MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Ở bất kỳ thời điểm nào, quốc gia nào, thì vấn đề đô thị hóa và phát triển đô thị luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả một quốc gia. Các đô thị đều là những trung tâm chính trị kinh tế xã hội của cả một quốc gia, một vùng, một địa phương. Vì vậy, phát triển đô thị là một vấn đề thiết yếu để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đô thị của từng đơn vị hành chính lãnh thổ có những đặc thù riêng, vai trò quản lý nhà nước riêng của nó. Đô thị hòan tòan khác với nông thôn. Đô thị đòi hỏi phải có mô hình tổ chức chính quyền riêng biệt, khác với mô hình tổ chức chính quyền ở nông thôn mới có thể quản lý, quy hoạch để phát triển đô thị. Đặc biệt là những đô thị lớn, đô thị loại đặc biệt thì điều đó là vô cùng cần thiết cho sự phát triển của đô thị. Trong quá trình hội nhập với thế giới, trong xu thế tòan cầu hóa, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã và đang diễn ra nhanh chóng. Quá trình này đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề mới và đặt ra nhiều thách thức trong hoạt động quản lý đô thị như: Quy hoạch đô thị, giao thông, dân cư, xây dựng, môi trường..., đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh. Thực tiễn đó đã đặt ra sự cần thiết phải đổi mới mô hình tổ chức chính quyền đô thị nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, góp phần thúc đẩy kinh tếxã hội phát triển. Việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị là vấn đề mới, lần đầu đặt ra ở nước ta trong giai đoạn xây dựng và phát triển. Trên thế giới hiện nay có nhiều đô thị lớn có tốc độ phát triển rất nhanh. Chính phủ nhiều nước đã lựa chọn đúng đắn mô hình tổ chức chính quyền đô thị với hòan cảnh, tình hình kinh tế xã hội của đô thị, quốc gia đó. Chính nhờ lựa chọn đúng mô hình tổ chức chính quyền đô thị mà chính phủ các nước đã khai thác được những thế mạnh của đô thị đó, đưa ra được những chính sách, những phương án quy hoạch đô thị hợp lý, góp phần thức đẩy sự phát triển của đô thị đó nói riêng cũng như sự phát triển của vùng, quốc gia đó nói chung. Trong điều kiện kinh nghiệm xây dựng chính quyền đô thị ở nước ta còn hạn chế thì việc nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm của các nước về xây dựng mô hình chính quyền đô thị là rất cần thiết. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Mô hình chính quyền đô thị ở một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam” để nghiên cứu. Với vốn kiến thức còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm thực tế, và lượng thông tin thu thập được còn hạn chế trong khi đề tài lại mang tính chuyên môn cao nên trong việc nghiên cứu đề tài không tránh được những sai lầm, thiếu sót. EmMỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Ở bất kỳ thời điểm nào, quốc gia nào, thì vấn đề đô thị hóa và phát triển đô thị luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả một quốc gia. Các đô thị đều là những trung tâm chính trị kinh tế xã hội của cả một quốc gia, một vùng, một địa phương. Vì vậy, phát triển đô thị là một vấn đề thiết yếu để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đô thị của từng đơn vị hành chính lãnh thổ có những đặc thù riêng, vai trò quản lý nhà nước riêng của nó. Đô thị hòan tòan khác với nông thôn. Đô thị đòi hỏi phải có mô hình tổ chức chính quyền riêng biệt, khác với mô hình tổ chức chính quyền ở nông thôn mới có thể quản lý, quy hoạch để phát triển đô thị. Đặc biệt là những đô thị lớn, đô thị loại đặc biệt thì điều đó là vô cùng cần thiết cho sự phát triển của đô thị. Trong quá trình hội nhập với thế giới, trong xu thế tòan cầu hóa, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã và đang diễn ra nhanh chóng. Quá trình này đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề mới và đặt ra nhiều thách thức trong hoạt động quản lý đô thị như: Quy hoạch đô thị, giao thông, dân cư, xây dựng, môi trường..., đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh. Thực tiễn đó đã đặt ra sự cần thiết phải đổi mới mô hình tổ chức chính quyền đô thị nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, góp phần thúc đẩy kinh tếxã hội phát triển. Việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị là vấn đề mới, lần đầu đặt ra ở nước ta trong giai đoạn xây dựng và phát triển. Trên thế giới hiện nay có nhiều đô thị lớn có tốc độ phát triển rất nhanh. Chính phủ nhiều nước đã lựa chọn đúng đắn mô hình tổ chức chính quyền đô thị với hòan cảnh, tình hình kinh tế xã hội của đô thị, quốc gia đó. Chính nhờ lựa chọn đúng mô hình tổ chức chính quyền đô thị mà chính phủ các nước đã khai thác được những thế mạnh của đô thị đó, đưa ra được những chính sách, những phương án quy hoạch đô thị hợp lý, góp phần thức đẩy sự phát triển của đô thị đó nói riêng cũng như sự phát triển của vùng, quốc gia đó nói chung. Trong điều kiện kinh nghiệm xây dựng chính quyền đô thị ở nước ta còn hạn chế thì việc nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm của các nước về xây dựng mô hình chính quyền đô thị là rất cần thiết. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Mô hình chính quyền đô thị ở một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam” để nghiên cứu. Với vốn kiến thức còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm thực tế, và lượng thông tin thu thập được còn hạn chế trong khi đề tài lại mang tính chuyên môn cao nên trong việc nghiên cứu đề tài không tránh được những sai lầm, thiếu sót. Em rất mong nhận được các ý kiến góp ý của thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn. rất mong nhận được các ý kiến góp ý của thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Ở bất kỳ thời điểm nào, quốc gia nào, thì vấn đề đô thị hóa và phát triển
đô thị luôn được xem là một trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến sựphát triển của cả một quốc gia Các đô thị đều là những trung tâm chính trị - kinh
tế - xã hội của cả một quốc gia, một vùng, một địa phương Vì vậy, phát triển đôthị là một vấn đề thiết yếu để phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Đô thị của từng đơn vị hành chính lãnh thổ có những đặc thù riêng, vaitrò quản lý nhà nước riêng của nó Đô thị hòan tòan khác với nông thôn Đôthị đòi hỏi phải có mô hình tổ chức chính quyền riêng biệt, khác với mô hình
tổ chức chính quyền ở nông thôn mới có thể quản lý, quy hoạch để phát triển
đô thị Đặc biệt là những đô thị lớn, đô thị loại đặc biệt thì điều đó là vô cùngcần thiết cho sự phát triển của đô thị
Trong quá trình hội nhập với thế giới, trong xu thế tòan cầu hóa, quátrình đô thị hóa ở Việt Nam đã và đang diễn ra nhanh chóng Quá trình này đãlàm phát sinh rất nhiều vấn đề mới và đặt ra nhiều thách thức trong hoạt độngquản lý đô thị như: Quy hoạch đô thị, giao thông, dân cư, xây dựng, môitrường , đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh Thực tiễn
đó đã đặt ra sự cần thiết phải đổi mới mô hình tổ chức chính quyền đô thịnhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hộiphát triển Việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị là vấn đề mới, lần đầuđặt ra ở nước ta trong giai đoạn xây dựng và phát triển
Trên thế giới hiện nay có nhiều đô thị lớn có tốc độ phát triển rấtnhanh Chính phủ nhiều nước đã lựa chọn đúng đắn mô hình tổ chức chínhquyền đô thị với hòan cảnh, tình hình kinh tế xã hội của đô thị, quốc gia đó.Chính nhờ lựa chọn đúng mô hình tổ chức chính quyền đô thị mà chính phủcác nước đã khai thác được những thế mạnh của đô thị đó, đưa ra được nhữngchính sách, những phương án quy hoạch đô thị hợp lý, góp phần thức đẩy sự
Trang 2phát triển của đô thị đó nói riêng cũng như sự phát triển của vùng, quốc gia đónói chung.
Trong điều kiện kinh nghiệm xây dựng chính quyền đô thị ở nước tacòn hạn chế thì việc nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm của các nước về xâydựng mô hình chính quyền đô thị là rất cần thiết Chính vì vậy, em đã chọn đề
tài “Mô hình chính quyền đô thị ở một số nước trên thế giới và những gợi
mở cho Việt Nam” để nghiên cứu.
Với vốn kiến thức còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm thực tế, và lượngthông tin thu thập được còn hạn chế trong khi đề tài lại mang tính chuyênmôn cao nên trong việc nghiên cứu đề tài không tránh được những sai lầm,thiếu sót Em rất mong nhận được các ý kiến góp ý của thầy cô để đề tài đượchoàn thiện hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu về các mô hình tổ chức chính quyền
đô thị ở một số nước trên thế giới Từ đó có thể đưa ra một số gợi mở choViệt Nam trong quá trình xây dựng chính quyền đô thị hiện nay, khi mà vấn
đề này còn rất nan giải, chưa giải quyết được hiệu quả Đặc biệt là đối với các
đô thị lớn hiện nay như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là mô hình chính quyền đô thị ở các nước
- Phạm vi nghiên cứu: một số nước trên thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu.
Ngoài những phương pháp lý luận chung khi nghiên cứu một vấn đềphương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng thì em còn sử dụng thêmmột số phương pháp:
- Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau
- Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, mô tả…
Trang 35 Cấu trúc đề tài.
Đề tài “Mô hình chính quyền đô thị ở một số nước trên thế giới
và những gợi mở cho Việt Nam” có phần mở đầu, kết luận và 3 chương,
bao gồm:
Chương 1: Lý luận chung về đô thị
Chương 2: Mô hình chính quyền đô thị ở một số nước trên thế giới.Chương 3: Những gợi mở cho Việt Nam trong quá trình xây dựng môhình chính quyền đô thị
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÔ THỊ
1 Một số khái niệm công cụ.
a Khái niệm đô thị và đô thị hóa.
Đô thị: Hiện nay khái niệm đô thị có nhiều khác nhau, tuy nhiên dùkhác nhau về mặt câu chữ thì khái niệm đô thị có thể hiểu là tên gọi chungcủa các thành phố, thị xã, thị trấn Nó được bắt nguồn từ ba yếu tố : “thành”,
“đô” và “thị” Có thể hiểu đô thị là nơi tập trung đông dân cư, là trung tâmcủa một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch
vụ, là trung tâm giao lưu về kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự, xã hội [3, 2]
Theo Thông tư: Quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc Phân loại đô thị: Đôthị: là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt độngtrong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính,kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-
xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nộithành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.[19]
Có cách hiểu khác cho rằng: Đô thị là hình thức tồn tại của xã hội loàingười trong phạm vi không gian – xã hội mang tính cụ thể về mặt lịch sử, làhình thức tổ chức cư trú của con người, được đặc trưng bởi các tiêu chí sau:
- Tập trung dân cư với mật độ cao
- Chủ yếu là lao động phi nông nghiệp
- Có hạ tầng cơ sở thích hợp
- Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành
- Có vai trò thúc đẩy sự nghiệp kinh tế xã hội của cả nước, của mộtmiền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huỵện hoặc của một vùng
Khái niệm đô thị hóa cũng rất đa dạng
Đô thị hóa là quá trình phát triển đô thị ở một quốc gia
Trang 5Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân phối lại lực lượng sản xuấttrong nền kinh tế quốc dân, bố trí lại dân cư, hình thành, phát triển các hìnhthức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theochiều sâu trên cơ sở hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, tăng quy mô và mật
độ dân số [2, 4]
Đô thị hóa là một quá trình phát triển về dân số đô thị, số lượng và quy
mô đô thị cũng như về các điều kiện sống ở đô thị hoặc theo kiểu đô thị [5]
Đặc điểm của đô thị hóa là:
- Đô thị hóa mang tính lịch sử và xã hội
- Đô thị hóa gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội
b Khái niệm chính quyền đô thị và quản lý đô thị.
Khái niệm chính quyền đô thị: Theo như TS Võ Trí Hảo (Khoa Luậtkinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM), thì chính quyền đô thị là thuật ngữ để chỉmột mô hình chính quyền địa phương thành lập ở các đô thị, dùng để phânbiệt với mô hình chính quyền nông thôn Chính quyền đô thị thường có haiđặc điểm khác biệt so với chính quyền nông thôn Thứ nhất, được tổ chức rútgọn một số cấp chính quyền, nhưng vẫn bảo đảm khoảng cách "nhân dân -chính quyền” không quá xa về mặt không gian Thứ hai, người đứng đầuchính quyền đô thị do dân bầu trực tiếp, hay nói cách khác bộ máy chínhquyền được tổ chức theo mô hình thị trưởng, đòi hỏi người đứng đầu chínhquyền chịu trách nhiệm trước dân cao hơn, cũng có thể bị phế truất trực tiếpbởi lá phiếu của người dân [17]
Khái niệm quản lý đô thị: có nhiều khái niệm về quản lý đô thị
Quản lý đô thị là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách, củachủ thể quản lý đô thị vào các hoạt động đô thị nhằm thay đổi hoặc duy trìhoạt động của đô thị theo hướng tích cực [2,7]
Quản lý đô thị là các hoạt động nhằm huy động mọi nguồn lực vàocông tác quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các hoạtđộng đó để đạt được các mục tiêu phát triển của chính quyền đô thị.[3,44]
Trang 6Thực chất là sự can thiệp của Nhà nước bằng quyền lực công vào cáchoạt động ở đô thị thông qua chính quyền của từng đô thị
2 Đặc điểm của đô thị.
a Đặc điểm của đô thị.
- Đô thị như một cơ thể sống
Các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội luôn luôn vận động,biến đổi trên cơ sở hạ tầng đô thị Bất kỳ một biến động, “trục trặc” nào xảy
ra trong hệ thống cấu trúc trong lòng đô thị cũng sẽ gây ảnh hưởng, rối loạnhoạt động đô thị Do vậy, để phát triển đi lên thì đô thị cần có sự cân bằng, ổnđịnh và bền vững nội tại
- Đô thị luôn phát triển
Đô thị được xem như là một cơ thể sống Đô thị hình thành và pháttriển cùng với xã hội loài người Xã hội loài người luôn vận động và pháttriển, kinh tế hàng hóa luôn phát triển, đô thị cũng luôn vận động và pháttriển Sự hình thành, tồn tại và phát triển của đô thị cũng chịu sự tác động củacác quy luật của kinh tế - xã hội, trong đó đô thị chịu sự tác động mạnh mẽnhiều từ quy luật của nền kinh tế thị trường
- Sự vận động và phát triển đô thị có thể điều khiển được
Con người là chủ thể của đô thị Sự hình thành, tồn tại và phát triển của
đô thị đều được tạo nên bởi con người Tiến hành các hoạt động trong đô thịcũng là con người Vì vậy, con người có thể điều khiển được sự vận động vàphát triển của đô thị Tuy nhiên, con người chỉ có thể điều khiển đô thị theođúng quy luật khách quan của nó, chứ không thể điều khiển đô thị tồn tại,hoạt động theo ý muốn chủ quan của mình
b Đặc trưng của đô thị Việt Nam.
Ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia khác nhau, đặc trưng của đô thị cũng khácnhau Đặc trưng đô thị ở mỗi nơi đều chịu sự ảnh hưởng của bối cảnh chính trị,yếu tố văn hóa, tình hình kinh tế - xã hội của chính nơi mà đô thị hình thành, tồntại và phát triển Đô thị của Việt Nam có các đặc trưng cơ bản sau:
Trang 7- Đô thị ở Việt Nam không phát triển bằng con đường tự nhiên, khôngphải bằng hệ quả của sự phát triển tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp giốngnhư các nước phương Tây, mà do nhà nước sinh ra Ở thời phong kiến, đô thịthực hiện chứ năng hành chính là chủ yếu, do nhà nước trực tiếp quản lý.
- Ở Việt Nam, đô thị trước hết là trung tâm chính trị, rồi sau đó mớiđến là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội,…
- Số lượng và quy mô đô thị so với nông thôn là không đáng kể Đô thịphụ thuộc vào nông thôn, thậm chí còn bị nông thôn hóa Phố nằm xen kẽlàng, lối sống tương tự như lối sống nông thôn, do bị văn hóa cộng đồng làng
xã chi phối và do tính tự trị cao
*Phân loại đô thị ở Việt Nam hiện nay
Theo điều 4 Nghị định số 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07tháng 05 năm 2009 Về việc phân loại đô thị thì: Đô thị được phân thành 6 loạinhư sau:
Loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhànước có thẩm quyền quyết định công nhận
1 Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quậnnội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc
2 Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quậnnội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I,loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành
3 Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nộithành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị
4 Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xãngoại thị
5 Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phốxây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn [9]
Trang 8TƯ (CP) Tỉnh, TP Quận, Huyện,
TX
Phường, Thị trấn, Xã
Sở Tc
Phòng KH
Phòng TC
Ban TC
Sở QH
Ban KH
Ban
…
3 Bộ máy quản lý nhà nước về đô thị ở Việt Nam.
a Sơ đồ bộ máy quản lý đô thị ở Việt Nam.
b Sự phối hợp giữa bộ máy quản lý nhà nước và các Bộ, sở, Ban
ngành.
Bộ máy nhà nước quản lý đô thị là một hệ thống cơ quan nhà nước từ
trung ương đến địa phương, tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc
thống nhất, có sự phối hợp thực hiện giữa các cơ quan theo chiều dọc từ trung
ương đến địa phương (và ngược lại), theo chiều ngang giữa các Bộ, Sở, Ban
ngành liên quan Từ đó tạo thành một hệ thống đồng bộ, thống nhất để thực
hiện quản lý đô thị
Trang 9Bộ máy quản lý đô thị cũng là một bộ phận của bộ máy quản lý Nhànước.
c Phân cấp, phân quyền trong bộ máy quản lý nhà nước về đô thị.
Theo pháp luật hiện hành, chính quyền thành phố trực thuộc trung ươngđược tổ chức thành 3 cấp hành chính: Thành phố, quận, phường Hiện nay cócác mô hình tổ chức chính quyền thành phố sau:
- Mô hình ba cấp ra quyết định:
Ở mô hình này, thành phố được tổ chức thành ba cấp: Thành phố, quận,phường Ba cấp này có quyền ra quyết định ở các mức độ khác nhau trongphạm vi quy định chức năng quyền hạn của mình theo như luật định
- Mô hình hai cấp ra quyết định:
Ở mô hình này, thành phố được tổ chức thành 2 cấp: Thành phố,phường ( không có cấp quận trung gian) Hai cấp đều có quyền ra quyết định
ở các mức độ khác nhau trong phạm vi quy định chức năng quyền hạn củamình theo như luật định
- Mô hình một cấp ra quyết định:
Ở mô hình này, mọi vấn đề của cơ sở đều do cấp thành phố quyết đinh.Cấp quận, phường vãn tồn tại nhưng chỉ là những trung tâm thực hiện Cáccấp dưới trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên chỉ được quyền thỉnh thị báocáo và chờ đợi quyết định của thành phố
Tóm lại, dù mô hình phân cấp, phân quyền nào cũng tồn tại những ưuđiểm và nhược điểm riêng Khi lựa chọn mô hình tổ chức chính quyền cầnphải xem xét tới những yếu tố khách quan và chủ quan như: bối cảnh kinh tế,thể chế chính trị, xu hướng phát triển chung , năng lực của cán bộ,…để lựachọn mô hình tổ chức chính quyền đô thị thích hợp Có như vậy mới phát huyđược những ưu điểm, hạn chế nhược điểm của từng loại mô hình tổ chứcchính quyền Lựa chọn được mô hình tổ chức chính quyền đô thị phù hợp sẽgóp phần làm cho các hoạt động trên các lĩnh vực hiệu quả hơn, đô thị pháttriển ngày càng tốt hơn
Trang 10CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ Ở MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều thành phố lớn, phát triển mạnh mẽ.Tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, văn hóa xã hội, tình hình phát triển, quanđiểm nhận thức của cơ quan chính quyền cấp quốc gia mà các thành phố cócác mô hình tổ chức chính quyền khác nhau Hiện nay có rất nhiều mô hình tổchức chính quyền đô thị khác nhau ở trên thế giới
Hầu hết, mỗi một thành phố đều là một đơn vị hành chính cơ sở, được
tổ chức gần giống như là các cấp chính quyền khác Tuy nhiên, mỗi quốc giađều có cách thức tổ chức mô hình chính quyền riêng của mình, không có môhình nào là duy nhất thống nhất cho các quốc gia Sau đây là một số mô hình
tổ chức chính quyền đô thị ở một số nước trên thế giới hiện nay:
1 Chính quyền đô thị ở Bắc Kinh – Trung Quốc.
Bắc Kinh là thủ đô của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, là trungtâm kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội của Trung Quốc Bắc Kinh là mộttrong số các thành phố đông dân nhất thế giới với dân số là 20.693.000 ngườivào năm 2012, là thành phố lớn thứ hai của Trung Quốc nếu xét theo dân số
đô thị, xếp sau Thượng Hải Thành phố này là nơi đặt trụ sở của hầu hết cáccông ty quốc hữu lớn nhất Trung Quốc, và là một đầu mối giao thông chínhcủa các hệ thống quốc lộ, đường cao tốc, đường sắt và đường sắt cao tốc tạiTrung Quốc
Bắc Kinh hiện có 16 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 14 khunội thị và ngoại ô cùng 2 huyện [ 12]
Ở Bắc Kinh, Đại hội nhân dân thành phố là cơ quan quyền lực nhànước của thành phố Bắc Kinh, có nhiệm kỳ 5 năm Đại hội nhân dân thànhphố được đại biểu Đại hội nhân dân quận, huyện, và các đơn vị vũ trang đóngtrên địa bàn bầu ra Đại hội nhân dân ở Bắc Kinh có trách nhiệm giống nhưHội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương ở nước ta Đại hội nhân
Trang 11dân thành phố Bắc Kinh có cơ quan thường trực là Ủy ban thường trực đại hộinhân dân Đại hội nhân dân thành phố bầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thànhphố, các phó chủ tịch.
Ủy ban thường vụ của Đại hội nhân dân thành phố có nhiều ban, ngànhthực hiện chức năng ra quyết định và giám sát trên nhiều lĩnh vực
Chính quyền thành phố Bắc Kinh là cơ quan chấp hành của Đại hộinhân dân thành phố và là cơ quan hành chính của thành phố, chịu sự lãnh đạocủa hội đồng nhà nước – Quốc vụ viện Chính quyền thành phố bao gồm: Thịtrưởng, các phó thị trưởng, tổng thư ký và giám đốc các Sở, ban, ngành Cácthành viên của chính quyền thành phố được Đại hội nhân dân bầu, có nhiệm
kỳ 5 năm Chính quyền thành phố có chức năng thực thi các quyết định củaĐại hội nhân dân, ban hành các quy tắc, quy định, lãnh đạo hoạt động của cấpdưới, thực thi các kế hoạch kinh tế và ngân sách, quản lý các vấn đề liên quanđến kinh tế, giáo dục, tài chính, dân sự, tật tự an toàn xã hội, dân tộc và kếhoạch hóa gia đình
Chính quyền thành phố phối hợp với Hội nghị hiệp thương nhân dânthành phố trong hoạt động quản lý thành phố Có chính quyền thành phố vàchính quyền quận [1,80]
Nhìn chung cơ cấu tổ chức chính quyền tại khu vực nội thành của cácthành phố Trung Quốc tồn tại hai loại hình thể chế là thể chế “Hai cấp chínhquyền, ba cấp quản lý” và thể chế “Một cấp chính quyền, hai cấp quản lý”.Thể chế “Hai cấp chính quyền, ba cấp quản lý” tồn tại ở các đô thị lớn có lậpkhu Ở các đô thị này, cấp thành phố và cấp khu đều thiết lập một cấp chínhquyền hoàn chỉnh, gồm đủ Đại hội đại biểu nhân dân (thường gọi tắt là Nhânđại) và hành chính địa phương, trong đó chính quyền cấp khu là chính quyền
cơ sở Tại các khu phố thuộc khu không thiết lập cấp chính quyền mà chỉ bốtrí một số Phòng công tác khu phố với tư cách là cơ quan hành chính nhànước đại diện hành chính cấp khu, do hành chính cấp khu phân công đóngtrên địa bàn, thi hành một số quyền hạn do hành chính cấp khu trao
Trang 12Chính quyền tại khu vực ngoại thành của các thành phố Trung Quốctồn tại hai loại hình thể chế là thể chế “Ba cấp chính quyền”, tức chính quyềnthành phố - chính quyền huyện – chính quyền hương trấn ở các đô thị lớn cóquản lý huyện và thể chế “Hai cấp chính quyền”, tức chính quyền thành phố -chính quyền hương, trấn ở các đô thị cấp huyện [ 6]
2 Chính quyền đô thị ở Tokyo – Nhật Bản.
Tokyo là thủ đô và một trong 47 tỉnh của Nhật Bản, thủ đô Tokyo nằm
ở phía đông của đảo chính Honshu Tokyo là trung tâm của Vùng thủ đôTokyo Trung tâm hành chính của Tokyo đặt ở khu Shinjuku Vùng đô thịTokyo là vùng đô thị đông dân nhất thế giới với dân số từ 35-39 triệu người
và GDP cao nhất thế giới với GDP 1.479 tỷ đô la Mỹ theo sức mua tươngđương vào năm 2008
Tokyo là một trong 3 "trung tâm chỉ huy" của nền kinh tế thế giới, cùngvới Luân Đôn và Thành phố New York Thành phố Tokyo là nơi đặt có cơquan đầu não của Chính phủ Nhật Bản, Hoàng cung Nhật Bản và là nơi cưngụ của Hoàng gia Nhật Bản [ 14]
Thủ đô Tokyo của Nhật Bản gồm 23 phường đặc biệt, 26 quận, 7 thịtrấn và 8 xã Chính quyền đô thị Tokyo có 2 cấp gồm chính quyền thành phố
và cấp quận hoặc phường đặc biệt
Chính quyền thành phố Tokyo gồm 2 cơ quan: Hội đồng thành phố vàThị trưởng
Các thành viên Hội đồng thành phố do người dân trực tiếp bầu ra,nhiệm kỳ 4 năm Hội đồng thành phố quyết định các chính sách quản lý vàphát triển đô thị, giám sát hoạt động của cơ quan hành chính: yêu cầu Thịtrưởng báo cáo việc quản lý, thu chi ngân sách đô thị, việc thi hành nghị quyếtcủa Hội đồng
Chức năng cơ bản của Hội đồng thành phố là chức năng đại diện Cơquan này đại điện cho 12 triệu công dân của Thủ đô Tokyo, có quyền biểuquyết bất tín nhiệm đối với Thị trưởng
Trang 13Thị trưởng do người dân trực tiếp bầu ra và có nhiệm kỳ 4 năm, chịutrách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động của chính quyền đô thị và có quyền đạidiện cho chính quyền đô thị trong quan hệ với bên ngoài.
Ngoài ra, thị trưởng còn có một số quyền quan trọng khác như quyềnban hành quyết định, dự thảo ngân sách thành phố, đề xuất các dự luật, và bổnhiệm hay miễn nhiệm nhân viên hành chính; quyền từ chối thực hiện nghịquyết đã được Hội đồng phê chuẩn và yêu cầu Hội đồng xem xét lại các nghịquyết này
Chính quyền quận cũng bao gồm 2 cơ quan: Hội đồng quận và Quậntrưởng, cùng do người dân trực tiếp bầu ra Chính quyền quận là chính quyền
cơ sở nơi trực tiếp cung cấp các dịch vụ cho người dân Mối quan hệ giữachính quyền thành phố và chính quyền quận không phải là mối quan hệ giữacấp trên với cấp dưới Mỗi cấp chính quyền có nhiệm vụ, quyền hạn được xácđịnh bởi luật và hoạt động theo nguyên tắc tự quản [11]
Trang 14Sơ đồ chính quyền thành phố Tokyo
[Nguồn: Tuanvietnam.net]
Trang 15Chính quyền đô thị Nhật Bản có hai nhánh cơ bản: lập pháp và hànhpháp Nhánh lập pháp ban hành các quy định của thành phố, quyết định ngânsách Hội đồng thành phố thuộc nhánh này Nhánh hành pháp thực thi cácchính sách do nhánh lập pháp quyết định Thị trưởng thành phố và các ủy banhành chính thuộc nhánh này.
Hội đồng đô thị là bộ phận hoạch định chính sách cho chính quyền đôthị, có quyền bỏ phiếu đối với các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình.Bên cạnh đó, Hội đồng còn có một số quyền khác như quyền bầu cử (các vịtrí thị trưởng, phó thị trưởng, thành viên ban bầu cử), quyền thanh tra (xemxét các tài liệu của chính quyền và yêu cầu các báo cáo của thị trưởng về việcthu chi, việc quản lý các hoạt động của chính quyền địa phương, việc thi hànhcác nghị quyết) và quyền điều tra (các hoạt động của chính quyền thành phốcũng như yêu cầu việc nộp các hồ sơ sổ sách hay việc trình diện và chứngnhận của các cử tri và những người có liên quan khác)
Các ủy ban hành chính được thiết lập ra để hỗ trợ thị trưởng trong việcthực hiện các nhiệm vụ đặc biệt tùy thuộc vào chức năng quyền hạn của từng
ủy ban [4]
3 Chính quyền đô thị ở Seoul – Hàn Quốc.
Seoul là thủ đô của Hàn Quốc Seoul là một thành phố cổ, từng là kinh
đô của Bách Tế (18 TCN – 660) và Triều đại Triều Tiên (1392-1910) Thànhphố đã trở thành thủ đô của Hàn Quốc sau khi thành lập chính phủ Hàn Quốcnăm 1948 Seoul là một thành phố đặc biệt, trực thuộc trung ương Với dân sốhơn 10 triệu, Seoul là thành phố lớn nhất Hàn Quốc và là một trong nhữngthành phố lớn nhất thế giới tính theo dân số, là một trong những thành phố lớn
có mật độ dân số cao nhất thế giới Seoul còn là 1 trong 20 thành phố toàncầu Vùng thủ đô Seoul bao gồm thành phố cảng lớn Incheon và tỉnhGyeonggi, có tổng cộng 25 triệu dân sinh sống, là vùng đô thị lớn thứ hai thếgiới sau Thủ đô Seoul là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của Hàn Quốc
Trang 16Thành phố Seoul đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế củanước này [13].
Về mặt đơn vị hành chính, thành phố Seoul được chia thành 25 quận
và hơn 522 phường (xã) Các Quận trở thành cấp chính quyền tự trị kể từ năm
1988 và tiến hành bầu cử Quận trưởng từ năm 1995 Chính quyền đô thị đượcthành lập ở thành phố và cấp quận
Chính quyền thành phố Seoul gồm Hội đồng thành phố (MetropolitanCouncil) và Thị trưởng Hội đồng được coi là cơ quan lập pháp của thànhphố, do người dân Seoul bầu, nhiệm kỳ 4 năm Thị trưởng có văn phòng củathị trưởng được bầu, và cơ quan hành pháp
Chính quyền cấp quận cũng bao gồm Hội đồng quận và Quận trưởng
do người dân bầu ra Dưới quận là phường (xã) nơi có các nhân viên hànhchính quận để cung cấp các dịch vụ công cho người dân Mối quan hệ giữachính quyền thành phố Seoul và chính quyền các quận được xây dựng theonguyên tắc tự quản [ 11]
Trang 17Sơ đồ tổ chức chính quyền thành phố Seoul.
[Nguồn : Tuanvietnam.net]
Trang 184 Chính quyền đô thị ở Bangkok – Thái Lan.
Bangkok là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Thái Lan Bangkok làthành phố có tốc độ phát triển về kinh tế rất nhanh ở vùng Đông Nam Á Đâycũng là nơi thu hút nhiều khách du lịch
Thủ đô Bangkok bao gồm 50 quận Các quận lại được chia thành 169phường
Mọi dự án phát triển ở trong và xung quanh thành phố Bangkok đềuphải được phê chuẩn bởi Chính phủ Hội đồng thành phố sẽ phê chuẩnchương trình phát triển thành phố, tuy nhiên các chương trình phát triển nàyphải đi đồng bộ với quy hoạch của thành phố Bangkok
Kế hoạch của Bangkok do Ban Kinh tế và phát triển xã hội ở trungương, Bộ Nội vụ và Sở Công vụ và Kế hoạch của thị trấn, quận lập ra Mỗiquận có riêng bộ máy hành chính và có đại diện ở Hội đồng thành phốBangkok Các quận ban hành kế hoạch và người đại diện quận sẽ trình kếhoạch đó lên Hội đồng thành phố để xem xét theo Kế hoạch vùng và phêchuẩn kế hoạch đó
Thủ đô Bangkok là đơn vị duy nhất ở cấp địa phương chịu trách nhiệmđối với người dân ở địa phương và được trợ giúp về tài chính từ chính quyềntrung ương Chính quyền đô thị được thiết lập ở cấp thành phố và cấp quận
Bộ máy chính quyền thành phố Bangkok bao gồm Hội đồng Thành phố vàThị trưởng:
Hội đồng thành phố Bangkok: là cơ quan lập pháp ở địa phương Hộiđồng thành phố được trao quyền lập pháp và quyền giám sát hoạt động của cơquan hành chính Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu Hội đồng Hội đồngthành phố bao gồm 57 thành viên được bầu cử bởi 57 đơn vị bầu cử (một sốđơn vị bầu cử có thể bầu hơn 1 đại biểu) và theo nhiệm kỳ 4 năm
Thị trưởng: là người đứng đầu cơ quan hành chính của thành phố vàđược bầu bằng hình thức bầu cử trực tiếp phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4