1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DE TAI sử dụng sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị

47 1,7K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 5,4 MB
File đính kèm DTKH HOAN THIEN.rar (5 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập giúp sinh viên phát huy tích cực, khả năng tư duy và hứng thú học tập, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não giúp học sinh tiếp thu lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả, hệ thống hóa kiến thức một cách khoa học, logic, mở rộng tư duy, tăng khả năng sáng tạo, từ đó góp phần nâng cao kết quả học tập của sinh viên. đề tài “Hướng dẫn học sinh Điều dưỡng lớp 12B sử dụng sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị, năm học 20112012” nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.

Trang 1

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhậpquốc tế, nguồn lực con người càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thànhcông của công cuộc phát triển đất nước

Giáo dục có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ ngườiViệt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó các trường cao đẳng,đại học chính là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cao cho xã hội và sinh viênchính là lực lượng lao động tương lai quyết định sự phát triển và phồn vinh của đất nước

Trước những yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi các sinh viên khi tốtnghiệp phải trang bị cho mình kiến thức chuyên môn vững chắc, kỹ năng thực hành nghềnghiệp thành thạo, có khả năng lao động sáng tạo, có tư duy độc lập và năng lực giảiquyết vấn đề, có thể thích ứng tốt với những biến động của thị trường lao động

Sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học nói chung và Y học nói riêng, đòihỏi sinh viên phải biết lựa chọn phương pháp học tập phù hợp, để có thể tiếp thu, lĩnh hộimột lượng kiến thức khổng lồ, nhưng vẫn phát huy được tính tích cực, trí tưởng tượng,khả năng tư duy sáng tạo, đem lại kết quả cao trong học tập

Sơ đồ tư duy (Mind Map) còn gọi là bản đồ tư duy, lược đồ tư duy là một hìnhthức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, tóm tắtnhững ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề Đây là một công cụ tư duy cótính đột phá, một cách khai thác tiềm năng vô tận của bộ não đã được hơn 250 triệu người

ở các quốc gia trên thế giới sử dụng trong tất cả các lĩnh vực [12]

Sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập giúp sinh viên phát huy tích cực, khả năng tưduy và hứng thú học tập, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não giúp học sinh tiếpthu lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả, hệ thống hóa kiến thức một cách khoa học,logic, mở rộng tư duy, tăng khả năng sáng tạo, từ đó góp phần nâng cao kết quả học tậpcủa sinh viên

Xuất phát từ những lí do như trên, chúng tôi chọn đề tài “Hướng dẫn học sinh lớp Điều dưỡng 12B sử dụng sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị, năm học 2011-

Trang 2

2012” nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luận về quá trình học và tự học của học sinh

- Nghiên cứu và hướng dẫn học sinh sử dụng Sơ đồ tư duy để học và tự học

- Tiến hành thực nghiệm ở trường Cao đẳng Y Tế Sơn La

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

- Sơ đồ tư duy trong việc học môn Chính trị của học sinh lớp Điều dưỡng 12B

3.2 Đối tượng nghiên cứu.

- Học sinh lớp Điều dưỡng 12B

4 Phạm vi nghiên cứu

- Sơ đồ tư duy và ứng dụng sơ đồ tư duy trong việc học và tự học môn Chính trịcủa học sinh lớp Điều dưỡng 12B, năm học 2011-2012

5 Giả thuyết khoa học

Vận dụng Sơ đồ tư duy trong việc học và tự học môn Chính trị của học sinh sẽ tíchcực hóa hoạt động nhận thức, tăng hứng thú học tập cho học sinh, từ đó góp phần nângcao kết quả học tập của học sinh lớp Điều dưỡng 12B, năm học 2011-2012

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: tổng quan các tài liệu trong nước vàngoài nước về lý luận dạy học có liên quan đến đề tài Sử dụng phối hợp các phương phápphân tích, đánh giá, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các tàiliệu có liên quan tới việc ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học

Trang 3

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra cơ bản thực trạng việc học và

sử dụng sơ đồ tư duy trong học tập của học sinh lớp Điều dưỡng 12B, năm học

2011-2012 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài

- Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm, đưa ra những kết quả phân tích địnhtính, định lượng từ đó rút ra kết luận cho đề tài

7 Những đóng góp mới của đề tài

Xây dựng phương pháp học, tự học môn Chính trị của học sinh lớp Điều dưỡng12B, năm học 2011 - 2012 bằng sơ đồ tư duy

8 Cấu trúc của Đề tài khoa học

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của Đề tài khoa học gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong việc

học và tự học của học sinh

Chương 2 Hướng dẫn học sinh lớp Điều dưỡng 12B trường cao đẳng Y Tế

Sơn La, năm học 2011 - 2012 sử dụng Sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị, năm học 2011 - 2012

Chương 3 Thực nghiệm

Trang 4

PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ

DUY TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáodục nước ta từ những năm 1960 Cũng ở thời điểm đó, trong các trường sư phạm đã có

khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cải cách giáo dục

lần hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong phương hướng cải cách, nhằmđào tạo những con người lao động sáng tạo làm chủ đất nước

Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,

sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học” Có thể nói

cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới học tập chủ động, sáng tạo, chống lại thóiquen học tập thụ động [2]

Sử dụng SĐTD trong học tập là một hình thức học tập tích cực, giúp học sinh chủđộng linh hoạt, tiết kiệm thời gian, phát huy tối đa tính sáng tạo, khả năng tư duy, năngkiếu hội họa, đem lại hứng thú và kết quả cao trong học tập [8]

Tuy nhiên, hiện nay số lượng công trình nghiên cứu ứng dụng SĐTD trong dạy vàhọc chưa nhiều, một số đề tài liên quan chủ yếu áp dụng cho các đối tượng THCS, THPT,

số đề tài áp dụng cho đối tượng trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học còn rất ít

1.2 Thực trạng việc học, tự học của học sinh, sinh viên ở các trường chuyên nghiệp

1.2.1 Thực trạng việc học của HS, SV ở các trường chuyên nghiệp

1.2.1.1 Hoạt động học

Học là quá trình người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu tri thức, kinh nghiệm

từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay nhằm hình thành cấu trúctâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trongtình huống nào thì trong bản thân sự học cũng hàm chứa sự tự học

1.2.1.2 Thực trạng việc học của HS, SV ở các trường chuyên nghiệp

Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ năm 2006 có phần

Trang 5

- Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình

và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực, kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên vàgiảng viên trong và ngoài lớp học

- Quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn mạnhvào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn đến hậu quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu

- Sinh viên học một cách thụ động (nghe diễn thuyết, ghi chép, nhớ lại nhữngthông tin đã học thuộc lòng khi làm bài thi)

- Sinh viên là những “thợ chép”: Thầy nói gì, viết gì trên bảng thì cứ việc cặm cụi

chép bằng hết vào cuốn vở trở thành cẩm nang duy nhất cho thi cử và thậm chí cả choviệc hành nghề sau này Dĩ nhiên học thụ động sẽ sản sinh ra những nhà “trí thức” thụđộng, chỉ đâu đánh đấy cũng chưa xong chứ nói gì đến nghiên cứu, sáng tạo

Tình hình yếu kém nói trên của giáo dục đại học, cao đẳng vẫn tồn tại cho đếnngày nay [14]

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân như thiếu trang thiết bị học tập, thương mạihóa giáo dục, phương pháp giảng dạy của giảng viên, chú trọng lý thuyết nhiều hơn thựctiễn,… Tuy nhiên một nguyên nhân rất quan trọng nhưng lại ít được nhắc đến đó là thái

độ của HS, SV trong việc học của mình

Theo số liệu khảo sát của báo Tuổi trẻ thì chỉ 30% trong số những sinh viên đượchỏi có thái độ tích cực trong học tập, trong khi có đến 60% chọn giải pháp học đối phó

là theo ý muốn của gia đình, nhu cầu của xã hội, xu hướng cùng bạn bè,… Vì thế trongquá trình học họ chưa thực sự yêu thích môi trường, ngành nghề, từ đó không có ý thứcvươn lên trong học tập và rèn luyện

Trang 6

Ba là: sự thay đổi môi trường học tập (phương pháp dạy, phương pháp học) kháchẳn so với bậc phổ thông, lượng kiến thức cần phải tiếp thu quá nhiều, học sinh chưa biếtlựa chọn phương pháp học phù hợp cũng như cân đối thời gian, dẫn đến chán nản, khônghứng thú với việc học tập.

1.2.2 Thực trạng việc tự học của HS, SV ở các trường chuyên nghiệp

1.2.2.1 Hoạt động tự học

Tự học là học với sự độc lập và tích cực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình

mà trong đó, chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằngcác thao tác trí tuệ hoặc chân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân

Tự học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp, có thể diễn ra dưới sự chỉ đạotrực tiếp của giáo viên và ngay cả khi không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Tựhọc được thực hiện qua nhiều bước khác nhau: tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh thôngtin khác nhau, xử lý thông tin dựa vào vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình, tự kiểm tra,

tự đánh giá những thông tin đã thu được, vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề donhiệm vụ nhận thức và thực tiễn đặt ra…

Muốn nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học của HS đòi hỏi người thầy giáongoài chức năng tổ chức, hướng dẫn, truyền đạt cần phải dạy cách thao tác với đốitượng, cách chiếm lĩnh đối tượng cho HS, hay nói cách khác là hướng dẫn phương pháphọc, cách học cho HS

1.2.2.2 Thực trạng việc tự học của HS, SV ở các trường chuyên nghiệp

Căn cứ kết quả điều tra của trường Đại học Khoa học Tự nhiên về việc tự học của

HS, SV cho thấy đa số HS, SV đều có nhận thức đúng về vai trò của hoạt động tự học Cụthể: Có 79,7% SV cho rằng hoạt động tự học có vai trò rất quan trọng; 19,5% SV cho rằnghoạt động tự học có vai trò quan trọng và chỉ có 0,8% SV là bình thường; 0% là khôngquan trọng Số đông SV đã có nhận thức một cách khá đầy đủ, sâu sắc về ý nghĩa của hoạtđộng tự học (có 45,8% số đông SV cho rằng tự học là để người học tiếp thu tri thức;33,9% có quan niệm cho rằng tự học giúp người học có thêm tri thức để hình thành vàphát triển nhân cách của bản thân) [13]

Trang 7

những nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do học sinh chưa có phương pháp học tậpthích ứng với yêu cầu của học tập hiện tại, chưa có được những kĩ năng tự học cần thiết đểhoàn thành các hoạt động học (80,5% học sinh chưa biết cách lập kế hoạch tự học, 78%học sinh chưa biết cách đọc tài liệu, 75% học sinh chưa biết lập dàn ý hệ thống hoá kiếnthức ) do chưa có kĩ năng tự học cần thiết nên khi gặp những bài khó học sinh thường bỏqua, không tiếp tục suy nghĩ mà chỉ chờ thầy giải đáp Do vậy phần nhiều học sinh, sinhviên không nắm được cách hệ thống kiến thức cơ bản một cách vững chắc, hiệu quả vàchất lượng học tập chưa cao Ngoài ra do giảng viên chưa thực sự quan tâm đến các biệnpháp tổ chức hoạt động tự học cho SV, chưa phát huy hết vai trò tích cực, độc lập sáng tạocủa SV trong quá trình dạy học Chính vì vậy mà hoạt động tự học của SV chưa được đẩymạnh [13].

Theo các định nghĩa trên, trong hoạt động học tập, ta có thể hiểu: Tính tích cực họctập là một phẩm chất nhân cách trong quá trình nhận thức của học sinh, làm cho quá trìnhnhận thức luôn đạt kết quả cao, giúp con người có khả năng học tập không ngừng

1.3.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức trong hoạt động học tập

- Đặc trưng bởi cường độ nhận thức, sự tham gia của người học trong quá trìnhnhận thức và nắm vững kiến thức

- Sự hướng đích của hoạt động nhận thức: Sự tích cực nhận thức ở đây được xemnhư là mối quan hệ của cá nhân nhận thức với đối tượng, quá trình và mục đích nhận thức

- Sự độc lập quyết định hành động trong những tình huống có vấn đề nêu ra, việc

tự lựa chọn con đường để đạt được mục đích và tính cá biệt của lời giải

- Khả năng tổ chức thông tin nhận được theo một cách nhất định để xây dựng hệthống kiến thức

Trang 8

1.3.2 Quan niệm về tính tích cực trong học tập

1.3.2.1 Các mức độ của tính tích cực

Có 3 mức độ tư duy khác nhau:

Tư duy tích cực (1), tư duy độc lập (2) và tư duy sáng tạo (3) mà mối qua hệ giữa chúng

có thể biểu diễn bằng 3 đường tròn lồng nhau (hình bên)

* Một học sinh chăm chú nghe giáo viên giảng bài

(truyền đạt khái niệm mới hoặc chứng minh định lí), cố gắng

để hiểu được tài liệu ở đây có thể nói đến tư duy tích cực

* Nếu giáo viên thay việc giải thích bằng yêu cầu học

sinh tự xây dựng khái niệm, phân tích định lí, tự tìm hiểu cách chứng minh (dựa theo sáchgiáo khoa, tài liệu học tập), thì trong trường hợp này nói đến tư duy độc lập (cũng là tưduy tích cực)

* Có thể nối đến tư duy sáng tạo khi học sinh tự khám phá vấn đề, tự tìm ra cáchchứng minh mà học sinh đó chưa biết Chỉ có tư duy sáng tạo khi học sinh có 3 mức độ tưduy tích cực như vậy

Do đó trong soạn giảng, giáo viên cần quan tâm đến cả 3 loại mức độ tư duy, theothứ tự từ thấp đến cao (1) > (2) > (3), chuẩn bị bài theo 3 mức độ đó, tuần tự nâng caohay hạ thấp yêu cầu một cách linh hoạt tuỳ thuộc vào đối tượng học sinh thực tể, tuỳthuộc vào diễn biến tình hình học tập trên lớp [11]

1.3.2.2 Những biểu hiện của tính tích cực trong học tập

- Dấu hiệu về hoạt động nhận thức: Tính tích cực học tập của học sinh thể hiện ởcác thao tác tư duy, ngôn ngữ, sự quan sát, ghi nhớ, tư duy hình thành khái niệm, phươngthức hành động, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, các câu hỏi nhận thức của học sinh

- Dấu hiệu về mặt chú ý nghe giảng: Tính tích cực học tập của học sinh thể hiện ở

chỗ học sinh chú ý nghe giảng, thực hiện đầy đủ các yêu cầu của giáo viên, hoà nhậpđược vào không khí học tập của cả lớp, giải đáp các câu hỏi do giáo viên đưa ra một cáchnhanh chóng, chính xác và biết nhận rõ đúng sai, sau khi bạn đưa ra ý kiến

- Dấu hiệu về tinh thần, tình cảm học tập: Tính tích cực học tập thể hiện qua sự say

Trang 9

được trả lời câu hỏi, học sinh làm bài tập một cách hồ hởi, một cách tự nguyện.

- Dấu hiệu về nhu cầu, hứng thú, niềm tin học tập: Tính tích cực học tập của học

sinh thể hiện ở năng lực định hướng, sự căng thẳng trí tuệ, sự hứng thú khi giải quyết mộttình huống học tập

- Dấu hiệu về ý chí, quyết tâm học tập: Tính tích cực học tập của học sinh thể hiện

ở sự nỗ lực ý chí khi giải quyết nhiệm vụ học tập, kiên trì tìm tòi đến cùng và cao hơn nữa

là vạch được mục tiêu kế hoạch học tập

- Dấu hiệu về mặt tâm lí, cử chỉ hành động: Tính tích cực học tập của học sinh thể

hiện ở hành vi cử chỉ biểu hiện ra bên ngoài: Nét mặt, nhịp điệu hoạt động, hành động học tập

- Dấu hiệu về kết quả nhận thức: Tính tích cực học tập của học sinh biểu hiện ở kết

quả lĩnh hội kiến thức nhanh chóng, chính xác và tái hiện được khi cần vận dụng trongnhững tình huống cụ thể

1.3.2.3 Phân loại tính tích cực của học sinh

Tính tích cực học tập được phân làm 3 loại:

* Tính tích cực chấp nhận, bắt chước và tái hiện

Khi học sinh có sự tái hiện được các kiến thức đã học, thực hiện được các thao tác,

kỹ năng mà giáo viên nêu ra Tính tích cực học tập ở đây xuất hiện do tác động bên ngoài(yêu cầu bắt buộc của giáo viên), người học làm theo mẫu nhằm chuyển đối tượng từ bênngoài vào trong theo cơ chế nhập nội Loại này thường chỉ phát triển mạnh ở học sinh cónăng lực nhận thức ở mức độ trung bình và dưới trung bình (yếu, kém)

* Tính tích cực tìm tòi, áp dụng

Đi liền với quá trình lĩnh hội khái niệm, định lí; Giải quyết tình huống học tập; Tìmtòi các phương thức hành động với sự tham gia của động cơ, nhu cầu, hứng thú và chú ý

Tính tích cực ở đây là: học sinh không bị hạn chế hiểu biết bởi khuôn khổ những yêu cầu

của giáo viên trong giờ học Loại này phát triển mạnh ở những học sinh có năng lực nhậnthức trung bình và đặc biệt là ở học sinh trên trung bình (khá, giỏi)

* Tính tích cực sáng tạo

Thể hiện ở chỗ học sinh tự mình cũng có thể tìm được kiến thức mới, phương thứchành động mới, dễ dàng tìm được kết quả hay thực hiện tốt các yêu cầu hành động do

Trang 10

giáo viên đưa ra mà không cần có sự giúp đỡ của giáo viên Loại này thường ở học sinh

có năng lực ở mức độ trên trung bình (khá, giỏi), học sinh có năng khiếu

Cách phân loại trên là hết sức khái quát, muốn đánh giá đúng mức độ tích cực củahọc sinh, giáo viên còn phải căn cứ vào kết quả học tập, sự chú ý, hứng thú học tập vàthời gian duy trì tính tích cực học tập trong giờ học, trong quá trình học tập [11]

Căn cứ vào các dấu hiệu đã nêu trên và điều kiện tổ chức giờ học hiện nay, giáoviên có thể dựa vào 3 mặt sau đây để đánh giá:

a) Trạng thái học tập của học sinh

Căn cứ vào mức độ biểu lộ xúc cảm, tình cảm học tập như: Niềm say mê lao động trítuệ, sự nỗ lực, ý chí thực hiện các công việc được giao trong quá trình giải quyết các tìnhhuống học tập

b) Hành động học tập của học sinh

Căn cứ vào thực hiên các thao tác tư duy: Quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, trìutượng hoá, khái quát hoá để học sinh ghi nhớ, tái hiện kiến thức một cách nhanh chóng

và chính xác trong quá trình giải quyết các tình huống học tập

c) Kết quả học tập của học sinh

Cần căn cứ vào kết quả kiểm tra sau mỗi giờ học, một quá trình học, số lượng bàitập mà học sinh có thể làm được

Trong 3 mặt trên thì các mặt a), b) là đánh giá về mặt định tính (dựa vào mức độ vàcường độ biểu hiện các dấu hiệu tích cực), còn mặt c) là đánh giá về mặt định lượng (Căn

cứ vào kết quả kiểm tra) Phối hợp giữa 3 mặt trên, chúng ta sẽ đánh giá được mức độ tíchcực học tập của học sinh

1.4 Giới thiệu về Sơ đồ tư duy (SĐTD)

1.4.1 Cơ sở xây dựng SĐTD

Cấu tạo của bộ não

Bộ não người có khoảng 10 tỷ nơ-ron thần kinh Mỗi nơ-ron có khả năng thực hiện

số lượng kết nối là một con số bao gồm số 1 và 28 số 0 phía sau, vậy khả năng của cả bộ não người có thể thực hiện được số liên kết sẽ là số 1 đứng trước 10,8 triệu kilomet số 0

Trang 11

Bộ não người cấu tạo gồm hai phần: não trái và não

phải với các chức năng khác nhau Não trái có tác dụng

nghi nhớ từ ngữ, ký tự, con số, đường nét,… trong khi đó

não phải có tác dụng ghi nhớ màu sắc, hình ảnh, âm

thanh, không gian, trí tưởng tượng,…

Trước nay, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của

bộ não - não trái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên

não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp

điệu, màu sắc, không gian, sự mơ mộng,… [12]

Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đãđưa ra Sơ đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này

1.4.2 Sơ đồ tư duy là gì?

Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con số Với

cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não - não trái, mà chưa hề

sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu,màu sắc, không gian và sự mơ mộng Hay nói cách khác, chúng ta vẫn thường đang chỉ sửdụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi nhận thông tin Với mục tiêu giúp chúng

ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não, Tony Buzan đã đưa ra Sơ đồ tư duy để giúp mọingười thực hiện được mục tiêu này

Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy, lược đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép

sử dụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ýchính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề [12]

Nghĩa của cụm từ SĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản đồđịa lí mà SĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi ngườibằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kếSĐTD theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồđịa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màusắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể

Trang 12

“thể hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng do đó việc lập SĐTD phát huy đượctối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.

Phương pháp tư duy của Tony Buzan được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập đoàn,Công ty hàng đầu thế giới Tạp chí Forbes từng bình luận: “Buzan chỉ ra cho các nhà lãnhđạo doanh nghiệp cách thức giải phóng năng lực sáng tạo bản thân” Hơn 250 triệu ngườiđang sử dụng phương pháp Mind Map của Tony Buzan [6], [7], [8], [9], [12]

1.4.3 Cách xây dựng sơ đồ tư duy

Có thể thiết kế SĐTD trong bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của trường học nhưtrên giấy, bìa, bảng phụ với chì màu, bút, tẩy hoặc thiết kế trên máy tính với các phầnmềm hỗ trợ Khi thiết kế SĐTD đều tuân theo quy trình sau đây:

3 Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc

nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

4 Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

Các quy tắc SĐTD

1 Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề

Trang 13

Tại sao lại phải dùng hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ vàgiúp ta sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp ta tập trungđược vào chủ đề và làm cho ta hưng phấn hơn

2 Luôn sử dụng màu sắc Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như

hình ảnh Nên sử dụng ít nhất 3 màu ở hình ảnh trung tâm

3 Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp hai

đến các nhánh cấp một,… bằng các đường kẻ, đường cong với màu sắc khác nhau Cácđường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn

4 Mỗi từ/ ảnh/ ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ hay đường cong.

5 Tạo ra một kiểu lược đồ

riêng cho mình (Kiểu đường kẻ,

màu sắc,…)

6 Nên dùng các đường

cong thay vì các đường thẳng vì các

đường cong được tổ chức rõ ràng sẽ

thu hút được sự chú ý của mắt hơn

rất nhiều so với đường thẳng

7 Bố trí thông tin đều

quanh hình ảnh trung tâm

3 Chuẩn bị vật dụng đầy đủ, không gian làm việc và tinh thần thoải mái

4 Tránh dùng nhóm từ hay trích nguyên văn cả câu dài vào SĐTD [6], [7], [8],[9], [12 ]

1.4.4 Ứng dụng của SĐTD

SĐTD có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

Trang 14

- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề.

* Gợi nhớ (hồi tưởng)

* Sáng tạo

* Giải quyết vấn đề

* Lập kế hoạch

* Thuyết trình (trình diễn) [12]

1.5 Một số phần mềm vẽ Sơ đồ tư duy

SĐTD số hóa có đặc điểm linh hoạt, dễ chia sẻ, có thể thay đổi, bổ sung hình ảnh, nội dung, kết cấu, không bị giới hạn bởi khổ giấy, làm cho SĐTD trở nên sinh động vàthông minh hơn Ứng dụng SĐTD số hóa hứa hẹn một tương lai rực rỡ giúp giải phóngtối đa tiềm lực của cá nhân và tập thể trong thế giới đa chiều và hiện đại ngày nay

Để thiết kế SĐTD số hóa, có thể sử dụng một số phần mềm sau đây:

Mindjet MindManager - Phần mềm này đã được sử dụng khá nhiều tại Việt Nam

với các phiên bản 6.0, 7.0, 8.0, 9.0 Mindjet MindManager chỉ chạy được trên hệ điềuhành Microsoft Windows

iMindMap là một phần mềm giống như Mindjet MindManager dùng để hoạch

định ý tưởng và sắp xếp chúng dưới dạng sơ đồ tư duy Tuy nhiên, iMindMap có nhiều ưuđiểm nổi bật hơn hẳn Mindjet MindManager về quy mô phần mềm, giao diện, hình ảnh,với nhiều chức năng như vẽ nhanh hơn, “thực” hơn, giúp thể hiện sống động nhất, thậtnhất ý tưởng của người thiết kế Điều đặc biệt iMindMap được đầu tư xây dựng và phát

Trang 15

triển bởi chính Tony Buzan - tác giả của phương pháp tư duy Mind Map, hiện tại đượcđánh giá “là phần mềm tốt nhất trên thế giới về vẽ Mind Map”.

FreeMind - Phần mềm mã nguồn mở, chạy trên hệ điều hành Windows, Mac và

Linux Hiện nay nhóm mã nguồn mở của HueCIT đã nghiên cứu và viết tài liệu hướngdẫn sử dụng

Một số phần mềm thiết kế SĐTD khác như: ConceptDraw MINDMAP, Visual Mind,Axon Idea Processor, Inspiration,… [9], [12]

1.6 Tình hình ứng dụng SĐTD trong hoạt động dạy và học ở Việt Nam.

1.6.1 Tình hình ứng dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động dạy và học ở Việt Nam.

Sử dụng SĐTD trong dạy học là một phương pháp dạy học tích cực giúp giáo viênchủ động, linh hoạt, tiết kiệm thời gian trong việc thiết kế bài dạy, truyền đạt kiến thứcmới, củng cố kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, học phần , hình thành chohọc sinh phương pháp tự học hiệu quả, phát huy tối đa tính sáng tạo, khả năng tư duy,năng khiếu hội họa, đồng thời tạo tâm lý thoải mái, kích thích hứng thú học tập của HS

Sử dụng SĐTD trong dạy học đã và đang được áp dụng ở nhiều nước có nền giáodục tiên tiến trên thế giới và mới đây đã được nghiên cứu và áp dụng ở Việt Nam BộGD&ĐT đã có kế hoạch, chương trình tập huấn về SĐTD cho cán bộ, giáo viên, thực hiện

áp dụng thí điểm tại 355 trường trên toàn quốc từ năm 2010 Năm học 2011- 2012,phương pháp dạy học bằng SĐTD là 1 trong 5 chuyên đề dạy học tích cực được tập huấncho 4.000 giáo viên cốt cán bậc THCS trong cả nước và đang được triển khai ở bậc THPT

Kết quả thu được khi vận dụng SĐTD trong dạy học đều cho thấy SĐTD hìnhthành cho HS phương pháp tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cáchnhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, xây dựng một môi trường học tập sôi nổi, tíchcực Sử dụng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi

mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng đào tạo

Những kết quả thu được ở trên khẳng định SĐTD là một công cụ tư duy mang tínhđột phá của thế kỷ 21 cần được khai thác và nhân rộng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục

và đào tạo

Trang 16

1.6.2 Thực trạng ứng dụng SĐTD trong hoạt động dạy và học ở các trường cao đẳng, đại học

Ứng dụng SĐTD trong hoạt động dạy và học ở các trường cao đẳng, đại học phùhợp với đặc thù dạy và học trong đó giảng viên là người hướng dẫn, nêu vấn đề, còn sinhviên là người chủ động nghiên cứu, tìm hiểu và chiếm lĩnh kiến thức

Tuy nhiên, số công trình nghiên cứu ứng dụng SĐTD trong dạy và học bậc caođẳng, đại học còn rất ít, số giảng viên ứng dụng SĐTD trong các hoạt động dạy học chưanhiều, hiện nay chỉ một số các trường đại học lớn như đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học

Sư phạm Hà Nội đang triển khai một số đề tài ứng dụng SĐTD để nâng cao chất lượngdạy và học, tuy nhiên số sinh viên biết và sử dụng thành thạo SĐTD còn ít, nhiều sinhviên chưa lựa chọn được phương pháp học tập phù hợp nên kết quả học tập chưa cao

1.6.3 Tình hình ứng dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động dạy và học ở trường Cao

đẳng Y Tế Sơn La.

Ở tỉnh Sơn La nói chung, việc áp dụng SĐTD trong hoạt động dạy và học vẫn còn

là một vấn đề mới mẻ, khái niệm SĐTD còn chưa phổ biến với đa số giáo viên và họcsinh, sinh viên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu hay đề cập đến việc ứngdụng SĐTD trong dạy học để đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng giáo dục ở tỉnh Sơn

La Chỉ một số ít giáo viên, học sinh tự tìm hiểu và vận dụng SĐTD để giải quyết các vấn

đề mang tính chất cá nhân trong phạm vi hẹp [9]

Tại trường CĐYT Sơn La, tính đến thời điểm hiện nay chưa có một đề tài hay côngtrình nghiên cứu nào về SĐTD và ứng dụng SĐTD trong hoạt động dạy và học

Điều đó cho thấy sự cần thiết phải giới thiệu, phổ biến SĐTD trên phạm vi rộng,trong đó các thầy, cô giáo phải là người tiên phong trong việc áp dụng SĐTD vào côngtác giáo dục, nhằm đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục, qua đó giúp họcsinh, sinh viên tiếp cận và sử dụng SĐTD hiệu quả trong học tập, công việc để đạt đượcthành công trong học tập, công việc và cuộc sống

Trang 17

Tiểu kết chương 1

Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, chúng tôi thấy rằng việcnghiên cứu, hướng dẫn học sinh sử dụng SĐTD trong việc học và tự học là rất cần thiếtnhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS từ đó góp phần nâng cao chất lượng đàotạo của trường CĐYT Sơn La

Sử dụng SĐTD trong việc học và tự học sẽ hình thành cho học sinh phương pháphọc và tự học hiệu quả, phát huy tối đa tính sáng tạo, khả năng tư duy, năng khiếu hộihọa, đồng thời tạo tâm lý thoải mái, kích thích hứng thú học tập của sinh viên, hình thànhcho sinh viên các kỹ năng sống cần thiết như thuyết trình, làm việc theo nhóm, phát triển

cá nhân,… hiệu quả

Tuy nhiên, thực tiễn sử dụng SĐTD còn nhiều khó khăn và bất cập, do đó rất cầnphổ biến, hướng dẫn, vận dụng ở nhiều đối tượng, nhiều cấp bậc, nhiều lĩnh vực

Trang 18

CHƯƠNG 2 HƯỚNG DẪN HS LỚP ĐIỀU DƯỠNG 12B SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ

DUY ĐỂ HỌC VÀ TỰ HỌC MÔN CHÍNH TRỊ 2.1 Môn Chính trị ở các trường chuyên nghiệp

Việc giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị (LLCT) trong các trườngchuyên nghiệp có mục tiêu là bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, bồi dưỡngthế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, xây dựng và củng cố lòng tin vữngchắc cho học sinh, sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ tươi sáng của chủnghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào việc đào tạo một đội ngũ trí thức mới xã hội chủnghĩa của nước ta Các môn khoa học LLCT trên cơ sở của thế giới quan khoa học sẽ giúphọc sinh, sinh viên ra sức phấn đấu, hướng mọi suy nghĩ và hành động vào thực hiện cácquan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế củanhà trường Đây là những môn học có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thựchiện mục tiêu chiến lược đào tạo toàn diện của giáo dục - đào tạo trong nhà trường ViệtNam xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, việc giảng dạy và học tập các môn khoa học này vẫn còn những bấtcập, hạn chế Trước tiên, cần nhận thấy rằng, đội ngũ cán bộ giảng dạy các môn LLCTcòn thiếu so với yêu cầu, dẫn đến tình trạng quá tải giờ dạy của giảng viên, thiếu thời gianđầu tư cho nghiên cứu khoa học Việc đổi mới phương pháp giảng dạy tiến triển chậm,hiệu quả chưa cao, hầu hết giảng viên sử dụng phương pháp truyền thống, diễn giảng,thuyết trình, độc thoại là chủ yếu Cách thức giảng dạy còn thiên về lý luận, chưa tìm ranhững phương thức hiệu quả giúp sinh viên chủ động hơn trong tiếp thu kiến thức và sửdụng những kiến thức lĩnh hội được để luận giải các vấn đề của cuộc sống Lý thuyết khôkhan, giáo điều, ít gắn với thực tiễn, chưa soi rọi vào những vấn đề phức tạp của cuộcsống Điều đó làm cho sinh viên ít quan tâm đến môn học và ảnh hưởng không nhỏ đếnchất lượng giảng dạy

Bên cạnh đó, một nguyên nhân quan trọng về phía người học đó là phần lớn ngườihọc không đọc tài liệu tham khảo Học chỉ “nói lại” những điều thầy đã nói, giáo trìnhviết, học thuộc lòng, thi hết học phần, niên luận Mục đích học tập của sinh viên mang

Trang 19

thấp, khả năng nắm bắt kiến thức bài học không sâu, từ đó dẫn đến những nhận thứckhông đúng Đặc biệt, tình trạng thờ ơ, chán học môn này rất phổ biến Đa số SV chưa có

ý thức cao với môn học, cho rằng đây là môn học phụ, dẫn đến thái độ ỷ lại, thụ động,thiếu tích cực SV hầu như không có phương pháp và hình thức học tập sáng tạo

2.2 Sử dụng SĐTD để học và tự học môn Chính trị

GV hướng dẫn HS thiết kế SĐTD cho môn Chính trị trước, trong và sau khi họcmột bài hay một chủ đề, một chương, để giúp các em có cách sắp xếp kiến thức một cáchlôgic, khoa học, từ đó tìm ra phương pháp học phù hợp, đem lại kết quả học tập cao

2.2.1 Sử dụng SĐTD để chuẩn bị bài trước khi lên lớp

Chuẩn bị bài trước khi đến lớp giúp người học định hình được kiến thức, nắm đượccấu trúc bài học, xác định được nội dung trọng tậm, chủ động trong việc tiếp thu bài từ đóhiểu bài nhanh hơn, sâu hơn và nhớ lâu hơn

Sử dụng SĐTD để chuẩn bị bài trước khi đến lớp giúp HS phát huy tính tích cực,khả năng sáng tạo của bộ não, vì bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậmcái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, tự vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, đồng thời

còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa” do

chính HS tự làm ra

Chuẩn bị bài trước khi đến lớp tốt sẽ giúp HS chủ động trong việc tiếp thu bàigiảng của GV, đặc biệt sử dụng SĐTD giúp HS dễ theo dõi, bổ sung kiến thức, nhữngđiểm cần lưu ý và có được cái nhìn tổng thể về nội dung bài học, thấy được mối liên hệgiữa các nội dung trong bài, từ đó dễ nhớ, khắc sâu nôi dung bài học

* Thiết kế SĐTD chuẩn bị bài trước khi lên lớp

HS có thể thiết kế SĐTD trên giấy với bút màu hoặc sử dụng các phần mềm máytính hỗ trợ thiết kế SĐTD

Trang 20

Các bài trong giáo trình, tài liệu môn Chính trị thường gồm từ 3 đến 4 mục lớn,được đánh số La Mã từ I., II., III., IV… đây chính là các nhánh chính cấp 1 của SĐTD,trong các mục lớn thường có các mục nhỏ hơn như 1., 2., 3., trong các mục nhỏ là các ý a,

b, c hoặc gạch đầu dòng,… đây là các nhánh cấp 2, cấp 3, cấp 4…

Bước 3: Hoàn chỉnh SĐTD

HS bổ sung và hoàn chỉnh SĐTD bằng các ý chi tiết, thiết lập mối liên hệ giữa cácnhánh chính, những điểm cần lưu ý, những điểm khác biệt…

Ví dụ: Thiết kế SĐTD bài Con người, nhân cách, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.

HS xác định chủ đề trung tâm chính là tiêu đề của bài: Con người, nhân cách, mối

quan hệ giữa các nhân và xã hội; các nhánh chính cấp 1 là các mục I Bản chất con người,

II Nhân cách, III Quan hệ giữa các nhân với tập thể, cá nhân và xã hội

Các nhánh cấp 2 là các mục 1, 2,… trong các mục I, II,… như nhánh chính cấp 2trong phần I Bản chất con người gồm các mục 1 Khái niệm về con người, 2 Bản chấtcon người; trong phần II Nhân cách gồm các mục 1 Khái niệm và cấu trúc của nhâncách, 2 Những tiền đề và quá trình hình thành nhân cách con người mới XHCN ViệtNam; trong phần III Giữa các nhân với tập thể, cá nhân và xã hội gồm các mục 1 Quan

hệ giữa cá nhân với tập thể, 2 Quan hệ giữa cá nhân với xã hội

Trang 21

Các nhánh cấp 3 là các mục a, b, c

Các nhánh cấp 4 là các ý lớn, gạch đầu dòng,…

Trang 22

SĐTD bài Con người, nhân cách, mối quan hệ giữa các nhân và xã hội.

Ví dụ: Thiết kế SĐTD bài Chủ nghĩa duy vật khoa học

Xác định chủ đề và nhánh chính cấp 1

Nhánh cấp 2

Trang 23

Nhánh cấp 3, 4

Hoàn thiện SĐTD

Ngày đăng: 20/08/2017, 07:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.4.2. Sơ đồ tư duy là gì? - DE TAI sử dụng sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị
1.4.2. Sơ đồ tư duy là gì? (Trang 11)
Hình ảnh. Nên sử dụng ít nhất 3 màu ở hình ảnh trung tâm. - DE TAI sử dụng sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị
nh ảnh. Nên sử dụng ít nhất 3 màu ở hình ảnh trung tâm (Trang 13)
Bảng 3.1. Thống kê kết quả điểm học phần môn Chính trị (lần 1) - DE TAI sử dụng sơ đồ tư duy để học và tự học môn Chính trị
Bảng 3.1. Thống kê kết quả điểm học phần môn Chính trị (lần 1) (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w