỏ hẹp lắm thay! Người bề trên chỉ cần học đủ lễ, nghĩa, tín thì dân chúng bốn phương sẽ đem đến phục dịch mình Cần khi phải học nghề cày cấy”

Trang 6

(Luận Ngữ; Tử Lộ) Khổng Tử coi việc làm ruộng là của kẻ tiểu nhân, còn kẻ

sỹ “hà tất phải học làm ruộng” Đây là tư tưởng xem thường chân tay của Khổng Tử Không chỉ xem thường kẻ lao lực, Khổng Tử còn không tin vào khả năng nhận thức của họ Khổng Tử viết “Dân khả sự do chi, bất khả sự tri chi” (4, tr 143), đây là chủ trương “ngu dân” của Khổng Tử Tuy nhiên Ông chủ trương “hữu giáo vô loài”, đây là mâu thuẫn giữa tư tưởng thân dân và lập trường quý tộc của ông Về sau tư tưởng này được Mạnh Tử khắc phục

4 Phương pháp giáo dục:

Về mặt phương pháp dạy học ông có một số quan điểm cá biệt có tính chất duy vật chất phác tiến bộ, đến nay vẫn còn ý nghĩa thời sự trong việc dạy học và cách tổ chức thi cử ở nước ta hiện nay Phương pháp giáo dục của Khổng Tử thể hiện:

Thứ nhất, học như thế nào?

Theo Khổng Tử người học phải có nhu cầu nhận thức, ham hiểu biết, khám phá cái mới; phải độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình nhận thức Người dạy không chỉ truyền đạt tri thức mà cái cơ bản là dạy năng lực sáng tạo, dạy phương pháp để người học tự tìm đến tri thức Ông nói: “kẻ nào không cố công tìm kiếm, ta chẳng chỉ vẽ Khi vào không bộc lộ tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho Kẻ nào ta dạy mà không biết hai ta chẳng dạy” Trong quá trình học, Khổng Tử bắt học trò phải suy nghĩ, “học không suy nghĩ thì vô ích Suy tư mà không học thì kết quả cũng chỉ bằng không” (Luận Ngữ) Với quan điểm này, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc nêu:

“đổi mới phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục, phát huy tính tích cực và năng lực chủ động, sáng tạo của người học, thực hiện cân đối, hợp lý dạy kiến thức – dạy nghề - dạy người trên cơ sở lấy dạy người làm căn bản, nhằm đào tạo con người có nhân cách và bản lĩnh có đủ kiến thức cần thiết,c

ó năng lực lành nghề”

Ngoài ra, Khổng Tử còn đề cao việc ứng dụng vào cuộc sống những điều đã học Ông nói: “Như có ai đã đọc thuộc hết ba trăm thiên trong Kinh Thi, được bật quốc trưởng trao quyền hành chính cho mình, nhưng cai trị

Trang 7

chẳng xuôi; được phái đi sứ đến các nước ở bốn phương, nhưng tự mình chẳng có tài ứng đối, người ấy dẫu học nhiều cũng trở nên vô ích” (Luận Ngữ, Tử Lộ) Quan điểm này được Đảng và Nhà nước ta tiếp tục kế thừa, trong Văn kiện Đại hội X khẳng định: mở rộng qui mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức

Thứ hai, thái độ của người học và người dạy:

Đối với người học:

Theo Khổng Tử, ngoài học Thầy, học trong sách vở còn học cả trong cuộc sống “ba người cùng đi, tất có người làm thầy; lựa cái hay của người này

mà học, xét cái quấy của người kia mà tự sửa mình” (Luận Ngữ),

VỀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO CON NGƯỜI CỦA NHO GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THANH MAI

Tóm tắt

Một trong những nội dung quan trọng của Nho giáo là bàn về con người và đào tạo con người Vì là sản phẩm của xã hội phong kiến nên Nho giáo vẫn còn có những hạn chế nhất định Tuy nhiên, trong lĩnh vực đào tạo, giáo dục con người, Nho giáo cũng có những đóng góp đáng kể Trên tính thần tiếp thu có phê phán tư tưởng Nho giáo, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những quan điểm giáo dục có giá trị, là định hướng cho sự nghiệp giáo dục ở nước ta ngày nay

Nho giáo là triết thuyết lớn trong lịch sử tư tưởng phương Đông Với

lịch sử hơn 2500 năm, Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Là một học thuyết chính tri – đạo đức, Nho giáo đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục, đào tạo con người Nho giáo cho rằng, giáo hóa con người là một trong những nhiệm vụ cơ bản của nhà cầm quyền

Trang 8

và cũng là phương tiện hữu hiệu để đưa xã hội từ “loạn” (loạn lạc) thành

“bình” (thái bình, thịnh trị)

Ngày nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nhân tố con người và việc phát huy vai trò năng động chủ quan của con người là điều kiện tiên quyết để phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay đang có những vấn đề bức xúc trước đòi hỏi của sự phát triển và hội nhập Một trong những vấn đề bức xúc đó là việc tìm tòi và vận dụng một triết lý thích hợp cho nền giáo dục mới, vừa phát huy được kinh nghiệm truyền thống của dân tộc, vừa mang tính hiện đại để sánh vai với các cường quốc trên thế giới Nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã có hàng ngàn năm theo Nho học Mặc dù, quan điểm giáo dục và đào tạo con người của Nho giáo có những hạn chế nhất định, song vẫn có mặt tích cực Do vậy, nghiên cứu quan niệm của Nho giáo về vấn đề đào tạo con người là cần thiết Bài viết chỉ ra một số nội dung

cơ bản của Nho giáo về vấn đề đào tạo con người và sự vận dụng của Hồ Chí Minh Chúng ta có thể kế thừa tư tưởng đó trong sự nghiệp “trồng người” ở Việt Nam hiện nay

1 Đào tạo con người là một nội dung quan trọng của Nho giáo

Thời Xuân Thu – Chiến quốc, loạn lạc, chiến tranh liên tục xảy ra Khổng Tử nói rằng đó là thời kỳ “quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ,

tử bất tử”(vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con)[1, tr.483] Những cuộc chiến tranh đều nhằm mục đích tranh bá, tranh vương Mạnh Tử nói rằng: “đánh nhau giành đất, giết người thây chất đầy đồng, đánh nhau giành thành, giết người thây chất đầy thành”[2, tr.26-27] Sinh ra và lớn lên trong thời loạn lạc, Khổng Tử nhận thấy rằng xã hội bất ổn, có chiến tranh là do con người “vô đạo” (không có đạo đức), do vậy, theo ông, cần phải đưa con người trở về “hữu đạo” (có đạo đức) bằng cách “giáo hóa” (giáo dục)

Nho giáo là học thuyết quan tâm đặc biệt đến vấn đề con người Khi bàn về con người, các nhà nho đưa ra học thuyết “tính người” Theo họ, tính người là cái bẩm sinh, là cái “tiên thiên” (có nguồn gốc từ trời, là nguyên lý tự

Trang 9

nhiên mà trời phú cho con người và con người bẩm thụ lấy) Khái niệm “tính người” của các nhà nho có nội hàm hẹp hơn (chỉ nói đến cái bẩm sinh), nhưng ngoại diên của nó lại rộng hơn

Trong thiên Dương Hóa, Khổng Tử nói: “bản tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa nhau” (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã) [1,

tr.614] Ở đây, Khổng Tử mới chỉ nói một cách chung chung rằng lúc đầu tính người ta đều giống nhau, nhưng sau do nhiều cái bên ngoài tác động mà khiến người ta khác nhau Khổng Tử chưa giải thích một cách rõ ràng về bản tính con người là thiện hay ác Đến Mạnh Tử, ông đã nói một cách cụ thể hơn về tính người: “Nhân chi sơ, tính bản thiện” Theo ông, tính thiện được thể hiện

ở tứ đức: nhân, nghĩa, lễ, trí Nhờ có các đức ấy mà người ta mới khác loài

cầm thú Ông cho rằng con người khác loài cầm thú chỉ có vậy, nếu giữ được

là người quân tử, không giữ được là tiểu nhân Tứ đức ấy có nguồn gốc từ “tứ đoan” (bốn đầu mối), ông nói: “Do đó mà xét, không có lòng trắc ẩn, chẳng phải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải là người; không có lòng từ nhượng, chẳng phải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải là người vậy Lòng trắc ẩn là đầu mối của điều nhân, lòng tu ố là đầu mối của điều nghĩa,

lòng từ nhượng là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy” (Do thị quan chi: vô trắc ẩn chi tâm, phi nhân dã; vô tu ố chi tâm, phi nhân dã; vô từ nhượng chi tâm, phi nhân dã; vô thị phi chi tâm, phi nhân dã Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; tu ố chi tâm nghĩa chi đoan dã; từ nhượng chi tâm, lễ chi đoan dã; thị phi chi tâm, trí tri đoan dã)[1, tr.861] Mạnh Tử cho rằng,

người ta có bốn đầu mối nêu trên ví như người có hai tay, hai chân vậy Vì con người có nhân, nghĩa, lễ, trí nên con người khác loài cầm thú Theo ông, những quy phạm đạo đức ấy mới chỉ manh nha ở trong lòng con người, vì vậy, con người mới khác loài vật là có “thiện đoan” (tính thiện) Do đó, nếu con người biết nuôi dưỡng thiện đoan thì có thể trở thành bậc thánh nhân Ngược lại, nếu để thiện đoan bị mai một đi thì con người trở nên ích kỷ, nhỏ nhen không khác gì loài cầm thú Từ những nội dung trên, ta có thể thấy, Mạnh Tử nói về tính thiện của con người là để chỉ cái bản chất của con người,

để phân biệt với các tồn tại khác

Trang 10

Đối lập với thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử, Tuân Tử lại đưa ra thuyết

“tính ác” Ông viết: “Tính của con người là ác, còn thiện là do con người làm

ra Tính của con người, sinh ra là có sự hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành

ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự từ nhượng không có; sinh ra là đố kỵ, thuận theo tính đó thì thành ra tàn tặc, mà lòng trung tín không có; sinh ra có lòng ham muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa văn lý không có Như thế thì theo cái tính của người ta, thuận cái tính của người ta, tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận, làm loạn cái lý mà mắc lỗi tàn bạo Cho nên phải có thầy, có phép tắc để cải hóa đi, có

lễ nghĩa để dẫn dắt nó, rồi sau mới có từ nhượng, hợp văn lý mà thành ra trị Xét vậy mà thấy rõ tính của con người là ác, mà cái thiện là do con người làm

ra vậy”

(Nhân chi tính ác, kỳ thiện giả ngụy dã Kim nhân chi tính, sinh nhi hữu hiếu lợi yên, thuận thị, cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên Sinh nhi hữu tật ác yên, thuận thị, cố tàn tặc sinh nhi trung tín vong yên; sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu hiếu thanh sắc yên, thuận thị cố dâm loạn sinh, nhi

lễ nghĩa văn lý vong yên Nhiên tắc tòng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tuất xuất vu tranh đoạt hợp vu phạm phận, loạn lý nhi quy ư bạo Cố tất tương hữu sư pháp chi hóa, lễ nghĩa chi đạo, nhiên hậu xuất từ nhượng, hợp

vu văn lý nhi quy vu trị Dụng thử quan chi; nhiên tắc nhân chi tính ác minh

hỹ, kỳ thiện giả ngụy dã)[3, tr.354].

Theo Tuân Tử, lòng hiếu lợi, lòng đố kỵ và ham muốn dục vọng là đầu mối của tính người (tính ác), khi mới sinh ra đã có rồi Còn các đức nhân, nghĩa, lễ, trí là do bậc thánh nhân đặt ra, chứ không phải do trời sinh ra Ở đây, Tuân Tử thừa nhận “Tứ đoan”, nhưng khác với Mạnh Tử, “Tứ đoan” ấy không có sẵn mà phải qua giáo dục mới có được Ở luận điểm này, Tuân Tử

đã nhận thấy vai trò tác động của nhân tố xã hội, của sự học tập đối với tính người Từ đó, Tuân Tử chủ trương học theo lễ nghĩa để hoàn thiện con người,

đề cao việc giáo hóa con người nhằm điều tiết cái bản năng, hướng con người tới cái thiện: “Tính ác của người ngày nay, tất phải có việc học tập trước rồi

Ngày đăng: 20/08/2017, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w