tim hieu hệ thống giáo dục việt nam qua các thời kỳ
Trang 1Giáo dục và Khoa cử cac' thời
Trang 2Mục lục
1.1 Hệ thống giáo dục 1
1.2 Chế độ khoa cử 1
1.3 Các kỳ thi 1
1.4 Xem thêm 1
1.5 am khảo 2
1.6 Chú thích 2
2 Giáo dục khoa cử thời Lê sơ 3 2.1 Hệ thống trường học 3
2.2 Tài liệu học tập 3
2.3 Chế độ khoa cử 3
2.3.1 i Hương 4
2.3.2 i Hội 4
2.3.3 i Đình 4
2.4 Xem thêm 4
2.5 am khảo 4
2.6 Chú thích 5
3 Giáo dục khoa cử thời Mạc 6 3.1 Hệ thống trường học 6
3.2 Tài liệu học tập 6
3.3 Chế độ khoa cử 6
3.3.1 Các khoa thi 6
3.4 Nhận định 7
3.5 Xem thêm 7
3.6 am khảo 7
3.7 Chú thích 7
4 Giáo dục khoa cử thời Nguyễn 8 4.1 Trường sở 8
4.2 Sách giáo khoa 9
4.3 Đánh giá 9
i
Trang 3ii MỤC LỤC
4.4 am khảo 9
4.5 Chú thích 9
4.6 Xem thêm 9
5 Giáo dục Việt Nam Cộng hòa 10 5.1 Tổng quan 10
5.1.1 Tỷ lệ người đi học 11
5.2 Triết lý giáo dục 11
5.3 Mục tiêu giáo dục 12
5.4 Giáo dục tiểu học và trung học 12
5.4.1 Giáo dục tiểu học 13
5.4.2 Giáo dục trung học 13
5.4.3 Các trường tư thục và ốc gia Nghĩa tử 14
5.5 Giáo dục đại học 15
5.5.1 Mô hình các cơ sở giáo dục đại học 15
5.5.2 Các viện đại học công lập 16
5.5.3 Các viện đại học tư thục 17
5.5.4 Các học viện và viện nghiên cứu 17
5.5.5 Các trường đại học cộng đồng 17
5.5.6 Các trường kỹ thuật và huấn nghệ 18
5.5.7 Các trường nghệ thuật 18
5.5.8 Các trường giáo dục bình dân 18
5.5.9 Sinh viên du học ngoại quốc 18
5.6 Tài liệu và dụng cụ giáo khoa 18
5.7 Nhà giáo 19
5.7.1 Đào tạo giáo chức 19
5.7.2 Đời sống và tinh thần giáo chức 19
5.8 i cử và đánh giá kết quả học tập 20
5.9 Tổ chức quản trị 20
5.9.1 Hệ thống quản trị giáo dục 20
5.9.2 Những người làm giáo dục 21
5.9.3 Các kỳ đại hội giáo dục quốc gia 22
5.9.4 Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu 22
5.10 Trợ giúp của quốc tế 22
5.11 Chữ viết 23
5.12 Các thành tựu và khuyết điểm 23
5.12.1 ành tựu 23
5.12.2 Khiếm khuyết, hạn chế của nền giáo dục 24
5.12.3 Nguyên nhân khuyết điểm, hạn chế 24
5.12.4 Các đề xuất, dự án cải tổ 25
5.13 Đánh giá 25
5.14 Các vấn đề khác 26
Trang 4MỤC LỤC iii
5.14.1 Sự tham gia của Hoa Kỳ theo nhận xét của đối phương 26
5.14.2 Các phong trào phản chiến và chống Mỹ 27
5.15 Xem thêm 27
5.16 Chú thích 27
5.17 am khảo 30
5.18 Liên kết ngoài 31
6 Giáo dục Việt Nam Dân ủ Cộng hòa 32 6.1 Những quy định trong hiến pháp 32
6.2 Giáo dục tiểu học và trung học 32
6.2.1 Học sinh 32
6.3 Trường dạy nghề 33
6.4 Giáo dục đại học 33
6.4.1 Các cơ sở giáo dục đại học 33
6.4.2 Số sinh viên 34
6.5 Nhận xét về hệ thống giáo dục 34
6.6 Xem thêm 34
6.7 Chú thích 34
6.8 Liên kết ngoài 34
7 Bộ Giáo dục và Đào tạo (Việt Nam) 35 7.1 Lịch sử 35
7.2 Chức năng và nhiệm vụ 37
7.3 Lãnh đạo hiện nay 37
7.4 Tổ chức Đảng 37
7.5 Tổ chức chính quyền 37
7.5.1 Cơ quan chức năng 37
7.5.2 Các đơn vị sự nghiệp 38
7.6 Bộ trưởng qua các thời kỳ 38
7.6.1 Bộ trưởng Bộ Giáo dục 38
7.6.2 Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp 38
7.6.3 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 38
7.7 ứ trưởng qua các thời kỳ 38
7.8 Các vấn đề liên quan gần đây 39
7.9 Chú thích 39
7.10 Liên kết ngoài 39
8 Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam 40 8.1 Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam 40
8.1.1 Lịch sử thành lập và nhiệm vụ 40
8.1.2 Các hoạt động 40
8.1.3 Hoạt động xã hội 40
Trang 5iv MỤC LỤC
8.1.4 Phần thưởng 40
8.2 Chi nhánh tại ành phố Hồ Chí Minh 40
8.2.1 Lịch sử thành lập 40
8.2.2 Nhiệm vụ 40
8.2.3 Hoạt động xã hội 41
8.2.4 Giải thưởng 41
8.3 am khảo 41
9 VTV7 42 9.1 Hạ tầng phát sóng và chất lượng hình ảnh 42
9.2 Nội dung 42
9.2.1 Một số chương trình nổi bật 42
9.3 Tranh cãi 42
9.4 Chú thích 43
9.5 Liên kết ngoài 43
9.6 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 44
9.6.1 Văn bản 44
9.6.2 Hình ảnh 44
9.6.3 Giấy phép nội dung 45
Trang 6Chương 1
Giáo dục và khoa cử thời Trần
Giáo dục và khoa cử thời Trần tronglịch sử Việt Nam
phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa cử nước
Đại Việttừ năm1226đến năm1400
1.1 Hệ thống giáo dục
KhiPhật giáođược nhà Trần coi trọng và thịnh hành,
Nho giáođóng vai trò thứ yếu Tuy nhiên Nho học cũng
từng bước thâm nhập vào xã hội qua hệ thốnggiáo dục
Sách học chính được quy định gồm cóNgũ Kinh,Tứ
ư,Bắc sử[1]
Ban đầu chỉ có nhàchùalà nơi dạy chữ Nho và các sách
sử[1] Sau này, nhiều nhà nho vàthái học sinhkhông
làm quan, về nhà dạy học Hệ thống trường lớp tại các
địa phương được hình thành Một trong những người
thầy xuất sắc nhất làChu Văn An
1.2 Chế độ khoa cử
Sau khi thành lập không lâu,nhà Trần bắt đầu thực
hiện chế độ khoa cử để chọn người tài giúp nước Năm
1232,nhà Trầnmở khoa thi đầu tiên Năm 1247, triều
đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu làtrạng
nguyên,bảng nhãn,thám hoavà quy định cứ 7 năm mở
1 khoa thi[1]
Năm 1255,nhà Trầnđặt lệ lấy 2trạng nguyên: 1 kinh
trạng nguyên dành cho các lộ phía bắc và 1 trại trạng
nguyên dành choanh Hóavà Nghệ Anđể khuyến
khích việc học của phương nam Năm 1275 lệ này bãi
bỏ vì không cần thiết nữa[2]
Năm 1304, triều đình quy định rõ nội dung thi 4 trường:
Trường 1: thi ám tả cổ văn
Trường 2: thi kinh nghi, kinh nghĩa, thơ phú
Trường 3: thi chế, chiếu, biểu
Trường 4: thi đối sách
Sau đó triều đình mở kỳ thi Đìnhđể phân hạng cao
thấp chothái học sinh Từ khoa thi năm 1304 có danh
hiệu “hoàng giáp” trong thi cử[3]
Năm 1396,Trần uận Tôngban chiếu quy định cáchthứcthi Hương,thi Hộibằng thể văn 4 kỳ, và định rõ:
“Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, người đỗ thì vua ra một bài văn sách để xếp bục” Lệ thi 4 trường
được quy định lại như sau:
Trường 1: thi kinh nghĩa (bỏ thi ám tả cổ văn) Trường 2: thi thơ phú (một bài Đường luật,
một bài phú thể ly tao hoặc văn tuyển)
Trường 3: thi chế, chiếu, biểu (dùng thể văn
chữ Hán)
Trường 4: thi văn sách
Khoa cuối cùng chưa kịp yết bảng tên người đỗ thì nhàTrần bịnhà Hồgiành ngôi (1400)[4]
Những người đỗ đạt được bổ nhiệm vào chức vụ ở việnHàn lâm, các cơ quan hành khiển, sung vào các phái
bộ sứ thần hoặc tiếp sứ phương Bắc Họ trở thành bộphận quan trọng trong bộ máy nhà nước, có nhữngđóng góp quan trọng trọng lĩnh vực chính trị, ngoạigiao nhưNguyễn Hiền,Mạc Đĩnh Chi,Nguyễn TrungNgạn,Phạm Sư Mạnh,Lê át…
1.4 Xem thêm
• Nhà Trần
• Khoa bảng Việt Nam
• Giáo dục khoa cử thời Lê Sơ
• Giáo dục khoa cử thời Mạc
1
Trang 72 CHƯƠNG 1 GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ THỜI TRẦN
1.5 Tham khảo
• Lê ý Đôn(2007),Kiến văn tiểu lục, Nhà xuất bản
Văn hóa thông tin
• Trương Hữu ýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn
chủ biên (2008), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nhà
Trang 8Chương 2
Giáo dục khoa cử thời Lê sơ
Giáo dục khoa cử thời Lê Sơ tronglịch sử Việt Nam
phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa cử nước
Đại Việttừ năm 1427 đến năm 1527
2.1 Hệ thống trường học
VuaLê ái Tổ chú trọng đến việc đào tạo nhân tài
cho đất nước ngay sau khi lên ngôi Ông ra lệnh cho
các trấn trong nước đều phải xây trường học, mở mang
nền giáo dục trong nước
Tại kinh đô có ốc tử giám và nhà ái học Học
trò ở đây là con em quan lại và những người có học
lực hạng ưu tú tuyển chọn trong dân ầy dạy trong
ốc tử giám gọi chung là Giáo quan, bao gồm các quan
văn trong triều hoặc những người có học vấn uyên bác
trong xã hội
ờiLê ánh Tông, ốc Tử giám được mở rộng, sau
Văn Miếu là nhà ái học, có Minh luận đường là nơi
giảng dạy Ngoài ra, triều đình còn xây thêm Bí thư khố
là kho trữ sách và khu nhà tập thể cho các giám sinh
lưu trú từ nơi xa đến[1]
Học chế thời Lê mở rộng hơn các thời trước, không cấm
con em nhà thường dân đi học như thờinhà Lý,nhà
Trần Tại các lộ đều có trường học, học trò ở đây gọi là
Lộ hiệu sinh Chỉ trừ con nhà hát xướng và người đang
bị tội tù đày, con em các nhà lương thiện đều có thể vào
học tại đây[2] Sang thời Lê ánh Tông, trường lộ đổi
thành trường phủ
Giáo quan giảng dạy tại đây được tuyển từ cácnhà Nho
địa phương Muốn lên học tại ốc Tử giám, học trò ở
trường lộ phải qua sát hạch, lấy những Lộ hiệu sinh học
xuất sắc nhất, nhì
Ngoài các trường do triều đình mở còn có các trường
lớp tư nhân trên khắp toàn quốc do các nhà Nho không
đỗ đạt hoặc đã đỗ đạt nhưng thôi làm quan về dạy học
Dưới thời Lê sơ nói chung và trong thời trị vì củaLê
ánh Tôngnói riêng,Nho giáochiếm vị trí độc tôn;
Phật giáovàĐạo giáobị hạn chế.Phật giáobị đẩy luixuống sinh hoạt ở các làng xã, trong khi đóNho giáo
lại được coi trọng và lên ngôi, đặc biệt là khu vực triềuđình và giới nho học
eo ý kiến của nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, hệthống Nho giáo này do phong kiến nhà Lê bắt chướctheonhà MinhcủaTrung ốc Người học không đượcphát huy ý kiến riêng của mình Kiểu người điển hình
do phương pháp giáo dục này đào tạo là người hủ nhohoàn toàn trung thành với chế độ quân chủ nhà Lê[4]
2.3 Chế độ khoa cử
Việc tuyển dụng quan lại vào bộ máy chính quyền có
3 đường:
1 Đỗ đạt qua thi cử
2 Nhờ quan lại đề cử có bảo đảm (bảo cử)
3 Lấy con cháu công thần hưởng tập tước
Trong ba con đường trên, con đường khoa cử là quantrọng nhất, được triều đình đề cao, chú trọng[1].3
Trang 94 CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC KHOA CỬ THỜI LÊ SƠ
Ngay từ năm 1426, khikhởi nghĩa Lam Sơnchưa kết
thúc, Lê Lợi tiến ra Bồ Đề đã mở kỳ thi đặc biệt, lấy đỗ
30 người Từ khi nhà Lê chính thức thành lập, việc tổ
chức các khoa thi diễn ra đều đặn định kỳ
Có 3 kỳ thi chính và quan trọng nhất làthi Hương,thi
Hộivàthi Đình
2.3.1 Thi Hương
Từ thời Lê ánh Tông, thi Hương có quy định chặt
chẽ, rõ ràng, với yêu cầu: người thi Hương phải là người
dân có đạo đức, cấm người bất hiếu, loạn luân, gian
ngoa; cấm con nhà phản nghịch, con phường chèo, hát
xướng
Người thi Hương phải qua 4 kỳ:
1 Kỳ 1 thi kinh nghĩa về Tứ thư
2 Kỳ 2 thi Ngũ kinh
3 Kỳ 3 thi chiếu, chế, biểu mỗi môn 1 bài
4 Kỳ 4 thi một bài văn trường thiên 1000 chữ
a 4 kỳ thi, ai trúng được 3 kỳ gọi làSinh đồ, khoa
sau lại vào thi; ai trúng 4 kỳ thì gọi làHương cống Đỗ
Hương cống rồi năm sau mới được thi Hội Các tên gọi
Sinh đồ, Hương cống bắt đầu từ năm 1462 niên hiệu
ang uận[5] Định kỳ 3 năm tổ chức 1 lần
2.3.2 Thi Hội
i Hội thuộc hàng đại khoa để các Hương cống cả
nước đua tài ời gian đầu, người đang làm quan dù
chưa đỗ Hương cống vẫn được thi Hội, nhưng từ năm
1486 người làm quan cũng phải đỗ thi Hương mới được
thi Hội
Định kỳ 3 năm tổ chức 1 lần thi Hội, sau năm thi Hương
Từ thời Lê Nhân Tông, thi Hội gồm có 4 kỳ:
1 Kỳ 1 thi Tứ thư, Luận ngữ; 4 đề về Mạnh Tử (thí
sinh được chọn 4 trong 8 đề) Về Ngũ kinh, mỗi
kinh 3 đề cho thí sinh chọn làm 1 đề; riêng kinh
Xuân u có 2 đề nhưng phải gộp vào làm thành
1 bài văn[6]
2 Kỳ 2 thi chế, chiếu, biểu, mỗi thể loại có 3 đề
3 Kỳ 3 thi thơ phú, mỗi thể 2 đề ơ dùng thểĐường
luật, phú dùng thểLý Bạchthường viết
4 Kỳ 4 ra bài văn sách, hỏi những điểm khác nhau
giữa Ngũ Kinh và Tứ ư cùng chính sự xấu, tốt
của các đời trước
Người đỗ thi Hội gọi là trúng cách, người đạt điểm cao
nhất gọi là Hội nguyên
Suốt thời Lê sơ, từ thờiLê ái Tôngtổ chức thi Hội;tổng cộng đến năm 1526 thờiLê Cung Hoàng, nhà Lê
tổ chức 26 khoa thi[6]
2.3.3 Thi Đình
Là cuộc thi dành cho những người đỗ thi Hội, tổ chứctại sân điện, do nhà vua đích thân ra đề Trong số nhữngngười đỗ, chọn ra 3 người cao nhất (gọi là Tam khôi) là
Đệ nhất giáp đệ nhất danh (Trạng nguyên), Đệ nhấtgiáp đệ nhị danh (Bảng nhãn), Đệ nhất giáp đệ tamdanh (ám hoa)
Người đỗ hạng nhì, tức là Đệ nhị giáp, gọi làHoànggiáphayTiến sĩxuất thân Người đỗ Đệ tam giáp gọichung là Tiến sĩ, hay Tiến sĩ xuất thân
Những người đỗ thi Đình rất được trọng vọng, đượcvua ban thưởng áo mũ, thết tiệc, các quan hồng lô làm
lễ xướng danh ở nhà ái học, Bộ Lễ ghi tên vào bảngvàng treo trước cửa Đông hoa, làm lễ vinh quy bái tổ.Đặc biệt, vua Lê ánh Tông còn cho tạc bia tiến sĩdựng trong nhà ái học Họ được triều đình bổ dụnglàm quan ời Lê sơ tổ chức được 26 khoa thi tiến sĩlấy đỗ 989 tiến sĩ 20 trạng nguyên Riêng thời vua Lê
ánh Tông (1460-1497) tổ chức được 12 khoa thi tiến
sĩ lấy đỗ 501 tiến sĩ 9trạng nguyên
Lê ánh Tông khởi xướng và cho lậpbia tiến sĩlầnđầu tiên ởVăn Miếu-ốc Tử Giámvào năm 1484,các đời vua sau này tiếp tục bổ sung thêm các tấm biavinh danh mới
• Giáo dục khoa cử thời Trần
• Giáo dục khoa cử thời Mạc
• Giáo dục khoa cử Đàng Ngoài thời Lê trung hưng
• Giáo dục khoa cử Đàng Trong thời Lê trung hưng
2.5 Tham khảo
• Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội
Trang 102.6 CHÚ THÍCH 5
• Đào Duy Anh (2002), Lịch sử Việt Nam từ nguồn
gốc đến thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Văn hóa ông
tin
2.6 Chú thích
[1] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 353
[2] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 373
[3] Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 338
[4] Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 338-339
[5] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 354
[6] Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 356
Trang 11Chương 3
Giáo dục khoa cử thời Mạc
Giáo dục khoa cử thời Mạc trong lịch sử Việt Nam
phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa cử nước
Đại Việttừ năm 1527 đến năm 1592 trong vùngnhà
Mạckiểm soát
3.1 Hệ thống trường học
ừa kế nềngiáo dụctừ thời Lê sơ,nhà Mạcvẫn dùng
Nho giáolàm tư tưởng chính thống trong việc thể chế
hoá các chính sách cai trị và xây dựng bộ máy triều
đình
ốc Tử Giámvà nhà ái học vẫn là trung tâm giáo
dục lớn nhất cả nước a các cuộc chiến xung đột cuối
thời Lê, nhiều công trình kiến trúc ởVăn Miếubị hư
hại Năm 1536,Mạc ái Tôngsai Mạc Đình Khoa tu
sửa lại trường ốc Tử Giám
Năm 1537, thượng hoàngMạc ái Tổđích thân đến
nhà ái học làm lễ tếKhổng Tử
Tại các lộ trong nước tiếp tục duy trì các trường học
như thời Lê sơ và các trường tư
3.2 Tài liệu học tập
Tài liệu học tập, giảng dạy và thi cử chính thức vẫn như
thời Lê sơ, gồm có:
Nhà Mạcrất chú trọng phát triển nhân tài trong nước
và tổ chức đều đặn các kỳ thi 3 năm 1 lần, từ khi mớithành lập đến năm tồn tại cuối cùng Năm 1592, dùquân Nam triều tiến ra đánh chiếm, chiến sự đã áp sátkinh thànhăng Long,Mạc Mậu Hợpvẫn tổ chức thi
cử đúng định kỳ ở bên kiasông Hồng Việc chọn sĩ tửtới ra đề, quan coi thi, tổ chức thi, lệ ban thưởng biađá… đều theo nếp cũ của nhà Lê sơ[1]
Tương tự như thời Lê sơ, có 3 kỳ thi chính và quan trọngnhất làthi Hương,thi Hộivàthi Đình
3.3.1 Các khoa thi
Từ năm 1529 thờiMạc ái Tổđến năm 1592 thờiMạcMậu Hợp,nhà Mạcđã tổ chức 22 khoa thi, lấy đỗ 485tiến sĩ, trong đó có 13trạng nguyên
• TriềuMạc ái Tổtổ chức 1 khoa:
• Khoa Kỷ sửu (1529), lấy đỗ 27tiến sĩ
• TriềuMạc ái Tôngtổ chức 3 khoa:
• Khoa Nhâm thìn (1532), lấy đỗ 27 tiến sĩ
• Khoa Ất mùi (1535), lấy đỗ 32 tiến sĩ
• Khoa Mậu tuất (1538), lấy đỗ 36 tiến sĩ
• TriềuMạc Hiến Tôngtổ chức 2 khoa:
• Khoa Tân sửu (1541), lấy đỗ 30 tiến sĩ
• Khoa Giáp thìn (1544), lấy đỗ 17 tiến sĩ
• TriềuMạc Tuyên Tôngtổ chức 6 khoa:
• Khoa Đinh mùi (1547), lấy đỗ 30 tiến sĩ
• Khoa Canh tuất (1550), lấy đỗ 26 tiến sĩ
• Khoa ý sửu (1553), lấy đỗ 21 tiến sĩ
• Khoa Bính thìn (1556), lấy đỗ 24 tiến sĩ
• Khoa Kỷ mùi (1559), lấy đỗ 20 tiến sĩ
• Khoa Nhâm tuất (1562), lấy đỗ 18 tiến sĩ
• TriềuMạc Mậu Hợptổ chức 10 khoa:
6
Trang 123.5 XEM THÊM 7
• Khoa Ất sửu (1565), lấy đỗ 16 tiến sĩ
• Khoa Mậu thìn (1568), lấy đỗ 17 tiến sĩ
• Khoa Tân mùi (1571), lấy đỗ 17 tiến sĩ
• Khoa Giáp tuất (1574), lấy đỗ 24 tiến sĩ
• Khoa Đinh sửu (1577), lấy đỗ 18 tiến sĩ
• Khoa Canh thìn (1580), lấy đỗ 24 tiến sĩ
• Khoa ý mùi (1583), lấy đỗ 18 tiến sĩ
• Khoa Bính tuất (1586), lấy đỗ 23 tiến sĩ
• Khoa Kỷ sửu (1589), lấy đỗ 17 tiến sĩ
• Khoa Nhâm thìn (1592), lấy đỗ 17 tiến sĩ
Việc khắc tên tiến sĩ vào bia đá chỉ được thực hiện 1 lần
năm 1529 Sau đó do chiến tranh, việc này không còn
được chú trọng Năm 1582, Trần ì ầm kiến nghị với
Mạc Mậu Hợpkhôi phục việc khắc bia tiến sĩ, nhưng
do chiến tranh nên vẫn bị gác lại[2]
3.4 Nhận định
Giáo dục và khoa cử thời Mạc đã tạo ra một đội ngũ
quan lại cho bộ máy triều đình, trong đó có không ít
người danh vọng rất cao nhưNguyễn Bỉnh Khiêm,Giáp
Hải, Hà Nhậm Đại, Hoàng Sĩ Khải…[3]
Nguyễn Dữtuy không đỗ đạt nhưng cũng trở thành
danh Nho đương thời Hệ thống giáo dục thời Mạc tạo
ra một đội ngũ Nho sĩ đông đảo ở các làng xã; từ đó Hội
tư văn được thành lập Họ có ảnh hưởng lớn đến việc
xây dựng cổ lệphong kiếnđịa phương[2]
Phạm Đình Hổsống thời Lê mạt đã nhận định về việc
khoa cử thời Mạc như sau[4]:
“Những kẻ tao nhân văn sĩ đều đua nhau theo
lối phù phiếm, so với thời Tiền Lê (tức Lê sơ)
lại càng kém Song thói học chưa đến nỗi hủ
lậu nên học vấn, văn chương, chính sự, công
nghiệp cũng không kém cổ nhân mấy”
"Đầu bài văn sách khi đó có 200 chữ… hỏi
một cách bao hàm, rộng rãi, không phải người
học quán xuyến cổ kim thì không thể hạ bút
viết được Vậy nên chọn được nhiều người tài
giỏi Những đời gần đây (chỉ khoa cử thời Lê
trung hưng ) không thể sánh kịp Từ đời Diên
ành [5] trở lên, nề nếp ấy vẫn còn…”
eo đánh giá củaPhan Huy Chúvàothế kỷ 19[3]:
“Nhà Mạc dẫu bận chiến tranh mà vẫn không
bỏ thi cử, vì thế được nhiều người tài giỏi giúp
việc, chống đối với nhà Lê, kéo dài đến hơn 60
năm Ấy cũng là công hiệu của khoa cử đó.”
3.5 Xem thêm
• Nhà Mạc
• Chiến tranh Lê-Mạc
• Giáo dục khoa cử thời Lê Sơ
• Giáo dục khoa cử Đàng Ngoài thời Lê trung hưng
3.6 Tham khảo
• Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội
• Viện Sử học (1996), Vương triều Mạc, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội
3.7 Chú thích
[1] Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 199[2] Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr 504[3] Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 211[4] Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 202-203[5] 1578-1585, niên hiệu củaMạc Mậu Hợp
Trang 13Chương 4
Giáo dục khoa cử thời Nguyễn
Giáo dục khoa cử thời Nguyễn là hệ thống đào tạo
nhân tài chủ yếu phục vụ trong bộ máy hành chính
của hoàng triềunhà Nguyễntừ năm1802đến1919khi
khoa cử chấm dứt
4.1 Trường sở
Thầy đồ dạy học tại làng quê vào thế kỷ 19
Quốc Tử Giám ở Huế
Trường học thời nhà Nguyễn là nơi học sinh đến để học
chữ NhovàNho giáo Ở nông thôn cũng như thành thị
trước khi khoa cử bị bãi bỏ vào đầuthế kỷ 20thì có
nhữngthầy đồmở trường tư tại gia dạy học ầy đồ
đa số là những vị quan về hưu hoặc những người chỉ
đỗ tú tàitự ý mở lớp chứ không có sự giám sát của
chính quyền Một người thầy hay chữ có thể có đếnhàng nghìn học sinh theo học Với số đông như vậythầy giáo thường chọn lấy một người học trò giỏi giang
hơn cả mà giao phó trách nhiệm làm trưởng tràng, giúp thầy trông coi các môn đệ Ngoài ra lại có cán tràng và giám tràng hiệp lực.[1]
Trần ý Cáp, đậutiến sĩkhoa Giáp ìn1904có mởtrường dạy học ở thôn ái Lai, làng Bất Nhị,ảngNam, có tiếng là hay chữ nên học trò theo học đônglắm Nhà vănPhan Khôitừng theo học Trần ý Cáp
10 năm từ năm 9 tuổi đến 19 tuổi sau ghi lại trường họcthời đó như sau:
Trường của Trần ý Cáp hàng ngày có 150-200 họctrò đến “nghe sách” Ngoài ra có những người khôngđến nghe giảng nhưng khi thầy ra đầu bài thì cũng làmbài nộp vào để thầy chấm, con số lên đến non 100.[3]
Trẻ con muốn nhập học thì thường mangxôi,gàđếnbiếu thầy và làm lễkhai tâm, cúngKhổng Tửđể xinlàm đệ tử
Ở những làng giàu có thì một phầncông điềngọi là
“học điền” có thể được dùng để lấy tiền gạo nuôi thầy
đồ trong làng[4] còn ở những làng không có phươngtiện thì chỉ nhà giàu mới có tiền cho con theo học màthôi
Mỗi năm vào hai ngày tết (Tết Đoan dương và TếtNguyên đán) thì học trò đem tiền vật đến biếu thầy.[3]
Ngoài ra còn có một số cơ sở giáo dục thuộc nhàchùa,tuy không với mục đích dạy học trò để thi đỗ nhưngcũng góp phần vào việc đào tạo một số người.[5]
Triều đình thì ở cấphuyệntrở lên mới tham gia trongviệc giáo dục ấp nhất là trường huyện có quan huấnđạo (hàng thất phẩm) dạy Lên tớiphủthì quan giáo thụ(hàng lục phẩm) rồi đốc học (hàng tứ phẩm) ở trườngtỉnh trông coi Học trò ở huyện do quan huấn đạo hayphủ do quan giáo thụ dạy có thể lên tỉnh nhận bài củaquan đốc học rồi nộp lại cho quan chấm Đến kỳ bìnhvăn thì lên lãnh bài và xem điểm.[6]
Kể từ năm1803thì ởHuếmở trườngốc Tử Giámđểcác con quan và những người trúng tuyển ở các tỉnhvào thụ giáo các quan tế tửu va tư nghiệp
Vào năm1908con số ước đoán là trong hai xứBắcvà8
Trang 144.6 XEM THÊM 9
Trung Kỳthuộc quyền cai trị của nhà Nguyễn có 15.000
trường học và khoảng 200.000 học sinh.[7]
Việc học chủ yếu là đểđi thi để ra làm quan
4.2 Sách giáo khoa
Sốsáchdùng trong việc học hành có hai loại, sách của
người Việtsoạn và sách củangười Tàulàm sẵn
Sách riêng của người Việt có cuốnNhất thiên tự,Tam
thiên tự,Ngũ thiên tự,Sơ học vấn tân, vàẤu học ngũ
ngôn thi
Sác dùng chung cho các sĩ tử ở Trung ốc lẫn Việt
Nam là những cuốn iên tự văn, Hiếu kinh, Minh tâm
bảo giám, Minh đạo gia huấn, và Tam tự kinh
Khi đã giỏi chữ Nho rồi thì mới học thêmTứ ư,Ngũ
Kinh Ngoài ra còn các sách chuyên đề về Bắc sử, Nam
sử, cổ thi Sách truyện thì hoàn toàn bị các nho gia cho
là không đáng đọc vì không truyền đạt đạo ánh hiền
4.3 Đánh giá
Một số tác giả trong khoảng 1937- 1945 đều ít nhiều
sa vào khuynh hương suy tôn một chiều Nho giáo, ca
ngợi cuộc sống vinh danh của kẻ sĩ NhưngNgô Tất Tố
đã đi tiên phong, có những nhận xét sâu sắc mà hàng
chục năm sau các nhà nghiên cứu đều phải thừa nhận
Đây là lời nói đầu của tác giả trích trong tác phẩmLều
chõng, đăng trên báoời vụsố 109 ra ngày 10/3/1939:
4.4 Tham khảo
• Đào Duy Anh Việt Nam văn hóa sử cương.
Houston, TX: Xuân u, ?
• Vu Tam Ich “A Historical Survey of Educational
Developments in Vietnam” Bulletin of the Bureau
of School Service Vol XXXII, No 2 Lexington,
KY: University of Kentucky, College of Education,
1959
4.5 Chú thích
[1] Đào Duy Anh tr 258
[2] ghế để nghiên và bút son để thầy dùng chấm bài
[3] ụy Khuê Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái
ốc Falls Church, VA: Tiếng ê hương, 2012 Trang
[7] Pierre Brocheux và Daniel Hémery Indochina: An
Ambiguous Colonization, 1858-1954 Berkeley, CA:
University of California Press, 2009 tr 217-249
4.6 Xem thêm
• Giáo dục khoa cử thời Mạc
• Giáo dục khoa cử thời Lê Sơ
• i hương
Trang 15Chương 5
Giáo dục Việt Nam Cộng hòa
Giáo dục Việt Nam Cộng hòa là nền giáo dục tại miền
NamViệt Namdưới chính thểViệt Nam Cộng hòa
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòaquy định quyền tự do
giáo dục, và quy định nền giáo dục cơ bản có tính cách
bắt buộc và miễn phí, “nền giáo dục đại học được tự trị",
và “những người có khả năng mà không có phương tiện
sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn”.[1]Hệ thống giáo
dục Việt Nam Cộng hòa gồm tiểu học, trung học và đại
học, cùng với một mạng lưới các cơ sở giáo dục công
lập, dân lập và tư thục ở cả ba bậc học và hệ thống tổ
chức quản trị từ trung ương tới địa phương
Mặt tiền tòa nhà hành chính của Viện Đại học Sài Gòn , cơ sở
giáo dục đại học lớn nhất miền Nam Việt Nam thời Việt Nam
Cộng hòa , hình chụp năm 1961
Nhìn chung, mô hình giáo dục ởmiền Nam Việt Nam
trong những năm 1960-1970 có khuynh hướng xa dần
ảnh hưởng củaPhápvốn chú trọng đào tạo một số ít
phần tử trí thức và có khuynh hướng thiên vềlý thuyết,
để chuyển sang mô hình giáo dục đại chúng và thực
tiễn
5.1 Tổng quan
Từ năm 1917,chính quyền thuộc địa Phápở Việt Nam
đã có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền
Nam, Trung, Bắc, và cảLàocùngCao Miên Hệ thống
giáo dục thời Pháp thuộc có ba bậc: tiểu học, trung học,
Sách giáo khoa do Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục soạn ra
và đại học Chương trình học là chương trình của Pháp,với một chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các cơ sở giáodục ở Việt Nam, dùngtiếng Pháplàm ngôn ngữ chính,
tiếng Việtchỉ là ngôn ngữ phụ Sau khi Việt Nam tuyên
bố độc lập vào ngày 17 tháng 4 năm 1945,[2] chươngtrình học của Việt Nam - còn gọi là chương trìnhHoàngXuân Hãnban hành trong khoảng thời gian từ 20 tháng
4 đến 20 tháng 6 năm 1945 dưới thời chính phủTrầnTrọng Kimcủa Đế quốc Việt Nam- được đem ra ápdụng ở miền Trung và miền Bắc Riêng ở miền Nam, vì
có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫncòn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950 Đến thờiĐệNhất Cộng hòathì chương trình Việt mới được áp dụng
ở miền Nam để thay thế cho chương trình cũ của Pháp.Cũng từ đây, các nhà lãnh đạo giáo dục người Việt Nammới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo.[3]
Ngay từ những ngày đầu hình thành nềnĐệ Nhất Cộnghòa, những người làm công tác giáo dục ở miền Nam đãbắt đầu xây dựng nền móng quan trọng cho nền giáodục quốc gia, tìm câu trả lời cho những vấn đề giáodục cốt yếu Những vấn đề đó là:triết lý giáo dục,mụctiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa vàphương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất
và trang thiết bị trường học, đánh giá kết quả học tập,
và tổ chứcquản trị.[4] Nhìn chung, người ta thấy môhình giáo dục ởmiền Nam Việt Namtrong những năm
1970 có khuynh hướng xa dần ảnh hưởng củaPhápvốn10
Trang 165.2 TRIẾT LÝ GIÁO DỤC 11
chú trọng đào tạo một số ít phần tử ưu tú trong xã hội
và có khuynh hướng thiên vềlý thuyết, để chấp nhận
mô hình giáo dụcHoa Kỳcó tính cách đại chúng và
thực tiễn
5.1.1 Tỷ lệ người đi học
Mặc dù tồn tại chỉ trong 20 năm, từ 1955 đến 1975, bị
ảnh hưởng nặng nề bởichiến tranh và những bất ổn
chính trị thường xảy ra, phần thì ngân sách eo hẹp do
phần lớn ngân sách quốc gia phải dành cho quốc phòng
và nội vụ (trên 40% ngân sách quốc gia dành cho quốc
phòng, khoảng 13% cho nội vụ, chỉ khoảng 7–7,5% cho
giáo dục), nhưng theoNguyễn anh Liêm(cựu ứ
trưởng Bộ ốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa), nền
giáo dục đã phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu
gia tăng nhanh chóng của người dân, đào tạo được một
lớp người có học vấn và có khả năng chuyên môn đóng
góp vào việc xây dựng quốc gia và tạo được sự nghiệp
ngay cả ở các quốc gia phát triển Kết quả này là nhờ
các nhà giáo có ý thức rõ ràng về sứ mạng giáo dục, có
ý thức trách nhiệm và dành nhiều tâm huyết đóng góp
cho nghề nghiệp, cũng như nhiều bậc phụ huynh đã
đóng góp tài chính cho việc xây dựng nền giáo dục, và
nhờ những nhà lãnh đạo giáo dục đã có những ý tưởng,
sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo
dục ởmiền Nam Việt Nam.[3]
Năm học 1973–1974, Việt Nam Cộng hòa có một phần
năm (20%) dân số là học sinh và sinh viên đang đi học
trong các cơ sở giáo dục Con số này bao gồm 3.101.560
học sinh tiểu học, 1.091.779 học sinh trung học, và
101.454 sinh viên đại học[5] Đến năm 1975, tổng số
sinh viên trong cácviện đại họcở miền Nam là khoảng
150.000 người (không tính các sinh viên theo học ởHọc
viện ốc gia Hành chánhvà ở các trường đại học cộng
đồng), chiếm 0,75% dân số.[6]
Hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng hòa thực hiện phổ
cập tiểu học, mọi trẻ em đến 6 tuổi đều có quyền đăng
ký đi học tại trường công Tuy nhiên tới lớp 5 (lớp cuối
cùng của cấp tiểu học), một loạt các kỳ thi được đề ra
với tỷ lệ đánh trượt cao ở mọi giai đoạn:
• Học hết tiểu học phải trải qua kỳ thi vào trung
học đệ Nhất cấp Kỳ thi có tính chọn lọc khá cao,
tỷ lệ đậu vào trường công khoảng 62%[7], số 38% bị
trượt phải vào trường tư và tự trang trải học phí
• Đến cuối năm lớp 11, học sinh phải thi Tú tài
I, cuối năm lớp 12 phải thi Tú tài II Nói chung
Tú tài I tỷ lệ đậu chỉ khoảng 15–30% và Tú tài II
khoảng 30–45%.[8]Nam giới thi hỏng Tú tài I phải
trình diện nhập ngũ quân đội[9] và điquân dịch
hai năm[10]hoặc vào trường hạ sĩ quan Đồng Đế
ởNha Trang
Do số thí sinh bị đánh trượt cao, học sinh thời Việt Nam
Cộng hòa phải chịu áp lực rất lớn vềthi cửnên phải học
tập rất vất vả[11], và chỉ khoảng 24% tổng số thiếu niên
ở lứa tuổi từ 12 đến 18 là được đi học[12][13].Tới năm 1974, tỷ lệ người dân biết đọc và viết của ViệtNam Cộng hòa ước tính vào khoảng 70% dân số.[5]
5.2 Triết lý giáo dục
Một lớp tiểu học ở miền Nam , năm 1961.
Triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa lànhân bản,
dân tộc, vàkhai phóng.[14]
Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ ốc gia Giáo dục
Trần Hữu ế, Việt Nam Cộng hòa nhóm họp Đại hộiGiáo dục ốc gia (lần I) tạiSài Gòn Đại hội này quy
tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, họcgiả, đại diện của quân đội, chính quyền và các tổ chứcquần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục cáccấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật…
Ba nguyên tắc "nhân bản", "dân tộc", và "khai phóng"được chính thức hóa ở hội nghị này.[15][16]Đây là nhữngnguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục củaViệtNam Cộng hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ ốc gia Giáo dục ấn hành
năm 1959 và sau đó trongHiến pháp Việt Nam Cộnghòa(1967) eo Nguyễn anh Liêm trong một côngtrình nghiên cứu xuất bản tại Santa Ana năm 2006, và
theo tài liệu Chính sách văn hóa giáo dục củaHội đồngVăn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng hòaấn hành năm
1972, những nguyên tắc trên có thể hiểu như sau[17]:
1 Nhân bản Triết lý nhân bản chủ trương con người
có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy conngười làm gốc, lấy cuộc sống của con người trongcuộc đời này làm căn bản; xem con người nhưmột cứu cánh chứ không phải như một phươngtiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất
cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác Đềcao những giá trị thiêng liêng của con người Chủtrương sự phát triển quân bình và toàn diện củamỗi người và mọi người Triết lý nhân bản chấpnhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưngkhông chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để
Trang 1712 CHƯƠNG 5 GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA
đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị
hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo,
chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá
trị như nhau và đều có quyền được hưởng những
cơ hội đồng đều về giáo dục.[14][17]
2 Dân tộc Giáo dục tôn trọng giá trị đặc thù, các
truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong mọi sinh
hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia
Giáo dục phải biểu hiện, bảo tồn và phát huy được
những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp
của văn hóa dân tộc để không bị mất đi hay tan
biến trong những nền văn hóa khác Giáo dục còn
nhằm bảo đảm sự đoàn kết và trường tồn của dân
tộc, sự phát triển điều hòa và toàn diện của quốc
gia.[14][17]
3 Khai phóng Tinh thần dân tộc không nhất thiết
phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa
Ngược lại, giáo dục phải không ngừng hướng tới
sự tiến bộ, tôn trọng tinh thần khoa học, mở rộng
tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân
tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ,
phát triển xã hội, tinh hoa văn hóa nhân loại để
góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội,
làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế
giới, góp phần phát triển sự cảm thông và hợp tác
quốc tế, tích cực đóng góp vào sự thăng tiến nhân
loại.[14][17]
5.3 Mục tiêu giáo dục
Từ những nguyên tắc căn bản ở trên, chính quyền Việt
Nam Cộng hòa đề ra những mục tiêu chính cho nền
giáo dục của mình Những mục tiêu này được đề ra là
để nhằm trả lời cho câu hỏi: sau khi nhận được sự giáo
dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào
đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội,
và nhân loại:
1 Phát triển toàn diện mỗi cá nhân Trong tinh thần
tôn trọngnhân cách và giá trị của cá nhân học
sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện
mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người
và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về
thể chất lẫn tâm lý Nhân cách và khả năng riêng
của học sinh được lưu ý đúng mức Cung cấp cho
học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh
phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin
hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu
trung thực theo một chủ trương, hướng đi định
sẵn nào.[14]
2 Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.
Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh hiểu
biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối
sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch
sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh
thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việcchống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinhhọctiếng Việtvà sử dụng tiếng Việt một cách cóhiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quêhương xứ sở, những tài nguyên phong phú củaquốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dântộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốtđẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúphọc sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.[14]
3 Phát triển tinh thần dân ủ và tinh thần khoa học Điều này thực hiện bằng cách: giúp học sinh
tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó pháttriển tinh thầncộng đồngvà ý thức tập thể; giúphọc sinh phát triển óc phán đoán với tinh thầntrách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò
và tinh thần khoa học; giúp học sinh có khả năngtiếp nhận những giá trị văn hóa củanhân loại.[14]
Tuy nhiên trong giai đoạn 1955-1963, dưới thờiNgôĐình Diệm, nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa bị xem
là thiên vịiên Chúa giáonặng nề Ngô Đình Diệmdành cho Giáo hội iên Chúa giáo quyền chi phối cáctrường (kể cả các trường không phải là của giáo hội)
về mặt tinh thần, cốt bảo đảm thực hiện được nội dunggiáo dục “Duy linh” mà thực chất là nội dung thần họctheo lốitriết học kinh việnthời Trung cổ Phần lớn cáchọc bổng đi học nước ngoài đều rơi vào tay các linhmục hoặc sinh viên iên Chúa giáo[23]
Do chính sách ưu đãi tài chính cùng với những đặcquyền mà Ngô Đình Diệm dành cho, hệ thống trường
tư thục của iên Chúa giáo phát triển rất nhanh.AvroManhaanthống kê rằng: Từ năm 1953 đến năm 1963,khắp miền Nam đã xây dựng 145 trường cấp II và cấpIII, riêng ở Sài Gòn có 30 trường với tổng số 62.324 họcsinh Cũng trong cùng thời gian này, Giáo hội iênChúa giáo ở miền Nam Việt Nam, từ chỗ chỉ có 3 trườngcấp II và III trong năm 1953, đến năm 1963 đã lên tới1.060 trường[24] Có nơiLinh mụcdùng uy thế của mình
để phụ huynh không cho con học trường công mà phảivào học trường của Giáo hội, nên trường tư thục củaGiáo hội làm tê liệt cả trường công vì không tuyển đượchọc sinh[25]
Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các chính sách thiên vị
iên Chúa giáo trong nền giáo dục mới kết thúc, tuynhiên những nội dung liên quan đếnchủ nghĩa cộngsảnvà việcViệt Minhlãnh đạochiến tranh chống Pháp
thì vẫn bị cấm giảng dạy
5.4 Giáo dục tiểu học và trung học
Trang 185.4 GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC 13
5.4.1 Giáo dục tiểu học
Bậctiểu học thời Việt Nam Cộng hòa bao gồm năm
lớp, từ lớp 1 đến lớp 5 (thờiĐệ Nhất Cộng hòagọi là
lớp Năm đến lớp Nhất) eo quy định củahiến pháp,
giáo dục tiểu học làgiáo dục phổ cập(bắt buộc).[26]Từ
thờiĐệ Nhất Cộng hòađã có luật quy định trẻ em phải
đi học ít nhất ba năm tiểu học.[27] Mỗi năm học sinh
phải thi để lên lớp Ai thi trượt phải học "đúp”, tức học
lại lớp đó Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí,
không thuhọc phívà các khoản lệ phí khác Học sinh
tiểu học chỉ học một buổi, sáu ngày mỗi tuần eo quy
định, một ngày được chia ra 2 ca học; ca học buổi sáng
và ca học buổi chiều Vào đầu thập niên 1970, Việt Nam
Cộng hòa có 2,5 triệu học sinh tiểu học, 82%[12]tổng số
thiếu niên từ 6 đến 11 tuổi[13]theo học ở 5.208 trường
tiểu học (chưa kể các cơ sở ởPhú Bổn,Vĩnh Long, và
Sa Đéc).[28]
Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp Một để
bắt đầu bậc tiểu học Phụ huynh có thể chọn lựa cho
con em vào học miễn phí cho hết bậc tiểu học trong
các trường công lập hay tốn học phí (tùy trường) tại
các trường tiểu học tư thục.[29]Lớp 1 (trước năm 1967
gọi là lớp Năm) cấp tiểu học mỗi tuần học 25 giờ, trong
đó 9,5 giờ môn quốc văn; 2 giờ bổn phận công dân và
đức dục (còn gọi là lớp Công dân giáo dục).[30] Lớp 2
(trước năm 1967 gọi là lớp Tư),quốc văngiảm còn 8
tiếng nhưng thêm 2 giờ sử ký và địa lý Lớp 3 trở lên thì
ba môn quốc văn, công dân và sử địa chiếm 12–13 tiếng
mỗi tuần.[31]Một năm học kéo dài chín tháng, nghỉ ba
thánghè Trong năm học có khoảng 10 ngày nghỉ lễ
(thông thường vào những ngày ápTết).[32]
Đối với các sắc tộcngười ượng, sắc luật 033 ngày 29
áng 8, 1967 ấn định việc giảng dạy thổ ngữ cùng với
tiếng Việt ở bậc tiểu học nên có bốn bộ sách giáo khoa
cho bốn thứ tiếngJarai,Rhadé,Kahovà Bahnar Đến
năm 1971 thì hoàn thành tổng cộng 12 bộ sách cho 12
ngôn ngữ ượng.[33]
5.4.2 Giáo dục trung học
Tính đến đầu những năm 1970, Việt Nam Cộng hòa
có hơn 550.000 học sinh trung học, tức 24%[12] tổng
số thanh thiếu niên ở lứa tuổi từ 12 đến 18;[13] có 534
trường trung học (chưa kể các cơ sở ởVĩnh Long và
Sa Đéc).[28] Đến năm 1975 thì có khoảng 900.000 học
sinh ở các trường trung học công lập Các trường trung
học công lập nổi tiếng thời đó cóPétrus Ký,Chu Văn
An,Võ Trường Toản,Trưng Vương,Gia Long,Lê ý
Đôn(Sài Gòn) tiền thân là Trường Chasseloup Laubat,
ốc Học(Huế), Trường Trung học Phan Chu Trinh
(Đà Nẵng),Nguyễn Đình Chiểu(Mỹ o),Phan anh
Giản(Cần ơ)… Các trường công lập đều hoàn toàn
miễn phí, không thu học phí và các khoản lệ phí khác
Các trường tư thục thì thu học phí với mức khác nhau(tùy từng trường và khối lớp)
Trung học đệ nhất cấp
Trung học đệ nhất cấp bao gồm bốn lớp 6 đến lớp 9(trước năm 1970 gọi là lớp đệ thất đến đệ tứ), tươngđương trung học cơ sở hiện nay Từ tiểu học phải thivào trung học đệ nhất cấp Đậu vào trường trung họccông lập không dễ Các trường trung học công lập hàngnăm đều tổ chức tuyển sinh vào lớp Đệ thất (từ năm
1970 gọi là lớp 6), kỳ thi có tính chọn lọc khá cao (tỷ sốchung toàn quốc vào trường công khoảng 62%);[7] tạimột số trường danh tiếng tỷ lệ trúng tuyển thấp hơn10% Những học sinh không vào được trường công thì
có thể nhập học trường tư thục nhưng phải tự trả họcphí Một năm học được chia thành hai “lục cá nguyệt”(hay “học kỳ") Kể từ lớp 6, học sinh bắt đầu phải họcngoại ngữ, thường làtiếng Anhhaytiếng Pháp MônCông dân giáo dục tiếp tục với lượng 2 giờ mỗi tuần.[34]
Từ năm 1966 trở đi, môn võVovinam(tức Việt Võ đạo)cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường.[35]Học
xong năm lớp 9 thì thi bằng Trung học đệ nhất cấp (tiếng Pháp: brevet d'etudes du premier cycle) Kỳ thi này thoạt
tiên có hai phần: viết và vấn đáp Năm 1959 bỏ phần vấnđáp[36]rồi đến niên học 1966–67 thì Bộ ốc gia Giáodục bãi bỏ hẳn kỳ thi Trung học đệ nhất cấp.[37]
Trung học đệ nhị cấp
Trung học đệ nhị cấp là các lớp 10, 11 và 12, trước 1971gọi là đệ tam, đệ nhị và đệ nhất; tương đương trung họcphổ thông hiện nay Muốn vào thì phải đậu được bằngTrung học đệ nhất cấp, tức bằng Trung học cơ sở Vào
đệ nhị cấp, học sinh phải chọn học theo một trong bốnban như dự bị vào đại học.[38]Bốn ban thường gọi A, B,
C, D theo thứ tự làkhoa học thực nghiệmhay còn gọi
là banvạn vật; bantoán; banvăn chương; và ban vănchương cổ ngữ, thường làHán vănvà La Tinh Ngoài
ra học sinh cũng bắt đầu học thêm một ngoại ngữ thứhai.[39]Vào năm lớp 11 thì học sinh phải thiTú tài IrồithiTú tài IInăm lớp 12 ể lệ này đến năm học 1972–
1973 thì bỏ, chỉ thi một đợttú tài phổ thông í sinhphải thi tất cả các môn học được giảng dạy (trừ môn ểdục), đề thi gồm các nội dung đã học, không có giới hạnhoặc bỏ bớt Hình thức thi kể từ năm 1974 cũng bỏ lối
viết bài luận (essay) mà theo lối thitrắc nghiệmcó tínhcách khách quan hơn.[40]Mỗi năm có hai đợt thi Tú tài
tổ chức vào khoảng tháng 6 và tháng 8.[41] Tỷ lệ đậu
Tú tài I (15–30%) và Tú tài II (30–45%), tại các trườngcông lập nhìn chung tỷ lệ đậu cao hơn trường tư thục
do phần lớn học sinh đã được sàng lọc qua kỳ thi vàolớp 6 rồi.[42]
Do tỷ lệ đậu kỳ thi Tú tài khá thấp nên vào được đại học
là một chuyện khó í sinh đậu được xếp thành: Hạng
“tối ưu” hay "ưu ban khen” (18/20 điểm trở lên), thí sinhđậu Tú tài II hạng tối ưu thường hiếm, mỗi năm toàn
Trang 1914 CHƯƠNG 5 GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Việt Nam Cộng hòa chỉ một vài em đậu hạng này, có
năm không có; hạng "ưu” (16/20 điểm trở lên); “bình”
(14/20); “bình thứ" (12/20), và “thứ" (10/20).[43]Một số
trường trung học chia theo phái tính như ởSài Gònthì
có trườngPétrus Ký,Chu Văn An, Võ Trường Toản,
Trường Hồ Ngọc Cẩn (Gia Định)và các trường ốc
học (Huế), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), Cường Để (y
Nhơn), Tăng Bạt Hổ (Bồng Sơn), Võ Tánh (Nha Trang),
Trần Hưng Đạo (Đà Lạt), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ o),
Phan anh Giản (Cần ơ) dành cho nam sinh Các
trườngTrưng Vương,Gia Long,Lê Văn Duyệt, Trường
Nữ Trung học Đồng Khánh (Huế), Trường Nữ Trung
học Hồng Đức (Đà Nẵng), Trường Nữ Trung học Bùi
ị Xuân (Đà Lạt), Trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân
(Mỹ o), Trường Nữ Trung học Đoàn ị Điểm (Cần
ơ) chỉ dành cho nữ sinh Học sinh trung học lúc bấy
giờ phải mặc đồng phục: nữ sinh thìáo dàitrắng, quần
trắng hay đen; còn nam sinh thì mặcáo sơ mitrắng,
quần màu xanh dương.[44]
Trung học tổng hợp
Chương trình giáo dục trung học tổng hợp (tiếng Anh:
comprehensive high school) là một chương trình giáo
dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết
giaJohn Dewey, sau này được nhà giáo dụcngười Mỹlà
James B Connant hệ thống hóa và đem áp dụng cho các
trường trung họcHoa Kỳ Chương trình này chú trọng
đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào
các môn tư vấn, kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ
nghệ, v.v… nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức
thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường
trung học Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và
các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù khả
dĩ có thể đem ra ứng dụng ở nơi mình sinh sống.[45]
ời Đệ Nhị Cộng hòa Việt Namchính phủ cho thử
nghiệm chương trình trung học tổng hợp, nhập đệ nhất
và đệ nhị cấp lại với nhau Học trình này được áp dụng
đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu ủ Đức, sau
đó mở rộng cho một số trường nhưNguyễn An Ninh
(cho nam sinh; 93 đường Trần Nhân Tông, ận 10) và
Sương Nguyệt Anh(cho nữ sinh; góc đường Bà Hạt và
Vĩnh Viễn, gầnchùa Ấn ang) ởSài Gòn, vàChưởng
binh LễởLong Xuyên.[46]
Trung học kỹ thuật
Các trường trung học kỹ thuật nằm trong hệ thống
giáo dục kỹ thuật, kết hợp việc dạy nghề với giáo dục
phổ thông Các học sinh trúng tuyển vào trung học kỹ
thuật thường được cấp học bổng toàn phần hay bán
phần Mỗi tuần học 42 giờ; hai môn ngoại ngữ bắt buộc
làtiếng Anhvà tiếng Pháp.[47] Các trường trung học
kỹ thuật có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành phố; ví dụ,
công lập thì có Trường Trung học Kỹ thuật Cao ắng
(thành lập năm 1956; tiền thân là Trường Cơ khí Á
châu thành lập năm1906ởSài Gòn; nay làTrường Cao
đẳng Kỹ thuật Cao ắng),[48], Trường Trung học Nông
Lâm Súc Bảo Lộc, Trường Trung học Kỹ thuật NguyễnTrường Tộ; tư thục thì có Trường Trung học Kỹ thuậtDon Bosco (do các tu sĩ DòngDon Boscothành lập năm
1956 ởGia Định; nay làTrường Đại học Công nghiệp
Ngoài hệ thống trường công lập của chính phủ là hệthống trường tư thục Vào năm 1964 các trường tư thụcgiáo dục 28% trẻ em tiểu học và 62% học sinh trunghọc.[22]Đếnniên học1970–1971 thì trường tư thục đảmnhiệm 17,7% học sinh tiểu học và 77,6% học sinh trunghọc.[51]con số này Tính đến năm 1975, Việt Nam Cộnghòa có khoảng 1,2 triệu học sinh ghi danh học ở hơn1.000 trường tư thục ở cả hai cấp tiểu học và trunghọc.[52]Các trường tư thục nổi tiếng nhưLasan Taberd
dành cho nam sinh; Couvent des Oiseaux, Regina Pacis(Nữ vương Hòa bình), và Regina Mundi (Nữ vương ếgiới) dành cho nữ sinh Bốn trường này nằm dưới sựđiều hành củaGiáo hội Công giáo Tổng cộng Giáo hộiCông giáo sở hữu 226 trường trung học, 1030 trườngtiểu học.[53]
Trường Bác ái (Collège Fraternité) ở Chợ án với đa
số học sinh làngười Việt gốc Hoacũng là một tư thục
có tiếng do các thương hội người Hoa bảo trợ.[54] Vàonăm 1962 có 16 trường trung học của cộng đồng ngườiHoa với 5.635 học sinh.[50]
Giáo hội Phật giáo Việt Nam ống nhấtcóhệ thốngcác trường tiểu học và trung học Bồ đềở nhiều tỉnhthành, tính đến năm 1970 trên toàn quốc có 137 trường
Bồ đề, trong đó có 65 trường trung học với tổng sốhọc sinh là 58.466 Ngoài ra còn có một số trường dochính phủPháptài trợ nhưMarie-Curie, Colee, Saint-Exupéry,[55]Lycée Yersin (Đà Lạt), College Đà Nẵng, vàCollege Nha Trang Những trường này theo giáo trìnhcủa Pháp để học sinh thi tú tài Pháp.[56]Kể từ năm 1956,tất cả các trường học tại Việt Nam, bất kể trường tư haytrường do ngoại quốc tài trợ, đều phải dạy một số giờnhất định cho các mônquốc vănvàlịch sử Việt Nam.[57]
Chương trình học chính trong các trường tư vẫn theochương trình mà Bộ ốc gia Giáo dục đã đề ra, dù cóthể thêm một số giờ hoặc môn kiến thức thêm Sau năm
1975, dưới chính thểCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam, tổng cộng có 1.087 trường tư thục ởmiền Nam
bị giải thể và trở thành trường công (hầu hết mang tênmới).[58]
Các trường Quốc gia Nghĩa tử
Trang 205.5 GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 15
Ngoài hệ thống các trường công lập và tư thục kể trên,
Việt Nam Cộng hòa còn có hệ thống thứ ba là các
trường ốc gia Nghĩa tử Tuy đây là trường công lập
nhưng không đón nhận học sinh bình thường mà chỉ
dành riêng cho các con em củatử sĩhoặcthương phế
binhcủaân lực Việt Nam Cộng hòanhư là một ưu
đãi của chính phủ giúp đỡ không chỉ phương tiện học
hành mà cả việc nuôi dưỡng Hệ thống này bắt đầu
hoạt động từ năm 1963 ởSài Gòn, sau khai triển thêm
ởĐà Nẵng,Cần ơ,Huế, vàBiên Hòa Tổng cộng có
7 cơ sở với hơn 10.000 học sinh Loại trường này do Bộ
Cựu Chiến binh quản lý chứ không phải Bộ ốc gia
Giáo dục, nhưng vẫn dùng giáo trình của Bộ ốc gia
Giáo dục Chủ đích của các trường ốc gia Nghĩa tử
là giáo dục phổ thông và hướng nghiệp cho học sinh
chứ không huấn luyện quân sự.[59][60] Vì vậy trường
ốc gia Nghĩa tử khác trườngthiếu sinh quân Sau
năm 1975, các trường ốc gia Nghĩa tử cũng bị giải
thể
5.5 Giáo dục đại học
Học sinh đậu đượcTú tài IIthì có thể ghi danh vào học
ở một trong cácviện đại học, trường đại học, vàhọc
việntrong nước Tuy nhiên, ở một số nơi vì số chỗ rất
có giới hạn nên học sinh phải dự một kỳ thi tuyển có
tính chọn lọc rất cao; các trường này thường là Y, Dược,
Nha, Kỹ thuật, ốc gia Hành chánh, và Sư phạm Việc
tuyển chọn dựa trên khả năng của thí sinh, hoàn toàn
không xét đếnlý lịchgia đình Sinh viên học trong các
cơ sở giáo dục công lập thì không phải đóng tiền Chỉ ở
một vài trường hay phân khoa đại học thì sinh viên mới
đóng lệ phí thi vào cuối năm học Ngoài ra, chính phủ
còn có những chương trình học bổng cho sinh viên.[29]
Chương trình học trong các cơ sởgiáo dục đại họcđược
chia làm ba cấp Cấp 1 (học 4 năm): Nếu theo hướng các
ngànhnhân văn,khoa học, v.v thì lấy bằngcử nhân
(ví dụ: cử nhân Triết, cử nhân Toán…); nếu theo hướng
các ngành chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp (ví
dụ: bằng tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm, bằng tốt
nghiệp Học viện ốc gia Hành chánh…) hay bằngkỹ
sư(ví dụ: kỹ sư Điện, kỹ sư Canh nông…) Cấp 2: học
thêm 1–2 năm và thi lấy bằngcao họchay tiến sĩ đệ
tam cấp (tiếng Pháp: docteur de troisième cycle; tương
đươngthạc sĩngày nay) Cấp 3: học thêm 2–3 năm và
làm luận án thì lấy bằngtiến sĩ(tương đương với bằng
Ph.D của Hoa Kỳ) Riêng ngành y, vì phải có thời gian
thực tập ở bệnh viện nên sau khi học xong chương trình
dự bị y khoa phải học thêm 6 năm hay lâu hơn mới xong
chương trình đại học.[64]
5.5.1 Mô hình các cơ sở giáo dục đại học
Phần lớn các cơ sởgiáo dục đại họcViệt Nam thời Việt
Nam Cộng hòa được tổ chức theo mô hìnhviện đại học
Đây là mô hình tương tự như university củaHoa Kỳ
Sơ đồ Làng Đại học thuộc Viện Đại học Sài Gòn dự kiến xây dựng ở Thủ Đức
vàTây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tínchỉ Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đạihọc (thường gọi tắt là phân khoa, ví dụ: Phân khoa Y,Phân khoa Sư phạm, Phân khoa Khoa học, v.v…) hoặctrường hay trường đại học (ví dụ: Trường Đại học Nôngnghiệp, Trường Đại học Kỹ thuật, v.v…) Trong mỗiphân khoa đại học hay trường đại học có các ngành (vídụ: ngành Điện tử, ngành Công chánh, v.v…); về mặt tổchức, mỗi ngành tương ứng với một ban (tương đươngvới đơn vị khoa hiện nay).[65]
Trong thập niên 1960 và 1970, lúchội nghị hòa bình
diễn ra ở Paris, Việt Nam Cộng hòa ráo riết lên kế hoạchtái thiết hậu chiến, với viễn cảnh là hòa bình sẽ lập lại
ở Việt Nam, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập,người lính từ các bên trở về cần được đào tạo để tái hòanhập vào xã hội Trong khuôn khổ kế hoạch đó, có hai
mô hình cơ sở giáo dục đại học mới và mang tính thựctiễn được hình thành:trường đại học cộng đồngvàviệnđại học bách khoa.[66]
Trường đại học cộng đồng là một cơ sở giáo dục đạihọc sơ cấp và đa ngành Sinh viên học ở đây để chuyểntiếp lên học ở các viện đại học lớn, hoặc mở mang kiếnthức, hoặc học nghề để ra làm việc Các trường đại họccộng đồng được thành lập với sự tham gia đóng góp,xây dựng, và quản trị của địa phương nhằm đáp ứngnhu cầu phát triển ở địa phương trong các mặtvăn hóa,
xã hội, và kinh tế Khởi điểm của mô hình giáo dụcnày là mộtnghiên cứucủa ông Đỗ Bá Khê tiến hànhvào năm 1969 mà các kết quả sau đó được đưa vào mộtluận án tiến sĩ trình ởViện Đại học Nam Californiavào
năm 1970 với tựa đề e Community College Concept:
A Study of its Relevance to Postwar Reconstruction in Vietnam (Khái niệm trường đại học cộng đồng: Nghiên
cứu sự phù hợp của nó với công cuộc tái thiết hậu chiến
ở Việt Nam) Cơ sở đầu tiên được hình thành là TrườngĐại học Cộng đồng Tiền Giang, thành lập vào năm 1971
ởĐịnh Tườngsau khi mô hình giáo dục mới này đượcmang đi trình bày sâu rộng trong dân chúng.[66]
Vào năm 1973,Viện Đại học Bách khoa ủ Đứcđược
Trang 2116 CHƯƠNG 5 GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Một tòa nhà của Viện Đại học Huế (nay là Đại học Huế ), ở số
3 đường Lê Lợi, Huế
thành lập Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành,
đa lĩnh vực, và chú trọng đến các ngành thực tiễn
Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa ủ Đức
có các trường đại học chuyên về nông nghiệp, kỹ thuật,
giáo dục, khoa học và nhân văn, kinh tế và quản trị, và
thiết kế đô thị; ngoài ra còn cótrường sau đại học eo
kế hoạch, các cơ sở giáo dục đều có một khuôn viên
rộng lớn, tạo môi trường gợi cảm hứng cho suy luận,
cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản
lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi
phí.[66]
eo như Hiến pháp quy định thì nền giáo dục đại học
được tự trị Tuy nhiên về học vụ, sự thành lập các khoa,
trường, ngành học, văn bằng, chứng chỉ vẫn phải do Bộ
Giáo dục chấp thuận, về nhân viên, việc tuyển dụng,
lương bổng, thăng thưởng, sa thải phải do Bộ Giáo
dục và Tổng Nha Công vụ chấp thuận, về Ngân sách:
yền chuẩn chi được ủy nhiệm cho Viện trưởng” Như
vậy, về hành chính, Viện Đại học trực thuộc Bộ Giáo
dục, và có thể bị chi phối bởi Bộ Giáo dục và Tổng Nha
Công vụ chứ không hẳn là tự trị Chính quyền Sài Gòn
chỉ muốn xây dựng Viện Đại học hoàn toàn lệ thuộc
vào chính quyền hoặc đảng phái hay cá nhân người
lãnh đạo, bởi vậy, trong cộng đồng sinh viên đại học
miền Nam từng dấy lên nhiều phong trào đấu tranh
đòi thực thi tự trị đại học[67]
Sau năm 1975, dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam, toàn bộ các cơ sở giáo dục đại học
thời Việt Nam Cộng hòa bị đổi tên và bị phân tán theo
khuôn mẫu giáo dục củaLiên Xônên không còn mô
hình theo đó các trường hay phân khoa đại học cấu
thành viện đại học, mà mỗi trường trở nên biệt lập.[68]
Giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thểViệt Nam
Dân chủ Cộng hòavà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam theo mô hình phân tán ngành học.[69]Các “trường
đại học bách khoa” được thành lập dưới hai chính thể
này không giống như mô hình viện đại học bách khoa
vì chỉ tập trung vào các ngànhkỹ thuật Tương tự, mô
hình “trường đại học tổng hợp” cũng chỉ tập trung vào
các ngànhkhoa họccơ bản, chứ không mang tính chất
toàn diện Đến đầu thập niên1990, chính phủ Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập hai "đại học”cấp quốc gia và ba "đại học” cấp vùng theo mô hìnhgần giống như mô hình viện đại học.[70]Vào tháng 10năm 2009, một số đại biểuốc hộiđưa ra đề nghị gọitên các "đại học” cấp quốc gia và cấp vùng là “viện đạihọc”.[71]
5.5.2 Các viện đại học công lập
Học viện Quốc gia Hành chánh , đường Alexandre de Rhodes,
Sài Gòn
• Viện Đại học Sài Gòn: Tiền thân làViện Đại họcĐông Dương(1906), rồi Viện Đại học ốc giaViệt Nam(1955) - còn có tên là Viện Đại học ốcgia Sài Gòn Năm 1957, Viện Đại học ốc gia ViệtNam đổi tên thành Viện Đại học Sài Gòn Đây làviện đại học lớn nhất miền Nam Trước năm 1964,
tiếng Việtlẫntiếng Phápđược dùng để giảng dạy
ở bậc đại học, nhưng sau đó thì chỉ dùng tiếngViệt theo chính sách ngôn ngữ theo đuổi từ năm
1955.[72] RiêngTrường Đại học Y khoa dùng cả
tiếng Anh Vào thời điểm năm 1970, hơn 70% sinhviên đại học trên toàn quốc ghi danh học ở ViệnĐại học Sài Gòn.[73]
• Viện Đại học Huế: ành lập vào tháng 3 năm
1957 với 5 phân khoa đại học: Khoa học, Luật, Sưphạm, Văn khoa, và Y khoa.[74]
Trang 225.5 GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 17
• Viện Đại học Cần ơ: ành lập năm 1966 với 4
phân khoa đại học: Khoa học, Luật khoa & Khoa
học Xã hội, Sư phạm, và Văn khoa
• Viện Đại học Bách khoa ủ Đức: ành lập năm
1974 Tiền thân là Trung tâm ốc gia Kỹ thuật
(1957), Học viện ốc gia Kỹ thuật (1972)
5.5.3 Các viện đại học tư thục
• Viện Đại học Đà Lạt: ành lập ngày 8 tháng 8
năm 1957 Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà
Lạt nguyên là mộtchủng việncủaGiáo hội Công
giáo Viện đại học này có 4 phân khoa đại học:
Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm,ần
họcvà Văn khoa eo ước tính, từ năm 1957 đến
1975 viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.[75]
• Viện Đại học Vạn Hạnh: uộc khốiẤn ang
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ống nhất;
thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222
đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê
Văn Sỹ), ận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân
khoa đại học: Giáo dục,Phật học,Khoa học xã hội,
Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân
văn Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn
3.000 sinh viên.[76][77]
• Viện Đại học Phương Nam: Được cấp giấy phép
năm 1967, tọa lạc ở số 16 đường Trần ốc Toản
(sau năm 1975 là đường 3 áng Hai), ận 10,Sài
Gòn Viện đại học này thuộc khốiViệt Nam ốc
TựcủaGiáo hội Phật giáo Việt Nam ống nhất,
Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng Viện Đại
học Phương Nam có 3 phân khoa đại học: Kinh
tế-ương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa Vào thập
niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh
viên ghi danh.[76]
• Viện Đại học An Giang (Hòa Hảo): ành lập năm
1970 ởLong Xuyênvới 5 phân khoa đại học: Văn
khoa, ương mại-Ngân hàng, Bang giao ốc tế,
Khoa học ản trị và Sư phạm.[78] Viện Đại học
này trực thuộc Giáo hộiPhật giáo Hòa Hảo
• Viện Đại học Cao Đài: ành lập năm 1971 trên
đường Ca Bảo Đạo[79]ởTây Ninhvới 3 phân khoa
đại học: ần học Cao Đài, Nông lâm mục, và
Sư phạm.[80][81] Viện Đại học này trực thuộcHội
ánh Cao Đài Tòa ánh Tây Ninh
• Viện Đại học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm
1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học:
Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế
ương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y khoa
Viện Đại học này do Giáo hội Công giáo điều
hành
5.5.4 Các học viện và viện nghiên cứu
Phòng thí nghiệm ở Viện Pasteur Sài Gòn , hình chụp năm 1961
• Học viện ốc gia Hành chánh: Cơ sở này được
thành lập từ thời ốc gia Việt Nam với vănbản ký ngày 29 tháng 5 năm1950nhằm đào tạonhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyềnnhư thuế vụ và ngoại giao Trường sở đặt ở ĐàLạt; năm 1956 thì dời vềSài Gòn[82]đặt ở đườngAlexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số
100 đường Trần ốc Toản (gần góc đường Cao
ắng, sau năm 1975 là đường3 tháng 2), ận
10, Sài Gòn.[83][84] Học viện này trực thuộc Phủ
ủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm 1973 thìthuộc Phủ Tổng ủy Công vụ Học viện có chươngtrình hai năm cao học, chia thành ba bancao học,đốc sự, và tham sự.[85]
• Học viện ốc gia Nông nghiệp (1972–1974): tiền
thân là Trường Cao đẳng Nông lâm súc (1962–1968), Trung tâm ốc gia Nông nghiệp (1968–1972) rồi nhập vàoViện Đại học Bách khoa ủĐứcnăm 1974
• Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa
còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa họcnhưViện Pasteur Sài Gòn,Viện Pasteur Đà Lạt,
Viện Pasteur Nha Trang,Viện Hải dương học NhaTrang,Viện Nguyên tử lực Đà Lạt,Viện Khảo cổ
v.v với những chuyên môn đặc biệt.[86]
5.5.5 Các trường đại học cộng đồng
Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại
học cộng đồng (theo mô hình community college của
Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang
ởMỹ o,[87]Duyên Hải ởNha Trang,[88]ảng Đà ở
Đà Nẵng(1974),[89]và Long Hồ ởVĩnh Long.[66]TrườngĐại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nôngnghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng
Trang 2318 CHƯƠNG 5 GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA
về ngư nghiệp.[88] Riêng Trường Long Hồ còn đang
dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa
bị giải tán.[90]ỞSài Gònthì có Trường Đại học Regina
Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh
doCông giáothành lập, và theo triết lý đại học cộng
đồng.[88]
5.5.6 Các trường kỹ thuật và huấn nghệ
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường
cao đẳng như Trường Bách khoa Phú ọ và Trường
Nông lâm súc Một số những trường này sang thập niên
1970 được nâng lên tương đương với cấp đại học
• Trường ốc gia Nông lâm mục: oạt tiên là
Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930
ở B'lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên
thành Trường ốc gia Nông lâm mục với chương
trình học bốn năm Diện tích vườn thực nghiệm
rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi
gia súc, vườn cây công nghiệp, lúa thóc.[91] a
từng giai đoạn Trường đổi tên thành Trường Cao
đẳng Nông lâm súc (1962–1968), Trung tâm ốc
gia Nông nghiệp (1968–1972), Học viện ốc
gia Nông nghiệp (1972–1974) Cuối cùng Trường
ốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vàoViện
Đại học Bách khoa ủ Đức (có trụ sở ở số 45
đường Cường Để, ận 1, Sài Gòn) Trường còn
có chi nhánh ởHuế,Cần ơ, vàBình Dương.[92]
• Trung tâm ốc gia Kỹ thuật Phú ọ: ành lập
năm 1957 thờiĐệ Nhất Cộng hòagồm bốn trường:
Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng
Điện học, Trường ốc gia Kỹ sư Công nghệ, và
Trường Việt Nam Hàng hải Năm 1968 lập thêm
Trường Cao đẳng Hóa học Năm 1972, Trung tâm
ốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện ốc gia Kỹ
thuật và đến năm 1974 thì nhập với Trường Đại
học Nông nghiệp để tạo nênViện Đại học Bách
khoa ủ Đức.[93][94]
• Học viện Cảnh sát ốc gia: ành lập năm 1966
để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật
pháp.[95]
5.5.7 Các trường nghệ thuật
• Trường ốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ: ành
lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thờiĐệ Nhất
Cộng hòa Chương trình học sau được bổ túc để
bao gồm các bộ mônâm nhạc cổ điển Tây phương
và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo), và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).
• Trường ốc gia Âm nhạc Huế: ành lập năm
1962 ở cố đô Huế,[96] chủ yếu dạy âm nhạc cổtruyền Việt Nam, dùng nhà hátDuyệt ị Đường
trongKinh thành Huếlàm nơi giảng dạy.[97]
• Trường ốc gia Trang trí Mỹ thuật: thành lập
năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung họcTrang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường
Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940)
• Trường ốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn:thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệthuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7năm Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ
(1954–1966)
5.5.8 Các trường giáo dục bình dân
Ngoài những cơ sở giáo dục chính quy, chính phủ cònhợp tác với những đoàn thể tư nhân tổ chức nhữnglớp giáo dục bình dân, giúp xóa nạnmù chữ, nhắm lớpngười 16 tuổi trở lên Giáo trình là những lớp tậpđọc,tậpviết, toán, sử ký, địa lý, vệ sinh, nhạc lý, và côngdân Lớp học thường là buổi sáng hay buổi chiều, kéodài hai giờ đồng hồ, nhóm họp ở đình, chùa, nhà thờ…Sách, vở, bút, giấy đều phát miễn phí Sĩ số toàn quốclên đến một triệu người vào năm 1960.[98]Trường Báchkhoa Bình dânlà một thí dụ
5.5.9 Sinh viên du học ngoại quốc
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi duhọc ở nước ngoài Hai quốc gia thu nhận nhiều sinhviên Việt Nam vào năm làPháp(2.059 năm 1959, 1.522năm 1964) vàHoa Kỳ(102 năm 1959, 399 năm 1964), đa
số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.[22][99]
5.6 Tài liệu và dụng cụ giáo khoa
Năm 1958, chính phủĐệ Nhất Cộng hòacho lập Ban
Tu thư thuộc Bộ ốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và insách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc Tính
Trang 245.7 NHÀ GIÁO 19
Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục
xuất bản năm 1967
đến năm 1962, Bộ ốc gia Giáo dục đã ấn hành xong
39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại
học.[100]
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã
soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học Bộ sách này
được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức Có
nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh
và sinh viên có tài liệu tham khảo Phần lớn sách giáo
khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm
Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự
giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài Trung tâm này
còn hợp tác vớiUNESCOđể viết và dịch sách dành cho
thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa
khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên
thế giới Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in
sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30sắc tộc thiểu số
khác nhau ở Việt Nam
Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các
danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lậpỦy
ban ốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên mônbao gồm
nhiềugiáo sư đại học Ủy ban đã soạn thảo và, thông
qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên
trong lĩnh vực văn học và khoa học.[101]Trong những
dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng
chữ Nôm
5.7 Nhà giáo 5.7.1 Đào tạo giáo chức
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộcViện Đại họcSài Gòn(thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầutiên, bắt đầu khai giảng năm 1958.[102]Sau có thêm cáctrường cao đẳng sư phạm ởBan Mê uột,Huế,VĩnhLong,Long An, vày Nhơn[103]Nha Trang,Mỹ o,
Cần ơ,Long Xuyên.[10]Ngoài ra còn có Trường Đạihọc Sư phạm Huế thuộcViện Đại học Huếvà TrườngĐại học Sư phạm Đà Lạt thuộcViện Đại học Đà Lạt.[104]
Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạogiáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi làchương trình sư phạm cấp tốc Chương trình này nhậnnhững ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp.[105]
Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáoviên tiểu học.[106]Giáo viên trung học thì phải theo họcchương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4năm).[107]Sinh viên các trường sư phạm được cấphọcbổngnếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước
ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp.[108]
Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và anhniên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức cácchương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục
để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp
Bộ Văn hóa, Giáo dục và anh niên cũng gởi gởi nhiềugiáo chức đi tu nghiệp ở các nước nhưAnh,Pháp,Hoa
Kỳ,Nhật,Đức, v.v…[104]
Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từViện Đạihọc Đông Dươngở Hà Nội từ trước năm 1954 Số khácđược đào tạo ởPháp,ĐứcvàMỹ Vào năm 1970 tổngcộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học củaViệt Nam Cộng hòa.[73]
5.7.2 Đời sống và tinh thần giáo chức
Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là
250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học
đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấphạng 5 là 430, hạng 4 là 470 Với mức lương căn bản nhưvậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thànhphố thờiĐệ Nhất Cộng hòacó cuộc sống khá thoải mái,
có thể thuê được người giúp việc trong nhà Sang thời
Đệ Nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leothang, nhà giáo cảm thấy đời sống chật vật hơn, nhất là
ở những thành phố lớn nhưSài GònvàĐà Nẵng Tuyvậy, hầu hết các nhà giáo vẫn giữ vững tinh thần và tưcách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóngvai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đếncách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, vàvới cả giới chức chính quyền địa phương.[104]
Trang 2520 CHƯƠNG 5 GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HÒA
Trường Đại học Sư phạm, một trường thành viên của Viện Đại
học Sài Gòn
5.8 Thi cử và đánh giá kết quả học
tập
Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân,
Sử, Địa trong các kỳ thiTú tài I và Tú tài IItừ niên khóa
1965–1966 Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong
kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm Các vị
thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn
luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi
với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả
lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời
để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho
thích hợp.[40]
Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ ốc gia
Giáo dục đã ký hợp đồng với công tyIBMđể điện toán
hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo
danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê
cần thiết Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt
từHoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy
IBM 1230 Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển
sang máyIBM 534để đục lỗ Những phiếu đục lỗ này
được đưa vào máyIBM 360để đọc điểm, nhân hệ số,
cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển
điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển
v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm
group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp
của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ
lệch tiêu chuẩn.[40]
5.9 Tổ chức quản trị 5.9.1 Hệ thống quản trị giáo dục
Bản đồ hành chính với địa giới các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa và bốn khu học chánh (cũng tương ứng với bốn vùng chiến thuật )
Dưới thờiĐệ Nhất Cộng hòa, Bộ ốc gia Giáo dục cóTổng Nha Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục phụtrách giáo dục tiểu học và trung học; đứng đầu là mộtTổng Giám đốc Tổng Nha này (văn phòng đặt tại số
7 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm,Sài Gòn) bao gồm NhaTrung học, Nha Tiểu học, Nha Tư thục, Sở Khảo thí,
và Ban anh tra và Soạn Đề thi Ở địa phương, mỗitỉnh có một Ty Tiểu học để quản lý tất cả các trườngtiểu học trong tỉnh Nhưng các trường trung học ở SàiGòn và ở các tỉnh lỵ và quận lỵ đều làm việc thẳngvới Nha Trung học ở Tổng Nha Khi số trường trunghọc gia tăng quá nhiều thi Nha Trung học hoạt độngkhông còn hữu hiệu nữa Ở tại các tỉnh,hiệu trưởng
trường trung học tỉnh lỵ kiêm luôn việc kiểm soát cáctrườngbán côngvàtư thụckhiến vị trí công việc nàyrất nặng nề.[109]Năm 1958 lập Ban Tu thư để soạn sáchgiáo khoa, phần lớn in ở ngoại quốc với viện trợ của