1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn tập môn các tác PHẨM KINH điển KINH tế CHÍNH TRỊ

40 316 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 245 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

C.Mác đã viết: “Cố nhiên, về mặt hình thức, phương pháp trình bày này phải khác với phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu thì phải nắm lấy vật liệu với tất cả những chi tiết của nó, phải phân tích những chi tiết của nó, phải phân tích các hình thái phát triển khác nhau của nó và phải tìm ra được mối liên hệ bên trong của những hình thái đó, chỉ sau khi hoàn thành công việc đó rồi mới có thể mô tả sự vận động thực tế một cách thích đáng được” .

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TÁC PHẨM KINH ĐIỂN

Câu 1: Phương pháp trình bày của C.Mác trong bộ “Tư bản” là đi từ trừu tượng đến cụ thể

C.Mác đã viết: “Cố nhiên, về mặt hình thức, phương pháp trình bày này phải khác

với phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu thì phải nắm lấy vật liệu với tất cả nhữngchi tiết của nó, phải phân tích những chi tiết của nó, phải phân tích các hình thái pháttriển khác nhau của nó và phải tìm ra được mối liên hệ bên trong của những hình thái

đó, chỉ sau khi hoàn thành công việc đó rồi mới có thể mô tả sự vận động thực tế mộtcách thích đáng được”1

Phương pháp trình bày, hay là mô tả sự vận động thực tế của phương thức sảnxuất TBCN, là phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

Mở đầu quyển III “Tư bản”, C.Mác đã tóm tắt phương pháp trình bày đó như sau:

“Trong quyển I, chúng ta đã nghiên cứu các mặt của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu riêng bản thân quá trình đó với tư cách là quá trình sản xuất trực tiếp và, trong sự nghiên cứu ấy, chúng ta đã không kể đến tất cả những ảnh hưởng thứ yếu do những nhân tố ở bên ngoài quá trình ấy gây ra Nhưng đời sống của tư bản còn vượt ra ngoài quá trình sản xuất trực tiếp ấy

Trong thế giới hiện thực, quá trình sản xuất trực tiếp còn được bổ sung bằng quá trình lưu thông, quá trình này là đối tượng nghiên cứu quá trình lưu thông về phương diện là một quá trình trung gian của quá trình tái sản xuất xã hội- chúng ta đã thấy rằng quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, xét toàn bộ, là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông.

Trong quyển III này, không thể nào cứ nói những điểm chung chung về sự thống nhất ấy nữa Trái lại, cần phải tìm ra và mô tả được những hình thái cụ thể đẻ ra từ quá trình vận động của tư bản với tư cách là một chỉnh thể Chính dưới những hình thái cụ thể ấy mà các tư bản đã đối diện với nhau trong sự vận động hiện thực của chúng, còn hình thái tư bản trong quá trình sản xuất trực tiếp, cũng như hình thái của nó trong quá trình lưu thông, thì chỉ là những giai đoạn cá biệt nếu đem so với những hình thái cụ thể

đó Vậy những biến thể của tư bản, như chúng tôi trình bày trong quyển này, sẽ từng

1 Sđd, tập 23, tr.34

Trang 2

bước một tiến gần đến cái hình thái mà chúng thể hiện ra ở bề mặt của xã hội, trong sự tác động qua lại giữa các tư bản khác nhau, trong sự cạnh tranh và trong ý thức thông thường của bản thân những nhân viên sản xuất” 2

Trình bày tách riêng quá trình sản xuất trực tiếp (quyển I) hay tách riêng quátrình lưu thông (quyển II) là một sự trừu tượng hoá, vì trong sản xuất hàng hoá tư bản

chủ nghĩa, “quá trình sản xuất hoàn toàn dựa trên lưu thông và lưu thông chỉ đơn giản

là một yếu tố, một giai đoạn quá độ của sản xuất, lưu thông chỉ đơn thuần là sự thực hiện sản phẩm đã được sản xuất ra với tư cách là hàng hoá” 3

Quyển III trình bày sự thống nhất giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thôngnày với tư cách là một chỉnh thể, mô tả những hình thái cụ thể để từ quá trình vận độnghiện thực của tư bản

Thí dụ: Xét phạm trù tư bản, việc giả định tư bản công nghiệp là một thể thống nhất (Từ quyển I, quyển II đến phần thứ nhất, phần thứ hai và phần thứ ba của quyển III) là một sự trừu tượng hoá Phần thứ tư, quyển III, mới trình bày thái chuyển hoá của một bộ phận tư bản lưu thông thành tư bản thương nhân, một loại tư bản đặc biệt Đến phần thứ năm quyển III, bàn thêm một loại tư bản đặc biệt nữa là tư bản sinh lợi tức, phần thứ sáu, quyển III, đề cập tư bản đầu tư vào nông nghiệp

Ta xem xét phạm trù giá trị thặng dư thì giá trị thặng dư là một phạm trù trừu tượng, nó biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thái lợi nhuận Cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành dẫn tới sự san bằng lợi nhuận của các tư bản

cá biệt khác nhau, hình thành lợi nhuận bình quân Lợi nhuận và lợi nhuận bình quân tuy đã cụ thể hơn so với giá trị thặng dư, nhưng vẫn còn là những phạm trù trừu tượng Trong đời sống hiện thực giá trị thặng dư biểu hiện thành lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận doanh nghiệp, lợi tức, địa tô…

Ngoài ra, trong bộ “Tư bản” C.Mác sử dụng nhiều thủ pháp nhận thức khác

như phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phươngpháp hệ thống, phương pháp thực chứng…những phương pháp và phạm trù về hệthống luận, luân lý học và tâm lý học… Tất cả những nội dung này, cùng cấu trúcthành hệ thống phương pháp luận của bộ “Tư bản”

2 Sđd, tập 25, phần I, tr 47-48

3 Sđd, tập 25, phần I, tr500

Trang 3

Ý nghĩa của việc nghiên cứu tác phẩm “Tư bản” trong giai đoạn hiện nay

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang báo hiệu sự phá sản của các họcthuyết kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN), nhiều nền kinh tế, nhiều nguyên thủ quốcgia, thậm chí nhiều người dân đã từ bỏ các học thuyết kinh tế TBCN để quay sangtìm hiểu và áp dụng các nguyên lý kinh tế trong bộ “Tư bản” của C.Mác

Hiện tại CNTB đã xuất hiện hàng loạt những thay đổi rất mới, sức sản xuấtphát triển nhanh, mức sống bình quân đầu người liên tục tăng cao nhưng những mâuthuẫn cố hữu cũng vì thế mà phát triển theo Bộ “Tư bản” đã chỉ rõ CNTB cho dù cóphát triển thế nào, cuối cùng cũng không thể thay đổi bản chất thống trị, không thayđổi được tính chất của chế độ TBCN, không thay đổi được quan hệ bóc lột giữangười lao động với chủ thuê nhân công Với tính chiến đấu cao, bộ “Tư bản” đã vạch

rõ quá trình lịch sử sự phát triển của CNTB, từ đó chỉ ra những nhận thức chính xác

về CNTB hiện đại, giúp toàn thể nhân loại hiểu rõ các cung bậc khác nhau của

CNTB, làm rõ từng điểm mạnh, điểm yếu Có thể nói đây là "cẩm nang", là chìa khóa

để mở ra cánh cửa chiến thắng của CNXH

C.Mác chưa một lần chứng kiến sự thành công của CNXH, ông cũng không thểđặt ra một kế hoạch tỉ mỉ cho từng xã hội cụ thể, nhiều điều trong bộ “Tư bản” chưa giảithích hết hiện thực đang diễn ra, tuy nhiên điều quan trọng là bộ “Tư bản” của Mác đãgiải thích rõ từng vấn đề nhỏ nhất trong một xã hội đầy biến động như hiện nay, giúpchúng ta hiểu rõ ưu điểm chủ nghĩa Mác cùng những khiếm khuyết của CNTB

Mặc dù tác phẩm “Tư bản” ra đời đã trên 100 năm, chủ nghĩa tư bản cũng đã

có nhiều biểu hiện mới khác với chủ nghĩa tư bản thế kỷ XVIII-XIX, nhưng những

“quy luật vận động kinh tế” của xã hội TBCN mà C.Mác đã phát hiện và trình bàytrong tác phẩm này vẫn còn ý nghĩa thực tiễn Đó là những vấn đề cần các thế hệnhững nhà Mác xít chân chính phải tiếp tục kế thừa, bổ sung hoàn thiện như: Nhữngquy luật về sản xuất hàng hoá nói chung và kinh tế thị trường, trình độ cao của kinh

tế hàng hoá, nói riêng; là tính thống nhất và mâu thuẫn giữa tư bản và lao động; nhưcác nhân tố ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá, các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợinhuận, tác động của việc đẩy nhanh chu chuyển tư bản đến hiệu quả kinh doanh…đều là những tri thức cần thiết để việc phát triển kinh tế thị trường hiện nay

Đọc “Tư bản”, chúng ta càng thấy được vai trò của phương pháp nghiên cứukhoa học Nó là kim chỉ nam, là bí quyết để chúng ta khám phá ra được những chân

Trang 4

lý sâu xa của tự nhiên, của xã hội và tư duy con người Hiện nay chúng ta đang ra sứcphát triển, kinh tế hàng hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Những quy luật của kinh tế hàng hoá của thị trường đang hoạt động mạnh.Chúng ta cần nhận thức và vận dụng chúng một cách sáng tạo trong điều kiện cụ thể

ở nước ta Bộ “Tư bản” là một kho tàng lý luận về quy luật giá trị quy luật cơ bản củakinh tế hàng hoá về các quy luật phát sinh của quy luật giá trị như quy luật cạnhtranh, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ…

Tóm lại: Bất chấp những biến cố thăng trầm của lịch sử, với sự biến thiên của

thời gian, hình thức phát triển, quy luật phát triển của CNTB cũng biến động khôngngừng, nhiều khi không tuân theo quy luật phát triển của chính CNTB nhưng nhữngmâu thuẫn của CNTB mà bộ “Tư bản” chỉ ra sẽ chẳng bao giờ lỗi thời, nó vẫn trànđầy sức sống, tiếp tục tỏa sáng, định hướng cho hành động cách mạng của các đảngcộng sản và công nhân trên thế giới, trong đó có Đảng ta Có thể nói, thực tiễn cáchmạng Việt Nam là một biểu hiện sinh động, đầy sức thuyết phục về sức sống mãnhliệt của chủ nghĩa Mác nói chung cũng như sức sống của bộ “Tư bản” nói riêng

Mặc dù, trong điều kiện hiện nay các thế lực phản động ra sức công kích, xuyêntạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác, chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, thì việcnghiên cứu bộ “Tư bản” chúng ta sẽ có thêm niềm tin vững chắc dựa trên cơ sở khoahọc rằng, CNTB không phải là hình thái kinh tế-xã hội vĩnh cửu, CNTB càng pháttriển càng tự dẫn đến gần hơn sự chín muồi cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội Có thểnói lịch sử CNTB đã phát triển nhiều thế kỷ, CNXH tuy đang còn khó khăn nhưng vớiánh sáng của chủ nghĩa Mác, khó khăn sẽ qua đi, tương lai sẽ tới, CNXH nhất định sẽ

thành công như C.Mác đã khẳng định Đúng như trong lời tựa Ph.Ăngghen đã viết:

“Trên lục địa, người ta thường gọi quyển “tư bản” là “kinh thánh của giai cấp công nhân” 4 và bộ “tư bản” của C.Mác là một tác phẩm vĩ đại vô cùng quý giá đối với sựnghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Câu 2: Phương pháp trừu tượng hoá khoa học

4 Sđd, tập 23, Nxb CTQG, Hà Nội, 1993, tr.49

Trang 5

Do đối tượng nghiên cứu của mỗi ngành khoa học có khác nhau nên

phương pháp nghiên cứu cũng có khác nhau Trong “Lời tựa viết cho lần xuất

bản thứ nhất” quyển I bộ “Tư bản”, C.Mác đã nhấn mạnh: “…khi phân tích

những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản ứng hoá học được Sức trừu tượng hoá phải thay thế cho cả hai cái đó” 5

Có thể khái quát phương pháp trừu tượng hoá khoa học C.Mác dùng đó là:

Phải gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những cái ngẫu nhiên, không thuộc bản chất của nó, chỉ giữ lại những quá trình, những hiện tượng vững chắc, ổn định, điển hình tiêu biểu cho bản chất của đối tượng nghiên cứu, để không bị lầm lạc bởi những tình huống phụ, xa lại với tiến trình thật sự và làm rối loạn tiến trình

ấy

Thí dụ: Khi phân tích về xã hội tư bản, để minh họa chủ yếu cho sự trình bày lý luận của mình C.Mác đã không chọn nước Đức quê hương ông mà lại chọn chọn nước Anh, bởi vì lúc đó nước Đức- nền kinh tế vẫn sản xuất theo phương thức sản xuất phong kiến điển hình ở Châu Âu, mới manh nha, xuất hiện những tiền đề của cuộc cách mạng công nghiệp; còn ở Anh (cuối thế kỷ XVII đã xuất hiện tiền đề của cuộc cách mạng công nghiệp và nổ ra mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XVIII) là nước TBCN điển hình nhất, phát triển nhất thời đó Tuy nhiên trong xã hội Anh cũng không có CNTB dưới dạng thuần tuý mà vẫn còn những tàn dư của các phương thức sản xuất tiền TBCN, như kinh tế tự nhiên và sản xuất hàng hoá nhỏ Vì thế, để tìm ra những quy luật vận động của xã hội hiện đại, tức là xã hội TBCN C.Mác đã vận dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học để gạt bỏ những tàn dư nói trên màchỉ xét phương thức sản xuất TBCN dưới dạng thuần tuý, trong đó toàn bộ của cải biểu hiện

ra của nó là “một đống khổng lồ hàng hoá”, tất cả các yếu tố đầu vào (kể cả sức lao động…) và đầu ra của sản xuất đều là hàng hoá, đều phải được mua bán thông qua thị trường Bởi vậy, khi phân tích tư bản công nghiệp, trong rất nhiều giai tầng của

xã hội tư bản Anh lúc, đó ông chỉ đề cập quan hệ giữa hai giai cấp cơ bản đối lập nhau của xã hội tư bản là giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, chỉ khi nghiên cứu

5 C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 25, phần I, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tr.592-593

Trang 6

sự chuyển hoá lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô TBCN trong quyển III mới xét thêm quan hệ với chủ sở hữu ruộng đất

Thêm một thí dụ khác: khi mới lập ra doanh nghiệp, quy mô còn nhỏ, có thể nhà

tư bản kiêm nhiệm cả chức năng quản lý, trực tiếp làm giám đốc Nhưng chức năng này thuộc phạm trù lao động trí óc, không thuộc về bản chất của nhà tư bản Bởi vậy, C.Mác gạt bỏ chức năng giám đốc, chỉ xét nhà tư bản với tư cách là chủ sở hữu tư bản Đồng thời, C.Mác nhấn mạnh không được lầm lẫn tiền công quản lý với lợi nhuận doanh nghiệp Bởi vì, khi quy mô doanh nghiệp đủ lớn, nhà tư bản chỉ cần bỏ ra một món thù lao nhỏ mọn là có thể trút gánh nặng quản lý cho những viên giám đốc làm thuê, lúc đó sẽ hắn ta sẽ hiện nguyên hình là người chủ sở hữu tư bản và chiếm đoạt giá trị thặng dư (hay lợi nhuận) Vì thế, C.Mác không nghiên cứu từng nhà tư bản cụ thể mà

“chỉ nói đến những con người trong chừng mực mà họ là hiện thân của những phạm trù kinh tế, là kẻ đại biểu cho những quan hệ và những lợi ích giai cấp nhất định”3

Phương pháp trừu tượng hoá khoa học được C.Mác thể hiện trong việc nêu lên các giả định Vì thế, khi nghiên cứu những nguyên lý trong tác phẩm tư bản, phải đặc biệt chú ý những giả định Khi giả định thay đổi thì kết luận thay đổi Dưới đây tác giả xin minh họa bằng một vài ví dụ:

Về giá trị hàng hoá: Khi giả định chỉ xét quá trình sản xuất trực tiếp (quyển I), thì: chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy

Nhưng khi xét quá trình tái sản xuất (đến quyển II), lại đi đến kết luận mới:

“Giá trị của mọi hàng hoá- và do giá trị của những hàng hoá cấu thành tư bản cũng vậy, không phải là do thời gian lao động cần thiết chứa đựng trong bản thân hàng hoá đó quyết định, mà là do thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra hàng hoá đó quyết định Việc tái sản xuất đó có thể tiến hành trong những điều kiện hoặc thuận lợi hơn, hoặc khó khăn hơn, không giống như những điều kiện sản xuất ban đầu” 6

Khi gắn với cạnh tranh trong nội bộ ngành và quan hệ cung cầu C.Mác lại chỉ

ra: giá trị thị trường, tức là giá trị trung bình của những hàng hoá được sản xuất

64 Sđd, tập 23, Nxb CTQG, Hà Nội, 1993, tr.68

Trang 7

trong một khu vực sản xuất nào đó, mới là cái trục mà giá cả thị trường xoay quanh Khi xét cả cạnh tranh giữa các ngành lại đi đến kết luận mới: giá cả sản xuất (bao gồm chi phí sản xuất cộng lợi nhuận bình quân), mới là trung tâm mà xung quanh nó giá cả thị trường lên xuống (Quyển III)

Một thí dụ khác: Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá, như giá trị

của hàng hoá, giá tri của tiền (vàng), quan hệ cung cầu

Giả định cung bằng cầu, giá trị của tiền không đổi, còn giá trị của hàng hoáthay đổi, rút ra kết luận: giá cả hàng hoá biến đổi tỷ lệ thuận với giá trị của hàng hoá

Giả định cung bằng cầu, giá trị của hàng hoá không đổi, giá trị của tiền thay đổicho ta đi đến kết luận: Giá cả hàng hoá biến đổi về tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền

Cuối cùng giả định giá trị của hàng hoá và giá trị của tiền không đổi quan hệcung cầu biến đổi Nếu cung lớn hơn cầu giá cả thị trường của hàng hoá thấp hơn giátrị thị trường của nó; nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường của hàng hoá caohơn giá trị thị trường của nó

Về quy luật lưu thông tiền tệ: Khi chỉ xét riêng chức năng phương tiện lưu thông, với giả định “giá trị của vàng là một đại lượng nhất định” 7 , khối lượng tiền

làm chức năng phương tiện lưu thông bằng tổng số giá cả hàng hoá chia cho số vòngquay của những đồng tiền cùng tên gọi

Nhưng nếu giả định, “với một tổng số giá trị hàng hoá nhất định và với một tốc

độ trung bình nhất định của những biến đổi hình thái của các hàng hoá” 8 thì “số lượng tiền hay vật liệu tiền đang lưu thông sẽ phụ thuộc vào bản thân giá trị của vật liệu này” 9 Khi xét thêm chức năng phương tiện thanh toán, lại thấy: “Với một tốc độ chu chuyển nhất định của các phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán tổng số tiền

ấy sẽ bằng tổng số giá cả hàng hoá cần được thực hiện, cộng với tổng số các khoản thanh toán đến hạn, trừ đi các khoản thanh toán đã bù trừ lẫn cho nhau, và cuối cùng trừ đi tổng số vòng quay, trong đó cũng có những đồng tiền ấy lần lượt khi thì làm chức năng phương tiện lưu thông, khi thì làm chức năng phương tiện thanh toán” 10

7 Sđd, tập 25, phầnI, Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tr.213

8 Sđd , tập 23, tr.181, tr.183.

9 Sđd , tập 23, tr.181, tr.188

10 Sđd, tập 23, tr.210

Trang 8

Thí dụ khác: Khi phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng phương tiện lưu thông, như sự vận động của giá cả, khối lượng hàng hoá đang lưu thông và tốc độ lưu thông của tiền, thay đổi theo những hướng khác nhau và những tỷ lệ khác nhau

Khi giá cả hàng hoá không đổi thì khối lượng phương tiện lưu thông có thể tăng lên, nếu như khối lượng hàng hoá lưu thông tăng lên hay tốc độ lưu thông của tiền giảm xuống, hoặc cả hai tình hình cùng tác động Ngược lại, khối lượng phương tiện lưu thông có thể giảm xuống, nếu như khối lượng hàng hoá giảm xuống hay tốc

độ lưu thông tăng lên.

Khi giá cả hàng hoá tăng lên một cách phổ biến thì khối lượng các phương tiện lưu thông có thể không thay đổi như khối lượng hàng hoá lưu thông giảm xuống theo cùng một tỷ lệ tăng lên của giá cả các hàng hoá đó, hoặc tốc độ lưu thông của tiền cũng tăng lên nhanh như tỷ lệ tăng của giá cả, trong khi khối lượng các hàng hoá đang lưu thông vẫn không thay đổi Khối lượng các phương tiện lưu thông có thể giảm xuống, nếu như khối lượng hàng hoá giảm xuống hay tốc độ lưu thông tăng lên nhanh hơn giá cả.

Khi giá cả các hàng hoá giảm xuống một cách phổ biến thì khối lượng các phương tiện lưu thông có thể thay đổi nếu như khối lượng các hàng hoá tăng lên theo cùng một tỷ lệ giảm xuống của giá cả những hàng hoá đó, hay nếu như tốc độ lưu thông của tiền giảm xuống theo cùng một tỷ lệ với giá cả Khối lượng các phương tiện lưu thông có thể tăng lên, nếu như khối lượng các hàng hoá tăng lên, hay nếu như tốc độ lưu thông giảm xuống nhanh hơn giá cả các hàng hoá

Những sự biến đổi của các nhân tố khác nhau có thể bù trừ lẫn nhau khiến cho tổng số giá cả các hàng hoá phải thực hiện vẫn không thay đổi, và do đó khối lượng tiền lưu thông cũng không thay đổi, mặc dù những nhân tố ấy biến động không ngừng 11

Về địa tô tư bản chủ nghĩa: Địa tô TBCN được C.Mác nghiên cứu xuất phát từ

giả thiết cho rằng nông nghiệp, cũng như công nghiệp chế tạo, đều bị phương thức sản xuất TBCN chi phối Người lao động nông nghiệp bị tước đoạt mất ruộng đất và phải phục tùng một nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, ở

11 Sđd, tập 23, tr.186

Trang 9

đây chỉ giới hạn trong việc đầu tư tư bản vào nông nghiệp theo nghĩa hẹp, nghĩa là vào ngành sản xuất ra một sản phẩm thực vật chủ yếu, nuôi sống cả một dân cư

Như vậy, trong nông nghiệp TBCN đã tập hợp ba giai cấp cấu thành bộ xương sống của xã hội cận đại: người công nhân làm thuê, nhà tư bản kiến trúc Phéc-mi-ê

và địa chủ Tuy nhiên, ở đây, hoàn thành tách ruộng đất đối với tư cách là tư liệu lao động khỏi quyền sở hữu ruộng đất và người sở hữu ruộng đất đối với người này thì ruộng đất không có ý nghĩa gì khác hơn là một khoản thuế bằng tiền mà độc quyền của hắn thu được của nhà tư bản công nghiệp, tức là người Phéc-mi-ê; phương thức sản xuất TBCN đã cắt đứt mọi mỗi liên hệ với người sở hữu ruộng đất với ruộng đất.

Ở đây, C.Mác đã không bàn trường hợp người thuê ruộng không phải là nhà tư bản (thực tế họ có thể là tiểu nông), vì cái gì mà người tiểu nông nộp cho người chủ dưới hình thức thái tiền thuê ruộng nhiều khi không những nuốt hết lợi nhận của anh ta

mà còn ngốn mất một phần tiên công bình thường nữa Như vậy, để phân tích địa tô một cách khoa học, trên cơ sở phương thức TBCN, C.Mác “Đã xét địa tô dưới cái hình thái thuần tuý của nó, gạt bỏ mọi cái pha tạp làm xuyên tạc bản chất của địa tô đi và làm cho nó lu mờ đi” 12

Tóm lại, những nguyên lý lý luận trên đều là trừu tượng dựa trên những giảđịnh nhất định Khi vận dụng vào việc thực tiễn phải bám sát các giả định, xem xéthoàn cảnh cụ thể có phù hợp với các giả định ấy không, nếu không thì không đượcmáy móc áp dụng nguyên xi những nguyên lý đó mà phải tính đến những điều kiện

cụ thể trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh, điều kiện mỗi nước, mỗi khu vực

Câu 3: Hai nhân tố của hàng hoá và tính chất 2 mặt của lao động biểu hiện trong hàng hoá

1 Hai nhân tố của hàng hóa: Giá trị sử dụng và giá trị

C.Mác đã chỉ ra rằng, hàng hóa trước hết phải là một vật nhờ có những thuộctính của nó mà có thể thỏa mãn một loại nhu cầu nào đó của con người (nhu cầu vậtchất hay tinh thần, trực tiếp hay gián tiếp)

Chính tính chất có ích hay công dụng của một vật khiến cho nó trở thành một

12 Sđd, tập 25 phần II, tr 239

Trang 10

giá trị sử dụng Tính có ích đó không tồn tại ở bên ngoài vật thể mà ở ngay chính nội

tại bên trong, do thuộc tính tự nhiên vốn có của vật thể hàng hóa quyết định

“Tính có ích do thuộc tính của vật thể hàng hóa quyết định, nó không tồn tại bên ngoài vật thể hàng hóa này” 13

Chính vì vậy, giá trị sử dụng chỉ được thực hiện trong việc sử dụng hay tiêudùng nó, là yếu tố cấu thành nội dung vật chất của cải và nó không phụ thuộc vàohình thái xã hội của của cải đó Bởi vậy giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn.Còn trong hình thái xã hội mà chúng ta đang nghiên cứu thì giá trị sử dụng đồng thờicũng là những vật mang giá trị trao đổi

Giá trị trao đổi trước hết là biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một

tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng này được trao đổi với những giá trị sử dụngkhác14

Chẳng hạn, a thóc được trao đổi với x vải, y vàng, z bạc, v.v Như vậy thóc không phải chỉ có một giá trị trao đổi, mà có nhiều giá trị trao đổi Và cả x vải, y vàng, z bạc đều là những giá trị trao đổi của a thóc, nên chúng cũng phải là những giá trị trao đổi có thể thay thế được cho nhau, hay là có đại lượng bằng nhau

Từ đó C.Mác đã đi đến khẳng định sau khi gạt bỏ tất cả những biểu hiện bênngoài mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan thì chỉ còn lại “một sựkết tinh đơn thuần, không phân biệt, của lao động của con người, tức là một sự chi

13 Sđd, tr.63

14 Sđd, tr.63

15 Sđd, tr.65

Trang 11

phí về sức lao động của con người không kể đến hình thức của sự chi phí đó Tất cảnhững vật ấy bây giờ chỉ còn biểu hiện một điều là trong việc sản xuất ra chúng, sứclao động của con người đã được chi phí vào đấy, lao động của con người đã được tíchlũy vào đấy Là những tinh thể của cái thực thể xã hội chung cho tất cả các vật ấy, chonên các vật ấy đều là những giá trị - những giá trị hàng hóa”16 Như vậy, “cái chung biểuhiện trong quan hệ trao đổi hay trong giá trị trao đổi của các hàng hóa, chính là giá trị củachúng”17 Vì vậy, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản suất hàng hóakết tinh lại.

Để đo lường đại lượng giá trị hàng hóa, theo C.Mác phải sử dụng đúng cái

“thực thể tạo ra giá trị” chứa đựng trong hàng hóa, đó chính là lượng lao động đã haophí làm cơ sở để xác định Bản thân lượng lao động thì được đo bằng thời gian laođộng nhưng không phải là thời gian lao động cá biệt của một người sản xuất cụ thể,

mà phải là thời gian lao động bình quân của toàn bộ những lao động cụ thể đó gộplại, hay nói cách khác đó chính là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất rahang hóa đó C.Mác viết “Mỗi một sức lao động cá thể ấy, cũng như bất cứ sức laođộng cá thể nào khác cũng là một sức lao động của con người, bởi vì nó có tính chấtmột sức lao động xã hội trung bình và hoạt động với tư cách là một sức lao động xãhội trung bình như thế; do đó để sản xuất ra một hàng hóa nhất định, nó chỉ dùng mộtthời gian lao động trung bình cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết”18 Màthời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động để sản xuất ra một giá trị sửdụng nào đó trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ thànhthạo trung bình và cường độ lao động trung bình trong xã hội đó Từ đó C.Mác khẳngđịnh, lượng giá trị của hàng hóa là do “ lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gianlao động xã hội cần thiết để sản xuất” ra hàng hóa đó quyết định

2 Tính chất hai mặt của lao động biểu hiện trong hàng hóa

Lao động cụ thể, có ích là một loại hoạt động sản xuất nhất định, nó tạo ra giátrị sử dụng của hàng hóa “Cái áo là một giá trị sử dụng thỏa mãn một nhu cầu nhấtđịnh Muốn tạo ra nó cần phải có một loại hoạt động sản xuất nhất định Hoạt động

16 Sđd, tr.66

17 Sđd, tr.66

18 Sđd, tr.67

Trang 12

này được quyết định bởi mục đích, cách làm, đối tượng, tư liệu và kết quả của nó.Lao động mà tính chất có ích biểu hiện ra như vậy là lao động có ích”19 Mỗi loạilao động cụ thể khác nhau tạo ra các giá trị sử dụng khác nhau, chính sự khác nhau đólàm chúng có thể đứng đối diện với nhau với tư cách là hàng hóa

Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, nó không phụ thuộc vào bất kỳhình thái xã hội nào mà nó tồn tại “ với tư cách là kẻ sáng tạo ra giá trị sử dụng, là laođộng có ích, thì lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vàobất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sựtrao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của conngười”20 Tuy nhiên, lao động không phải là nguồn gốc duy nhất của những giá trị sửdụng hay của cải, mà như Pét-ti nói, lao động là cha của của cải, còn đất đai là mẹcủa nó21

Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏnhững hình thức cụ thể chỉ còn lại sự hao phí về sức lực, thần kinh cơ bắp của conngười C.Mác viết “ nếu như không kể tính chất cụ thể nhất định của hoạt động sảnxuất, và do đó đến tính có ích của lao động, thì trong lao động ấy chỉ còn lại có mộtcái là sự tiêu phí sức lao động của con người…một sự chi phí sản xuất về óc, bắp thịt,thần kinh và bàn tay.v.v., của con người”22

Xét về mặt chất, giá trị của hàng hóa chỉ đại biểu cho lao động của con người,cho sự chi phí lao động của con người nói chung Xét về mặt lượng, nó phải chứađựng trong đó số lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra nó Nhưng sự hao phí sứclao động của những người sản xuất khác nhau là không giống nhau Có sản phẩm dolao động giản đơn làm ra, có sản phẩm do lao động phức tạp, thậm chí cực kỳ phứctạp làm ra Vậy làm thế nào để những sản phẩm đó có thể trao đổi ngang giá được vớinhau ?

C.Mác đã phát hiện ra rằng, “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn nânglên thành lũy thừa, hay nói cho đúng hơn, là lao động giản đơn được nhân lên, thành

19 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.71

20 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.73

21 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.74

22 C.Mác và Ăngghen: Sđd, tr.74

Trang 13

thử một lao động phức tạp nhỏ hơn thỡ tương đương với một lao động giản đơn lớnhơn”23 Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một con người bỡnh thường nàocựng đều cú thể làm được Việc qui lao động phức tạp thành lao động giản đơn diễn

ra một cỏch thường xuyờn, đằng sau lưng những người sản xuất Vỡ vậy, một hànghúa cú thể là sản phẩm của một lao động phức tạp nhất, nhưng giỏ trị của hàng húa đúvẫn làm cho nú ngang giỏ với sản phẩm của lao động giản đơn

Về vị trí và ý nghĩa của lí luận giá trị - lao động trong học thuyết kinh tế C.Mác,

có thể khẳng định: Lý luận giá trị lao động là cở sở lý luận khoa học để C.Mác xâydựng học thuyết giá trị thặng d Nói một cách khác, học thuyết giá trị thặng d củaC.Mác thực sự cách mạng và khoa học vì nó đợc luận giải theo một quan điểm nhấtquán: chỉ có lao động mới tạo ra giá trị

Nghiên cứu lý luận giá trị trong học thuyết kinh tế của C.Mác thực chất lànghiên cứu hàng hóa, tiền tệ Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học - cơ sở

đề nghiên cứu học thuyết giá trị thặng d, mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn kinh tế xã hội Đó là vận dụng các quy luật của sản xuất và lu thông hàng hóa vào nền kinh tếthị trờng, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển

-Những nội dung chủ yếu trong lý luận giá trị - lao động của C.Mác đã đ ợc trìnhbày tóm lợc trên đây vẫn phù hợp với việc phát triển thể chế kinh tế thị trờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay

- Trên thị trờng muốn chiếm u thế trong cạnh tranh phải quan tâm đến cả haithuộc tính của hàng hóa theo hớng không ngừng nâng cao chất lợng của giá trị sửdụng, cải tiến mẫu mã, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của ngời tiêu dùng, thậm chí kíchcầu và tạo ra nhu cầu mới, đồng thời hạ giá trị của hàng hóa, ngày càng rẻ hơn

- Vì giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động nên muốn hạthấp giá trị của hàng hóa, phải không ngừng tăng sức sản xuất của lao động: Coi trọngviệc đào tạo để nâng cao trình độ lành nghề của ngời lao động; nghiên cứu và ứngdụng khoa học - công nghệ vào sản xuất; cải tiến tổ chức và quản lý để thực hiện tốtviệc kết hợp xã hội của quá trình sản xuất; tận dụng công suất của máy móc, thiết bị

và tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu để tăng hiệu suất của t liệu sản xuất; khai tháchợp lý các điều kiện tự nhiên đi đôi với việc bảo vệ môi trờng

- Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng cho ngời khác, nên khi đặt kế

23 C.Mỏc và Ăngghen: Sđd, tr.75

Trang 14

hoạch sản xuất phải trả lời đợc câu hỏi: Sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? và sản xuất

nh thế nào? Kinh tế học ở các nớc t bản chủ nghĩa không thừa nhận lao động tạo ra giá trị hàng hóa nên chỉ nêu 3 vấn đề nói trên, còn C.Mác nêu thêm câu hỏi thứ t: Hao phí bao nhiêu lao động? Điều này phù hợp với kinh tế thị trờng, vì trong kinh tế thị tr-

ờng, không xét nhu cầu tự nhiên mà xét nhu cầu có khả năng thanh toán Bởi vậy,phải tùy khả năng thanh toán của ngời chủ tiền để quyết định sản xuất hàng hóa đắttiền hay hàng hóa rẻ tiền Nói cách khác, phải bán cái ngời mua cần chứ không phảibán cái mình có

- Giá cả thị trờng của hàng hóa lệ thuộc vào nhiều nhân tố (giá trị thị trờng củanó; sức mua của tiền; quan hệ cung cầu và cạnh tranh), nên giá cả hàng hóa thờngxuyên lên xuống xoay quanh giá trị thị trờng Nếu có cạnh tranh giữa các ngành thìgiá cả xoay quanh giá cả sản xuất, do đó phải nắm vững và dự báo đúng sự biến độngcủa giá cả thị trờng để quyết định đúng phơng án sản xuất và mua, bán đúng lúc nhằmthu đợc nhiều lợi nhuận

- Xí nghiệp nào đi đầu trong ứng dụng công nghệ mới và cải tiến quản lý sẽ tăngnăng suất lao động, hạ giá trị cá biệt thấp hơn giá trị thị trờng của hàng hóa và thu lợinhuận siêu ngạch, sẽ giầu lên Còn xí nghiệp lạc hậu sẽ bị thua lỗ, thậm chí bị phásản Bởi vậy, muốn thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trờng phải thực hiện khấu haonhanh để sớm đổi mới t bản cố định, tránh hao mòn vô hình và thu nhiều lợi nhuận.Mặt khác, nhà nớc phải có biện pháp điều hòa thu nhập của các tầng lớp dân c (thôngqua thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân qua hệ thống phúc lợi xãhội ) để giảm bớt khoảng cách giữa ngời giàu và ngời nghèo

- Độc quyền sở hữu ruộng đất là trở ngại cho việc hợp lý hóa sản xuất nôngnghiệp nên ngay cả những nớc t bản chủ nghĩa tiên tiến cũng quốc hữu hóa ruộng đất.Bởi vậy, qui định ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do nhà nớc đại diện quản lý, giaoquyền chiếm hữu và sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân; cho nông dân đợcchuyển nhợng quyền sử dụng ruộng đất, đợc quyền thế chấp là phù hợp qui luậtphát triển kinh tế - xã hội

- Nếu không có độc quyền thì việc ứng dụng rộng rãi tri thức sẽ ngày càng nângcao sức sản xuất của lao động, sẽ giảm thời gian lao động xã hội cần thiết của xã hội

đến mức tối thiểu, tơng ứng với điều đó là sự phát triển nghệ thuật, khoa học của

Trang 15

các cá nhân nhờ thời gian đã đợc giải tỏa cho mọi ngời và nhờ những phơng tiện đã

đ-ợc tạo ra để thực hiện điều đó24

Nhng một khi còn tồn tại việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì trong các cam kết thựcthi luật quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ cũng nh ban hành các qui phạm pháp luật ở trongnớc về vấn đề này không những chỉ ngăn chặn hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ màcòn cần phải phòng ngừa tình trạng độc quyền quá tthái, gây trở ngại cho tiến bộ khoa học

- công nghệ

Cõu 4: chương 4 phần 2 quyển 1 hàng húa sức lao động

C.Mỏc định nghĩa về sức lao động: “Chỳng tụi hiểu sức lao động hay năng lựclao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trongmột con người đang sống và được người đú đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra mộtgiỏ trị sử dụng nào đú.”25

C.Mỏc đó chỉ ra cỏc điều kiện để sức lao động trở thành hàng húa Điều kiện thứnhất là: người lao động phải cú khả năng chi phối được sức lao động, do đú họ phải là

kẻ tự do sở hữu năng lực lao động và thõn thể của mỡnh và cú nhu cầu bỏn sức laođộng ấy Đồng thời anh ta gặp được người chủ tiền cú nhu cầu mua sức lao động, họquan hệ với nhau với tư cỏch là những người chủ hàng húa bỡnh với nhau

Điều kiện thứ hai, người chủ sức lao động khụng cũn cú khả năng bỏn nhữnghàng húa trong đú lao động của anh ta được vật húa, mà trỏi lại, anh ta buộc phải đembỏn chớnh ngay cỏi sức lao động của mỡnh

Từ đú C.Mỏc đi đến kết luận về điều kiện chuyển húa tiền thành tư bản: “Nhưvậy là để chuyển húa tiền thành tư bản, người chủ tiền phải tỡm người lao động tự dotrờn thị trường hàng húa, tự do theo hai nghĩa: theo nghĩa là một con người tự do, chiphối được sức lao động của mỡnh với tư cỏch là một hàng húa, và mặt khỏc anh takhụng cũn một hàng húa nào khỏc để bỏn, núi một cỏch khỏc là trần như nhộng, hoàntoàn khụng cú những vật cần thiết đờ thực hiện năng lực lao động của mỡnh”26

24 C.Mỏc và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 46, phần II, Nxb CTQG, H 2000, Tr371.

25 Sđd, tr.251

26 Sđd, tr.253

Trang 16

Đi vào phân tích hàng hóa sức lao động, C.Mác chỉ ra rằng, cũng như bao hànghóa khác, khi sức lao động trở thành hàng hóa thì nó cũng có hai thuộc tính là giá trị vàgiá trị sử dụng

Về thuộc tính giá trị, theo C.Mác, giá trị sức lao động cũng giống như mọi hànghóa khác được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất và tái sản xuất

ra sức lao động Vì sức lao động chỉ tồn tại như là một năng lực của con người sống,cho nên một khi đã có sự tồn tại của con người, thì việc sản xuất ra sức lao động chính

là việc duy trì cuộc sống của chính con người đó Mà muốn duy trì cuộc sống thì cầnphải có một số tư liệu sinh hoạt nhất định như thức ăn, quần áo, chất đốt, nhà ở,v.v,.Cho nên giá trị sức lao động chính là giá trị các tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sốngcủa con người

Do đó, giá trị sức lao động bao gồm: giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết đểduy trì cuộc sống của người lao động; giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho con cáingười lao động; những chi phí đào tạo tùy theo tính chất phức tạp của sức lao động.Theo đó, C.Mác kết luận: giá trị của sức lao động được quy thành giá trị của tổng sốnhững tư liệu sinh hoạt nhất định

Không giống như các hàng hóa thông thường, giá trị sức lao động bao hàm mộtyếu tố tinh thần và lịch sử, tức là quy mô, phương thức thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu để sản xuất và tái sản sức lao động phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm, trình độ vănminh của mỗi nước, cũng như nhu cầu, thói quen sinh hoạt của người lao động

Bản chất riêng biệt của hàng hóa sức lao động còn biểu thị ở chỗ, khi hợp đồng

đã được ký kết giữa người mua và người bán thì giá trị sử dụng của nó vẫn chưa thực

sự chuyển sang tay người mua Giá trị của sức lao động cũng như giá trị của bất cứhàng hóa nào khác đã được quyết định trước khi nó đi vào lưu thông, nhưng giá trị sửdụng của sức lao động chỉ bao hàm ở những biểu hiện về sau này của sức đó Việcchuyển nhượng sức lực và biểu hiện thực tế của nó, tức là sự tồn tại thực tế của nó với

tư cách là một giá trị sử dụng, bị tách khỏi nhau trong thời gian

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ được thể hiện ra trong quá trình sửdụng nó, tức là quá trình tiêu dùng sức lao động Quá trình tiêu dùng sức lao động

Trang 17

đồng thời cũng là quỏ trỡnh sản xuất hàng húa và giỏ trị thặng dư Việc tiờu dựng sứclao động, cũng như việc tiờu dựng hàng húa khỏc, đều diễn ra bờn ngoài thị trường, haybờn ngoài lĩnh vực lưu thụng, tức là trong lĩnh vực sản xuất Và tất cả mọi bớ mất củaquỏ trỡnh sản xuất tư bản chủ nghĩa, của việc chế tạo ra lợi nhuận sẽ bị búc trần ra trướcmắt chỳng ta ở trong lĩnh vực đú

C.Mác khẳng định tiền công dới chủ nghĩa t bản là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả hàng hoá sức lao động; Lý luận tiền công tronghọc thuyết kinh tế Mác chỉ rõ mối quan hệ giữa t bản với lao động làm thuê Nó làphần giá trị mới do công nhân tạo ra mà nhà t bản lấy trả lại cho ngời công nhân.Nhìn bên ngoài nó dờng nh là hợp lý, là công bằng, ứng t bản kinh doanh thì có lợinhuận, có lao động thì có tiền công đó là “ngời có công, kẻ có của” Lí luận tiềncông dới chủ nghĩa t bản là sự bổ sung, hoàn thiện lí luận giá trị thặng d trong họcthuyết kinh tế của C.Mác Ngoài ý nghĩa chính trị xã hội, lí luận tiền công còn có ýnghĩa về mặt kinh tế nếu gạt bỏ tính chất t bản chủ nghĩa thì tiền công phản ánh cácmối quan hệ xã hội giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động Tiền công phải dảm

với năng suất chất lợng và hiệu quả cao nhất

Cõu 5: Giỏ trị thặng dư tuyệt đối và giỏ trị thặng dư tương đối

1 Khỏi niệm giỏ trị thặng dư tương đối

Cỏc phần trước C.Mỏc giả định ngày lao động là một đại lượng bất biến thực

tế nú là một đại lượng bất biến trong những điều kiện sản xuất nhất định, trong mộtgiai đoạn phỏt triển nhất định của xó hội Ngoài số thời gian lao động cần thiết ra,người cụng nhõn cú thể lao động làm thờm giờ 2, 3, 4, 6 giờ, v.v Đến đõy, C.Mỏc giảđịnh ngày lao động cố định với việc chia thành lao động cần thiết và lao động thặng

dư là đại lượng cho sẵn Vậy làm thế nào để việc sản xuất ra giỏ trị thặng dư cú thểtăng được hay để cho lao động thặng dư cú thể kộo dài ra mà khụng kộo dài ngày laođộng hoặc khụng phụ thuộc vào nú

Trang 18

C.Mác chỉ ra rằng, việc kéo dài số lao động thặng dư sẽ tương ứng với việc rút ngắn

số lao động cần thiết Cái sẽ thay đổi không phải là độ dài của ngày lao động mà là sựphân chia của sự lao động thành lao động cần thiết và lao động thặng dư Khi độ dài củangày lao động đã có sẵn thì thời gian lao động thặng dư được kéo dài là do thời gian laođộng cần thiết bị rút ngắn Từ đó, C.Mác gọi “giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng cáchkéo dài ngày lao động là giá trị thặng dư tuyệt đối; trái lại, giá trị thặng dư có được do rútngắn thời gian lao động cần thiết và do sự thay đổi tương ứng trong tỷ lệ của hai bộ phanạcấu thành ngày lao động, thì tôi gọi đó là giá trị thặng dư tương đối”27

Để hạ thấp giá trị sức lao động, phải nâng cao sức sản xuất của lao động haynăng suất lao động ở những ngành công nghiệp mà sản phẩm quyết định giá trị sứclao động, tức là những sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra tư liệu sinh hoạt vànhững ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt Bởi vì, nâng cao sức sản xuất của lao động

sẽ làm cho giá trị của các tư liệu sinh hoạt rẻ đi, điều đó cũng có nghĩa là làm giảmgiá trị sức lao động

2 Giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối

Theo C.Mác, sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối là việc kéo dài ngày lao độngquá cái điểm mà người công nhân chỉ sẽ sản xuất ra vật ngang giá với giá trị sức laođộng, và nhà tư bản chiếm lấy phần lao động thặng dư ấy Sản xuất ra giá trị thặng dưtuyệt đối tạo thành cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa và là điểm xuất phát của

sự sản xuất giá trị thặng dư tương đối

Trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối ngày lao động được chia làmhai phần gồm lao động cần thiết và lao động thặng dư Để kéo dài lao động thặng dưngười ta rút ngắn lao động cần thiết bằng những phương pháp cho phép sản xuất ravật ngang giá với tiền công một thời gian ít hơn Việc sản xuất ra giá trị thặng dưtuyệt đối chỉ gắn với độ dài của ngày lao động; còn việc sản xuất ra giá trị thặng dưtương đối đòi hỏi phải cách mạng hóa đến tận gốc các quá trình kỹ thuật của laođộng Do đó để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối giả định phải có phương thứcsản xuất đặc thù tư bản chủ nghĩa cùng với những phương pháp, phương tiện và điềukiện của bản thân nó, phương thức này chỉ phát sinh và phát triển một cách tự phát

27 Sđd, tr.458.

Trang 19

trờn cơ sở sự lệ thuộc của lao động vào tư bản28.

Cõu 6: Chi phớ sản xuất và lợi nhuận

Sự chuyển hóa của giá trị thành chi phí sản xuất và giá trị thặng d thành lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận.

Nh đã giới thiệu trong chuyên đề 1, trong quyển III “T bản gồm có 7 phần, thìphần thứ nhất, nghiên cứu bằng cách nào và do đâu mà cái bản chất là giá trị thặng d

và tỷ suất giá trị thặng d biểu hiện ra bên ngoài dới hình thái lợi nhuận và tỷ suất lợinhuận Trong phần này lợi nhuận vẫn đợc nghiên cứu một cách trừu tợng nhất và giả

định nh trớc: hàng hóa bán theo giá trị, mỗi nhà t bản công nghiệp vẫn thu toàn bộ giátrị thặng d đã sản xuất ra; lu thông cha tách khỏi sản xuất Nhng ở đây lợi nhuận cũng

đã không thống nhất với bản chất của nó là giá trị thặng d

Nhìn bề ngoài hao phí lao động thành chi phí sản xuất, và giá trị thặng d đợc coi làcon đẻ của toàn bộ t bản ứng trớc, vì nó đợc thu về t lu thông dới dạng tăng thêm ngoàichi phí sản xuất Chính vì vậy phần này bắt đầu nghiên cứu từ chi phí sản xuất Bớcchuyển từ cái không nhìn thấy đợc đến cái trực tiếp lộ ra bên ngoài ở các hiện tợng, đợcbắt đầu tự sự phân tích ba phạm trù của đời sống hàng ngày: chi phí sản xuất; lợinhuận; tỷ suất lợi nhuận Nói cách khác ở đây nghiên cứu ba sự chuyển hóa chungnhất: hao phí lao động chuyển hóa thành chi phí t bản; sự chiếm đoạt lao động thặng dthành sự tự lớn lên của t bản; và mức độ bóc lột thành mức độ tăng lên của t bản

* Sự chuyển hóa của giá trị thành chi phí sản xuất và giá trị thặng d thành lợi nhuận

Theo học thuyết giá trị lao động của Mác thì chi phí lao động xã hội thực tế để sảnxuất và tạo ra giá trị của hàng hoá bao gồm chi phí lao động sống và chi phí lao động

quá khứ Và trong giá trị của bất cứ hàng hóa nào sản xuất theo kiểu t bản chủ nghĩa

28 Sđd, Tr 719 – 720.

Trang 20

cũng đều biểu thị bằng công thức: W = c + v + m”29.

Nếu trong giá trị ấy, chúng ta đem trừ giá trị thặng d đi, thì sẽ chỉ còn lại có cái

ngang giá, hay cái giá trị nằm trong hàng hóa bù lại giá trị t bản c + v đợc chi

ra dới hình thái các yếu tố sản xuất

Nhng đối với nhà t bản, chi phí mà họ bỏ ra để sản xuất hàng hoá đợc do bằngchi phí về t bản, tức là lợng t bản nhất định bỏ ra để mua t liệu sản xuất (c) và sức lao

động (v) Chi phí đó gọi là chi phí sản xuất t bản và ký hiệu là: k (Kost), k = c + v”30

Theo đó, công thức W = c + v + m đợc chuyển thành W = k + m Hay giá trị hàng hóa = chi phí sản xuất + giá trị thặng d.

Nh vậy, chi phí mà nhà t bản bỏ ra để sản xuất hàng hóa đợc đo bằng chi phí về t bản; còn chi phí thực tế của nó thì đợc đo bằng chi phí về lao động Vì vậy, về mặt lợng,

chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa của hàng hóa khác với giá trị của nó hay là khác với chiphí sản xuất thực tế của nó; chi phí sản xuất ấy thấp hơn giá trị của hàng hóa, vì rằng nếu

W = k + m thì k = W - m

ở chuyên đề trớc, chúng ta đã thấy rằng, mặc dù giá trị thặng d chỉ là kết quả của sựthay đổi giá trị của t bản khả biến v, và do đó đứng về mặt nguồn gốc của nó mà nói thìgiá trị thặng d chỉ là một sự tăng thêm của t bản khả biến, nhng khi quá trình sản xuất kết

thúc, giá trị thặng d lại hình thành cái khoản tăng thêm của giá trị c + v, tức là của toàn

bộ t bản đã chi phí Công thức c + (v + m) chỉ ra rằng, m là do sự chuyển hóa của một giá trị t bản nhất định v, đợc ứng ra cho sức lao động, thành một lợng đang biến đổi, tức

là do sự chuyển hóa một lợng bất biến thành một lợng khả biến mà ra, công thức ấy cũng

có thể viết là (c + v) + m” 31 Do vậy, đối với nhà t bản, rõ ràng là số giá trị tăng thêm ấy

là kết quả của những quá trình sản xuất mà t bản đã tiến hành, vậy số ấy là do bản thân tbản sinh ra; vì sau quá trình sản xuất mới có số giá trị thặng d ấy, còn trớc quá trình sảnxuất thì không có nó 32 Cho nên, giá trị thặng d đợc quan niệm là con đẻ của toàn bộ t

bản ứng trớc, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận

Nếu chúng ta gọi lợi nhuận là p thì công thức: W = c + v + m = k + m chuyển

29 C.Mỏc và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 25, phần I, Nxb CTQG, H 1994, tr48

30 Sđd, tr 51

31 Sđd, tr 62.

32 Sđd, tr.63

Ngày đăng: 19/08/2017, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w