Nhằm trang bị một số vấn đề về lý luận cơ bản liên quan đến chính sách ngoại thương qua các giai đoạn lịch sử; hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển KTXH và sự phát triển ngoại thương.2. Hiểu rõ cơ sở khoa học và những mối liên hệ có tính quy luật trong chính sách ngoại thương và các công cụ thực hiện chính sách ngoại thương của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là thời kỳ đổi mới.Có thể hiểu, các công ty xuyên quốc gia trên các dấu hiệu cơ bản sau: là công ty tư bản độc quyền, hầu hết chúng có qui mô tầm cỡ quốc tế, được hình thành từ công ty quốc gia (tức là mang một quốc tịch nếu xem xét ở công ty mẹ). Ngày nay, xuyên quốc gia hoá trong sản xuất kinh doanh trở thành xu hướng chung của thời đại. Do vậy, không chỉ có công ty xuyên quốc gia của các nước tư bản phát triển mà hầu hết các quốc gia đều có công ty xuyên quốc gia. Một công ty xuyên quốc gia có cơ cấu hai bộ phận chủ yếu: công ty mẹ (Parent Company) và công ty chi nhánh (Subsidiray, Branch) Công ty mẹ có trụ sở ở nước mẹ.
Trang 1Có thể hiểu, các công ty xuyên quốc gia trên các dấu hiệu cơ bản sau:
là công ty tư bản độc quyền, hầu hết chúng có qui mô tầm cỡ quốc tế, đượchình thành từ công ty quốc gia (tức là mang một quốc tịch nếu xem xét ở công
ty mẹ) Ngày nay, xuyên quốc gia hoá trong sản xuất kinh doanh trở thành xuhướng chung của thời đại Do vậy, không chỉ có công ty xuyên quốc gia củacác nước tư bản phát triển mà hầu hết các quốc gia đều có công ty xuyên quốcgia Một công ty xuyên quốc gia có cơ cấu hai bộ phận chủ yếu: công ty mẹ(Parent Company) và công ty chi nhánh (Subsidiray, Branch) Công ty mẹ có trụ
sở ở nước mẹ
Công ty chi nhánh là toàn bộ các hãng, xí nghiệp, công ty ở ngoài nước
mẹ (không phân biệt thứ bậc phụ thuộc đối với công ty mẹ) Nước có chi nhánhngoại quốc của công ty xuyên quốc gia được gọi là nước chủ nhà (HostCountry) Các chi nhánh thường có nhiều thứ bậc khác nhau nên có thể dùngthuật ngữ công ty con, công ty cháuhoặc công ty chi nhánh cấp 1, 2, 3để chỉchúng
Giữa công ty mẹ (hoặc còn gọi là công ty gốc) với các công ty chi nhánh cómối quan hệ phụ thuộc rất phức tạp tuỳ theo mô hình quản lý mà công ty đó lựachọn Song về cơ bản các công ty mẹ đóng vai trò chủ đạo về chiến lược tài chính,công nghệ, nhân sự, còn mỗi công ty chi nhánh là một đơn vị hạch toán độc lập Tất
cả công ty mẹ và chi nhánh hợp thành một hệ thống thống nhất đầy mâu thuẫn
Dựa vào các dấu hiệu trên có thể đưa ra định nghĩa chung về công ty xuyên
quốc gia như sau: Công ty xuyên quốc gia (Trans National Corporations - TNC)
Trang 2là những công ty của một quốc gia thực hiện việc sản xuất kinh doanh quốc tế thông qua việc thiết lập hệ thống chi nhánh ở nước ngoài nhằm thực hiện việc mở rộng thị trường và nguồn thu lợi nhuận.
Trên cơ sở khái niệm này có thể định nghĩa các công ty xuyên quốc gia
của chủ nghĩa tư bản hiện đại như sau: Công ty xuyên quốc gia của chủ nghiã
tư bản hiện đại là những công ty tư bản độc quyền của một quốc gia, thực hiện việc bành trướng quốc tế bằng hình thức thiết lập một hệ thống chi nhánh ở nước ngoài nhằm phân chia thị trường thế giới và tìm kiếm lợi nhuận độc quyền Vậy các TNC được hình thành như thế nào ?
2 Sự hình thành các công ty xuyên quốc gia
2.1 Tích tụ và tập trung sản xuất được đẩy mạnh tất yếu dẫn đến sự hình thành các công ty xuyên quốc gia
Trước đây, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự đoán rằng tích tụ và tập trung tưbản tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời những xí nghiệp TBCN có quy mô lớn Đồngthời chế độ tín dụng đẩy nhanh tốc độ phát triển các lực lượng sản xuất vật chất
và sự hình thành một thị trường thế giới
Và trên thức tế ở thời kỳ đó, độc quyền đã xuất hiện ở một số ngành củamột vài nước tư bản phát triển nhất, chẳng hạn tơrớt kiềm của Anh (UnitedAlkati Trust) thâu tóm toàn bộ ngành sản xuất amoniac của nước Anh
Kế thừa và phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.ăngghen, và bằngviệc phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn cuối thế kỷ 19đầu 20, V.I.Lênin đã rút ra kết luận hết sức quan trọng việc tập trung sản xuất
đẻ ra các tổ chức độc quyền thì nói chung lại là một quy luật phổ biến và cơbản trong giai đoạn phát triển hiện nay của chủ nghĩa tư bản
Về mặt lịch sử các tổ chức độc quyền quốc tế đã tồn tại ngay trong thời
kỳ tư bản tự do cạnh tranh, tức là trước CNTB độc quyền, có thể nói cách đâytrên 200 năm và xuất phát từ các nước Châu Âu Trong đó Anh, Hà Lan,
Trang 3Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những nước chủ yếu (ví dụ các công tyĐông Ấn của Anh, Hà Lan) Điều đó bắt nguồn từ tính tất yếu nội tại củaphương thức sản xuất là phải có một thị trường ngày nay càng rộng lớn hơn
Song chỉ đến giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản, khi các tổ chứcđộc quyền quốc gia ra đời từ quá trình tích tụ tập trung sản xuất và cùng vớiquá trình tích tụ tập trung đó được đẩy mạnh hơn nữa, các độc quyền quốc gialớn mạnh và vượt biên giới ra ngoài, thực hiện hoạt động kinh doanh quốc tếthì lịch sử hình thành các độc quyền quốc tế mới thực sự bắt đầu
Sở dĩ như vậy là vì: (1) Chính quá trình tích tụ và tập trung sản xuất đã
tạo tiền đề vật chất cho sự bành trướng, giúp cho các tập đoàn tư bản có khảnăng vượt biên giới quốc gia; (2) Dưới tác động của cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ, đặc biệt là những thành tựu của cách mạng thông tin đã tạo
ra những điều kiện tiền đề cần thiết, thuận lợi cho quá trình bành trướng của
tư bản độc quyền như: Quản lý từ xa; rút ngắn thời gian hao mòn vô hình của
tư bản cố định; làm xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh doanh mới,đòi hỏi vốn lớn và sự hiệp tác nghiên cứu và triển khai, đồng thời hứa hẹnnhiều thuận lợi
Đồng thời, chính điều này đã đặt ra yêu cầu phải chuyển dịch ngànhtruyền thống sang các nước đang phát triển, giải phóng tư bản đã hao mòn vôhình, tập trung vào những ngành có sức cạnh tranh và hiệu quả Từ đó dẫnđến sự ra đời của các công ty mang quốc tịch của một hay nhiều quốc gianhưng lại có chi nhánh trên nhiều quốc gia khác Nếu một công ty mang quốctịch của nhiều quốc gia thì gọi là công ty đa quốc gia (Multi NationalCorporations MNC)
2.2 Những nguyên nhân khác
- Sự hình thành các công ty xuyên quốc gia là một biện pháp kinh tế nhằm nắm lại những thuộc đại đã mất (thức hiện chính sách thực dân mới).
Trang 4Với sự hình thành tư bản tài chính, xu hướng bành trướng trở thành phổbiến và xuất khẩu tư bản trở thành một tất yếu kinh tế Nhưng tình hình thếgiới nửa cuối thế kỷ 20, nhất là từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã cónhững thay đổi cơ bản, trong đó có phong trào giải phóng dân tộc ở các lụcđịa Á - Phi Mỹ La tinh phát triển mạnh mẽ đưa đến sự ra đời hàng loạt nướcđộc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm phá sảnchủ nghĩa tư bản cũ Do vậy, để thực hiện việc nắm lại những khu vực đã mất,chủ nghĩa đế quốc thực hiện nhiều biện pháp, trong đó sự thâm nhập bằngcách thông qua hoạt động của các công ty xuyên quốc gia
Thông qua hoạt động chi nhánh, các công ty tư bản có thể tận dụngđược một số lợi thế của nước chủ nhà, như: giá nhân công rẻ, nguồn nguyênliệu dồi dào, thị trường tại chỗ hoặc lân cậnđồng thời lại tiết kiệm được phívận chuyển, có điều kiện thuận lợi giải quyết những khó khăn về hàng ràothuế quan, phi thuế quanTất cả những nhân tố đó góp phần làm giảm chi phísản xuất, tăng sức cạnh tranh
- Sự điều tiết của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước với quá trình kinh tế, đặc biệt là kinh tế đối ngoại Có thể nói các công ty xuyên quốc gia thật
sự được sinh ra từ chính sách của Nhà nước và Nhà nước có một ý nghĩa khôngthể thiếu được đối với sự ra đời của các TNC Sự điều tiết kinh tế của chủ nghiã
tư bản độc quyền đã có những tác động mạnh đến kinh tế đội ngoại của các nước
tư bản chủ nghiã thông qua việc: hỗ trợ thông tin, ưu đãi tín dụng, thuế, thông
qua ngoại giao kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi để các công ty xuyên quốc giavượt biên giới quốc gia, thực hiện kinh doanh quốc tế
Vai trò của Nhà nước đối với sự hình thành các công ty xuyên quốc giabiểu hiện rõ nhất đối với các công ty xuyên quốc gia Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản
Chẳng hạn: Với Mỹ và Tây Âu, sau chiến tranh thế giới thứ hai lợidụng tình hình khó khăn của Tây Âu, Mỹ đã thực hiện kế hoạch Marshall, qua
Trang 5đó các công ty Mỹ đầu tư ồ ạt vào khu vực này, thiết lập các công ty chinhánh
Với Nhật Bản, cũng từ sau CTTG 2, Nhà nước Nhật đã có rất nhiềuchính sách hỗ trợ khuyến khích các công ty của Mình đầu tư ra nước ngoài,đặc biệt là việc Chính phủ Nhật bản sử dụng các khoản viện trợ ODA là chấtdẫn cho sự bành trướng của các công ty Nhật ra thế giới
2.3 Một số trường hợp cụ thể
* Ở tầm quốc gia:
Có thể nói các công ty xuyên quốc gia Châu âu là những công ty có lịch
sử lâu đời Nếu chỉ xét trong giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản thìcuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các công ty Bayer (CHLBĐức); L’Ailiquede(Pháp) đã có các chi nhánh của mình ở Nga và Châu Mỹ La Tinh Sau cáchmạng Tháng Mười Nga các công ty Châu Âu ở Nga đã bị quốc hữu hoá Sau
đó, những năm 1950, 1960 các Công ty của Nhật, rồi các công ty của NICs Châuácũng thực hiện xuyên quốc gia hoá, trở thành các công ty xuyên quốc gia Ngàynay, hầu hết các quốc gia đều ít nhiều có các công ty xuyên quốc gia của mình
* Ở góc độ ngành: Đối với các ngành cũng có lịch sử hình thành các
công ty xuyên quốc gia khác nhau
Trước hết là xuyên quốc gia trong các ngành dầu lửa, vào năm 1870,
Công ty Standard Oil, Getty Oil của Mỹ đã có chi nhánh ở Trung Đông Sau
đó là các Công ty của Châu âu
Đối với ngành chế tạo xe hơi: Daimler Benz là một trong những công ty
thực hiện xuyên quốc gia sớm Ngay từ năm 1890 hãng này đã có đại lý bánhàng ở Anh sau đó năm 1899 lập xưởng lắp ráp ở Viên (áo) Fiát Motor cũng làmột trong những công ty thực hiện xuyên quốc gia hoá sớm, ngay từ năm 1907 đã
có chi nhánh ở viên và năm 1912 có xưởng chế tạo ở Nga Cũng ở thời kỳ này,
Trang 6Ford Motor với chi nhánh ở Canada, năm 1911 ở Anh, năm 1913 ở PhápSau này làcác hãng của các quốc gia khác, trong đó có Nhật Bản và NIEs
Đối với các ngành khác cũng có lịch sử hình thành riêng Chẳng hạn với sản
phẩm dầu thực vật thì Unilever và P&G cũng là những công ty lâu đời Mc Donalscũng là công ty kinh doanh ngành thực phẩm ăn uống nổi tiếng thế giới và có hệthống chi nhánh khắp thế giới Ra đời từ năm 1948 đến nay Mc Donalt đã có trên7.900 điểm bán hàng ở Mỹ và các nước khác, chiếm 19% thị trường thức ăn nhanhvới doanh số 8,7 tỷ USD (năm 1996)
Đối với ngành phần mềm máy tính, Microsoft với sự hợp tác giữa Wiliam Gates và Paul Allen được thành lập năm 1975 Sau đó lập chi nhánh ở
New Mexico, năm 1984 Microsoft đã bán phần mềm máy tính cho 200 hãngsản xuất máy tính cá nhân
Năm 1990 Microsoft trở thành công ty phần mềm máy tính có tên tuổiđầu tiên, với doanh thu 1 tỷ USD/năm Giữa những năm 1990 công ty bắt đầu
mở rộng hoạt động vào lĩnh vực truyền thông đại chúng, giải trí, cung cấpthông tin trên mạng Internet Năm 1996, Microsoft đã liên minh với NationalBroadcasting Company (NBC) thành MNBC với các kênh truyền hình phát
24 giờ trong ngày
3 Các loại hình công ty xuyên quốc gia
Cho đến nay có nhiều cách phân loại công ty xuyên quốc gia song cóthể nói có ba cách phân loại thường được đề cập Đó là:
3.1 Cách phân loại dựa trên cơ sở phân loại độc quyền quốc gia
Theo cách phân loại này có các công ty xuyên quốc gia thuộc các cácten,xanhđica, tơrớt, concern và conglomerate Đó là những nấc thang của sự liên kết từđơn giản đến phức tạp Trong đó loại hình tiêu biểu của các công ty xuyên quốc giahiện nay là concern và conglomerate
Giữa hai loại này có những đặc điểm chung, đó là kinh doanh đa ngành, do
Trang 7đó sản phẩm mang tính đa dạng, song chúng có sự khác nhau, chủ yếu là mức độ
đa ngành và đa dạng sản phẩm
Với các concern, mặc dù kinh doanh đa ngành với nhiều sản phẩm khác
nhau song vẫn tìm thấy ngành hạt nhân cơ bản và sản phẩm chủ yếu (ví dụCông ty Daimler Benz (CHLB Đức) tuy sản xuất kinh doanh rất nhiều ngành,song sản phẩm động cơ vẫn chủ yếu);
Trong khi với các conglomerate thì điều đó khó xác định bởi tính hỗn
tạp của nó, đồng thời xu hướng đi vào kinh doanh trên các thị trường chứngkhoán ngày càng biểu hiện rõ (ví dụ: ITT nguyên là công ty hàng đầu tronglĩnh vực thông tin liên lạc song đã chuyển hướng sang kinh doanh khách sạn,thực phẩm và thị trường chứng khoán; Nippond nguyên là công ty sản xuấtthép, đóng tàu đã chuyển sang kinh doanh phần mềm máy tính, dịch vụ, thịtrường chứng khoán) Tuy nhiên sự phân định này vẫn còn mang ý nghĩatương đối
3.2 Cách phân loại các công ty xuyên quốc gia căn cứ vào quá trình vận động và phát triển của chúng
Theo cách này, người ta phân chia các công ty xuyên quốc gia thànhbốn loại
Loại hình công ty xuyên quốc gia khai thác nguyên liệu Đây là những công
ty xuyên quốc gia có ngay từ thời kỳ tư bản tự do cạnh tranh Các công ty nàythường hoạt động trong những ngành nông nghiệp, khai khoáng với mục đích khaithác nguyên liệu phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa Đó lànhững công ty Đông ấn của Anh, Hà lan hay Goodrich, Good Year, Delmonte
Loại hình công ty xuyên quốc gia thương mại, bao gồm những công ty mà
những chi nhánh nước ngoài chủ yếu là những trạm trung gian thực hiện việc xuấtnhập khẩu, hàng hoá, hoặc lắp ráp để thực hiện xuất khẩu tại chỗ Ví dụ Công tyRenault, vào những năm 1980, có tới 10.000 điểm bán hàng nước ngoài
Trang 8Loại hình công ty xuyên quốc gia sản xuất
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây mới chính là công ty xuyên quốc giathực thụ vì nó phản ánh một cách khá đầy đủ đặc điểm cơ bản của quá trìnhquốc tế hoá Hầu hết các công ty xuyên quốc gia cỡ lớn hiện nay đều thực hiệnphân công chuyên môn hoá sản xuất bằng cách chia quy trình công nghệ thànhnhiều công đoạn và mỗi chi nhánh thường chỉ thực hiện một vài công đoạn cóhiệu quả nhất (như sự phân công chuyên môn hoá của Công ty Toyota đối vớiviệc sản xuất xe hơi ở Châu á, hay việc phân công chuyên môn hoá sản xuấtsản phẩm bán dẫn điện tử của Sony, Toshiba
Loại hình công ty xuyên quốc gia kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, tài chính, kỹ thuật Đây là những công ty có tiềm lực khoa học- công nghệ mạnh và
thường tồn tại dưới hình thức một tổ hợp công nghiệp- ngân hàng trong các độcquyền tài chính xuyên quốc gia Ví dụ: Tổng hợp công nghiệp ngân hàng trongtập đoàn tài chính Rốccơphenlơ gồm các công ty xuyên quốc gia công nghiệptầm cỡ như IBM, Exxon, McDonalt Douglasvà các Ngân hàng Manhatan Chase
3.3 Cách phân loại theo tính chất phức tạp của sản phẩm
Theo cách phân loại này, có các công ty xuyên quốc gia thuộc loại A,
B, C, D Tuỳ theo tính chất đơn hoặc đa sản phẩm
Ngoài các cách phân loại trên có tài liệu còn phân chia ra các công tyxuyên quốc gia thuộc tổ hợp công nghiệp quân sự để phân biệt với loại kinhdoanh dân sự, hoặc phân chia các công ty xuyên quốc gia theo lĩnh vực ngànhkinh doanh, như công ty xuyên quốc gia kinh doanh công nghiệp, ngân hàng,dịch vụTrong công nghiệp lại chia nhỏ theo các ngành như viễn thông, côngnghiệp chế biến, công nghiệp dược phẩm
Tuy nhiên, sự phân loại trên không mang ý nghĩa tuyệt đối Một công tyxuyên quốc gia cũng có thể thuộc nhiều loại khác nhau tuỳ theo cách phân loại Dovậy cần căn cứ vào mục đích nghiên cứu mà lựa chọn cách phân loại thích hợp
Trang 94 Đặc trưng cắm nhánh nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia
4.1 Hình thức cắm nhánh
Để thực hiện cắm nhánh, các công ty xuyên quốc gia thường sử dụngnhiều hình thức khác nhau Chủ yếu là 2 hình thức sau đây:
Hình thức đầu tư 100% vốn Đây là hình thức cắm nhánh cổ truyền,
trong đó công ty xuyên quốc gia được hoàn toàn tự chủ trong kinh doanh theoluật đầu tư của nước chủ nhà mà không sợ thất thoát về bí quyết công nghệ vàquản lý hoặc chia sẻ bạn hàng Hình thức này đã có ngay từ thời kỳ đầu tiênkhi các công ty xuyên quốc gia thâm nhập vào nền kinh tế các nước Ngàynay, có thể nói hầu hết trong 500 công ty hàng đầu thế giới đều sử dụng hìnhthức này
Tuy nhiên, các công ty xuyên quốc gia phải chịu sự kiểm soát của nướcchủ nhà, sự kiểm soát đó cũng theo những phương thức và mức độ khác nhau.Mặt khác với xí nghiệp 100% vốn của mình các công ty xuyên quốc giakhông tránh khỏi những khó khăn trong việc khai thông các mối quan hệ vớicác cơ quan quản lý, cũng như việc tìm hiểu thị trường nước chủ nhà Đó làchưa kể đến trường hợp cá biệt ở một số nước
Ví dụ: Nhật Bản, các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài còn gặp một số khókhăn khi tuyển dụng công nhân, nhất là tuyển dụng cán bộ quản lý vì về mặt tâm
lý họ không muốn làm thuê cho người nước ngoài Chính do một số khó khănnêu trên nên nhiều công ty xuyên quốc gia đã lựa chọn hình thức liên doanh
Hình thức liên doanh Đây là một trong những hình thức phổ biến trong
giai đoạn hiện nay mà các công ty xuyên quốc gia đã và đang sử dụng Đểthực hiện liên doanh, các công ty xuyên quốc gia thường sử dụng một số biệnpháp như tham gia cổ phần đối với xí nghiệp mới xây dựng, lập ra xí nghiệpmới có sự tham gia của đối tác nước chủ nhà, mà công ty mẹ nắm giữ số cổphần khống chế hoặc mua cổ phiếu của công ty đang hoạt động
Trang 10Chẳng hạn, trường hợp liên doanh giữa Công ty GMC (Mỹ) với công tyIsuzu (Nhật Bản) vào thập kỷ 80 đã diễn ra như sau: Isuzu bán 34% cổ phần củamình cho GMC, vì đang gặp khó khăn trong việc chuyển từ sản xuất xe tải, xe buýtsang xe con Còn với GMC nếu mua được cổ phần của Isuzu sẽ giúp cho việc thâmnhập vào thị trường Nhật Bản, củng cố được mặt hàng của mình
Trường hợp liên doanh giữa hãng Meck (một hãng kinh doanh dượcphẩm của Mỹ) với hãng Baryu (Nhật Bản) là một trường hợp điển hình tronglịch sử công nghiệp Nhật Bản, vì chưa bao giờ một hãng Nhật Bản lớn lại cónhiều cổ phần do nước ngoài nắm giữ Sau khi Meck liên doanh với Baryu, lạithực hiện mua tiếp cổ phần của hãng dược phẩm Tory (một công ty dượcphẩm Nhật Bản lâu đời đang gặp khó khăn) do vậy Meck đã có vị trí nhấtđịnh ở thị trường nước này
Trường hợp giữa Dunlop và Pirelli (của Anh và Italia) là một ví dụkhác Trong đó Dunlop có 128 nhà máy với 162 nghìn lao động, còn Pirelli có
82 nhà máy và 66 nghìn lao động Hai hãng này đã thực hiện liên doanh theo
tỷ lệ cổ phần 51% và 49%, đồng thời có sự trao đổi cổ phần ở một số chinhánh khác và chúng trở thành người kiểm soát cổ phần lẫn của nhau
Cụ thể là Pirelli đã nhường 20% số cổ phần đối với các xí nghiệp chinhánh ngoài EC cho Dunlop Về phần mình, Dunlop cũng làm như vậy đốivới Pirelli Hình thức trao đổi cổ phần như vậy được gọi là hình thức liêndoanh không chính thức hay là liên minh từng phần
Hiện nay, hình thức liên doanh thường chiếm tỷ trọng lớn (60%-70%thậm chí có trường hợp 85% tổng số dự án đầu tư nước ngoài), vì hình thứcnày có rất nhiều nhân tố làm tăng hiệu suất của tư bản Trước hết thông quahình thức liên doanh, liên kết, các công ty xuyên quốc gia có thể khắc phụcđược tình hình quốc hữu hoá, chia sẻ được rủi ro với đối tác nước chủ nhà (ví
dụ những rủi ro không nắm bắt được thị hiếu, thị trường)
Trang 11Đồng thời, qua liên doanh có thể sẽ từng bước khắc phục những khókhăn trong quan hệ với các cơ quan, quan chức ở nước chủ nhàMặt khác,chính nhờ liên doanh, các công ty xuyên quốc gia đã bổ sung được mặt hàng,
sử dụng thêm được công suất máy móc, có thêm điều kiện đa dạng hoá sảnphẩm mở rộng thị trường, thâm nhập vào các nền kinh tế một cách thuận lợi,khai thác nguồn lực quốc tế
Ngoài hai hình thức chủ yếu trên, các công ty xuyên quốc gia còn thực hiện các hình thức khác, như thông qua các hợp đồng gia công để chuyển
giao một số công đoạn sản xuất ra nước ngoài nhằm thực hiện chuyên mônhoá sản phẩm, tận dụng các lợi thế, như giá lao động, giá nguyên vật liệu rẻ,khả năng khai thác thị trường nội địa và lân cận, tiết kiệm chi phí vận chuyển,khắc phục khó khăn về thuế quan
Hiện nay, hầu hết các công ty xuyên quốc gia đều thực hiện cách này.Người ta tính ra rằng trung bình 50-60% số lượng sản phẩm thuộc các ngànhđiện tử, bán dẫn, xe hơiđược thực hiện dưới hình thức gia công Có nhữngcông ty như Ford Motor có tới 25.000 đơn vị sản xuất gia công ở khắp cácnước trên thế giới, các đơn vị này hàng năm cung cấp một số lượng linh kiện,bán sản phẩm trị giá 5 tỷ USD với khoảng 1.500 chi tiết cần thiết cho việc sảnxuất ô tô
4.2 Chiến lược cắm nhánh ngoại quốc của các công ty xuyên quốc gia
Để thực hiện cắm nhánh ngoại quốc, các công ty xuyên quốc gia sửdụng chủ yếu việc đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức xí nghiệp 100%vốn hoặc liên doanh, đồng thời sử dụng chiến lược hết sức linh hoạt nhằmthâm nhập thị trường, tìm kiếm lợi nhuận Trong đó đáng lưu ý tới 3 chiếnlược sau :
Một là: Chiến lược đối với khu vực địa lý Đối với các công ty xuyên
quốc gia, khu vực địa lý mà chúng tập trung đầu tư cắm nhánh có sự thay đổi
Trang 12tùy thuộc vào chiến lược của nhà nước mẹ và chiến lược của từng công ty.Song nhìn chung chúng tập trung vào các nước phát triển Theo số liệu thống
kê quốc tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty xuyên quốc giađược tập trung chủ yếu vào khu vực này Chẳng hạn, trong thập kỷ 80, cáccông ty xuyên quốc gia của Mỹ đã tập trung tới 73,6% số vốn đầu tư vàonước thuộc OECD, trong khi đó phần của các nước đang phát triển chỉ chiếm24,6% Với các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản, phần đầu tư vào Mỹ chiếmtới 42,9% vào Tây âu chiếm 17,7% tức là đầu tư vào hai khu vực chủ yếu đãchiếm tới 66,7% tổng luồng đầu tư
Sở dĩ có xu hướng như vậy là vì trong điều kiện tác động của cuộc cáchmạng khoa học công nghệ đã xuất hiện nhiều ngành mới, trong khi đó cácnước đang phát triển (trừ NICs) do trình độ lạc hậu nên không đủ điều kiệntiếp nhận đầu tư Hầu hết các ngành được chuyển dịch sang các nước đangphát triển là những ngành đã hao mòn vô hình, giá trị thấpcũng góp phần làmcho tỷ trọng vốn giảm đi Mặt khác, trong điều kiện hiện nay lĩnh vực cạnhtranh là những ngành hiện đại, trong khi đó các nước đang phát triển khôngphải là đối thủ cạnh tranh, hơn nữa sức tiêu thụ những sản phẩm cao cấp cònrất hạn chế do thu nhập thấp Điều đó đã làm thay đổi hướng đầu tư của cáccông ty xuyên quốc gia
Hai là: Chiến lược đối với các ngành kinh doanh Khảo sát sự hoạt
động của các công ty xuyên quốc gia người ta thấy rằng từ sau chiến tranh thếgiới thứ hai đến nay việc đầu tư cắm nhánh của các công ty xuyên quốc gia có
sự thay đổi Đó là tỷ trọng vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp khai khoáng
có xu hướng giảm Tuy nhiên, mức độ giảm giữa các nước phát triển và đangphát triển, giữa các công ty xuyên quốc gia của các nước khác nhau khôngđồng đều
Với các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản, tỷ trọng vốn đầu tư để thực
Trang 13hiện cắm nhánh vào ngành công nghiệp khai khoáng giảm nhiều nhất từ19,1% thời kỳ 1951-1980 xuống còn 1,9% vào thập kỷ 90; trong khi với cáccông ty xuyên quốc gia Cộng hoà liên bang Đức giảm từ 12,6% xuống còn9,9% cùng kỳ
Đối với ngành công nghiệp chế biến, vốn đầu tư có xu hướng tăng
không đều nhau Ví dụ với các công ty xuyên quốc gia của Canada tỷ trọngvốn đầu tư cắm nhánh vào các nước đang phát triển tăng từ 18,2% thập kỷ 80lên 20,4% thập kỷ 90; còn với các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản tỷ trọng đólần lượt là 19,1% và 25,7%
Đối với ngành dịch vụ, tỷ trọng vốn đầu tư mà các công ty xuyên quốc
gia thực hiện thường tăng nhanh hơn cả, tăng trung bình 10% ở các nước tưbản phát triển và 20% ở các nước đang phát triển trong thập kỷ 80 và 90 Vớicác công ty xuyên quốc gia Nhật Bản, gần 2/3 tổng số vốn đầu tư vào các nướcđang phát triển được đưa vào ngành dịch vụ
Chính xu hướng đầu tư cắm nhánh của các công ty xuyên quốc gia đốivới các ngành trên đã góp phần thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu ngành của nềnkinh tế thế giới trong những thập kỷ gần đây
Ba là: Chiến lược thôn tính và sáp nhập của các công ty xuyên quốc gia.
Việc sáp nhập các công ty đã diễn ra rất sớm Ngay từ những năm 1970 củathế kỷ XIX, ở Tây Âu đã có sự hợp nhất 19 nhà máy sản xuất thuốc nổ thànhmột công ty và năm 1980 công ty này sáp nhập với kẻ cạnh tranh lớn nhất của
nó thành công ty Phêrainíchtơ Côlônhơrốtvailơ Punvecphabriken Song trongthập kỷ gần đây, việc thực hiện thôn tính và sáp nhập biểu hiện khá đậm nét ởhầu hết các công ty xuyên quốc gia, nhất là ở các nước tư bản phát triển
Số liệu thống kê cho thấy: Tổng số vụ sáp nhập vào năm 1998 đã đạttới 1.610 tỷ USD, tăng 78% so với năm 1997 Số vụ sáp nhập và thôn tínhtrong thập kỷ 90 đạt quy mô lớn Ví dụ: từ năm 1993 đến năm 1998 ở Mỹ có
Trang 142.492 vụ với giá trị trên 200 tỷ USD
Ở Nhật Bản, làn sóng sáp nhập và thôn tính diễn ra mạnh nhất vào thập
kỷ 80 Chẳng hạn năm 1988 có 315 công ty Riêng 6 tháng đầu năm 1989 sốcông ty xuyên quốc gia nước ngoài bị các công ty xuyên quốc gia Nhật mualại và hợp nhất là 170 công ty (trong đó có 84 công ty Mỹ, 40 công ty Châu
Âu, 34 Công ty châu Á và Châu Đại Dương) còn vào những năm 1990 số vụsáp nhập, thôn tính đạt 908 vụ, bình quân mỗi vụ 86,7 triệu USD
Hiện nay các vụ sáp nhập có đặc điểm là quy mô rất lớn Chẳng hạn:
số vụ trị giá trên 1 tỷ USD tăng từ 35 vụ năm 1995 lên 45 vụ năm 1996 và 58
vụ năm 1997 với giá trị tổng cộng lần lượt là 59 tỷ USD (1995), 86 tỷ USD(1996) và 161 tỷ USD (1997)
Các vụ sáp nhập trong các ngành hàng không, tài chính ngân hàng, xe hơi diễn ra mạnh mẽ
Trong ngành hàng không, cách đây 10 năm cả thế giới mới có 10 liên minh
hàng không song vào năm 1986 con số này tăng lên 52 và vào năm 1997 là 350liên minh, trong đó Star là một trong những liên minh hàng đầu gồm nhiều hãnghàng không có tên tuổi như Lufthanse (Đức), United Airline (Mỹ), Thai Airways(Thái Lan), Canada Air (Canada), Varig (Braxin) và SAS (Bắc Âu)
Trong ngành xe hơi, năm 1999 đã diễn ra sự sáp nhập của 9 tập đoàn
hàng đầu thế giới gồm For, GMC, BMW, Volswagen, Daimler Benz, Chrysler,Volvo, Mazda, Toyota hình thành liên minh khổng lồ
Trong ngành tài chính ngân hàng, nổi bật là sự sáp nhập của Citibank
với Salomon Smith Bartney thành Citicroup vào năm 1998 Sau đó Citicrouplại tiếp tục sáp nhập với Travelers Group (một tập đoàn tài chính lớn của Mỹ)hình thành nên Citigroup có mạng lưới bao trùm toàn cầu và trở thành công tydịch vụ tài chính lớn nhất thế giới với tổng giá trị tài sản 70 tỷ USD Chính sự