1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ tập bài GIẢNG về NHỮNG vấn đề KINH tế CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM

192 372 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 754,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là chuyên đề nghiên cứu những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ.Các bậc học dưới chưa có điều kiện nghiên cứu lịch sử hoàn cảnh xuất hiện các quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ.2. Mục đích :Giới thiệu có hệ thống những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ.

Trang 1

Chuyên đề 1 Quan điểm của C Mác, Ph Ăng-ghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh

về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ

2 Mục đích :

Giới thiệu có hệ thống những quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin,

Hồ Chí Minh về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ

Sử dụng những nội dung có liên quan được đề cập trong các văn kiện củaĐảng để phân tích làm sáng tỏ tính cách mạng khoa học của các quan điểm Mác -Lênin, Hồ Chí Minh về vấn đề này

4 Nội dung chuyên đề:

I Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăng Ghen về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ

Trang 2

quá độ

II Quan điểm của V.I.Lênin về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ

III Quan điểm Hồ Chí Minh về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ

5 Tổ chức, phương pháp nghiên cứu chuyên đề:

Giảng viên lên lớp những nội dung trọng tâm, trọng điểm Học viên ghi chéptheo ý hiểu

Học viên chủ động tìm và đọc các tài liệu tham khảo

Ghi chép những nội dung đã đọc để bổ sung vào bút ký, chuẩn bị các tư liệu

để viết thu hoạch

6 Hướng dẫn viết tiểu luận:

- Nội dung của quan điểm C.Mác, Ph.Ăng Ghen về kinh tế xã hội chủ nghĩa

và thời kỳ quá độ là gì?

- Cần vận dụng các quan điểm trên vào thực tiễn nước ta hiện nay như thế nào?

7 Tài liệu tham khảo:

C.Mác Ph.Ăngghen, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H1995, tr.591 - 646

Những nguyên lý của Chủ nghĩa cộng sản, C.Mác Ph.Ăng Ghen, Toàn tập,tập 4, Nxb CTQG, H.1995, tr 467 - 476

- Tư tưởng của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản sống mãi, Nxb QĐND, H.1998

Trang 3

- Đĩa CD - ROM Hồ Chí Minh toàn tập, chuyên đề kinh tế.

8 Kế hoạch tư vấn, giúp đỡ học viên học tập, nghiên cứu chuyên đề

Tham khảo tốt nhất là giáo trình của Nxb CTQG dùng cho khối chuyên kinh tế.Cần thiết phải tăng cường trao đổi học viên với học viên và giảng viên

* * *

Trang 4

Nội dung Bài giảng

I QUAN ĐIểM của c.Mác, ph.Ăng Ghen về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ

1 Hoàn cảnh lịch sử

- Chủ nghĩa tư bản đang phát triển, tình thế cách mạng vô sản chưa đặt ra trựctiếp nên những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội nói chung và những vấn đề vềthời kỳ quá độ nói riêng chưa phải là mục đích nghiên cứu trực tiếp của Mác vàĂngghen

- Những tư tưởng đưa ra mới chỉ ở dạng phác thảo, 3 - 1895 trong lời tựacuốn sách: “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” (tập 22 - 1995, tr 761) dựa trên sự pháttriển có tính chất lôgíc quá trình vận động của chủ nghĩa tư bản chứ chưa phải phântích những vấn đề chủ nghĩa xã hội hiện thực

- Hoàn cảnh lịch sử cụ thể của thời kỳ lịch sử này gắn liền với luận điểm củaMác - Ăngghen về cách mạng vô sản nổ ra và thắng lợi đồng thời ở các nước tưbản phát triển nhất

Nhưng lịch sử lại không diễn ra như vậy (theo luận điểm của Lênin thì chỉ cóthể nổ ra và giành thắng lợi ở một nước hoặc một số nước)

2 Những quan điểm về kinh tế XHCN

a Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa - kết quả tất yếu của sự phát triển

hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, là quá trình lịch sử tự nhiên.

- Dựa trên thế giới quan duy vật về lịch sử, Mác và Ăngghen khẳng định mọi

sự biến đổi của các chế độ xã hội trong lịch sử đều là quá trình phát triển lịch sử tựnhiên Quá trình vận động của xã hội loài người tất yếu tiến tới phương thức sảnxuất cộng sản chủ nghĩa

- Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, Mác chỉ rõ:

Trang 5

+ Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, một mặt, có sự tiến bộ lịch sử, cóvai trò to lớn trong việc phát triển sức sản xuất và xã hội hóa lao động; mặt khác,

nó có giới hạn về mặt lịch sử, do mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càngcao của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tưbản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất

+ Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo tiền đề xã hội, tiền đề vật chất,kinh tế cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của phương thức sản xuấtcộng sản chủ nghĩa

- Phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa ra đời thay thế phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa là một quá trình lịch sử tự nhiên, phù hợp với yêu cầu củaqui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lựclượng sản xuất

- Sự thay thế như trên được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội do giaicấp vô sản lãnh đạo quần chúng bắt đầu bằng việc giành lấy chính quyền

Mác viết: “Cách mạng nói chung - lật đổ chính quyền hiện có và phá huỷnhững quan hệ cũ là một hành vi chính trị Nhưng chủ nghĩa xã hội không thể thựchiện mà không có cách mạng Chủ nghĩa xã hội cần đến hành vi chính trị này bởi

lẽ nó cần tiêu diệt và phá huỷ cái cũ” 1

* Những nhận thức mới trên vấn đề này: nhân tố kinh tế là nhân tố suy cho đến cùng, chứ không phải là nhân tố duy nhất quyết định sự phát triển lịch sử tự nhiên Các mặt kiến trúc thượng tầng cũng có vai trò phát triển lịch sử đôi khi giữ

vị trí quyết định Kinh tế là cơ sở các vấn đề kiến trúc thượng tầng dựa trên sựphát triển kinh tế Nhưng giữa các yếu tố đều tác động lẫn nhau và tác động đến cơ

sở kinh tế hoàn toàn không phải kinh tế là nguyên nhân duy nhất chủ động

b Những đặc trưng cơ bản của xã hội tương lai

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.1, tr.616

Trang 6

Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta (1875), Mác đã trình bày quan

điểm của mình về hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản: giai đoạn trước là “giaiđoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, lúc nó vừa mới lọt lòng từ xã hội tư bảnchủ nghĩa ra, sau những cơn đau để kéo dài” và giai đoạn sau là “xã hội cộng sảnchủ nghĩa đã phát triển trên những cơ sở của chính nó” hay là “giai đoạn cao hơn.”2

* Mác và Ăngghen căn cứ vào tiến trình phát triển đã dự báo ban đầu về đặc trưng của xã hội cộng sản chủ nghĩa:

Một là, lực lượng sản xuất xã hội phát triển cao

Lực lượng sản xuất của chủ nghĩa cộng sản phát triển ở trình độ cao, cao hơnnhiều so với chủ nghĩa tư bản Đó là lực lượng sản xuất của nền sản xuất lớn về qui

mô, hiện đại về khoa học - công nghệ, có môi trường sinh thái bảo đảm cho sự pháttriển ổn định, bền vững Lực lượng sản xuất phát triển cao là điều kiện kinh tế vật chấtcho sự phát triển tự do của mỗi thành viên trong xã hội

Hai là, chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người

bóc lột người bị thủ tiêu

Xã hội cộng sản chủ nghĩa là xã hội dựa trên chế độ sở hữu xã hội về tư liệusản xuất, là xã hội giải phóng một cách hiện thực những điều kiện vật chất, chophép xóa bỏ tình trạng dùng tư liệu sản xuất làm phương tiện để nô dịch bóc lộtlao động

Người lao động quan hệ hợp tác với nhau và có cơ hội phát triển như nhau “(tất

cả các thành viên trong xã hội quan hệ với nhau như những người sở hữu chung các tưliệu sản xuất ) nghĩa là việc xã hội hóa tư liệu sản xuất trên qui mô toàn bộ nền kinh tếquốc dân” ( Mác - Ăngghen tuyển tập, tập 4, tr.187.)

Mác - Ăngghen chỉ ra rằng, không thể thủ tiêu ngay lập tức chế độ tư hữu

2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.19, tr 33,25,36

Trang 7

được mà chỉ có thể thực hiện dần dần, và chỉ khi nào tạo lập được một lực lượngsản xuất hiện đại, năng suất lao động rất cao thì mới xoá bỏ được chế độ tư hữu(lấy biện pháp kinh tế là chủ yếu) Điều kiện này chỉ có được trong giai đoạn caocủa xã hội cộng sản chủ nghĩa (10 biện pháp được nêu trong Tuyên ngôn củaĐCS).(tập 4 1995, tr, 470, 471; 627).

Ba là, mục đích nền sản xuất

Sản xuất của cải vật chất là nhằm thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong

xã hội Nền sản xuất xã hội dưới chủ nghĩa cộng sản có lực lượng sản xuất pháttriển cao do xã hội quản lý Chính vì thế, mục đích của nền sản xuất là thoả mãnmọi nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng của tất cả thành viên trong xã hội.Con người được tự do phát triển toàn diện, tự do phát huy năng khiếu, thể lực, trílực của mình Con người và nhu cầu của họ trở thành động lực và mục tiêu của nềnsản xuất Đây là tính ưu việt căn bản của chủ nghĩa cộng sản

Bốn là, nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm

vi toàn xã hội, sản xuất hàng hóa bị loại trừ

Vấn đề kế hoạch:

Trong chế độ cộng sản chủ nghĩa, quyền lực thuộc về nhân dân lao động vànhờ đó trong toàn bộ nền sản xuất xã hội sẽ không còn mâu thuẫn giữa sự tổ chứcsản xuất mang tính xã hội và tình trạng vô chính phủ

Việc tổ chức sản xuất được tiến hành một cách có ý thức, có kế hoạch, đượcthực hiện trên phạm vi toàn xã hội

Việc quản lý sản xuất nói chung không nằm trong tay các cá nhân riêng lẻcạnh tranh với nhau nữa, mà do toàn thể xã hội quản lý các ngành sản xuất theomột kế hoạch chung với sự tham gia của mọi thành viên trong xã hội, cạnh tranhđược thay bằng hợp tác và thi đua sáng tạo

Như vậy: Xã hội nắm tư liệu sản xuất thì thực hiện phát triển kinh tế theo kế

Trang 8

hoạch được Kế hoạch hoá là do PCLĐXH, còn chế độ công hữu là nhân tố bảođảm tính hiện thực của kế hoạch (trong phê phán cương lĩnh Ecphuya: Ăngghencho rằng không nên xem kinh tế tư bản chủ nghĩa giai đoạn độc quyền vẫn là tựphát vô chính phủ, mà nó có thể kế hoạch được)

Vấn đề thị trường:

Mác và Ăngghen cho rằng, trong nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa tương lai, tínhchất hàng hóa đối với người sản xuất sẽ không còn Mác viết: “Trong một trật tự xãhội cộng sản chủ nghĩa được xây dựng trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất,những người sản xuất không trao đổi sản phẩm của họ; ở đây lao động đã nhập vào

trong sản phẩm cũng vậy, không còn biểu hiện như là giá trị của những sản phẩm ấy,

không còn biểu hiện như một tính chất thật sự mà những sản phẩm ấy vốn có, vì từnay, trái với điều xảy ra trong xã hội tư bản, lao động của cá nhân trở thành bộ phậnkhăng khít của lao động của công xã không phải bằng con đường quanh co, mà bằngcon đường trực tiếp” ( Mác - Ăngghen, Phê phán cương lĩnh Gô ta và Ecphuya, Nxb

Sự thật, H.1957, tr 24)

Theo Ăngghen thì: Một khi xã hội nắm trong tay các tư liệu sản xuất và sửdụng tư liệu sản xuất đó để sản xuất dưới hình thức trực tiếp xã hội hóa, thì laođộng của mỗi người, dù tính chất đặc thù của lao động có khác nhau đến đâu chăngnữa, ngay từ đầu và trực tiếp cũng trở thành lao động xã hội Khi ấy người takhông cần dùng đường vòng để xác định số lượng lao động xã hội xã hội nằmtrong một sản phẩm Nguyên lý về tính chất xã hội trực tiếp của lao động sản xuất

đã khiến cho sự thủ tiêu quan hệ giá trị trở thành một tất yếu kinh tế là đặc trưngcủa xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của chính nó

Năm là, sự phân phối sản phẩm bình đẳng.

Do lực lượng sản xuất có sự phát triển cao độ, xã hội cộng sản chủ nghĩa sẽsản xuất ra số lượng sản phẩm dồi dào và tổ chức phân phối một cách khoa họcnhằm thoả mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội Nguyên tắc chung của sự

Trang 9

phân phối sản phẩm trong xã hội cộng sản chủ nghĩa là theo sự thoả thuận chung,hay nói cách khác là sự phân phối bình đẳng với những hình thức cụ thể tuỳ thuộcvào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nguyên tắc phân phối cộng sản chủnghĩa tạo ra tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để thực hiện khẩu hiệu: làm theonăng lực, hưởng theo nhu cầu

Sáu là, xoá bỏ sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và

lao động chân tay, xóa bỏ giai cấp

Ăngghen khẳng định, tình trạng xã hội phân chia thành các giai cấp khácnhau, đối địch nhau không những sẽ trở nên thừa, mà còn không thể tương dungvới xã hội mới Xã hội cộng sản chủ nghĩa là xã hội không còn giai cấp; xã hộiphát triển cao về kinh tế, văn hóa và xã hội sẽ tạo cơ sở để thủ tiêu sự đối lập giữathành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay, lao động trởthành nhu cầu bậc nhất của cuộc sống

Bảy là, Xu hướng quốc tế hoá quan hệ kinh tế.

Tác động của đại công nghiệp cơ khí sẽ tạo xu hướng thống nhất thị trườngtoàn thế giới Chế độ tín dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển vật chất của sức sản xuất

và hình thành một thị trường toàn thế giới

Cần nhận thức đúng đắn rằng, những đặc trưng kinh tế - xã hội nêu trên là đặc trưng của xã hội cộng sản chủ nghĩa đã phát triển trên cơ sở của chính nó.

* Đặc trưng kinh tế - xã hội chủ yếu của giai đoạn đầu của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa:

Một là, kế thừa và phát triển lực lượng sản xuất mà chủ nghĩa tư bản tạo ra.

Nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và lao động

Hai là, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất tồn tại dưới hai hình thức sở hữu

chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể

Trang 10

Ba là, còn sản xuất hàng hóa, quan hệ giá trị còn là tất yếu kinh tế của thời

kỳ này Việc phân phối những sản phẩm vẫn phải tuân theo nguyên tắc trao đổihàng hóa - vật ngang giá: một số lượng lao động dưới hình thức này được đổi lấycùng một số lượng lao động dưới hình thức khác Mác viết: “Lưu thông hàng hóa

và sản xuất hàng hóa là những hoạt động thuộc nhiều phương thức sản xuất hết sứckhác nhau, tuy nhiên với mức độ và phạm vi không giống nhau” 3 Trong thời kỳquá độ vẫn còn giai cấp và nhà nước, mà đó là nhà nước chuyên chính vô sản

Bốn là, lao động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ và còn sự khác nhau về lao

động, do đó kết quả lao động cũng khác nhau

Năm là, thực hiện phân phối theo lao động, nghĩa là mức sống của người lao

động không thể vượt quá điều kiện kinh tế mà chế độ kinh tế đạt được, sự hưởngthụ của cá nhân căn cứ vào lao động của họ đóng góp ở thời kỳ này Theo đó, phânphối ở thời kỳ này còn mang dấu vết “pháp quyền tư sản”

2 Quan điểm của c.mác, ph.Ăngghen về những vấn đề kinh tế của thời

kỳ quá độ

a Sự cần thiết khách quan của thời kỳ quá độ

Thời kỳ quá độ dài:

Đây là thời kỳ cần thiết để tiến hành những cải biến cách mạng làm biến đổicăn bản mọi lĩnh vực để chuyển từ xã hội tư bản lên xã hội cộng sản Sự cần thiếtcủa thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản được quyết định bởitính chất đặc thù của sự ra đời và hình thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.Theo Mác: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳcải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là mộtthời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn lànền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.” 4 Ăngghen cho rằng, cần phải có

3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.23, tr 175

4 Sđd, tr.47.

Trang 11

hành động chính trị của giai cấp vô sản và có chuyên chính vô sản, coi đó là bướcquá độ chuyển sang thủ tiêu giai cấp và, cùng với giai cấp thì thủ tiêu Nhà nước”.Thời kỳ quá độ ngắn:

Mác chỉ ra rằng, thời kỳ quá độ là thời kỳ mà về phương diện kinh tế, đạođức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ - xã hội mà nó đã thoát thai

ra, vì thế thời kỳ này còn có những thiếu sót không tránh khỏi

b Hình thức quá độ

Đó là sự quá độ trực tiếp từ sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa lên sản xuất lớn xãhội chủ nghĩa

c Độ dài của thời kỳ quá độ dài

Đó là thời kỳ khá lâu dài chuyển từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa cộng sản.Cải tổ nền sản xuất là việc khó khăn; phải trải qua cuộc đấu tranh quyết liệt có thểthắng được thế lực to lớn của thói quen đối với lối quản lý tiểu tư sản và tư sản nềncần phải có thời gian

d Dự báo về khả năng quá độ lên chủ nghĩa cộng sản bỏ qua chế độ tư bảnchủ nghĩa

Xuất phát từ sự nghiên cứu tình hình nước Nga lúc đó, Mác và Ăngghen nêu cácluận điểm: những nước lạc hậu có thể bước vào “con đường rút ngắn”, có thể “chuyểnthẳng” lên hình thức cộng sản chủ nghĩa bỏ qua toàn bộ thời kỳ tư bản chủ nghĩa, có thểkhông cần trải qua những đau khổ của chế độ đó, tránh được phần lớn những đau khổ vànhững cuộc đấu tranh mà Tây Âu đã phải trải qua

Mác và Ăngghen chỉ ra rằng: “Thắng lợi của giai cấp vô sản Tây Âu đối vớigiai cấp tư sản và gắn liền với điều đó, việc thay thế nền sản xuất tư bản chủ nghĩabằng nền sản xuất do xã hội quản lý - đó là điều kiện tiên quyết tất yếu để nâng công

Trang 12

xã Nga lên cùng một trình độ phát triển như vậy.” 5

Mác và Ăngghen là người đầu tiên nêu lên khả năng những nước còn đang tronggiai đoạn phát triển tiền tư bản chủ nghĩa có thể chuyển thẳng lên hình thái xã hộicộng sản chủ nghĩa và khả năng phát triển rút ngắn của những nước này bỏ qua chế

độ tư bản chủ nghĩa Còn về nội dung thời kỳ quá độ đó như thế nào và những nhiệm

số nước riêng lẻ và chủ nghĩa xã hội không thể thắng lợi cùng một lúc trong tất cảcác nước Sự phân tích của Lê nin về những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản tronggiai đoạn đế quốc chủ nghĩa đã dẫn đến nhận thức mới về chủ nghĩa tư bản và thời

kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa đế quốc đã tạo ranhững tiền đề vật chất làm cơ sở hiện thực cho sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lênchủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

2 Quan điểm của Lê nin về kinh tế xã hội chủ nghĩa

5 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, t.22, tr 629-630

Trang 13

Tiến lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với các dân tộc, một khi giành đượcchính quyền thiết lập chuyên chính vô sản Vấn đề xác định các nguyên lý, mụctiêu, biện pháp kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội nhằm xây dựng thành công chủnghĩa xã hội có ý nghĩa quan trọng Theo đó, Lê nin đã xác định những nguyên lý

về xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm những vấn đề:

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tưliệu sản xuất sản xuất dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể

Mục đích nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là nhằm thoả mãn phúc lợi vật chất đầy

đủ cho toàn xã hội và sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi thành viên trong xã hội Nguyên tắc phân phối vật phẩm cho tiêu dùng cá nhân dưới chủ nghĩa xã hội

là phân phối theo lao động; người nào có sức lao động mà không làm thì không có

ăn, số lượng lao động ngang nhau thì được hưởng số lượng sản phẩm bằng nhau Thực hiện nghiêm ngặt chế độ hạch toán kinh tế nhằm đánh giá đúng mứccống hiến, mức hưởng thụ của người lao động, lợi nhuận cho doanh nghiệp và tăngnăng suất lao động

Tổ chức nền kinh tế XHCN phát triển có kế hoạch, tập trung, thống nhất Nhà nước có chức năng quản lý nền kinh tế

Nền kinh tế vận động theo quy luật kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường, sử dụngphổ biến quan hệ hàng hóa- tiền tệ, các phạm trù của sản xuất hàng hóa

Lênin chỉ ra các biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội là:

Biện pháp quốc hữu hoá xã hội chủ nghĩa là sự thủ tiêu sở hữu tư nhân củagiai cấp bóc lột về tư liệu sản xuất, chuyển nó thành sở hữu toàn dân Quốc hữuhóa bằng hai phương pháp: một là, tịch thu không hoàn lại (tước đoạt); hai là, tịchthu có bồi thường (cải tạo hoà bình) được thực hiện thông qua các hình thức củachủ nghĩa tư bản nhà nước

Biện pháp hợp tác hóa được thực hiện để chuyển người lao động cá thể thành

Trang 14

người lao động tập thể nhằm hình thành và phát triển sở hữu tập thể về tư liệu sảnxuất Hợp tác hoá tuân theo nguyên tắc tự nguyện, từ thấp lên cao, có sự lãnh đạocủa đảng và sự giúp đỡ của nhà nước.

Biện pháp công nghiệp hóa mà Lênin nêu ra là nhằm xây dựng cơ sở vật chất

kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa

Tiến hành cách mạng văn hoá- tư tưởng để xóa mù chữ, nâng cao trình độ dântrí, đào tạo đội ngũ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao cho nền kinh tế Cáchmạng tư tưởng - văn hóa nhằm xây dựng nền văn hoá mới và con người mới XHCN Lênin khẳng định, xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng những bước đi trunggian, quá độ gián tiếp thông qua phát triển kinh tế hàng hóa, sử dụng cơ cấu kinh tếnhiều thành phần, thực hiện rộng rãi các hình thức kinh tế quá độ của chủ nghĩa tưbản nhà nước Đó chính là yêu cầu cơ bản trong chính sách kinh tế mới do Lênin

đề xuất và tổ chức thực hiện

Sự ra đời của chính sách kinh tế mới xuất phát từ chính sách kinh tế cũ chính sách cộng sản thời chiến tuy đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi cuộc nộichiến, song không còn phù hợp khi đã có hoà bình do nội dung chính sách này làxoá bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ, xoá bỏ tự do mua bán lương thực trên thị trường.Chính sách đã trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển lực lượng sản xuất, làm mấtvai trò động đối với nông dân do chủ trương trưng thu lương thực thừa của họ mà

-đa số họ là trung nông

Nội dung và biện pháp chủ yếu của chính sách kinh tế mới là: Thay thế chế độtrưng thu trưng mua lương thực thừa bằng thu thuế lương thực; tổ chức thị trường,

mở rộng thương nghiệp, thiết lập quan hệ hàng hóa - tiền tệ giữa nhà nước vớinông dân, giữa thành thị với nông thôn, giữa công nghiệp với nông nghiệp và sửdụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ, phát triển

Trang 15

quan hệ hợp tác với các nước phương Tây

Nhờ chính sách kinh tế mới mà đã khôi phục được nền kinh tế sau chiếntranh, từ “nước Nga đói” trở thành nước có lương thực dồi dào Củng cố liên minhcông - nông, củng cố lòng tin nhân dân vào bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hộitheo nguyên lý của Lê nin nêu ra Chính sách kinh tế mới đánh dấu bước phát triểnmới về lý luận kinh tế xã hội chủ nghĩa Chính sách kinh tế mới giúp các nước vậndụng vào điều kiện cụ thể của mình để phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng

xã hội chủ nghĩa

3 Quan điểm của Lê nin về kinh tế thời kỳ quá độ

a Sự khẳng định tất yếu phải có thời kỳ quá độ

Lý luận về kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là bộ phận quan trọngtrong học thuyết của Lênin về xây dựng chủ nghĩa xã hội Theo Lênin, sự cần thiếtkhách quan phải có thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là do đặc điểm ra đời, pháttriển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định.Lênin chỉ ra rằng, sau khi giành được chính quyền chưa phải đã có chủ nghĩa xãhội, mà phải phát triển mạnh lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, xây dựngchế độ công hữu về tư liệu sản xuất, xây dựng kiểu xã hội mới Sự phát triển nhưthế phải trải qua thời kỳ lâu dài, đó là thời kỳ quá độ Lênin khẳng định: “Về mặt

lý luận không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộngsản có một thời kỳ quá độ.” 6 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cảibiến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa, tư tưởng từ xã hội cũ sang xã hội mới Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội bắt đầu từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào việc xâydựng chủ nghĩa xã hội và kết thúc khi xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh

tế, văn hóa, tư tưởng của xã hội xã hội chủ nghĩa

6 V.I Lê nin, Toàn tập, t.39, Nxb Tiến bộ, M 1977, tr 309.

Trang 16

Luận điểm của Lênin về thời kỳ quá độ với một loạt những bước quá độ nhỏhơn là sự phát triển sáng tạo học thuyết Mác Theo Lênin, đối với một nước tư bảnchưa phát triển, không thể thực hiện quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội được màphải trải qua “một loại những bước quá độ” 7 Luận điểm này của Lênin bao gồmnhững nội dung chủ yếu là: không thể quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội màphải qua con đường gián tiếp chứ không thể “quá vội vàng thẳng tuột, không đượcchuẩn bị”.8 Những bước quá độ ấy, theo Lênin là chủ nghĩa tư bản nhà nước và chủnghĩa xã hội Bước quá độ nhỏ từ chủ nghĩa tư bản nhà nước thể hiện trong nộidung chính sách kinh tế mới (NEP) Khi thực hiện NEP, chúng ta có sự nhượng bộtạm thời và cục bộ đối với chủ nghĩa tư bản nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượngsản xuất, từng bước xã hội hóa sản xuất trên thực tế

Theo Lênin, một nước lạc hậu có thể quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xãhội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa khi có những điều kiện kháchquan và điều kiện chủ quan Điều kiện khách quan là phải có một nước giànhđược thắng lợi trong cuộc cách mạng vô sản, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.Nêu tấm gương và giúp đỡ các nước lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ quagiai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Điều kiện chủ quan là phải hình thànhđược các tổ chức đảng cách mạng và cộng sản, phải giành được chính quyền vềtay nhân dân, xây dựng nhà nước của nhân dân và vì nhân dân Lênin cho rằng,không thể thiếu hai điều kiện khách quan và chủ quan của quá độ tiến lên chủnghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

b Chỉ ra đặc trưng kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lênchủ nghĩa xã hội

Lênin, người có công đầu xem xét nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ

7 V.I Lê nin, Toàn tập, t.44, Nxb Tiến bộ, M 1978, tr 189

8 V.I Lê nin, Toàn tập, t.43, Nxb Tiến bộ, M 1977, tr 445.

Trang 17

nghĩa xã hội với bất cứ nước nào, đặc trưng cơ bản nổi bật của thời kỳ quá độ là sựtồn tại nền kinh tế nhiều thành phần và xã hội nhiều giai cấp Sự phân tích đặctrưng này sẽ xác định đúng đắn những mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ Tất cả cácnước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong nền kinh tế đều có nhữngthành phần kinh tế cơ bản là: Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; thành phầnkinh tế tư bản chủ nghĩa và thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ Thích ứngvới nền kinh tế quá độ gồm nhiều thành phần, trong xã hội có ba giai cấp cơ bản:giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản (đa số là nông dân) và giai cấp tư sản Mỗi thành phần kinh tế, giai cấp kể trên có đặc điểm và vai trò riêng, songchúng cùng tồn tại và vận động xen kẽ với nhau, đan xen nhau, hình thành thựctrạng kết cấu kinh tế - xã hội của kinh tế thời kỳ quá độ Mâu thuẫn cơ bảntrong thời kỳ quá độ là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản,mâu thuẫn này bắt nguồn từ tính độc lập tương đối về kinh tế do các hình thức

sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định Thời kỳ quá độ là thời kỳ đấutranh giữa chủ nghĩa xã hội mới ra đời nhưng còn non yếu với chủ nghĩa tư bản

đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn Chính vì tính chất quá độ đónên trong nền kinh tế chưa có thành phần kinh tế thống trị chi phối, mới cóthành phần kinh tế nhà nước vươn lên giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tếquốc dân Vì vậy, cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa tư bản rất phức tạp, gay go và quyết liệt, tất yếu sẽ bảo đảm địa vị chủđạo và thống trị của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa Tính chất, mức độđấu tranh giải quyết mâu thuẫn tuỳ thuộc vào so sánh lực lượng kinh tế - giaicấp trong điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước trong từng giai đoạn

c Chỉ ra những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ

Một trong những điều kiện chủ yếu làm cho cách mạng xã hội chủ nghĩathắng lợi là giai cấp công nhân có ý thức về quyền thống trị của mình và sử dụng

Trang 18

quyền đó trong bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Theo đó,cần phải lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế trongthời kỳ quá độ, đó là:

Một là, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Cơ sở duy nhất và thực sự để làm tăng của cải vật chất, để xây dựng chủnghĩa xã hội chỉ có thể là đại công nghiệp Do đó, phải khôi phục đại công nghiệp,

cơ sở kinh tế vững chắc trong nghành đại công nghiệp cơ khí hoá và vận dụng nóvào nông nghiệp và vận tải, phải điện khí hoá toàn quốc Theo Lênin, “Cơ sở vậtchất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khảnăng cải tạo cả nông nghiệp Một nền đại công nghiệp ở vào trình độ kỹ thuật hiệnđại đó là điện khí hoá cả nước.”9 Nhiệm vụ công nghiệp hoá không những tăngthêm tỷ lệ của công nghiệp, nhất là phát triển ngành sản xuất tư liệu sản xuất màcòn phải bảo đảm sự độc lập về mặt kinh tế của đất nước Muốn thế phải dùngnhững biện pháp nhanh chóng và quan trọng để nâng cao các lực lượng sản xuấtsản xuất của nông dân; phải tăng cường trao đổi sản phẩm của đại công nghiệp lấycác sản phẩm của nông dân; phải tích luỹ vốn, phải tiết kiệm về mọi mặt

Hai là, cải tạo nền kinh tế theo xã hội chủ nghĩa

Để thực hiện nhiệm vụ này cần phải xác định rành mạch mục đích cuối cùngcủa những cải tạo và đề ra những biện pháp cải tạo phù hợp Theo Lênin: Mục đíchcải tạo “là thiết lập một xã hội cộng sản chủ nghĩa, một xã hội không chỉ hạn chế ởviệc tước đoạt các công xưởng, nhà máy, ruộng đất và tư liệu sản xuất, không chỉhạn chế ở việc kiểm kê và giám sát một cách chặt chẽ việc sản xuất và phân phốisản phẩm”.10 Các biện pháp được sử dụng là:

Biện pháp tước đoạt tài sản đối với giai cấp tư sản phản động chống lại chủ

9 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 32, Nxb ST, Hà Nôị 1970, tr 595

10 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 27, Nxb ST, Hà Nôị 1971, tr 155.

Trang 19

nghĩa xã hội và biện pháp lợi dụng chủ nghĩa tư bản làm mắt xích trung gian giữa nềntiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội đối với giai cấp tư sản chịu cải tạo

Biện pháp kiểm kê, kiểm tra của toàn dân về số lượng lao động, về sản xuất

và phân phối sản phẩm Cần có sự giám sát đặc biệt của toàn dân đối với bọn nhàgiàu cùng tay chân là bọn trí thức tư sản và bọn ăn cắp, bọn ăn bám, bọn lưu manh.Biện pháp hướng những người tiểu sản xuất vào các công xã nông nghiệptheo nguyên tắc tự nguyện và nêu gương, giúp đỡ họ lối kinh doanh tập thể trên qui

mô lớn vì lợi ích chung của chính họ “Khi nhân dân đã vào hợp tác xã tới mứcđông nhất, thì chủ nghĩa xã hội tự nó sẽ được thực hiện.” 11

Ba là, tổ chức bộ máy quản lý, chế độ quản lý

Theo Lênin, “Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô viết cộng với điện khíhóa toàn quốc” 12do đó, ta thấy tầm quan trọng của việc tổ chức bộ máy chínhquyền, chế độ quản lý nền kinh tế đất nước

Đối với lĩnh vực công nghiệp phải “chuyển từ hình thức ‘công nhân kiểmsoát’ sang ‘công nhân quản lý’ những công xưởng, những nhà máy, những đườngsắt

Để tăng năng suất lao động phải nâng cao trình độ học vấn và văn hóa củanhân dân và nâng cao tinh thần kỷ luật, kỹ năng, tính cần mẫn của nhữngngười lao động; áp dụng chế độ trả công tính theo sản phẩm; phải áp dụng rấtnhiều yếu tố khoa học và tiến bộ trong phương pháp Taylo Lênin viết: “chúng

ta sẽ có thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội hay không, điều đó chính là tuỳ ởnhững kết quả của chúng ta trong việc kết hợp Chính quyền Xô viết và chế độquản lý Xô viết với những tiến bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản

11 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb ST, Hà Nôị 1970, tr 689.

12 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 31, Nxb ST, Hà Nôị 1969, tr 639.

Trang 20

Để chuyển sang lối canh tác tập thể, kinh doanh tập thể trên qui mô lớn, chínhphủ công nông không thể dùng bất cứ một biện pháp cưỡng bức nào cả, và cả luậtpháp cấm điều đó Do đó phải quản lý bằng phương pháp kinh tế và thuyết phụcnhân dân tự nguyện là chủ yếu

Khi giai cấp công nhân, giai cấp nắm chính quyền Nhà nước trong tay thìmới thu hút được đông đảo quần chúng nông dân đi theo mình, một cách vữngchắc và thật sự Theo đó, phải gắng sức xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa

và giúp dân tiếp cận với nguồn vốn sản xuất, ủng hộ

Vấn đề cán bộ là vấn đề quyết định đối với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Theo đó, phải thu hút và đào tạo các kỹ thuật và chuyên gia vào công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội

Phải xây dựng được những cơ sở của việc tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩarộng rãi với qui mô to lớn và mặt khác phải dùng những biện pháp cưỡng bách cầnthiết không để xuất hiện trạng thái nhu nhược mềm yếu của chính quyền vô sảntrong đời sống thực tiễn

iii Quan điểm hồ chí minh về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ

1 Quan điểm Hồ Chí Minh về sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa

Sau nhiều năm buôn ba, tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh là nhà yêu nướcViệt nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin qua Lênin và cách mạng ThángMười Nga Từ đó người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc mình.Người chỉ rõ: ''Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không còn con đường nàokhác là con đường cách mạng vô sản''(Sđd, T9, Tr.314) và khẳng định: '' chỉ có chủnghĩa cộng sản, mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủngtộc, nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bắc ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làmcho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình hạnh phúc, nói tóm lại là nềncộng hoà thế giới chân chính''(T1, Tr.461)

Trang 21

Hồ Chí Minh khẳng định: ''con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội của các dântộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử , không ai ngăn cản nổi'' (T8,Tr.449) Và đó là con đường phát triển tất yếu của lịch sử Hồ Chí Minh lập luận: ''

Từ xưa đến nay chế độ công cộng nguyên thuỷ sụp đổ là do chế độ nô lệ thay thế.Chế độ nô lệ sụp đổ là do chế độ phong kiến thay thế…đó là qui luật nhất định trong

sự phát triển của xã hội Lịch sử loài người là do người lao động sáng tạo ra, người laođộng sáng tạo ra của cải, luôn luôn nâng cao sức sản xuất Sản xuất phát triển tức là

xã hội phát triển Chế độ nào hợp với sức sản xuất thì đứng vững Nếu không hợp thìgiai cấp đại biểu cho sức sản xuất mới sẽ nổi lên cách mạng lật đổ chế độ cũ Hiện

nay chủ nghĩa tư bản có mâu thuẫn to, nó không giải quyết được Một là, nhà tư bản sản xuất hàng hoá quá nhiều , quá mau, nhưng không bán được; Hai là, tính chất sản

xuất là công cộng mà tư liệu sản xuất thì nằm trong tay một số ít người…chỉ có chế

độ cộng sản mới giải quyết được mâu thuẫn ấy'' (T7, Tr.246)

Đồng thời, Hồ Chí Minh còn cho rằng việc Việt Nam làm cách mạng dân chủmới( tức cách mạng dân chủ gắn với chủ nghĩa xã hội) là phù hợp với xu thế của thờiđại Người viết: ''Cách mạng Nga thành công, mặt trận đế quốc và tư bản thế giới đãtan vỡ một phần sáu trên quả đất, đồng thời đã lập thành một chế độ xã hội chủ nghĩavững chắc Tiếp đến cách mạng các nước dân chủ nhân dân Trung, Đông Âu thànhcông, xây dựng và phát triển nền dân chủ mới Vì vậy cách mạng Việt Nam phải làmcách mạng dân chủ mới'' (T7, Tr 210)

Trong khi khẳng định, tiến tới chế độ cộng sản là mục đích chung của tất cảnhững người lao động trên toàn thế giới, thì Hồ Chí Minh còn chỉ ra việc thực hiệnmục đích ấy của mỗi nước phải tuỳ điều kiện cụ thể của mình mà tiến dần

Cụ thể đối với nước ta, Người chỉ rõ: ''Tính chất thuộc địa và phong kiến của

xã hội Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước Bước thứnhất là đánh đế quốc, đánh phong kiến thực hiện người cày có ruộng…bước thứhai là tiến lên chủ nghĩa xã hội tức giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản'' (T7, Tr

Trang 22

Như vậy cách mạng Việt nam sẽ trải qua hai giai đoạn, tức là sau khi làmxong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thì cách mạng Việt Nam sẽ tiến thẳnglên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

Tóm lại: quan điểm nhất quán xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sự

lựa chọn con đường của cách mạng Việt Nam là con đường xã hội chủ nghĩakhông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Quan điểm đó đã được thể hiệnmột cách sinh động và sáng tạo trong suốt quá trình phát triển của cách mạng ViệtNam qua các thời kỳ và đã được thực tiễn kiểm nghiệm

2 Về bản chất của chủ nghĩa xã hội

Nắm vững học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất phát từ đặcđiểm của xã hội Việt Nam là tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạchậu không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đã nêu lênnhững luận điểm sáng tạo về những đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản nói chung và

về những đặc trưng phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng

Về đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định:'' Chủ nghĩacộng sản là chế độ xã hội không có chế độ tư hữu, không có giai cấp áp bức bóclột, là của cải đều của chung, sức sản xuất cao, nhân dân lao động hoàn toàn giảiphóng và rất tự do, sung sướng'' (T7, Tr.243)

Theo Người chủ nghĩa cộng sản có hai giai đoạn, giai đoạn thấp tức chủ nghĩa xãhội, giai đoạn cao tức chủ nghĩa cộng sản và hai giai đoạn ấy có những điểm giống vàkhác nhau Người viết: '' Cộng sản có hai giai đoạn, giai đoạn thấp tức chủ nghĩa xãhội , giai đoạn cao tức chủ nghĩa cộng sản Hai giai đoạn ấy giống nhau ở nơi: sức sảnxuất đã phát triển cao; nền tảng kinh tế thì tư liệu sản xuất đều là của chung, không cógiai cấp áp bức bóc lột Hai giai đoạn ấy khác nhau ở nơi: chủ nghĩa xã hội vẫn cònchút ít vết tích của xã hội cũ; xã hội cộng sản thì hoàn toàn không còn vết tích của xãhội cũ'' (T7, Tr 244)

Trang 23

Về bản chất của chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh có các đặc trưng sau:

Một là, nhân dân lao động là những người làm chủ tập thể tất cả những của

cải vật chất và văn hoá, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, không còn áp bứcbóc lột Mục đích là không ngừng nâng cao mãi đời sống vật chất, văn hoá củanhân dân, mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và hưởng một đời hạnhphúc

Hai là, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có nền văn hoá và khoa học,

kỹ thuật tiên tiến; thành phần kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh đạo của nềnkinh tế quốc dân

Ba là, nguyên tắc phân phối lợi ích là: ''làm nhiều hưởng nhiều làm ít hưởng ít

và ai không làm thì không hưởng'', người già yếu tàn tật được Nhà nước chăm lo

Bốn là, kinh tế có kế hoạch Cả nước có một kế hoạch chung, mỗi ngành theo

kế hoạch chung đó mà đặt kế hoạch riêng

Năm là, không có sự đối lập giữa thành thị và thôn quê, giữa lao động chân

tay và lao động trí óc Vì vậy nông thôn ngày càng văn minh, công nông ngày càngthông thái'' (T7, Tr 243 - 245 )

Những quan điểm trên đây của Bác đã được Đảng và nhân dân ta nhận thức

và vận dụng sáng tạo trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nhữngnăm qua Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt làvăn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII

3 Những vấn đề kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Cũng giống như nhiều vấn đề khác, tư tưởng của Bác về những vấn đề kinh tếcủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không được trình bày tập trung thành mộttác phẩm chuyên khảo, mà được đề cập rải rác ở nhiều bài nói và viết trong cáchoàn cảnh khác nhau Tập hợp lại, chúng ta có thể thấy tư tưởng của Hồ Chí Minh

về những vấn đề kinh tế của thời kỳ quá độ toát lên một số vấn đề sau:

* Về đặc điểm, nhiệm vụ và độ dài của thời kỳ quá độ của nước ta.

Trang 24

Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định việc phải trảiqua thời kỳ quá độ là bước đi tất yếu của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội Ngườiviết:'' Con đường của chúng ta ngày nay ở miền Bắc là qua thời kỳ quá độ tiến lênchủ nghĩa xã hội…chỉ có đi theo con đường ấy, miền Bắc nước ta mới vĩnh viễnthoát khỏi cảnh nghèo đói lạc hậu và xây dựng cơ sở vững chắc cho sự nghiệp thốngnhất tổ quốc'' (T10, Tr 79) Trên thực tế, ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàngiải phóng thì chúng ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.

Về đặc điểm của thời kỳ quá độ ở nước ta, Bác chỉ rõ đặc điểm lớn nhất củathời kỳ quá độ ở Việt Nam là chúng ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phảikinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Bác viết: ''Đặc điểm to lớn nhất củathời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hộikhông phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa'' ( T10, Tr 3)

Xuất phát từ tính chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và từ đặc điểmcủa thời kỳ quá độ ở nước ta, Hồ Chí Minh đã nêu lên những nhiệm vụ kinh tế cơbản của thời kỳ quá độ Bác viết:'' Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộcbiến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàntoàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt

để những nếp sống, thói quen… có gốc rễ từ ngàn năm, chúng ta phải thay đổiquan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không

có áp bức bóc lột'' và ''phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa

xã hội'' (T8, Tr 493 ; T10, Tr 3) Như vậy, theo Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội có hai nhiệm vụ kinh tế cơ bản, một là xây dựng quan hệ sảnxuất mới; hai là xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Quanđiểm trên đây của Bác là tư tưởng xuyên suốt chỉ đạo công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta và đã được Đảng ta quán triệt ngay từ văn kiện Đại hộiĐảng III với nội dung tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng

Trang 25

Về độ dài của thời kỳ quá độ, theo Bác đó là một thời kỳ lịch sử lâu dài, songdài bao nhiêu là phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan của chính chúng ta Bác viết : ''ViệtNam ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi mới xã hội cũ thành xã hộimới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc Thời kỳ quá độ của ta chắc chắn sẽ đòihỏi ba, bốn kế hoạch dài hạn Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn đấu thi đuaxây dựng thì thời kỳ quá độ có thể rút ngắn hơn'' (T9, Tr 175)

* Về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ.

Trước hết, về sở hữu và cơ cấu thành phần kinh tế

Về sở hữu, Hồ Chí Minh cho rằng, trong thời kỳ quá độ ở nước ta còn tồn tại

đa dạng các hình thức sở hữu, cụ thể là các hình thức sở hữu sau: sở hữu của nhànước tức sở hữu toàn dân; sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dânlao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; và một ít tư liệu sản xuất thuộc sởhữu của nhà tư bản (T9, Tr 588)

Theo Bác cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ là cơ cấu kinh tế nhiều thành phầntrong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Bác viết : '' Hiện nay kinh tế nước ta cónhững thành phần kinh tế sau: kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô; kinh tế quốcdoanh có tính chất chủ nghĩa xã hội; các HTX tiêu thụ và HTX cung cấp có tính chấtnửa XHCN; kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ; kinh tế tư bản tư nhân;kinh tế tư bản nhà nước Trong đó kinh tế quốc doanh là công, là nền tảng và sức lãnhđạo của kinh tế dân chủ mới Cho nên chúng ta phải ra sức phát triển nó và nhân dân taphải ủng hộ nó'' ( T7, Tr, 221)

Về cơ cấu ngành, theo Bác việc phát triển kinh tế cần phải chú ý đến sự pháttriển đồng bộ của cả ba ngành: công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp Bácviết: '' Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có ba mặt quantrọng: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp Ba mặt công tác quan hệ mật thiếtvới nhau công nghiệp và nông nghiệp như hai cái chân của con người Hai chân cómạnh thì đi mới vững chắc, nông nghiệp không phát triển thì công nghiệp cũng

Trang 26

không phát triển được Ngược lại không có công nghiệp thì nông nghiệp cũng khókhăn Công nghiệp và nông nghiệp quan hệ với nhau rất khăng khít Thương nghiệp

là cái khâu giữa công nghiệp và nông nghiệp Thương nghiệp đưa hàng đến nôngthôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản, nguyên liệu cho thành thịtiêu dùng Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được nông nghiệp vớicông nghiệp, không củng cố được liên minh công nông''(T8, Tr.174 và T10, Tr.619) Đồng thời, do đặc điểm nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nôngnghiệp nên theo Bác trong thời kỳ quá độ, cần phải đặc biệt quan tâm đến sự pháttriển của nông nghiệp để lấy đó làm tiền đề cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.Bác viết:'' Chúng ta phải ra sức tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong công cuộcphát triển nông nghiệp vì: ''có thực mới vực được đạo'', phải làm cho nhân dân ta ngàycàng thêm ấm no Nông nghiệp phải cung cấp đủ lương thực và nguyên liệu để pháttriển công nghiệp để bảo đảm công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Nông nghiệp tốt,công nghiệp tốt thì xây dựng tốt chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc'' (T10, Tr 379)

* Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hộicủa nước ta là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hộikhông kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa cho nên, Hồ Chí Minh khẳngđịnh nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Tức là phải tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủnghĩa Chỉ có như vậy thì mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng caomức sống của nhân dân mới được thực hiện Bác viết: '' Muốn có nhiều nhà máythì phải mở mang các ngành công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép, than, dầu…đó

là con đường phải đi của chúng ta Con đường công nghiệp hoá nước nhà''

Một vấn đề khác, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn hết sức to lớntrong tư tưởng của Bác về công nghiệp hoá là việc xác định bước đi của quá trìnhcông nghiệp hoá Xuất phát từ hoàn cảnh nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ

Trang 27

một nền nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn mà Bác cho rằng, nước ta chưa có đủ điềukiện để tiến hành công nghiệp hoá một cách mạnh mẽ ngay được, cần phải thựchiện từng bước Trong đó, bước đi đầu tiên là phải tập trung sức cho phát triểnnông nghiệp Hồ Chí Minh viết: ''Hiện nay chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làmchính là vì muốn mở mang công nghiệp phải có đủ lương thực và nguyên liệu.Nhưng công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là conđường ấm no thực sự của nhân dân ta'' (T10, Tr 41).

* Vấn đề hợp tác xã

Đây là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm của Bác và được Bác trình bày trongnhiều bài nói và viết dưới các khía cạnh khác nhau Thông qua các bài nói và viết củaBác về vấn đề hợp tác xã, chúng tôi thấy nổi lên một số vấn đề cơ bản sau đây:

- Trước hết, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm và lập luận về sự cần thiết phải

có hợp tác xã Hồ Chí Minh cho rằng vì nước ta là một nước nông nghiệp, nên sản

xuất nông nghiệp và nông dân giữ vai trò hết sức quan trọng, to lớn đối với sự pháttriển của đất nước Do vậy, cần phải làm cho nông nghiệp phát triển và con đườngphát triển của nông nghiệp là con đường hợp tác hoá, tức xây dựng các hợp tác xãnông nghiệp Người viết: '' Việt Nam là một nước nông nghiệp, nền kinh tế của talấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trôngmong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thìnước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh Nông dân muốn giàu, nôngnghiệp muốn thịnh thì cần phải có hợp tác xã.'' (T4, Tr.215)

Bằng lối trình bày mộc mạc, dễ hiểu Hồ Chí Minh không chỉ đã đưa ra kháiniệm rất súc tích về hợp tác xã mà còn phân tích ích lợi của hợp tác xã Người viết:''Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức lại với nhau Vốn nhiều, sức mạnh, thì khó nhọc ít

mà ích lợi nhiều Vì vậy hợp tác xã là một tổ chức có lợi cho nhà nông, giúp nhà nôngđạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân'' Bác chỉ rõ mục đích của việc thành lập cáchợp tác xã là nhằm'' cải thiện đời sống của nông dân, làm cho nông dân được ấm no,

Trang 28

mạnh khoẻ, được học tập, làm cho dân giàu, nước mạnh'' (T9, Tr 537).

- Về phương châm tổ chức hợp tác xã, là cần phải phát triển nhiều hợp tác xã

mà hình thức đầu tiên là thành lập các tổ đổi công

- Về nguyên tắc xây dựng hợp tác xã, theo Bác việc xây dựng hợp tác xã mà

trước hết là tổ đổi công cần phải thực hiện các nguyên tắc sau:

+ Không được cưỡng ép Tức là phải để cho nông dân tự nguyện vào HTX

+ Đều có lợi ''làm sao cho những gia đình tổ đổi công đều có lợi''

+ Quản lý dân chủ '' Tổ đổi công thì phải có tổ trưởng hoặc ban quản trị, quảntrị phải dân chủ''

- Về phương pháp tổ chức hợp tác xã, Bác chỉ đạo :

Một là, không được làm mau, làm ẩu, phải đi bước nào vững vàng, chắc chắn

bước ấy, cứ tiến tới dần dần

Hai là, phải thiết thực Bác viết:'' đã tổ chức là phải làm việc thiết thực, chứ

không phải tổ chức cho có tên mà không có thực tế''

Ba là, phải làm từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao Bác huấn thị: '' phong trào

hợp tác hoá phải đi từ thấp đến cao… phát triển tổ đổi công, đưa tổ đổi công từng

vụ, từng việc lên thường xuyên, rộng khắp và có nền nếp rồi, mới tiến lên làm hợptác xã, chớ vội tổ chức hợp tác xã ngay.'' ( T7, Tr 538 - 542)

Để quá trình thực hiện phong trào hợp tác hoá có kết quả tốt, Bác còn căndặn: Cán bộ phải chí công vô tư; lãnh đạo phải dân chủ; quản lý phải chặt chẽ, toàndiện; phân phối phải công bằng Các hợp tác xã phải học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau,trao đổi sáng kiến và kinh nghiệm cho nhau; phải cải tiến công tác quản lý HTX;chống tham ô, lãng phí, quan liêu

* Về quản lý kinh tế trong thời kỳ quá độ

Đây là lĩnh vực mà Bác coi đó là ''cái chìa khoá'' để phát triển nền kinh tếquốc dân Vì vậy, Bác rất quan tâm và nêu lên nhiều quan điểm mà đến nay vẫn

Trang 29

còn có ý nghĩa rất lớn đối với việc quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Tư tưởng của Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế cả

ở tầm vi mô và vĩ mô nổi lên mấy vấn đề sau:

- Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định, quản lý kinh tế là một công việc có

vai trò cực kỳ quan trọng, nếu làm không tốt thì kinh tế không thể phát triểnđược Hồ Chí Minh viết: ''Trong công cuộc xây dựng nước nhà, việc quản lýkinh tế tài chính là cực kỳ quan trọng Nếu quản lý không chặt chẽ, thì cái gìthiếu không biết, cái gì thừa không hay, công việc sẽ bị bế tắc'' Và ''muốn pháttriển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng suất lao động và muốn nângcao năng suất lao động thì phải tổ chức quản lý lao động cho tốt'' (T10, Tr 310)

- Về nội dung quản lý, theo Hồ Chí Minh phải toàn diện cả đầu vào, đầu ra, ở

mọi khâu của quá trình lao động, ở tất cả các cấp từ trung ương đến cơ sở và tất cảmọi thứ đều phải được tính toán cẩn thận Người viết:'' Tăng cường và củng cố cácviệc quản lý: quản lý sản xuất, quản lý vật tư, quản lý lao động, quản lý kỹ thuật,quản lý tiền bạc… phải tăng cường quản lý từ trung ương đến địa phương, các xínghiệp, công trường, nông trường… đều phải thực hiện công việc quản lý một cáchnghiêm chỉnh'' Bác còn chỉ rõ: ''Quản lý một nước cũng như quản lý doanh nghiệpphải có lãi, cái gì ra cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn, huỷ bỏ,món gì đáng tiền, người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải được tính toán chocẩn thận'' ( T11, Tr 110)

- Khi đề cập đến công cụ quản lý kinh tế, mà cụ thể là công tác kế hoạch hoá.

Bác cho rằng, việc xây dựng kế hoạch cần phải chú ý các yêu cầu sau:

+ Một là, kế hoạch phải cân đối, nhìn xa, trông rộng.

Bác viết: ''khi đặt kế hoạch phải nhìn xa, có nhìn xa mới quyết định đúng thời

kỳ nào phải làm công việc quản lý là chính Phải thấy rộng, có thấy rộng mới sắpđặt các ngành hoạt động có hiệu quả một cách cân đối''

+ Hai là, phải bảo đảm nguyên tắc dân chủ

Trang 30

+ Ba là, phải thiết thực, tính toán các điều kiện cụ thể Bác viết: ''Kế hoạch sản

xuất không định theo cách quan liêu, mà phải liên hệ chặt chẽ với tình hình kinh tế,với nguồn của cải, với sự tính toán rõ rệt sức hậu bị của ta, kế hoạch không nên sụtlại sau, nhưng cũng không nên chạy quá trước sự phát triển của công nghệ, khôngnên xa rời nông nghiệp, không nên quên lãng sức tiết kiệm của ta'' ( T6, Tr 498)

+ Bốn là, phải có biện pháp cụ thể vững chắc, có tinh thần cố gắng cao.

Trong công tác kế hoạch hoá, từ khâu lập kế hoạch đến khâu tổ chức thựchiện, khâu nào cũng quan trọng Nhưng theo Hồ Chí Minh, khâu đề ra các biệnpháp thực hiện là quan trọng nhất Người viết: ''Đặt ra kế hoạch thật tốt, thật sát làrất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể phải 20phần Chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30 phần, có như thế mới chắc chắn hoàn thànhđược kế hoạch'' (T10, Tr 266)

Trong công tác quản lý kinh tế ở tầm vi mô, để quản lý tốt xí nghiệp, Bác chorằng cần phải thực hiện tốt ba điều: ''Tất cả cán bộ lãnh đạo phải thật sự tham gialao động chân tay Tất cả công nhân phải tham gia công việc quản lý các tổ sảnxuất, dưới sự lãnh đạo của cán bộ các phân xưởng Sửa đổi chế độ và qui tắc khônghợp lý'' (T9,Tr 230)

Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Vì vậy, trong công tác quản lý kinh tếcán bộ cũng là vấn đề được Bác rất quan tâm Để công tác quản lý kinh tế đạt đượckết quả tốt theo Bác, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế cần có các phẩm chất sau :''phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính; phải thật sự chống quan liêu, tham ô, lãng phí;phải nâng cao cảnh giác bảo vệ xí nghiệp; phải khéo đoàn kết và lãnh đạo côngnhân; mọi việc đều phải dựa vào năng lực dồi dào sáng tạo của công nhân; dùngphương pháp dân chủ mà đẩy mạnh phong trào thi đua; phải thật sự săn sóc đếnđời sống vật chất và tinh thần của công nhân; phải cố gắng nghiên cứu và học tập

để tiến bộ'' (T8, Tr 84)

4 Về sử dụng các chính sách và các đòn bảy kinh tế.

Trang 31

Để tạo động lực kích thích người lao động tích cực hăng say lao động sảnxuất, theo Hồ Chí Minh cần phải sử dụng đồng bộ nhiều chính sách và đòn bảykinh tế.

* Trước hết về chế độ tiền lương, theo Hồ Chí Minh chế độ tiền lương có

quan hệ rất chặt chẽ với sản xuất và mức sống của người lao động Vì vậy khi địnhtiền lương phải làm thế nào để người lao động thực sự quan tâm đến kết quả laođộng, gắn bó với công việc và kích thích họ tích cực học tập để vươn lên Hồ ChíMinh viết: '' Chế độ tiền lương rất quan hệ đến mức sống của người lao động Khiđịnh tiền lương phải xuất phát từ nguyên tắc định thế nào cho người lao động thiếtthực quan tâm đến kết quả việc làm của họ, làm cho họ cố gắng học tập để tiến bộmãi về nghề nghiệp và sản xuất Nói tóm lại, định tiền lương phải dựa vào sốlượng và chất lượng của công tác'' (T8, Tr 545) Và khi chính sách tiền lươngkhông còn phù hợp thì cần phải sửa lại chế độ tiền lương để cải thiện đời sống chonhững người hưởng lương

* Về giá cả, Bác cũng cho rằng nó có quan hệ rất mật thiết với đời sống của

nhân dân, và theo Bác tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch với giá cả Vì vậy muốn ổnđịnh đời sống nhân dân thì phải giữ cho giá cả ổn định Hồ Chí Minh viết :''chúng

ta biết rằng mức sống của nhân dân và giá cả thị trường quan hệ rất mật thiết vớinhau.Vật giá được ổn định hoặc là giảm bớt thì tiền lương thực tế mới thực sựđược tăng thêm, mức sống mới thực sự được nâng cao'' Từ đó để ổn định vật giátheo Bác cần thực hiện các biện pháp như: ''Trước hết tăng gia sản xuất thực hànhtiết kiệm; Nhà nước cần nắm tất cả các thứ hàng cần dùng cho nhân dân; trong khicác thứ hàng chưa dồi dào thì phải hạn chế một cách nghiêm khắc; thẳng tay trừngtrị bọn đầu cơ tích trữ'' (T8, Tr.546)

* Về tài chính, tín dụng, ngân hàng.

Bác huấn thị: ''Đồng tiền dính với hoạt động của tất cả các ngành Vì vậy, cácngành, các tổ chức kinh tế, các cơ quan nhà nước cũng như toàn thể nhân dân phải

Trang 32

biết sử dụng đồng tiền cho tốt…một đồng bỏ ra phải bảo đảm tăng của cải cho xãhội, phải luân chuyển nhanh, đừng để đọng, phải tích cực huy động tiền nhàn rỗi

để bỏ vào sản xuất'' ( Hội nghị cán bộ ngân hàng 1.1965, VBT, HCM)

Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, Bác rất quan tâm đến việc huyđộng vốn và sử dụng vốn có hiệu quả Bác căn dặn: '' Chúng ta cố gắng dành dụm,

cố gắng tích luỹ XHCN là để mở mang kinh tế, xây dựng công nghiệp, đời sốngngày càng ấm no cho nhân dân lao động Nhưng chỉ biết dành dụm chưa đủ, mà cònphải biết chi tiêu Chi tiêu như thế nào cho đúng'' (Báo nhân dân ngày 3 2 1960)

Để chi tiêu cho đúng, theo Bác trước hết cần phải phân biệt rõ hai loại chi tiêu

là chi tiêu cho sản xuất và chi tiêu cho những việc không sản xuất Đồng thời Báccho rằng, trong khi phải chú ý đúng mức đến việc chi tiêu cho những việc khôngsản xuất thì cần phải đặt việc chi tiêu cho sản xuất lên trên hết Bởi vì vốn dùngvào sản xuất thì sẽ sinh sôi nảy nở Bác viết:'' Phải phân biệt hai hướng chi tiêu:Một bên là chi tiêu cho sản xuất, xây dựng nhà máy, hầm mở… một bên là nhữngchi tiêu cho những việc không sản xuất như xây dựng nhà ở, nhà thương, trườnghọc… những việc không sản xuất cũng cần thiết, cũng phải được chú ý đúng mức.Nhưng chúng ta luôn luôn phải đặt việc chi tiêu cho sản xuất lên trên hết vì vốndùng vào sản xuất thì sinh sôi nảy nở mang lại nguồn ấm no ngày càng dồi dào chonhân dân lao động còn vốn dùng vào việc không sản xuất thì không trực tiếp có tácdụng như thế'' (Báo nhân dân ngày 3/2/1960)

Bác viết: '' Tài chính phải hoàn toàn công khai, hết sức tiết kiệm, thuế khoá phảicông bằng hợp lý, việc thu chi của tài chính phải tiến đến thăng bằng'' (T6,tr.64, 173).Trong việc quản lý nguồn vốn ngân sách Bác huấn thị :''dùng chế độ chi tiêutài chính là một sự ràng buộc, nhưng đó là một sự ràng buộc cần thiết và rất hay

Nó ràng buộc những kẻ phung phí, những người phô trương nó ràng buộc cảnhững người chỉ biết việc của bộ phận mình mà không thấy việc chung của cảnước Nhưng chính nhờ đó…nó giúp chúng ta dành dụm từng đồng xu thành số

Trang 33

vốn lớn, nó lấp kín các lỗ thủng, các kẽ hở, không để của cải của chúng ta bị haohụt, phân tán Như vậy mới dồn được vốn của nhà nước cho CNH XHCN'' (T10,

Tr 55)

Để tạo động lực kích thích người lao động trong quá trình sản xuất ở cácdoanh nghiệp quốc doanh Bác còn đưa ra chủ trương thực hiện chính sáchkhoán Bác khẳng định :'' Chế độ khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội

nó khuyến khích người công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ, làmkhoán là ích chung mà lại lợi riêng, làm khoán tốt , thích hợp và công bằng vớichế độ xã hội ta hiện nay'' (T8, Tr 341) Còn trong các hợp tác xã nông nghiệptheo Bác phải thực hiện ''ba khoán một thưởng''

Ngoài các chính sách, đòn bảy trên, để kích thích tính tích cực của ngườilao động theo Bác còn cần phải làm tốt việc động viên dân chúng bằng cáchình thức biện pháp phong phú; phải tổ chức thi đua XHCN

5 Quan điểm Hồ Chí Minh về quan hệ kinh tế đối ngoại

Đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, nếu chỉ dựa vàocác nguồn lực trong nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ là hết sức sai lầm

Vì vậy ngay sau khi đất nước mới giành được độc lập năm 1945 Hồ Chí Minh

và Đảng ta đã chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phươnghoá với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị Trong bài trả lờiphỏng vấn của các nhà báo ngày 23/10/1945, Hồ Chí Minh đã nói:'' Chúng tahoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào khai thác những nguồnnguyên liệu chưa có ai khai thác, chúng ta sẽ mời những nhà chuyên mônPháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong côngcuộc kiến thiết quốc gia'' (T4, Tr 74)

Sau đó vào cuối năm 1946, trong bài lời kêu gọi liên hợp quốc, một lầnnữa Hồ Chí Minh khẳng định: ''Trong chính sách đối ngoại của mình nhân dânViệt Nam tuân thủ nguyên tắc dưới đây: Đối với Lào và Miên (Căm pu chia),

Trang 34

nước Việt Nam luôn tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ mongmuốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền; đốivới các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa vàhợp tác trong mọi lĩnh vực; nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi chođầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹnghệ của mình; nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng cảng, sân bay và đường xágiao thông cho việc buôn bán quá cảnh quốc tế Việt Nam tham gia mọi tổchức hợp tác quốc tế dưới sự lãnh đạo của liên hợp quốc'' (T4, Tr 470).

Mặc dù, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là chủ trương nhất quán của Đảng

và Bác, nhưng Hồ Chí Minh không bao giờ coi sự giúp đỡ của nước ngoài lànguồn lực chính đối với sự phát triển kinh tế của đất nước Bác nói: '' Cũng nhưtrong thời kỳ kháng chiến, phương châm hiện nay của ta là: tự lực cánh sinh làchính, việc các nước bạn giúp ta là phụ Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốncho ta Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta Song nhân dân vàcán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ nại'' (T8, Tr 30)

6 Quan điểm Hồ Chí Minh về kinh tế quân sự

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh tế và chiến tranh tuy là những lĩnh vực hoạt động khác nhau song chúng có mối quan hệ biện chứng

với nhau Trong đó, kinh tế là nhân tố xét đến cùng quyết định chiến tranh.Nhận thức rõ điều này và vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ ChíMinh khẳng định: ''Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng, có binhhùng tướng giỏi nhưng thiếu quân nhu, lương thực không thể thắng trận được''.Người còn chỉ rõ: “Nếu cung cấp lương thực, quần áo, thuốc men, súng ống,đạn dược cho quân đội ngoài mặt trận không làm được đầy đủ, chu đáo, binh sĩ

sẽ bị hãm vào vòng thiếu thốn, sẽ mất hết tinh thần tác chiến Trái lại họ sẽphấn khởi, họ sẽ hăng hái khi được cấp dưỡng đầy đủ'' (T4, Tr 261)

Xuất phát từ đặc điểm nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông

Trang 35

nghiệp lạc hậu, đất nước tạm thời bị chia cắt, lại có chiến tranh, người đề ra chủ

trương: vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội Đó là sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan

hệ giữa kinh tế với chiến tranh trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam Tư tưởng cốt lõicủa chủ trương này là kết hợp chặt chẽ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ởmiền Bắc với cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc

Chủ trương này đã được Đảng ta và Bác Hồ tổ chức thực hiện một cách sâurộng trong tất cả mọi lĩnh vực của đất nước với nội dung hết sức phong phú, đadạng Trong các hoạt động kinh tế, vừa đẩy mạnh sản xuất để từng bước cải thiệnđời sống của nhân dân, vừa phải tập trung mọi lực lượng (con người, của cải) chocuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Thực hành tiết kiệm trong các hoạt động quân sự, trong khi đặt lên hàng đầu

nhiệm vụ chiến đấu để đánh thắng địch trên mọi chiến trường, thì tuỳ theo điềukiện cũng phải tham gia kiến quốc bằng các hoạt động cụ thể như: phải thực hànhtiết kiệm (tiết kiệm tiền của mà cụ thể là tiết kiệm súng ống, đạn dược, xăng dầu;tiết kiệm sức lao động; tiết kiệm thời giờ); hoặc tham gia lao động sản xuất và xâydựng kinh tế

Khi đề cập đến việc quân đội tham gia lao động sản xuất và làm kinh tế Bác

viết: ''Hiện nay quân đội có hai nhiệm vụ chính Một là xây dựng quân đội hùngmạnh, sẵn sàng chiến đấu Hai là tăng gia sản xuất cùng với toàn dân để tiến dầnlên chủ nghĩa xã hội Tham gia sản xuất là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng vàchính phủ giao cho quân đội'' ( T9, Tr 143)

Để tập trung nhân tài, vật lực cho kháng chiến Hồ Chí Minh còn đưa ra chủ

trương động viên kinh tế cho chiến tranh Theo Người, việc động viên kinh tế cho

chiến tranh cần phải được thực hiện trên các nội dung sau:

Một là, động viên lao động, Hồ Chí Minh viết: ''Ngoài việc lấy lính ra mặt

trận, phải trưng mộ và phân phối nhân công trong các ngành sản sinh cho thích

Trang 36

hợp, nhất là trong những ngành vận tải, ngành chế tạo quân nhu và ngành thôngtin''

Hai là, động viên giao thông, Hồ Chí Minh chỉ rõ: ''Trong lúc kháng chiến,

việc vận tải giao thông để chắp nối liên lạc là rất quan trọng Làm sao cho xe cộđược đầy đủ, đường thuỷ lục tiện lợi, giao thông và thông tin nhanh chóng Nếncần phải mở thêm đường thay cho những đường bị phá, bị nghẽn nên dùng cả lừa,ngựa, trâu, bò vào việc vận tải''

Ba là, động viên công nghiệp, Người viết: ''Mở nhiều những công nghệ sản

xuất những nhu cầu cho kháng chiến Giúp cho công nghệ ấy của tư nhân đượcphát triển dễ dàng Thiên những xưởng công nghiệp cần thiết về vùng hẻo lánh.Chú ý nhất về vịêc cung cấp nguyên liệu''

Bốn là, động viên về nông nghiệp, Bác viết:'' Mục đích động viên nông

nghiệp là cung cấp nhiều lương thực Như vậy phải khuyến khích cho nông dân mởmang nông nghiệp, tăng thêm diện tích cày cấy, khai khẩn đất hoang, cải lươngnông cụ''

Năm là, động viên về tài chính, Bác chỉ rõ: ''Hoãn kỳ trả những món nợ công

tư, cấm ngặt việc buôn bán vàng bạc, kiểm tra ráo riết việc đổi chác và buôn bánvới người nước ngoài, phát hành công trái, tập trung các loại kim khí do dân tíchtrữ, thu thuế về chi dụng xa xỉ và đảm phụ quốc phòng'' ( T4, Tr 477 - 479)

Ngoài các nội dung trên, để động viên kinh tế cho chiến tranh đạt được kếtquả cao theo Hồ Chí Minh còn cần phải đẩy mạnh phong trào thực hành tiết kiệm,chống tham ô, lãng phí

Cũng từ nhận thức sâu sắc về vai trò của kinh tế đối với chiến tranh, Hồ Chí

Minh còn đưa ra chủ trương đấu tranh kinh tế trong chiến tranh, mà nội dung cốt

lõi là phá hoại và triệt phá các cơ sở kinh tế của địch và xây dựng kinh tế của ta.Người chỉ rõ:'' Một mặt phá hoại Một mặt kiến thiết Phá hoại để ngăn địch Kiếnthiết để đánh địch'' Đồng thời, Người còn kêu gọi: ''Quân địch sắp tới đâu thì dân

Trang 37

vùng đó triệt để làm vườn không nhà trống khiến quân địch không có thức ăn,không có chỗ ở, không có đường đi mà phải tiêu hao mòn mỏi'' ( T4, tr 432, 187).

Để đánh địch Hồ Chí Minh còn chỉ đạo cho các lực lượng vũ trang đẩy mạnhcác hoạt động cướp vũ khí, lương thực và thực phẩm của địch Người viết:'' Cầnphải dựa vào núi non hiểm trở, những phức tạp về địa hình mà cướp lếy quânlương của địch làn quân lương của mình, cướp lấy súng đạn của địch vừa đánhđịch Làm việc này không những quân ta mạnh lên mà làm cho quân địch mấtnguồn cung cấp, tinh thần chiến đấu của binh lính giảm sút, quân địch sẽ bị tatiêu diệt dễ dàng'' ( T4, Tr 437)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế quân sự toát lên một số vấn đề như: tưtưởng về vai trò của kinh tế đối với chiến tranh; về kết hợp kinh tế với quốc phòng;động viên kinh tế và đấu tranh kinh tế trong chiến tranh

Quan điểm về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ của C.Mác,V.I.Lênin, Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng - lý luận, là kim chỉ nam cho hànhđộng của Đảng và nhân dân ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Vậndụng những quan điểm tư tưởng đó trong thực tiễn, chúng ta phải hết sức sáng tạo,tránh sao chép dập khuôn, kinh viện Chúng ta phải dày công nghiên cứu làm sáng

tỏ bản chất cách mạng, khoa học của các luận điểm kinh tế mác xít Phải bổ sung,thường xuyên hoàn thiện các luận điểm đó, nâng tư tưởng kinh tế mác xít lên tầmcao hơn phù hợp với điều kiện lịch sử mới

* * *

Trang 39

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

* * *

1 Mô tả bài giảng:

Bài giảng này chưa học ở bậc đại học So với bậc học dưới, chuyên đề nàynghiên cứu một cách hệ thống cả về lý luận và thực tiễn quá trình xây dựng quan

hệ sản xuất nói chung và đối với Việt Nam nói riêng

Bài giảng này nhằm giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng hệthống quan hệ sản xuất Nội dung bài giảng nhằm giải quyết một trong các nhiệm

vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Kết quả đổi mới nhận thức và thực tiễn xây dựng hệ thống QHSX trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

4 Bố cục: gồm 3 phần lớn

I Những vấn đề lý luận về quan hệ sản xuất

II Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong thời kỳ đổi mới từ năm

1986 đến nay

III Định hướng và giải pháp cơ bản tiếp tục xây dựng và hoàn thiện QHSX ởViệt Nam

Trang 40

5 Tổ chức, phương pháp nghiên cứu chuyên đề:

Giảng viên lên lớp những nội dung trọng tâm, trọng điểm Học viên ghi chéptheo ý hiểu

Học viên chủ động tìm và đọc các tài liệu tham khảo Ghi chép những nộidung đã đọc để bổ sung vào bút ký, chuẩn bị các tư liệu để viết thu hoạch

6 Hướng dẫn viết tiểu luận:

- Việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong thời kỳ đổi mới từ năm

1986 đến nay được thể hiện như thế nào?

- Cần phải làm gì để định hướng và giải pháp cơ bản tiếp tục xây dựng và hoàn thiệnQHSX ở Việt Nam

7 Tài liệu tham khảo:

- Xây dựng và hoàn thiện QHSX mới ở Việt Nam, Nxb CTQG, H.2000

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX X

- Một số vấn đề về định hướng XHCN ở nước ta, Nxb CTQG, H.2000

8 Kế hoạch tư vấn, giúp đỡ học viên học tập, nghiên cứu chuyên đề

Tham khảo tốt nhất là giáo trình của Nxb CTQG dùng cho khối chuyên kinh tế.Cần thiết phải tăng cường trao đổi học viên với học viên và giảng viên

* * * Nội dung bài giảng

I Những vấn đề lý luận về quan hệ sản xuất

1 Những nội dung cơ bản của quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất, phân phối,trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất QHSX là hình thức xã hội của sản xuất biểuhiện mối quan hệ giữa người với người trên ba mặt cơ bản: Quan hệ sở hữu về tư

Ngày đăng: 19/08/2017, 15:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ trọng cỏc ngành trong GDP - TÀI  LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ   tập bài GIẢNG về NHỮNG vấn đề KINH tế CHÍNH TRỊ ở VIỆT NAM
Bảng 1 Tỷ trọng cỏc ngành trong GDP (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w