1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG KINH tế CHÍNH TRỊ SAU đại học, vận DỤNG các QUY LUẬT TRONG QUẢN lý KINH tế

17 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 134,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để quản lý kinh tế thành công, vấn đề có tính quyết định là các nhà lãnh đạo hệ thống phải nhận thức và vận dụng đầy đủ các quy luật có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống. Thực chất vấn đề là các nhà lãnh đạo hệ thống phải giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong quản lý kinh tế; chủ quan càng phù hợp với khách quan chừng nào thì quản lý kinh tế càng có kết quả chừng đó.

Trang 1

Chương 2 VẬN DỤNG CÁC QUY LUẬT TRONG QUẢN LÝ KINH TẾ

Để quản lý kinh tế thành công, vấn đề có tính quyết định là các nhà lãnh đạo hệ thống phải nhận thức và vận dụng đầy đủ các quy luật có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống Thực chất vấn đề là các nhà lãnh đạo hệ thống phải giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan trong quản lý kinh tế; chủ quan càng phù hợp với khách quan chừng nào thì quản lý kinh tế càng có kết quả chừng đó

2.1 Tổng quan về qui luật

2.1.1 Khái niệm quy luật

Qui luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật, hiện tượng với nhau trong những điều kiện nhất định

Trong thế giới tồn tại nhiều loại qui luật, chúng khác nhau về mức độ phổ biến, về phạm vi bao quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy Vì vậy người

ta phân loại qui luật căn cứ vào mức độ phổ biến gồm có qui luật riêng, qui luật chung và qui luật phổ biến; căn cứ vào lĩnh vực tác động thì có qui luật tự nhiên, qui luật xã hội, qui luật của tư duy

2.1.2 Đặc điểm qui luật

Bất kể qui luật nào, dù là qui luật tự nhiên, xã hội hay tư duy, chúng đều tồn tại khách quan không lệ thuộc vào í muốn chủ quan của con người Điều đó thể hiện ở bốn điểm sau đây

Thứ nhất: Qui luật tồn tại khách quan do con người gọi tên, nhưng con

người không thể tạo ra và xoá bỏ được qui luật

Thứ hai: Qui luật tồn tại và hoạt động không lệ thuộc vào việc con người

có nhận biết được nó hay không, ưa thích hay ghét bỏ nó

Thứ ba: Các qui luật đan xen vào nhau tạo thành một hệ thống thống nhất,

Trang 2

nhưng khi xử lý cụ thể thì thường chỉ do một hoặc một số qui luật chi phối, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của môi trường và điều kiện mà chúng tồn tại khách quan

Thứ tư: Đối với con người, chỉ có qui luật chưa biết, chứ không có qui luật

không biết Đó là sự phản ánh bản chất quá trình nhận thức của con người từ chưa biết đến biết, từ hiểu biết ít và nông, đến hiểu biết nhiều và sâu

2.1.3 Cơ chế sử dụng các qui luật

Từ “cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” của phương Tây Từ điển

Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau” Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”

Từ “cơ chế” được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm

1970, khi người ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý Theo đó, cơ chế sử dụng các qui luật

là cách thức tạo ra các điều kiện để qui luật phát sinh tác dụng, từ đó các chủ thể quản lý nhận thức và vận dụng đúng đắn qui luật trong quản lý nền kinh tế

Nội dung cơ chế sử dụng qui luật gồm nhiều vấn đề Ở đây đề cập đến ba vấn đề cơ bản nhất

Thứ nhất: Các chủ thể quản lí phải nhận biết được qui luật

Các chủ thể quản lý muốn nhận biết được qui luật đều phải tuân theo quá trình tiếp nhận các thông tin, tri thức bằng nhiều cách khác nhau Tựu chung có hai cách thức:

Một là, nhận biết qui luật qua các hiện tượng thực tiễn Quản lý là hoạt

động xã hội diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống con người như chính trị, kinh

tế, xã hội, văn hoá, khoa học Hoạt động quản lý chịu tác động các quy luật chung và phổ biến, nhưng cũng đồng thời chịu tác động của các quy luật riêng nó như các quy luật tự nhiên – kỹ thuật; các quy luật kinh tế – xã hội; các quy luật

Trang 3

tâm lý con người và xã hội; các quy luật tổ chức và quản lý Bởi thế, thông qua thực tiễn, con người có thể nhận biết được tất cả qui luật đó, bằng không thì không thể nhận biết được

Hai là, nhận biết qui luật qua phân tích bằng lý luận và khoa học Đây là quá

trình phụ thuộc vào tính mẫn cảm và nhạy bén của con người trong xử lý các vấn

đề nảy sinh từ hoạt động kinh tế, khái quát kinh nghiệm nâng tầm cái phổ biến, vạch ra được nhân tố mang tính bản chất và quy luật ẩn giấu đằng sau những tri thức kinh nghiệm kinh tế đã được tích luỹ. Theo đó, người ta có thể tiến hành các thực nghiệm khoa học để có được các dữ liệu, thông tin rồi dùng tư duy nhận thức

xử lý chúng để đạt được các tri thức mới về bản chất của các hiện tượng kinh tế Đồng thời người ta có thể suy luận lý thuyết từ các tri thức đã có để đạt được các tri thức sáng tạo, tức là không chỉ nhận thức đúng các hiện tượng, mà còn hiểu sâu hơn

về bản chất của các hiện tượng kinh tế trong thực tiễn

Thứ hai: Tổ chức các điều kiện chủ quan của hệ thống quản lí để cho hệ

thống xuất hiện các điều kiện khách quan, nhờ đó mà qui luật phát sinh tác dụng Chủ thể của hệ thống quản lý cần xem xét các chức năng của mình, đề ra các qui tắc, chủ trương, chính sách hợp lý tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong hệ thống đúng với các qui luật Chẳng hạn, để phát huy quyền tự chủ mọi mặt của các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ, bộ ngành cần nhận thức hết những tác dụng hạn chế của cơ chế chủ quản đối với môi trường kinh doanh, làm

rõ về mặt lý luận rồi thể chế hóa lý luận đó, loại bỏ tâm lý thích chăm sóc doanh nghiệp hơn làm chính sách Bên cạnh đó còn xác định rõ ràng cơ chế giám sát việc xóa bỏ chủ quản của bộ ngành thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế

Thứ ba: Tổ chức thu thập các thông tin sai phạm, ách tắc do chủ thể quản

lý không tuân thủ đúng yêu cầu khách quan của các quy luật Trong thực tiễn, cơ chế quản lý hình thành và đổi mới gắn liền với quá trình nhận thức và vận dụng

Trang 4

các qui luật Nhận thức càng đầy đủ và đúng đắn các qui luật thì đổi mới quản lý càng có cơ sở khoa học Ngày nay, hầu hết hệ thống quản lý kinh tế của các quốc gia đều thực hiện sự kết hợp các định chế của cả chính phủ lẫn kinh tế thị trường Tuy nhiên, trong vận hành hệ thống quản lí kinh tế còn xảy ra không ít sai phạm, ách tắc bắt nguồn từ việc chủ thể không nhận thức đúng vai trò của sự kết hợp ấy, vai trò của tất cả các chuẩn mực hành vi và các định chế cần thiết để một nền kinh

tế thị trường hoạt động tốt Trong quản lý kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự yếu kém về điều tiết của thể chế không chỉ dẫn tới các thủ đoạn bất lương, mà cả xu hướng siêu đầu cơ đang lôi kéo những người ham kiếm lời, những người chạy theo lợi nhuận bất chấp rủi ro (những kẻ hoang phí và đầu cơ) Những sai phạm và ách tắc

đó dẫn đến sự bất tín và sụp đổ niềm tin - nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay và khả năng phục hồi hết sức khó khăn của chủ nghĩa tư bản hiện đại Điều đó cho thấy, việc tiến hành thu thập, xử lý những sai phạm, ách tắc của hệ thống kinh tế sẽ tạo ra cách thức mới để phát hiện và nhận thức đúng đắn hơn bản chất các qui luật, lựa chọn thể chế có thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh đáp ứng nhu cầu giám sát và điều chỉnh việc thực thi các chính sách kinh tế mạnh mẽ hơn trong tương lai Đối với nước ta, ngay từ Đại hội IV của Đảng đã rút ra bài học vô cùng sâu sắc trong lãnh đạo và quản lý kinh tế: “Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo các qui luật khách quan”1

2.2 Các quy luật chủ yếu được vận dụng trong quản lý kinh tế và yêu cầu khi nhận thức và vận dụng các qui luật trong quản lý kinh tế

2.2.1 Các quy luật chủ yếu được vận dụng trong quản lý kinh tế

* Một số quy luật kinh tế được vận dụng trong quản lý kinh tế

Hệ thống các qui luật kinh tế bao gồm các qui luật chung, qui luật phổ biến

và qui luật đặc thù Trong chương này chỉ đề cập đến một số qui luật kinh tế phổ biến và qui luật chung được vận dụng trong quản lý kinh tế hiện nay

1 Đảng Cộng sản việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb ST, H 1987, tr.30

Trang 5

- Qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Đây là qui luật phổ biến tồn tại trong mọi phương thức sản xuất Qui luật này chỉ ra rằng, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính qui định lẫn nhau, thống nhất với nhau; tương ứng với thực trạng phát triển nhất định của lực lượng sản xuất tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với thực trạng

đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lí và phân phối

Vận dụng qui luật này trong quản lý kinh tế, đòi hỏi các chủ thể kinh tế phải nhận thức đúng nội dung qui luật, tạo ra các điều kiện tiền đề cần thiết cho qui luật phát huy tác dụng trong thực tiễn hoạt động kinh tế, làm cho cả lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất đều phát triển nhằm khai thác hiệu quả những của cải vật chất cần thiết bảo đảm sự tồn tại, hoạt động và phát triển xã hội

Để không dẫn tới những sai lầm trong quản lý, trong tổ chức sản xuất, trong phân phối và phá bỏ những quan hệ sản xuất hình thức tổ chức kinh tế đang còn phù hợp hoặc chính sách quản lý sai dẫn đến kìm hãm và phá hoại sản xuất , phải hết sức tránh chủ quan duy ý chí khi nhận thức và vận dụng qui luật

- Quy luật giá trị.

Là quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế hàng hóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có qui luật giá trị hoạt động Nội dung yêu cầu của qui luật

là sản xuất và trao đổi hàng hóa được tiến hành phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết sản xuất ra hàng hóa đó Biểu hiện sự hoạt động của qui luật giá trị

là thông qua biến động của giá cả xoay quanh giá trị hàng hóa dưới tác động của quan hệ cung cầu và cạnh tranh

Vận dụng qui luật giá trị trong quản lý kinh tế thể hiện như sau:

Thứ nhất, vận dụng để tổ chức, quản lý khoa học quá trình sản xuất, điều tiết

lưu thông hàng hóa, dịch vụ (bao hàm cả tiền tệ với tư cách là hàng hóa đặc biệt)

và phát triển nền kinh tế thị trường Sự vận dụng đúng đắn qui luật thì mới thúc

Trang 6

đẩy tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, của ngành và nền kinh tế, trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến Đồng thời xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia - đòn bẩy kinh tế kích thích phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa

Thứ hai, vận dụng trong điều hành chính sách giá cả phù hợp với từng thời

kỳ phát triển kinh tế, quan hệ thương mại trong nước và quốc tế Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thì giá cả là một công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện việc quản lý, kích thích, điều tiết các hoạt động kinh tế theo những định hướng, mục tiêu nhất định như nhằm duy trì những cân đối của nền kinh tế, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân Nhà nước quản lý giá không phải bằng cách định giá trực tiếp (trừ mặt hàng nhà nước độc quyền), mà quản lý một cách gián tiếp chẳng hạn thông qua các công cụ kinh tế và pháp luật

để tác động vào tổng cung và tổng cầu, tăng cường lực lượng dự trữ quốc gia nhằm bình ổn giá cả thị trường, đổi mới cơ chế dự trữ lưu thông

Theo qui luật giá trị, thì hàng hóa lưu thông từ nơi có giá cả thấp đến nơi

có giá cả cao Nhưng trong những trường hợp cụ thể việc điều hành chính sách giá cả cần phải linh hoạt mà vẫn tuân theo đúng qui luật giá trị Chẳng hạn, cần kích thích tiêu dùng cho sản xuất và cho đời sống của nhân dân các vùng đặc biệt khó khăn, vùng núi biên giới, hải đảo thì chính phủ áp dụng quĩ bình ổn giá hoặc trợ cấp Điều đó lý giải sự khác nhau về bản chất của hệ thống quản lý kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, vận dụng trong xây dựng và điều hành chính sách thuế Việc vận

dụng qui luật đúng đắn là vô cùng quan trọng và không bao giờ đóng vai trò thứ yếu trong việc phát triển kinh tế từng quốc gia và thế giới, bởi nó quan hệ trực tiếp đến tăng (giảm) chi phí sản xuất, lưu thông, tiêu dùng và cung, cầu về hàng hóa, dịch vụ. Hiện nay, bối cảnh thuế đang trở thành một vấn đề chiến lược chủ chốt của thời đại Sự bất cập trong chính sách thuế ở các quốc gia tư bản phát

Trang 7

triển đã góp phần gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính gần đây Vì vậy, vận dụng qui luật giá trị trong quản lý một hệ thống thuế tốt, công khai, minh bạch, hiệu quả và công bằng là yêu cầu khách quan bảo đảm phát triển sản xuất kinh doanh và tăng cường các giao thương và đầu tư quốc tế

- Quy luật lưu thông tiền tệ

Qui luật này xuất hiện và tồn tại là một tất yếu khách quan vì còn sản xuất hàng hóa thì còn lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ Nội dung quy luật này thể hiện ở mối quan hệ giữa lượng tiền (vàng) cần thiết trong lưu thông với giá cả của đơn vị hàng hóa, với khối lượng hàng hóa và dịch vụ đưa vào lưu thông và với số vòng lưu thông của đơn vị tiền tệ

Vận dụng trong quản lý kinh tế để qui luật này có hiệu lực trong điều kiện tiền giấy, cac nhà quản lí phải rất coi trọng khi điều khiển và khống chế lượng tiền giấy phát hành trong lưu thông Hơn nữa trong kinh tế thị trường hiện đại xuất hiện nhiều loại tiền như tiền mặt, tiền ghi sổ, tiền điện tử bởi vậy, các nhà quản lí cần nắm vững đặc điểm này khi vận dụng quy luật trong nền kinh tế nước

ta hiện tồn tại nhiều thành phần, hệ thống ngân hàng với trình độ chuyên môn và

cơ sở vật chất chưa được hiện đại, chưa phù hợp với trình độ và thông lệ quốc tế

- Quy luật cung - cầu

Đây cũng là quy luật kinh tế phổ biến của nền kinh tế thị trường

Cầu là nhu cầu về hàng hóa có khả năng thanh toán Cầu về hàng hóa chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: nhu cầu mua sắm; thu nhập của người tiêu dùng; giá cả, chất lượng và mẫu mã của hàng hóa; giá cả của hàng hóa thay thế; giá cả của hàng hóa bổ sung dùng kèm; kỳ vọng của người tiêu dùng về giá cả của hàng hóa đó trong tương lai

Cung là số lượng hàng hóa có mặt trên thị trường hoặc có khả năng chuyển đến thị trường Cung và sản xuất có liên quan với nhau, nhưng không phải là một

và có thể chênh lệch nhau (khi nhập khẩu thì cung lớn hơn sản xuất) Cung chịu

Trang 8

ảnh hưởng của hàng loạt nhân tố như: giá cả các yếu tố đầu vào; trình độ công nghệ; số lượng người sản xuất; giá cả của hàng hóa có cùng sử dụng vật liệu chính; thuế của chính phủ

Cung và cầu luôn luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cầu xác định khối lượng và cơ cấu cung về hàng hóa Còn cung tác động đến cầu, kích thích cầu

Quy luật cung cầu chỉ rõ là thông qua sự điều chỉnh của thị trường thì một mức giá cân bằng (còn gọi là mức giá thị trường) và một lượng giao dịch hàng cân bằng sẽ được xác định Mức giá và lượng hàng đó tương ứng với giao điểm của đường cung và đường cầu Trạng thái cân bằng của một mặt hàng như thế gọi là cân bằng bộ phận Khi đạt trạng thái cân bằng của cùng lúc tất cả các mặt hàng được gọi

là cân bằng tổng thể hay cân bằng chung Ở trạng thái cân bằng, sẽ không có dư cung (lượng cung lớn hơn lượng cầu) hay dư cầu (lượng cầu lớn hơn lượng cung)

Qui luật cung - cầu được vận dụng trong quản lý để các nhà quản lí đề ra các chính sách và đòn bẩy kinh tế tác động đến thị trường (khi giá cả cao hoặc thấp hơn giá cân bằng do dư cung hoặc dư cầu) nhằm điều chỉnh đồng thời cả giá cả lẫn lượng hàng để đạt tới trạng thái cân bằng Sự điều chỉnh diễn ra qua nhiều kỳ Giá cả thay đổi trong kỳ này sẽ dẫn tới phản ứng của lượng cung trong kỳ tiếp theo Vận dụng qui luật cung cầu trong quản lý nền kinh tế nước ta, một mặt nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp nhằm phát huy tính ưu việt của thị trường và vận dụng đúng các qui luật của nền kinh tế thị trường; mặt khác, các doanh nhiệp chủ động điều tra nhu cầu của thị trường, đặc biệt là nhu cầu có khả năng thanh toán

để có được kế hoạch và tổ chức sản xuất kinh doanh đúng đắn, đạt hiệu quả cao

- Quy luật cạnh tranh

Qui luật cạnh tranh là qui luật của nền kinh tế thị trường, nội dung yêu cầu của qui luật cạnh tranh là các chủ thể tham gia thị trường phải dùng mọi biện pháp để độc chiếm hoặc chiếm ưu thế thị trường về sản phẩm cạnh tranh, nhờ đó thu được lợi nhuận kinh tế cao nhất trong phạm vi cho phép

Trang 9

Các phương pháp cơ bản để cạnh tranh thường là: giảm chi phí cá biệt của doanh nghiệp mình (quốc gia) xuống dưới mức chi phí lao động xã hội trung bình cần thiết sản xuất ra sản phẩm (chi phí sản xuất quốc tế) bằng các giải pháp áp dụng khoa học và công nghệ tiến tiến và tổ chức quản lý lao động khoa học; sử dụng tích cực các yếu tố về thị hiếu, tâm lý khách hàng để nhanh chóng đưa ra các sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận; sử dụng sức ép phi kinh tế (bạo lực, hành chính) để độc chiếm hoặc chiếm ưu thế trên thị trường

Kết quả của cạnh tranh thể hiện ở việc sắp xếp lại trật tự trên thị trường; có nhiều sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường; sản xuất phát triển đi đôi với việc phá sản các doanh nghiệp làm ăn thua kém; có thể đưa các yếu tố xấu, phi đạo đức vào sản xuất và xã hội nếu không kiểm soát thận trọng sự cạnh tranh

Vận dụng qui luật cạnh tranh trong quản lý kinh tế ở nước ta là nhà nước

sử dụng những biện pháp để chống độc quyền hay khuynh hướng độc quyền dẫn đến cửa quyền của cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước; nhà nước

đề ra chính sách điều tiết độc quyền trong nền kinh tế thị trường, nhất là đối với kinh tế nhà nước Điều đó góp phần bảo đảm công bằng về kinh tế, công bằng xã hội và bảo đảm văn minh trong hoạt động kinh tế Trên thị trường quốc tế, nhà nước đề ra chính sách kinh tế đối ngoại thực hiện cạnh tranh trong giới hạn của các quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi và bình đẳng, giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau, giữ vững độc lập, tự chủ về kinh tế

- Một số quy luật kinh tế khác

Qui luật nhu cầu của thị trường được hình thành theo các cấp bậc khác nhau.

Theo qui luật nay, có bốn cấp bậc Đó là nhu cầu tự nhiên (hoặc lý thuyết)

là toàn bộ nhu cầu của con người, của đơn vị sản xuất, tiêu dùng trong một vùng (lớn hay nhỏ) ở một thời điểm nhất định nhưng chưa xét tới phương thức thoả mãn như thế nào, bao gồm: nhu cầu tiêu dùng cá nhân, nhu cầu tiêu dùng cho sản

Trang 10

xuất (cá nhân, doanh nghiệp thành phần kinh tế) nhu cầu cho các hoạt động khác của xã hội và con người Các nhu cầu này có thể được thoả mãn thông qua trao đổi trên thị trường hoặc không trên thị trường (cho, viện trợ) Nhu cầu thị trường,

là toàn bộ nhu cầu lý thuyết được giải quyết và đáp ứng trên thị trường Nhu cầu tiềm năng, là nhu cầu có khả năng thanh toán và sẽ được thực hiện trọn của người tiêu dùng Nhu cầu thực tế, là phần nhu cầu tiềm năng được thực hiện trên thị trường (đó là cầu của thị trường - demand)

Quy luật về mức độ quan trọng của các loại nhu cầu nhu cầu tuỳ thuộc khá lớn vào mức thu nhập của người tiêu dùng Quy luật này chỉ rõ tuỳ theo đối

tượng người tiêu dùng cụ thể mà nhu cầu có vị trí quan trọng khác nhau Chẳng hạn, nhu cầu cá nhân xét theo mức thu nhập của họ có thể chia thành ba loại: nhu cầu bức thiết: là nhu cầu tiêu dùng cá nhân được ưu tiên lựa chọn để giải quyết trước, nhất là khi mức thu nhập của người mua nó là thấp Các nhu cầu bức thiết thường là lương thực, thực phẩm, đồ may mặc thông dụng Nhu cầu không bức thiết: là nhu cầu tiêu dùng cá nhân được người tiêu dùng chọn để giải quyết sau nhu cầu bức thiết (nhu cầu may mặc đắt tiền, phương tiện đi lại, chỗ ở, trang thiết

bị nội thất phổ dụng) Nhu cầu xa xỉ: là nhu cầu tiêu dùng cá nhân tốn nhiều tiền

mà không thật cần thiết hoặc chưa thật cần thiết

Qui luật về các yếu tố tác động đến mức tiêu dùng sản phẩm Theo qui luật này có bốn yếu tố tác động đến mức tiêu dùng sản phẩm

Một là: Động cơ mua của người tiêu dùng Đây là yếu tố tác động trực tiếp

đến qui mô, cơ cấu và hình thức của nhu cầu: Nhu cầu tự nhiên của con người (để tồn tại và phát triển) như nhu cầu sinh lý giúp con người chống lại cái đói, cái khát, nhu cầu về an toàn để chống lại tai ương, bệnh tật, đau khổ; nhu cầu phục

vụ sản xuất, làm việc Trí tưởng tượng của người tiêu dùng: đó là sự tái tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở những cái được tri giác của người tiêu dùng phản ánh trước khi mua; một người chọn một cái sao màu nào? tạo dáng ra sao? là do

Ngày đăng: 19/08/2017, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w