1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ QUẢN lý vốn NHÀ nước tại DOANH NGHIỆP NHÀ nước HIỆN NAY

27 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 132 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước (mà trong đó doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt) giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước thực hiện giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước hoàn thành nhiệm vụ nhà nước giao. Việc Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước đặt ra yêu cầu phải quản lý số vốn đó. Đồng thời, việc thay đổi phương thức quản lý hiện vật sang phương thức quản lý bằng giá trị là chủ yếu đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa vai trò của nhà nước trong công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước (màtrong đó doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt) giữ vai trò chủ đạo Nhà nướcthực hiện giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nướchoàn thành nhiệm vụ nhà nước giao Việc Nhà nước giao vốn cho doanhnghiệp nhà nước đặt ra yêu cầu phải quản lý số vốn đó Đồng thời, việc thayđổi phương thức quản lý hiện vật sang phương thức quản lý bằng giá trị làchủ yếu đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa vai trò của nhà nước trong công tácquản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Song thực tế cho thấy, công tác quản

lý đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước còn có những bấtcập trong chế độ chính sách quản lý, trong tổ chức bộ máy quản lý và trong tổchức thực hiện Điều đó khiến vốn nhà nước tại nhiều doanh nghiệp đang bị

ăn mòn và việc thực hiện vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước bịhạn chế Do vậy, việc hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tại doanhnghiệp nhà nước trở thành yêu cầu cấp bách hiện nay Trong điều kiện ngânsách nhà nước còn hạn hẹp, công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệpnhà nước càng cần được thực hiện tốt hơn Qua học tập nghiên cứu môn quản

lý kinh tế, bản thân nhận thấy công tác quản lý nhà nước về kinh tế trong thờigian qua đã đạt được những thành tựu nhưng cũng còn nhiều bất cập, nhất làquản lý vốn trong các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay Do đó, tôi xin chọn

chủ đề: “Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước hiện nay” làm

tiểu luận, với mục đích nghiên cứu phát hiện những hạn chế trong công tácquản lý vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay, từ đóđưa ra những đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn Nhànước tại các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay

Trang 2

NỘI DUNG

1 lý luận chung về quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

1.1 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Trên thế giới hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệpnhà nước Có người cho rằng doanh nghiệp nhà nước là các xí nghiệp cônglàm nhiệm vụ sự nghiệp (cảnh sát, cứu hoả, y tế, giáo dục ) Khi giảng vềdoanh nghiệp nhà nước, giáo sư Michel Rambolt đã đưa ra ba tiêu chí xácđịnh doanh nghiệp nhà nước: doanh nghiệp nhà nước trực tiếp chịu sự kiểmsoát của ai? Sản xuất ra sản phẩm đem bán hay không đem bán? Hoạt độnggắn với lợi ích chung hay lợi ích cá nhân? Từ đó, ông quan niệm rằng: Doanhnghiệp nhà nước là doanh nghiệp chịu sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước,được phân làm hai loại: Loại một là các xí nghiệp, tổ chức sản xuất những sảnphẩm không dùng để đi bán, nó làm việc vì lợi ích chung và được gọi là các

cơ quan hành chính; Loại hai là các xí nghiệp công cộng, loại này lại đượcchia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất là các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng

để bán, trao đổi, hoạt động vì lợi ích chung, sản phẩm của nó thường là cácdịch vụ công cộng Nhóm hai là các doanh nghiệp hoạt động trong môi trườngphải cạnh tranh, thường hoạt động vì lợi ích riêng nào đó

Ở nước ta, theo Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông quangày 20/4/1995: doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước thànhlập, đầu tư vốn và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động côngích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao Doanhnghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịutrách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanhnghiệp quản lý Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sởchính trên lãnh thổ Việt Nam Doanh nghiệp nhà nước mang các đặc điểmchung với các loại hình doanh nghiệp khác như:

Trang 3

Thứ nhất, chức năng kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bao gồm:

sản xuất-cung ứng trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịchvụ

Hai là, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân Tư cách pháp

nhân của doanh nghiệp nhà nước là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại củadoanh nghiệp nhà nước trong hệ thống kinh tế quốc dân Tư cách pháp nhâncủa doanh nghiệp nhà nước đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước phải tự chịu tráchnhiệm về quản lý, về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoảncông nợ khi doanh nghiệp phá sản hay giải thể Với tư cách là một pháp nhânđộc lập, doanh nghiệp nhà nước có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịutrách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh Tư cách này tạo chodoanh nghiệp nhà nước địa vị pháp lý để đảm bảo độc lập tự chủ

Ba là, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cũng

chịu sự chi phối và tác động của môi trường kinh tế Bên cạnh đó, doanhnghiệp nhà nước có thể được phân biệt với các loại hình doanh nghiệp khácbởi các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền

trực tiếp ra quyết định thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội

do nhà nước giao Như vậy doanh nghiệp nhà nước không chỉ được thành lập

để thực hiện các hoạt động kinh doanh (nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế)

mà còn để thực hiện các hoạt động công ích (nhằm thực hiện các mục tiêu xãhội) Các loại hình doanh nghiệp khác không phải do nhà nước thành lập màchỉ được nhà nước cho phép thành lập trên cơ sở đơn xin thành lập của cácchủ thể kinh doanh

Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước do nhà nước tổ chức quản lý Nhà

nước tổ chức bộ máy quản lý các doanh nghiệp nói chung và từng doanhnghiệp nói riêng; nhà nước bổ nhiệm các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp,

Trang 4

phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn hay trung hạn của doanhnghiệp

Thứ ba, tài sản của doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận tài sản của

nhà nước Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư vốn thành lập nên nóthuộc sở hữu nhà nước Doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể kinh doanhkhông có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ là chủ quản lý và tiến hành hoạtđộng kinh doanh trên số tài sản của nhà nước Trong khi đó, các chủ thể kinhdoanh khác đều là chủ sở hữu với tài sản kinh doanh của họ Có thể phân loạidoanh nghiệp nhà nước thành hai loại căn cứ vào chức năng hoạt động củadoanh nghiệp là: doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh (hoạt độngchủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận) và doanh nghiệp nhà nước hoạt động côngích (hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách củaNhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh )

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phát triển trong mốiquan hệ kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu, về vốn và tài sản, về cơ chế tổchức quản lý Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường không chỉ tồn tại đơnnhất trong khu vực kinh tế quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) như trongnền kinh tế kế hoạch hoá mà còn tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu bao gồmcác loại hình tổ chức doanh nghiệp khác nhau như: Doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh Nhưngdoanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng, nó là bộ phận nòng cốtcủa thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trongnền kinh tế Vai trò của doanh nghiệp nhà nước được thể hiện qua nhữngchức năng cụ thể sau:

Chức năng định hướng sự phát triển của nền kinh tế Chức năng này

thể hiện ở chỗ doanh nghiệp nhà nước phải đi tiên phong trong các lĩnh vựcchiến lược theo đường lối phát triển của nhà nước tạo điều kiện cho các thành

Trang 5

phần kinh tế khác tham gia; doanh nghiệp nhà nước phải là mẫu mực về trình

độ quản lý, về hiệu quả kinh doanh để các doanh nghiệp khác noi theo;

Chức năng hỗ trợ và phục vụ Sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà

nước và các loại hình doanh nghiệp khác là sự phát triển của doanh nghiệpnhà nước không phải đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn cả là tạođiều kiện cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Bởi vậy, doanhnghiệp nhà nước được bố trí xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiếttạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển đồng đều giữa các vùng của đất nước;

Chức năng đảm bảo sức mạnh vật chất để nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường Chức năng này được hiểu là các doanh nghiệp nhà

nước phải có đóng góp thích đáng cho sự phát triển kinh tế bằng việc kinhdoanh có hiệu quả; doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm vai trò quyết địnhnày để Chính phủ có đủ nguồn lực chỉ đạo và hướng dẫn nền kinh tế pháttriển theo mục tiêu đề ra

1.2 Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước nhưng nhà

nước giao cho một số cá nhân, đơn vị sử dụng Như vậy có sự tách biệt giữangười sở hữu vốn và người sử dụng vốn, hai đối tượng này có thể có mục tiêukhông phù hợp nhau Các doanh nghiệp nhà nước không phải đương đầu vớinguy cơ bị đối thủ cạnh tranh mua lại như các doanh nghiệp trong khu vực tưnhân Do đó người sử dụng vốn có thể sử dụng vào những động cơ cá nhân,những động cơ có thể làm cho những nhà lãnh đạo các doanh nghiệp nhànước hành động không nhất quán với các mục tiêu của doanh nghiệp Khinhững người này không nắm quyền sở hữu vốn của doanh nghiệp và cũngkhông thể tăng thêm sự giàu có cho bản thân bằng cách tăng hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp thì chẳng có gì kích thích họ phải nhìn xa khi quyết

Trang 6

định phương án sản xuất kinh doanh Vì thế đòi hỏi phải có sự quản lý chặtchẽ của nhà nước nhằm đảm bảo vốn và tài sản của nhà nước không bị xâmphạm trong quá trình kinh doanh cũng như doanh nghiệp hoạt động theo đúngmục tiêu nhà nước đề ra.

Thứ hai, nhà nước quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước

cũng là thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình Nhà nước ban hành cácchế độ tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, theo dõi và kiểm tra việcchấp hành các chế độ đó Việc theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại cácdoanh nghiệp nhà nước giúp cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình thực tếtại các doanh nghiệp, theo dõi tiến trình thực hiện các văn bản Từ đó thu thậpthông tin để chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện các chính sách cho kịp thời, phùhợp với thực tế Đồng thời thông qua công tác quản lý vốn, nhà nước mới cónhững thông tin chính xác để đánh giá đúng chất lượng kinh doanh ở cácdoanh nghiệp nhà nước Trên cơ sở các thông tin đánh giá này, nhà nước có

kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn và lao động, hoàn thiện cáckhâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh và thực

hiện các mục tiêu xã hội

Thứ ba, đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, phần

lợi nhuận sau thuế thuộc về nhà nước Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duytrì và tái sản xuất mở rộng doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó củanhà nước Do đó, để lợi nhuận sau thuế được tối đa hoá, nhà nước phải quản

lý phần vốn đầu tư của mình để nó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên

cở sở đó tăng lợi ích nhà nước

Tóm lại, việc nhà nước quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhànước là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việcbảo toàn vốn và tài sản cũng như để thực hiện vai trò quản lý của mình

1.3 Nội dung công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Trang 7

Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước làviệc làm cần thiết nhằm tạo cơ sở giúp các đơn vị được giao vốn thực hiệnquản lý vốn được giao và giúp các cơ quan kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm

vụ giám sát của mình Hình thức biểu hiện cụ thể của nội dung công tác này làviệc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanhnghiệp Khác với cách thức quản lý doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoátập trung, trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết, Nhà nước quản lý doanhnghiệp một cách gián tiếp theo nguyên tắc: Nhà nước điều chỉnh thị trường,thị trường điều chỉnh doanh nghiệp Nhà nước ban hành chính sách nhằmđịnh hướng sự phát triển theo mục tiêu của Nhà nước và giúp doanh nghiệp tựchủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Nhà nước tạo hành lang pháp lýthông thoáng, bình đẳng và môi trường kinh doanh vừa thuận lợi, vừa đòi hỏihiệu quả kinh tế cao để các doanh nghiệp hoạt động Chính sách quản lý vốnđược ban hành hướng vào việc khai thác, động viên và sử dụng có hiệu quảcác nguồn lực tài chính của doanh nghiệp nhằm khuyến khích phát triển kinhdoanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần phát triển kinh tế xã hội củađất nước và nâng cao hiệu quả của nền tài chính quốc gia Chính sách quản lývốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng trongchính sách tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệ thống các chínhsách tài chính nói chung Chính sách quản lý vốn đúng đắn sẽ kích thích sựchuyển dịch các luồng giá trị trong nền kinh tế quốc dân theo hướng duy độngmọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng tích tụ và tậptrung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát triển sản xuấtkinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước Nguồn thu vào ngânsách nhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăngquy mô đầu tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp; kế đó, quy mô đầu tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh

Trang 8

nghiệp càng lớn thì nó sẽ kích thích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế,

và qua đó Chính phủ còn thực hiện được yêu cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tếtheo định hướng đã đề ra Các Chính phủ thường ban hành chính sách quản lývốn và tài sản theo hướng:

Một là, tăng cường quyền tự chủ về mặt tài chính của các doanh nghiệp

nhà nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnhvực quản lý vốn và tài sản

Hai là, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc quản lý

và sửdụng các nguồn lực nhà nước giao Thiết lập các cơ chế thích hợp đểhướng sự quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và pháttriển vốn như: cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ

Ba là, quy định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các

doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khithực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất chongười lao động trong các doanh nghiệp nhà nước này Đồng thời thiết lập cơchế quản lý hợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụngcác nguồn lực nhà nước giao Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanhnghiệp nhà nước bao trùm các nội dung sau

Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước có thể được đầu tư vốn khi mới thành lập hoặcđầu tư bổ sung trong quá trình hoạt động Ngoại trừ các doanh nghiệp hìnhthành do kết quả quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nước đều được hìnhthành trên cơ sở nguồn vốn cấp phát ban đầu của nhà nước Tuy nhiên căn cứvào tình hình thực tế mà nhà nước quyết định cấp dưới hình thức trực tiếp(cấp thẳng từ ngân sách nhà nước) hay gián tiếp (qua các hình thức ghi thu-ghi chi như: chuyển vốn từ doanh nghiệp nhà nước này sang doanh nghiệpnhà nước khác hoặc cho doanh nghiệp nhà nước nhận trực tiếp các khoản viện

Trang 9

trợ để đầu tư ) Đối với vốn lưu động, nhà nước có thể cấp theo định mứcmột phần, phần còn lại doanh nghiệp phải huy động trên thị trường vốn vàchịu lãi suất thị trường Đồng thời, tuỳ thuộc vào khả năng của ngân sách nhànước của mỗi nước mà chính sách đầu tư vốn cho doanh nghiệp nhà nước ởcác nước là khác nhau Ở Pháp, những doanh nghiệp nhà nước hoạt động theoyêu cầu của nhà nước thì cấp vốn 100%, các doanh nghiệp do nhà nước quản

lý nhưng tự chọn chính sách phát triển, phải cạnh tranh với doanhnghiệp khácthì nhà nước không cấp vốn Ở Nhật, mức vốn đầu tư cho doanh nghiệp tăngnhưng mức độ kiểm soát cũng chặt chẽ hơn Ở Malaysia, nguồn vốn của cácdoanh nghiệp nhà nước được hình thành như sau: Vốn cố định ban đầu đượcnhà nước cấp 100% và hàng năm, doanh nghiệp phải trả lãi (theo lãi suất ưuđãi) trên tổng số vốn đầu tư của nhà nước; vốn lưu động thì các công ty phảivay theo lãi suất thị trường Còn ở nước ta, việc quản lý, sử dụng vốn và tàisản trong doanh nghiệp nhà nước được hướng dẫn cụ thể trong Thông tư số62/1999/TTBTC ngày7/6/1999, Nhà nước đầu tư vốn cho các doanh nghiệpnhà nước mới thành lập ở những ngành, những lĩnh vực quan trọng Các cơquan có thẩm quyền khi quyết định thành lập doanh nghiệp mới phải đảm bảo

đủ vốn thực có tại thời điểm thành lập không thấp hơn mức vốn pháp địnhnhà nước quy định cho mỗi ngành nghề Trong quá trình kinh doanh, căn cứvào hiệu quả sản xuất dinh doanh, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội mà nhànước giao cho doanh nghiệp và khả năng của ngân sách nhà nước, nhà nướcxem xét đầu tư bổ sung cho cácdoanh nghiệp trong những trường hợp cầnthiết Doanh nghiệp nhà nước được nhà nước giao vốn thuộc sở hữu nhà nướchiện có tại doanh nghiệp sau khi đã được kiểm tra, thẩm định theo quy địnhhiện hành của nhà nước Số vốn giao cho doanh nghiệp được xác định nhưsau:

Trang 10

Đối với doanh nghiệp thành lập mới là số vốn nhà nước ghi trongquyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản bàn giao sang sản xuất kinh doanh,vốn điều lệ được nhà nước bổ sung và vốn khác thuộc sở hữu nhà nước (nếucó).

Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động và thành lập lại (sáp nhập,chia tách) là số vốn sở hữu hiện có tại doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệpthành viên, sau khi đã được kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành củanhà nước Trong khi khu vực kinh tế tư nhân có thể được huy động một cách

tự chủ và linh động trong môi trường kinh doanh, khu vực kinh tế nhà nướcthường chỉ được phép huy động vốn dưới một số hình thức nhất định, cáckênh huy động vốn đó là:

Thứ nhất, huy động vốn từ Ngân sách nhà nước: Các doanh nghiệp khi

có nhu cầu về vốn có thể đề nghị nhà nước xét duyệt cấp vốn cho doanhnghiệp mình

Đây là nguồn vốn đặc biệt , chỉ các doanh nghiệp nhà nước mới có đặc quyềnđược yêu cầu và đây cũng là nguồn vốn chủ lực của các doanh nghiệp nhànước

Thứ hai, huy động vốn thông qua hoạt động liên doanh, liên kết: Đây là

việc góp tiền hoặc tài sản với các doanh nghiệp khác để mở rộng sản xuấtkinh doanh Doanh nghiệp có thể liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tổchức khác để huy động vốn

Thứ ba, huy động vốn bằng cách đi vay: Doanh nghiệp có thể đáp ứng

nhu cầu vốn của mình bằng cách đi vay những khoản tín dụng dài hạn, ngắnhạn, hoặc trung hạn từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụngkhác, các doanh nghiệp khác, các cá nhân (kể cả các cán bộ công nhân viêntrong doanh nghiệp), được phát hành trái phiếu huy động vốn để đầu tư pháttriển

Trang 11

Thứ tư, huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, cổ phiếu thường

mới để bán cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp và ngoài xãhội.Ngoài ra, doanh nghiệp có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh từchính các quỹ của doanh nghiệp Nhà nước có quy định cụ thể về việc sửdụng các quỹ này

Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước

Quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp, trong nềnkinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị sản xuất kinh doanhđộc lập, được tự chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm về kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước thực hiện việc giao quyền sử dụngvốn và tài sản cho doanh nghiệp nhằm tạo ra sự độc lập tương đối trong việc

tổ chức sản xuất kinh doanh Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sửdụng vốn và tài sản là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp Vì thế,doanh nghiệp có nghĩa vụ theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản,đảm bảo theo đúng các nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản,mất vốn của nhà nước Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyềnlựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh

có hiệu quả Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõichính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán,thống kê hiện hành; phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biếnđộng của tài sản và vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Doanhnghiệp được quyền sử dụng vốn và qũy để kinh doanh theo nguyên tắc cóhiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn Trường hợp sử dụng các loại vốn và qũykhác với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn và qũy đó thì phảitheo nguyên tắc hoàn trả, như: dùng các qũy dự phòng, qũy khen thưởng, qũyphúc lợi để kinh doanh thì phải hoàn trả qũy đó khi có nhu cầu sử dụng.Doanh nghiệp được quyền thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc

Trang 12

phát triển kinh doanh có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn Doanh nghiệpNhà nước phải xây dựng quy chế quản lý, bảo quản, sử dụng tài sản củadoanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối vớicác trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản Định kỳ và khi kết thúc năm tàichính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê toàn bộ tài sản và vốn hiện có.Xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứ đọng, mất phẩm chất,nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứ lập báo cáo tàichính của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả cáckhoản công nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp Định kỳ (tháng, qúy)doanh nghiệp phải đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu;đặc biệt là các khoản nợ đến hạn, qúa hạn và các khoản nợ khó đòi Cáckhoản nợ không thu hồi được, cần xác định rõ mức độ, nguyên nhân, tráchnhiệm và biện pháp xử lý Doanh nghiệp được quyền cho thuê hoạt động cáctài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sửdụng, tăng thu nhập nhưng phải theo dõi, thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê.Đối với tài sản cho thuê hoạt động, doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theochế độ quy định Doanh nghiệp được đem tài sản thuộc quyền quản lý và sửdụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tíndụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật Doanh nghiệp khôngđợc đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đi mượn, đi thuê, nhận giữ hộ,nhận cầm cố, nhận thế chấp của doanh nghiệp khác nếu không được sựđồng ý của chủ sở hữu tài sản đó Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sảnkhông cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật để thu hồi vốn sử dụng cho mục đíchkinh doanh có hiệu qủa hơn Chênh lệch giữa số tiền thu được do thanh lý,nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán và chi phí nhượng bán,thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết qủa kinh doanh của doanh nghiệp.Mọi tổn thất tài sản của doanh nghiệp phải lập biên bản xác định mức độ,

Trang 13

nguyên nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử lý Doanh nghiệp được đánhgiá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoản chênh lệch do đánh giá lại tàisản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lại tài sản theo quyết định của

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phần hóa, đa dạng hóa hìnhthức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản để liên doanh,góp vốn cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sản về)

Quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp được sử dụng

vốn, tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật

Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm: muacổ phiếu, góp vốn liêndoanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác Doanh nghiệp Nhà nướcđược phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định củapháp luật

Bảo toàn và phát triển vốn, bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụcủa doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanhnghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và phát triển kinhdoanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho người lao động và làm nghĩa vụ vớiNgân sách Nhà nước Các biện pháp bảo toàn vốn thường được áp dụng là:

Thứ nhất, thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các

qui định của Nhà nước

Thứ hai, thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử

dụng của doanh nghiệp Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sảnxuất kinh doanh

Thứ ba, doanh nghiệp Nhà nước được hạch toán vào chi phí kinh

doanh, chi phí hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định như: Dựphòng giảm gián hàng tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu khó đòi, dự phòng

Ngày đăng: 19/08/2017, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w