Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là tất yếu khách quan.Khái niệm: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là tổng thể các thành phần kinh tế cùng tồn tại trong nền kinh tế quốc dân thống nhất, mỗi thành phần kinh tế có vị trí, vai trò và tỉ trọng khác nhau, nhưng có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tồn tại của các thành phần kinh tế là khách quan, vì: Xuất phát từ, đặc trư¬¬ng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở n¬¬ước ta nói riêng còn tồn tại đan xen hai kết cấu kinh tế xã hội cũ và mới: t¬¬ư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Trang 1NỘI DUNG KTCT VN Câu 1 Có ý kiến cho rằng: Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay làm suy yếu, phá vỡ quan hệ sản xuất, xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội Hãy bình luận ý kiến trên?
Bình Luận: Khẳng định ý kiến trên là sai; đi ngược nguyên lý của chủ nghĩa Mác
-Lênin và quan điểm của Đảng Đồng thời, không đánh giá đúng thực tiễn phát triển kinh tếnhiều thành phần ở nước ta trong thời gian qua
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế là khách quan, vì:
- Xuất phát từ, đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung và
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta nói riêng còn tồn tại đan xen hai kết cấu kinh tế - xãhội cũ và mới: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Cái cũ vừa bị đánh bại, chưa mất hẳn
và còn có cơ hội hồi phục, trong khi cái mới vừa ra đời, còn non yếu, đòi hỏi phải có thờigian nhất định để cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới mà không thể chủ quan nóng vội
+ C.Mác là người đầu tiên trình bày tư tưởng về thời kỳ quá độ trong tác phẩm Phêphán cương lĩnh Gôta C.Mác đã dự báo những nét cơ bản nhất của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa cộng sản
+ Kế thừa những tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin chỉ rõ: “Về lý luận, không thể nghi
ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản có một thời kỳ quá độ nhấtđịnh Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kếtcấu kinh tế xã hội ấy”
Đặc trưng cơ bản của thời kỳ quá độ: Thời kỳ quá độ là thời kỳ còn tồn tại 2 kết cấu
Trang 2kinh tế - xã hội: chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản V.I.Lênin cũng chỉ rõ “thời kỳ quá độ bao gồm cả những thành phần, bộ phận, mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội” và
vấn đề mấu chốt chính là ở chỗ đó để xem xét, phân tích kết cấu kinh tế giai cấp thời kỳ quá
độ
Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đặc điểm to lớn nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH, không kinh qua giai đoạn phát triển TBCN Đây
là vấn đề cần nhận thức và tìm giải pháp đúng đắn để có hình thức, bước đi phù hợp Người
nhấn mạnh cần tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến hành CNH XHCN, xây dựng cơ cấukinh tế ngành, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và lãnh thổ Đa dạng hóacác loại hình sở hữu về TLSX, coi trọng qua hệ phân phối và quản lý
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, chưaqua chế độ tư bản chủ nghĩa nên ngoài hai kết cấu kinh tế cơ bản nói trên, còn tồn tại cả tàn
dư kinh tế phong kiến, nông dân gia trưởng, kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc… Do đó, trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tất yếu tồn tại cơ cấu kinh tế với nhiều thành phần hếtsức đa dạng, đòi hỏi cần có thời gian tương đối lâu dài để cải biến, định hướng nó theo quỹđạo của chủ nghĩa xã hội cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sởvật chất của chủ nghĩa xã hội
- Xuất phát từ yêu cầu quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở n-
ước ta, lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp và không đồng đều giữa các ngành, vùng,lĩnh vực kinh tế; tương ứng với trình độ của lực lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sảnxuất dựa trên những hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Tính đa dạng về sở hữuchính là do lực lượng sản xuất chưa phát triển đủ mức độ để có thể thủ tiêu hoàn toàn chế
độ tư hữu và thiết lập hoàn toàn chế độ công hữu Do đó, cơ cấu của nền kinh tế trong thời
kỳ quá độ, xét về phương diện kinh tế - xã hội phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần mớiphản ánh đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất và điều đó bảo đảm cho sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Xuất phát từ thực trạng nền kinh tế Việt nam khi bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH: chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp về kinh tế, nên yêu cầu cấp
Trang 3thiết đặt ra là phải giải phóng, huy động mọi tiềm năng, nguồn lực trong xã hội phục vụ chonhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Đây là trách nhiệm và cũng là quyền lợi của mọi cấp,mọi ngành và toàn xã hội; trong đó thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân có vai trò tolớn và là một trong những động lực quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước cần được phát huy Thực tế công cuộc đổi mới đất nước thời gian qua cho thấy,kinh tế tư nhân (tư bản tư nhân và cá thể, tiểu chủ) có tác dụng to lớn trong việc huy độngvốn, mở mang ngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho nhiều đối tượng trong xã hội, gópphần phát triển nhanh lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiềuvấn đề xã hội bức xúc Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế tạo tiền đề khắc phục tình trạngđộc quyền, hình thành quan hệ hợp tác và cạnh tranh đa dạng, nên chúng đều có tác dụngtích cực đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, là động lực của kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa
- Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần:
duy trì cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn thể hiện sự dân chủ hoá về mặt kinh tế, tạo nềntảng vật chất mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.Quyền dân chủ về mặt kinh tế thể hiện ở chỗ mọi công dân có quyền tự do lựa chọn hìnhthức tổ chức kinh tế hay tham gia một thành phần kinh tế cụ thể tuỳ theo điều kiện, khảnăng thực tế của họ mà không có sự phân biệt đối xử Nhà nước khuyến khích mọi cá nhânhay tổ chức được tự do phát triển sản xuất kinh doanh không hạn chế quy mô, trình độ ởnhững ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh mà pháp luật không cấm; đồngthời khuyến khích quá trình hình thành các hình thức liên kết, hợp tác đa dạng giữa cácthành phần và tổ chức kinh tế nhằm tăng cường sức mạnh và nâng cao hiệu quả trong cáchoạt động kinh tế, hướng chúng đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội một cách tự giác
* Mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta
Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn củaĐảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển củalịch sử
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;
Trang 4do nhân dân làm chủ;
có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;
có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;
có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;
có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
- Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ vàcái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhấtthiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổchức kinh tế, xã hội đan xen
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có vai trò to lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta Cơ cấu đó phù hợp với trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất ở nước
ta, thể hiện sự vận dụng đúng đắn lý luận của V.I.Lênin về đặc điểm kinh tế nhiều thànhphần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là một trong những vấn đề có tính quyluật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn cần được nhận thức và vận dụng trong thực tiễn
Như vậy, về mặt lý luận cần khẳng định: Phát triển kinh tề nhiều thành phần là conđường, biện pháp xây dựng quan hệ sản xuất mới theo mục tiêu CNXH ở nước ta
Trang 5nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy nhiên, giaiđoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bìnhquân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành,đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640USD
Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, ViệtNam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, nước ta đứng thứ 2 trênthế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất vềhạt tiêu
2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7% Mặc dù khủnghoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vàonước ta đạt cao Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với
kế hoạch đề ra Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần
kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005 Tổng vốn ODA cam kết đạttrên 31 tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉUSD, vượt 16% GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD Năm 2011 ước tính tăng 5,89%
Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn sản xuất với thị trường.
Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là 46,3%,năm 2005 còn 20,9%, năm 2010 còn 20,6% Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồngtrọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năngsuất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục Năm 1988 là 21,6%, năm
2005 lên 41% Công nghiệp và xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày cànghiện đại
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm
2005 Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu củasản xuất và đời sống Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh Các
Trang 6ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý có bước phát triển theo hướng tiến bộ,hiệu quả.
Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trunghơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế Cơ chế quản
lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xoá bao cấp, thựchiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinhdoanh
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềmnăng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành một
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế giới
về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước và tạoviệc làm cho nhiều người dân
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Qua 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ Hoạt độngcủa các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần và bộ máy quản lý củaNhà nước được đổi mới một bước quan trọng
Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế củaViệt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng Việt Nam đã thamgia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập tổ chức thương mạithế giới (WTO) Đến nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùnglãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra một bước pháttriển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại
Trang 7Thực hiện gắn kết phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên rõ rệt.
Một thành công lớn đầy ấn tượng của nước ta qua 25 năm đổi mới là đã giải quyết cóhiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ vàcông bằng xã hội, các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầnglớp dân cư, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân được nâng cao
Trước hết, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượtmục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Từ năm 2000 đến năm 2005, tạo việclàm cho 7,5 triệu lao động Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn 5,3%; thờigian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80%
Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng 1168USD năm 2010
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng và có nhiều tiến bộ Mạng lưới
y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp, ứng dụng công nghệ tiêntiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh; tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm
1999 đến nay nâng lên trên 72 tuổi
Câu 2: Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và BVTNMT Phân tích cơ sở lý luận của luận điểm trên Phê phán quan điểm sai trái?
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về côngnghiệp hoá, hiện đại hóa vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta đã đưa ra quan niệm về
công nghiệp hoá, hiện đại hoá như sau: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh
tế - xă hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xă hội cao” 1
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội,1994, tr 4.
Trang 8Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, lần đầu tiên Đảng ta đã ghi vào văn kiệnluận điểm quan trọng về phát triển kinh tế tri thức (KTTT) với tư cách là một yếu tố mớicấu thành đường lối CNH,HĐH đất nước Đến Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT ”1 Điều đó thể hiện sự nhấtquán, tầm nhìn xa và tính nhạy bén của Đảng ta về vấn đề này
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung và phát triển2011) xác định: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấuxây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN”2
Để thực hiện thành công mục tiêu trên, Cương lĩnh cũng chỉ rõ: toàn Đảng, toàn dân
ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềmnăng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt tám
phương hướng cơ bản; trong đó, “Đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT, bảo vệ tài nguyên, môi trường” là phương hướng cơ bản đầu tiên
- Xuất phát từ bối cảnh chung: Trên thế giới hiện nay, công nghiệp hóa không chỉ
gắn với các mục tiêu, giải pháp có “tính chất truyền thống”, mà phải đạt tới mục tiêu hiệnđại và dựa trên các công cụ, giải pháp hiện đại Theo đó, CNH phải đạt đến trình độ tiêntiến mới nhất của thời đại Vì thế, CNH,HĐH được hiểu là quá trình công nghiệp hóa vớicác mục tiêu và giải pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện đại
+ Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX cho tới nay, khoa học và công nghệ
(KH&CN) đã có những bước phát triển kỳ diệu, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệthông tin (CNTT) Sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của các ngành công nghệ cao, như:CNTT, công nghệ sinh học, công nghệ nanô đang hội tụ với nhau để tạo thành nền tảngcho một hệ thống công nghệ mới của thế kỷ XXI - công nghệ của nền KTTT Hệ thốngcông nghệ mới này đã và đang làm biến đổi sâu sắc các quá trình sản xuất, cách thức sảnxuất, kinh doanh và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người Đây không chỉ là cáchmạng trong kỹ thuật, trong kinh tế mà còn là cách mạng trong các khái niệm, tư duy, cáchsống, cách làm việc và trong các quan hệ xã hội…
+ Đi đôi với quá trình biến đổi lực lượng sản xuất, từ kinh tế công nghiệp chuyển lênKTTT, là quá trình toàn cầu hóa (trên thực tế đang hình thành nền KTTT toàn cầu) Đó là
Trang 9xu thế phát triển tất yếu khách quan, xu thế ấy lôi cuốn tất cả các quốc gia, không loại trừai.
>> Như vậy, đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát triển KTTT là phương thức xâydựng một đất nước công nghiệp mới trong điều kiện của cuộc cách mạng KH&CN, của xuhướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ
- Việt Nam: Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, CNH,HĐH là
một quá trình lịch sử tất yếu mà Việt Nam phải trải qua nhằm cải biến nước ta thành mộtnước công nghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệsản xuất tiến bộ; trang bị và tái trang bị công nghệ mới nhất cho tất cả các ngành kinh tếquốc dân, chuyển từ lao động thủ công lạc hậu sang sử dụng lao động với công nghệ(phương tiện, phương pháp) tiên tiến, hiện đại, có hàm lượng trí tuệ cao; giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa con người, bảo vệ nền kinh tế độc lập, tự chủ và đưa đất nước đi lên CNXH một cáchvững chắc
+ Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển KTTT đang làm thay đổimạnh mẽ nội dung và bước đi của quá trình CNH,HĐH ở các nước đang phát triển Nó đòihỏi CNH,HĐH ở những nước đi sau (như Việt Nam) phải đồng thời thực hiện hai quá trình:
một là, xây dựng nền công nghiệp theo hướng hiện đại; hai là, phát triển KTTT trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Đây là hai nội dung của một quá trình diễn ra song hành vàphải được thực hiện đồng thời
+ Đảng ta xác định: CNH,HĐH ở nước ta phải dựa vào tri thức, theo con đường đitắt, rút ngắn CNH,HĐH phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ nền kinh tế nôngnghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ một nền kinh tế công nghiệp sang KTTT Từ mộttrình độ thấp về kinh tế và kỹ thuật, muốn đi nhanh và phát triển theo hướng hiện đại cầnkết hợp phát triển tuần tự với phát triển nhảy vọt
+ Theo đó, nền kinh tế nước ta phải phát triển theo mô hình “lồng ghép”: một mặt,phải phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp cơ bản; mặt khác, phải phát triểnnhững ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao Vì thế, mạnh dạn đi ngay vào pháttriển KTTT thì chúng ta mới có khả năng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ
Trang 10CNH,HĐH, thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 mà Đảng
ta đã đề ra
>> Do vậy, gắn liền CNH,HĐH với phát triển KTTT là con đường để giải quyếtnhững vấn đề đó Bởi, KTTT vừa có thể đảm bảo cho sự phát triển bền vững do nó khôngdựa chủ yếu vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vừa có thể đảm bảo cho
sự phát triển nhanh vì nó tạo ra sự bùng nổ về thông tin và sức sáng tạo của nguồn nhânlực
Trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế
-xã hội quan trọng: nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao 7 - 8%/,đời sống nhân dân đượccải thiện đáng kể; nền kinh tế đang chuyển mạnh sang kinh tế thị trường; thể chế kinh tế thịtrường đã bắt đầu hình thành và đang trong quá trình hoàn thiện Nước ta là một trongnhững nước đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, cao su… và là một trongnhững nước đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, đượccác tổ chức quốc tế thừa nhận có thành tích xóa đói, giảm nghèo nhanh nhất Tuy nhiên,nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều mặt yếu kém, nhất là chất lượng tăng trưởng thấp, phát
triển chưa bền vững Báo cáo chính trị tại Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ: “Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh
tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm” 3 Nền kinh tế nước ta đang còn dựa chủ yếu
vào tài nguyên và lao động, giá trị do tri thức tạo ra chưa đáng kể Cơ cấu kinh tế vẫn cònnặng về nông nghiệp và khai thác tài nguyên Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chủ yếu là
do vốn (chiếm 52,7%) Giá trị xuất khẩu tuy khá cao, nhưng hiệu quả kém: sản phẩm xuất
khẩu chủ yếu là nông sản và nguyên liệu ít qua chế biến Năng suất lao động ở nước ta cònthấp hơn từ 2 đến 15 lần so với một số nước ASEAN…
Nguyên nhân của những yếu kém trên là do: công tác đào tạo nguồn nhân lực cònbất cập trước yêu cầu phát triển KTTT (lực lượng lao động dồi dào, nhưng tỷ lệ qua đào tạorất thấp, cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý, chất lượng đào tạo còn thấp); năng lực khoa học vàcông nghệ quốc gia còn yếu; kết quả ứng dụng những công trình, bằng sáng chế phát minhkhoa học còn ít và thấp so với các nước; thị trường KH&CN chậm được hình thành; sự gắnkết hoạt động KH&CN với giáo dục - đào tạo và sản xuất, kinh doanh còn yếu …
Trang 11- Quá trình CNH, HĐH chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về môi trường Nhiều vấn đề cấp thiết đối với môi trường
+ Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, hiện nước ta có gần 4000 cơ sở
sản xuất, hơn 1500 làng nghề gây ô nhiễm, hơn 200 KCN cần được kiểm soát về khả nănggây ô nhiễm Thực tế là, ô nhiễm nguồn nước, không khí đang lan rộng không chỉ ở cácKCN, khu đô thị, mà ở cả nhũng vùng nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm;biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường; thànhquả phát triển của nhiều địa phương trong nhiều năm chỉ sau một đợt thiên tai có thể bị xóasạch
+ Chỉ tiêu tăng GDP gấp 2,2 lần trong 10 năm tới với mức tăng trưởng công nghiệphằng năm 13% sẽ làm trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm ở các KCN và vùng đô thị; việcCNH-HĐH các ngành công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua với môitrường Số liệu của Ủy ban KH-CN-MT của Quốc hội cho thấy, mới có 60 KCN có trạm xử
lý nước thải tập trung (chiếm 42% số KCN đã vận hành) Mỗi ngày, các KCN thải rakhoảng 30.000 tấn chất thải độc hại ra môi trường Hầu hết các cụm, điểm, KCN chưa đápứng được những tiêu chuẩn môi trường
+ Theo thống kê, cả nước có gần 1500 làng nghề và tạo ra 11 triệu việc làm thường
xuyên và không thường xuyên Tuy nhiên do sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậunên phần lớn các làng nghề gây ô nhiễm môi trường Một cuộc khảo sát của Bộ Y tế tại 3tỉnh Nam Định, Bắc Ninh, Hưng Yên đã cho kết luận, hầu hết các làng nghề không có hệthống xử lý nước thải và kiểm soát chất thải rắn
+ CHH-HĐH sẽ kéo theo đô thị hóa Dân số đô thị năm 1996 là 19%, năm 2010 đạt30% và dự kiến tăng lên 45% vào 2020 Đây thực sự là sức ép lớn về môi trường trongquản lý đô thị Theo nghiên cứu của Bộ KH-CN, các đô thị Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, ViệtTrì, Ninh Binh, Quy Nhơn, Nha Trang, Biên Hòa là những tụ điểm phát thải các chất độchại Riêng Hà Nội, mỗi năm thải vào môi trường nước khoảng 3.600 tấn chất hữu cơ, 320tấn dầu mỡ, hàng chục tấn kim loại nặng
- Chúng ta đang phải chịu những áp lực về thay đổi cấu trúc và mô hình phát triển
do sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng lộ rõ Một nghiên cứu của VCCI
Trang 12cho thấy, có khoảng trên 70% máy móc thiết bị ở nước ta sử dụng công nghệ cũ; 70% đãkhấu hao hết và gần 50% là máy móc cũ, hoặc vừa mới tân trang được nhập vào Thực tếnày là một thách thức đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị lớn nhằm tạo ra bước đột phá lớntrong chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Do đó, trong quá trình CNH, HĐH, phát triển KTTT cần kết hợp chặt chẽ với bảo
vệ tài nguyên môi trường, đảm bảo cho phát triển bền vững.
* Phê phán quan điểm sai trái:
- Về nhận thức
- về hành động
- Về sự phối kết hợp giữa các cơ quan, ban ngành
- Về cơ chế thực hiện chủ trương
* Giải pháp:
Một là, thống nhất nhận thức về chủ trương Thông qua giáo dục tuyên truyền trong
mọi tầng lóp nhân dân
- Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong thời gian quachủ yếu là do các cấp các ngành thường nặng về quan tâm tới các chi tiêu tăng trưởng kinh
tế, chưa đảm bảo hài hòa, cân bằng trong phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
- Do đó, cần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhậnthức và hành động, trong chỉ đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạtđộng bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT
Hai là, Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất
có khả năng phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, phát triển KTTT ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu tư''.''chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.
- Các mối quan tâm về môi trường cần được lồng ghép ngay từ quá trình ra các quyếtđịnh về phát triến kinh tế và xã hội, tất cả các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác
Trang 13động môi trường, được Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường thẩm định trước khi được phêduyệt
- Tăng cường việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất làcác chất thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế
- Khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái; nâng cao khả năng vànguồn lực điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên để có kế hoạch bảo vệ, khai thác hợp lý,bảo vệ đa dạng sinh học Nói cách khác, bảo vệ môi trường phải vừa là mục tiêu, vừa là nộidung của quá trình phát triển bền vững
Ba là, Nhà nước cũng cần sử dụng công cụ tài chính nhằm khuyến khích đầu tư vào
các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sử dụng công nghệ sạch; sản xuất
và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì không gây hại hoặc
ít gây hại đến môi trường; tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế
- Bước đột phá ở đây là chuyển đổi quyết liệt từ cơ chế nặng về ''bao cấp”, ''xin cho”sang cơ chế kinh tế hóa, tài chính hóa trong quản lý tài nguyên, môi trường
- Thực tế hiện nay, nhà nước bỏ ra rất nhiều kinh phí, trang thiết bị và nguồn nhânlực cho công tác điều tra tài nguyên khoáng sản, khí tượng, thủy văn nhưng thường làcung cấp không hoặc với khoản phí không đáng kể cho các nhà đầu tư Đó là sự bù đắpkhông cân xứng dẫn đến không đủ nguồn lực cho công tác quy hoạch tài nguyên và môitrường
Bốn là, cần có một chiến lược phát triển khoa học-công nghệ với những bước đi
thích hợp Ở giai đoạn đầu, hướng về sự tiếp cận, tiếp thu, chuyển giao công nghệ mới,trong đó ưu tiên xây dựng các khu công nghệ cao cấp vùng để thu hút công nghệ mới Hìnhthành một số cơ sở nghiên cứu-ứng dụng đủ sức tiếp thu, cải tiến công nghệ và sáng tạocông nghệ mới gắn sản xuất kinh doanh Trên nền tảng đó, tạo ra năng lực nghiên cứu nộisinh giúp các nhà khoa học và cơ sở sản xuất trong nước tiến tới vận dụng và làm chủnhững công nghệ và tri thức mới của nhân loại
Năm là, Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao, là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng
Trang 14dụng KH&CN, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnhtranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
- Trong quá trình đó, cần đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoahọc, công nghệ đầu đàn
- Chú ý đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ vàtrình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề; thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanhnghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lựctheo nhu cầu xã hội
Câu 3: Cơ sở lý luận, thực tiễn, đặc trưng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta?
Vì sao Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ?
Kinh tế thị trường, theo nghĩa hẹp, là khái niệm dùng để chỉ một giai đoạn phát triểncao của kiểu tổ chức kinh tế sản xuất hàng hóa, ở đó, hầu hết các yếu tố đầu vào và sảnphẩm đầu ra của sản xuất đều mang hình thái hàng hóa, tức là được trao đổi, mua bán trênthị trường trước khi đi vào tiêu dùng cho sản xuất hoặc cho sinh hoạt
Những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường.
Thứ nhất, Các nguồn lực đầu vào của sản xuất mang hình thái hàng hóa, làm xuất
hiện các loại thị trường mới
Thứ hai, thị trường chịu sự chi phối bới các quy luật kinh tế khách quan.
Thứ ba, lợi nhuận tối đa trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy hoạt động của các chủ
thể kinh tế
Thứ tư, nền kinh tế mở cửa, hội nhập
>> Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế phản ảnh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại
- Từ trước đến nay nó tồn tại và phát triển chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản, là nhân tốquyết định sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản đã biết lợi dụngtối đa ưu thế của kinh tế thị trường để phục vụ cho mục tiêu phát triển tiềm năng kinh
Trang 15doanh, tìm kiếm lợi nhuận, và một cách khách quan nó thúc đẩy lực lượng sản xuất của xãhội phát triển mạnh mẽ Ngày nay, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đạt tới giai đoạnphát triển khá cao và phồn thịnh trong các nước tư bản phát triển.
- Tuy nhiên, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là vạn năng Bên cạnhmặt tích cực nó còn có mặt trái, có khuyết tật từ trong bản chất của nó do chế độ sở hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa chi phối Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, càng ngàymâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản càng bộc lộ sâu sắc, không giải quyết được các vấn đề xãhội, làm tăng thêm tính bất công và bất ổn của xã hội, đào sâu thêm hố ngăn cách giữangười giàu và người nghèo Hơn thế nữa, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nó cònràng buộc các nước kém phát triển trong quỹ đạo bị lệ thuộc và bị bóc lột theo quan hệ
“trung tâm – ngoại vi” Có thể nói, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngàynay là sự thống trị của một số ít nước lớn hay một số tập đoàn xuyên quốc gia đối với đa sốcác nước nghèo, làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các nước giàu và các nước nghèo Chính vìthế mà, như C Mác đã phân tích và dự báo, chủ nghĩa tư bản tất yếu phải nhường chỗ chomột phương thức sản xuất và chế độ mới văn minh hơn, nhân đạo hơn
Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã và đang tìm mọi cách để tự điều chỉnh, tự thích nghibằng cách phát triển “nền kinh tế thị trường hiện đại”, “nền kinh tế thị trường xã hội”, tạo
ra “chủ nghĩa tư bản xã hội”, “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, “nhà nước phúc lợi chung”…,tức là phải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước và cũng phải chăm lo vấn đề xã hội nhiềuhơn, nhưng do mâu thuẫn từ trong bản chất của nó, chủ nghĩa tư bản không thể tự giảiquyết được, có chăng nó chỉ tạm thời xoa dịu được chừng nào mâu thuẫn mà thôi Nền kinh
tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại đang ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và tựtiến hóa để chuẩn bị chuyển sang giai đoạn hậu công nghiệp, theo xu hướng xã hội hóa
Đây là tất yếu khách quan, là quy luật phát triển của xã hội Nhân loại muốn tiến lên, xã hội muốn phát triển thì dứt khoát không thể dừng lại ở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
* Mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết là một kiểu tổ chức xã hội, tổ chức kinh
tế muốn sớm khắc phục những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản, muốn nhanh chóng xâydựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, một phương thức sản xuất văn minh, hiện đại hơn chủ
Trang 16nghĩa tư bản Đó là một ý tưởng tốt đẹp, và trên thực tế suốt hơn 70 năm tồn tại, chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, làm thay đổi hẳn bộ mặt củađất nước và đời sống của nhân dân Liên Xô Nhưng có lẽ do nôn nóng, làm trái quy luật(muốn xóa bỏ ngay kinh tế hàng hóa, áp dụng ngay cơ chế kinh tế phi thị trường), khôngnăng động, kịp thời điều chỉnh khi cần thiết cho nên rút cuộc đã không thành công
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu vào cuốinhững năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX đã làm lộ rõ những khuyết tật của môhình kinh tế cứng nhắc phi thị trường, mặc dù những khuyết tật đó không phải là nguyênnhân tất yếu dẫn đến sự sụp đổ
* Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế - kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp,
lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề
- Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân
Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam Nhưng đi lên chủnghĩa xã hội bằng cách nào ? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật khôngđơn giản
- Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mô hìnhchủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp Môhình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳđất nước có chiến tranh Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trongcông tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm
đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội,không tôn trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tếViệt Nam
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
12 Đại hội đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủnghĩa xã hội, đặc biệt là quan niệm về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá
Trang 17độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường,phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hạchtoán kinh doanh
- Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình thứckinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàndiện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội
- Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, coi “chính sách kinh tế nhiều
thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa
xã hội”
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn chủtrương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xãhội của Việt Nam
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng
khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”
- Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) mới chính thức đưa ra khái
niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Đại hội khẳng định: Phát triển kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hìnhkinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đây là kếtquả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tưduy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam
Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự
gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận
dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay ĐảngCộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự kháiquát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễnxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển
Trang 18nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường đểthực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đây
là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường Cũng có thể nói kinh tế thị trường là “cái phổ biến”, còn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “cái đặc thù” của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt
Nam
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu
có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị
trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật –công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xãhội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạnchế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốcliệt, bóc lột và phân hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội Đây
cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác – Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượngsản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nângcao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệsản xuất mới, tiên tiến
Trang 19Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiềuthành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùngvới kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Nhànước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chínhsách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sửdụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tếthị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế vàkhắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, củatoàn thể nhân dân
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kếtquả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và cácnguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Tăng trưởng kinh tếgắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Tăngtrưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng
và phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chứckinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở trình độ thấpsang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa.Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lýcủa Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa nhữngkhuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân
và sự phát triển bền vững của đất nước
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệsản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 20Có ý kiến cho rằng, không thể có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; rằng
chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường không thể dung hợp với nhau, nếu đem “ghép”định hướng xã hội chủ nghĩa vào kinh tế thị trường thì chẳng khác nào trộn dầu vào nước, tạo ra
một cơ thể “đầu Ngô mình Sở” Theo chúng tôi, ý kiến này không đúng Không đúng là vì,hoặc ý kiến này muốn trì kéo Việt Nam trong quỹ đạo phát triển của chủ nghĩa tư bản, phủnhận định hướng xã hội chủ nghĩa, không muốn Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội Đó là điềutrái với quy luật khách quan, không thể chấp nhận Hoặc ý kiến này không thoát ra được khỏi
tư duy cũ, đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, cho kinh tế thị trường là cáiriêng có của chủ nghĩa tư bản, từ đó “dị ứng” với kinh tế thị trường, không thấy hết nhữngyếu tố mới, xu hướng mới của kinh tế thị trường trong điều kiện mới của thời đại, lặp lại sailầm của một thời trước đây
Cũng có ý kiến nhấn mạnh một chiều những đặc trưng chung, những cái phổ biếncủa kinh tế thị trường, chưa thấy hết hoặc còn phân vân, nghi ngờ về những đặc điểm riêng,những cái đặc thù của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó chưa tin làkinh tế thị trường có thể phát triển trên cơ sở chế độ công hữu là nền tảng, kinh tế quốcdoanh là chủ đạo; rằng trong kinh tế thị trường không thể có kế hoạch, không thể thực hiệnđược công bằng xã hội, không thể khắc phục được những tiêu cực, mặt trái của cơ chế thịtrường, v.v Lại có ý kiến băn khoăn cho rằng, việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa thực chất là trở về với chủ nghĩa tư bản, có thêm định ngữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cũng chỉ là để cho yên lòng, cho có vẻ “giữ vững lập trường” mà thôi,
trước sau gì thì cũng trượt sang con đường tư bản chủ nghĩa
Chúng tôi cho rằng, những băn khoăn này là dễ hiểu, bởi vì đây là những điều còn rấtmới mẻ, chưa có tiền lệ, nếu không xác định rõ nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa vàkiên trì vai trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường thìnhững điều đó rất dễ xảy ra Chúng tôi còn phải vừa làm vừa tổng kết, rút kinh nghiệm.Nhưng có điều cần khẳng định là: trong điều kiện mới của thời đại ngày nay, nhất địnhkhông thể duy trì mãi mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, không thể đồng nhấtkinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản Chính C.Mác đã phê phán sự lầm lẫn giữa kinh tếhàng hóa với kinh tế tư bản chủ nghĩa của phái kinh tế học tầm thường C.Mác khẳng định
Trang 21rằng : “… sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan trọng của chúng không giống nhau… Chúng ta hoàn toàn chưa biết một tí gì về những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất ấy và chúng ta chưa thể nói gì về những phương thức ấy, nếu như chúng ta chỉ biết có những phạm trù trừu tượng của lưu thông hàng hóa, những phạm trù chung cho tất cả các phương thức ấy”(1) Phải chăng việc nhận thức cho đúng và nóicho được những đặc điểm riêng của những phương thức sản xuất đặc thù ấy là trách nhiệm
mà C.Mác giao cho và gửi gắm các thế hệ ngày nay?
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải đơngiản là sự trở về với phương thức chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế côngnghiệp, mà điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải chuyển sang nền kinh tế hiện đại,văn minh nhằm mục tiêu từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội Đây là sự lựa chọn phù hợp vớicác quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đisau, cho phép các nước này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn được con đường đicủa mình tới chủ nghĩa xã hội trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế được
những khuyết điểm của hai cơ chế: kế hoạch và thị trường Nói cách khác, kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo nhữngnguyên tắc và quy luật của hệ thống kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hộichủ nghĩa Chính tính chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công
cụ, động lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng kinh tế thị trường,nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học
và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở cửa và hội nhập nhằm thúc đẩy quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để trong khoảng thời gian không dài có thểkhắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướnghiện đại
III – Làm thế nào để phát triển được kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ?
Từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gianqua và căn cứ vào yêu cầu phát triển trong thời gian tới, có thể xác định những phương