1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

quan hệ kinh tế quốc tế trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại quốc tế Bài giảng

190 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại diễn ra mạnh mẽ, sôi động cùng với những biến động trong nền kinh tế thế giới đang từng ngày tác động lên tất cả các nền kinh tế của các quốc gia, đưa lại những cho mỗi nước cơ hội to lớn nhưng cũng đặt họ trước những bất ổn và nguy cơ, thách thức. Chính vì thế, việc lựa chọn một chiến lược, lộ trình hội nhập quốc tế thích hợp, hiệu quả để phát triển là cần thiết đối với mỗi quốc gia. Do đó, nghiên cứu về nền kinh tế thế giới là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có tính thời sự, có ý nghĩa thực tiễn cao. Nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, học tập môn Kinh tế quốc tế trong quá trình đào tạo cử nhân và sau đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị của Học viện Báo chí Tuyên truyền, khoa Kinh tế của học viện đã tổ chức xây dựng khung chương trình, đề cương chi tiết và đề cương bài giảng của môn học này. Trên cơ sở kế thừa, tham khảo, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tế nền kinh tế thế giới hiện nay, tập bài giảng này xin cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về quan hệ kinh tế quốc tế trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại quốc tế, hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, trao đổi quốc tế về tiền tệ…. Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian và các nguyên nhân chủ quan khác nên tập bài giảng này không thể tránh khỏi những thiếu sót, vội vàng vì vậy tác giả kính mong nhận được góp ý của các chuyên gia, đồng nghiệp và bạn đọc để tài liệu được ngày càng hoàn thiện, phục vụ người đọc tốt hơn .

Trang 1

MỞ ĐẦU

Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại diễn ra mạnh

mẽ, sôi động cùng với những biến động trong nền kinh tế thế giới đang từngngày tác động lên tất cả các nền kinh tế của các quốc gia, đưa lại những cho mỗinước cơ hội to lớn nhưng cũng đặt họ trước những bất ổn và nguy cơ, tháchthức Chính vì thế, việc lựa chọn một chiến lược, lộ trình hội nhập quốc tế thíchhợp, hiệu quả để phát triển là cần thiết đối với mỗi quốc gia Do đó, nghiên cứu

về nền kinh tế thế giới là một việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa cótính thời sự, có ý nghĩa thực tiễn cao

Nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, học tập môn Kinh tế quốc tế trongquá trình đào tạo cử nhân và sau đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị củaHọc viện Báo chí & Tuyên truyền, khoa Kinh tế của học viện đã tổ chức xâydựng khung chương trình, đề cương chi tiết và đề cương bài giảng của môn họcnày

Trên cơ sở kế thừa, tham khảo, nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tế nềnkinh tế thế giới hiện nay, tập bài giảng này xin cung cấp cho người đọc nhữngkiến thức cơ bản về quan hệ kinh tế quốc tế trong các lĩnh vực đầu tư, thươngmại quốc tế, hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, trao đổi quốc tế về tiềntệ…

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian và các nguyênnhân chủ quan khác nên tập bài giảng này không thể tránh khỏi những thiếu sót,vội vàng vì vậy tác giả kính mong nhận được góp ý của các chuyên gia, đồngnghiệp và bạn đọc để tài liệu được ngày càng hoàn thiện, phục vụ người đọc tốthơn

Tác giả

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ

Chương này trang bị cho người học những hiểu biết về lịch sử hình

thành, phát triển của nền kinh tế thế giới và những xu hướng vận động của nền

Kinh tế thế giới trong bối cảnh mới hiện nay, hiểu rõ đối tượng, nội dung

nghiên cứu của môn học, nội dung và phương hướng xử lý các vấn đề có tính

toàn cầu hiện nay.

1.1.Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thế giới

1.1.1.Khái niệm và cơ cấu nền kinh tế thế giới

* Khái niệm: nền kinh tế thế giới là tổng thể các nền kinh tế quốc gia và

vùng lãnh thổ trên trái đất, chúng phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau trên

cơ sở phân công lao động quốc tế, thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế

* Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế thế giới gồm 2 bộ phận cơ

bản:

- Các chủ thể: được xác định trên cơ sở sở hữu và địa vị pháp lý trong các

quan hệ kinh tế quốc tế, bao gồm 3 loại cơ bản: 1- Các quốc gia, các vùng lãnh

thổ, các nền kinh tế độc lập có khoảng 200; 2- Các tổ chức quốc tế, các liên kết

kinh tế quốc tế là kết quả của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, của toàn

cầu hóa khu vực hóa- ASEAN; EU, APEC; ASEM, IMF, WB, UNDP,

UNCTAD – càng tăng và có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kttg, 3- Các

đơn vị kinh doanh, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế có hoạt động trong lĩnh vực

liên quan tới các chủ thể kttg khác, chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia

(TNCs), công ty đa quốc gia (MNCs), các hãng đa quốc gia (MNEs) - ngày nay

thống nhất gọi là TNCs bao gồm công ty mẹ và các chi nhánh trên toàn cầu)

- Quan hệ kinh tế quốc tế là kết quả tất yếu của sự tác động qua lại giữa

các chủ thể kinh tế quốc tế Nó ra trên cơ sở phát triển các hoạt động thương

mại, đầu tư, di chuyển về hàng hóa sức lao động, dịch vụ, trao đổi khoa học

công nghệ, tài chính tiền tệ, tín dụng quốc tế

Trang 3

+ Sự phát triển nền kinh tế thế giới phụ thuộc vào trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, phân công lao động quốc tế.

* Cơ cấu của nền kinhy tế thế giới: Ngày nay, nền kinh tế thế giới là mộtthực thể kinh tế đặc thù, nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ quan hệ với những phạm

vi hoạt động khác nhau,

- Phân chia theo trình độ phát triển:

+ Các nền kinh tế phát triển là các nền kinh tế đã hoàn thành côngnghiệp hóa, có cơ cấu kinh tế hiện đại, GDP/ người đạt từ 10000USD trở lên;

+ Các nền kinh tế đang phát triển- là nhóm đông nhất, đang tiến hànhcông nghiệp hóa, một số đã trở thành các nước công nghiệp mới (NICs) vàchuyển sang hạng thứ nhất;

+ Các nền kinh tế kém phát triển

- Theo hệ thống kinh tế xã hội bao gồm các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

và các nền kinh tế phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới

1.1.2.1.Giai đoạn đầu, thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (1760 - 1850)

- Chủ thể lúc này chủ yếu là các nước tư bản chủ nghĩa

- Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ,công nghiệp hóa diễn ra sôiđộng, giao thông vận tải có bước tiến lớn với sự xuất hiện của đường sắt là điềukiện thuận lợi cho các quan hẹ kiuh tế quốc tế được hình thành , phát triển

Trang 4

1.1.2.2 Giai đoạn 2, gắn liền với bước chuyển từ Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (1850 - 1914)

* Đặc điểm:

- Sự thống trị của các tập đoàn độc quyền theo hướng đa phương, đa diện

và xuyên biên giới, thúc đẩy sự hình thành các liên kết kinh tế quốc tế và mộtthị trường thế giới thống nhất

- Chủ thể của nền kinh tế thế giới lúc này ngoài các nền kinh tế tư bảnphát triển thì các nước thuộc địa cũng bị lôi cuốn vào vòng xoáy của nền kinh tếthị trường tư bản chủ nghĩa, của cạnh tranh quốc tế, thậm chí trở thành miếngmồi trong sự tranh giành quyền lực giữa các quốc gia tư bản

- Quy mô của nền kinh tế thế giới được mở rộng, sự phụ thuộc, liên kết,trao đổi giữa các chủ thể kinh tế tăng lên, sâu sắc hơn

1.1.2.3 Giai đoạn khủng hoảng gắn liền với 2 cuộc thế chiến (1914 1945)

-* Bối cảnh thế giới có những thay đổi lớn

- Nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa bị phá hoại nặng nề và rơi vào khủnghoảng triền miên, đặc biệt thời kỳ 1929 -1933 rơi vào đại suy thoái

- Sự xuất hiện của nhân tố xã hội mới như: Cách mạng tháng 10 Nga,Nhà nước Nga Xô viết ra đời, phá vỡ tính độc tôn của hệ thống tư bản chủnghĩa cả về kinh tế và chính trị, gây ra một ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thếgiới; sự phát triển mạnh của phong trào công nhân; phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc buộc Chu nghĩa tư bản phải

có sự thay đổi, điều chỉnh

- Nhiều nhân tố kinh tế rất quan trọng xuất hiện tại Hội nghị BrettonWoods (1944) như Quỹ tiền tệ qốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB),Tổ chứcthương mại quốc tế (ITO) và sau đó là Hiệp định chung về thuế quan và thươngmại (GATT)- 1947 (tiền thân của WTO), hệ thống tiền tệ thế giới BWs

Trang 5

1.1.2.4 Chiến tranh lạnh và sự bùng nổ của kinh tế thị trường 1991)

(1945 Thế giới có sự phân chia thành 2 cực đối lập của 2 hệ thống Tư bản chủnghĩa và xã hội chủ nghĩa

- Nền kinh tế thế giới cũng bị chia đôi thành 2 hệ thống kinh tế và hầunhư không có sự trao đổi

Trong từng bộ phận có sự phát triển theo các hướng riêng biệt: + Nền kinh tế các nước tư bản tiếp tục phát triển, độc quyền vẫn vươndài cánh tay ra toàn cầu, kể cả các nước thuộc địa mới được giải phóng và sựgia tăng về số lượng cũng như tính sâu sắc trong mối liên kết kinh tế quốc tếtrong phạm vi hệ thông;

+ Hệ thống kinhy tế các nước Xã hội chủ nghĩa cũng có những bướcphát triển, tuy nhiên do ảnh hưởng của cơ chế kinh tế tập trung hóa nên giao lưukinh tế bị hạn chế, không có nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa, mặc dùcũng có thiết chế hợp tác thông qua Hội đồng tương trợ kinh tế (Council formutual economic assistance- CMEA)

- Một số khủng hoảng nghiêm trọng: Sự sụp đổ của hệ thống tiền tệBretton Wood (1973) Khủng hoảng năng lượng; khủng hoảng nợ của các nướcđang phát triển; Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu khiến cho Chủnghĩa xã hội không còn tồn tại với tư cách là một hệ thống

1.1.2.5 Giai đoạn hiện tại (từ 1992- nay)

- Thể chế kinh tế thị trường bắt đầu được lựa chọn ở hầu khắp các quốcgia trên thế giới và ngày càng mở rộng, một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âutrước đây có sự thay đổi thể chế chính trị và cũng chuyển đổi sang kinh tế thịtrường bắt đầu một thời kỳ phát triển mới của nền kinh tế thị trường toàn cầu,tính thống nhất được phục hồi và gia tăng mạnh

Trang 6

- Tư duy đối ngoại có sự thay đổi theo hướng đa phương, cởi mở làm choquan hệ đối ngoại thay đổi và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu với mọiquốc gia, làm gia tăng tính tùy thuộc lẫn nhau Toàn cầu hóa và Cách mạngkhoa học công nghệ hiện đại cũng ảnh hưởng sâu sắc đến xu thế phát triên củathế giới.

- Các thiết chế và chủ thể quốc tế của nền kinh tế thế giới (các TNCs,các Liên kết kinh tế quốc tế) có vai trò ngày càng lớn

1.1.3 Bối cảnh và xu hướng vận động mới của nền kinh tế thế giới

1.1.3.1 Bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới

* Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới thay đổi bất thường và diễn

ra không đều giữa các quốc gia, khu vực và nhóm nước

- Đầu thập niên 1990s có sự trì trệ, từ năm 1996 bắt đầu phục hồi (3,8%)

và tiếp tục tăng không đều ở các năm tiếp theo

- Nền kinh tê G7 phục hồi sau những năm đầu thập niên 1990s, tuy nhiênNhật và EU lại có nhiều khó khăn trì trệ mới Các nước NICs, và một số nướcđang phát triển có tốc độ tăng khá cao (TQ, Nga, Brazin) Các nước ASEAN,các nước Mỹ La tinh và châu Phi gần đây phục hồi mạnh mẽ, tuy nhiên từ 2008

cả thế giới đã chao đảo bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và từ 2012 đã

có dấu hiệu hồi phục song vẫn rất chậm chạp và hàm chứa nhiều bất ổn có tính

hệ thống

* Thương mại quốc tế tiếp tục gia tăng:

- Sự gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao (hơn gấp dôi so với tốc

độ tăng GDP) tuy nhiên sự gia tăng không đều dẫn đến tình trạng một số nước

có thặng dư thương mại song một số nước lại thâm hụt sự cạnh tranh trongbuôn bán quốc tế cũng ngày càng gay gắt kéo theo đó là những căng thẳngchính trị;

Trang 7

- Sự tăng cường mức độ liên kêt thị trường chủ yếu nhờ vào cả 2 độngthái thương mại ( quốc gia với quốc gia và thương mại của TNCs);

- Sự gia tăng tính đa dạng của các loại chủ thể và các bộ phận của hệthống thị trường thế giới (tiền tệ, vốn, dịch vụ lao động, tin học, công nghệ…)cũng dồng thời làm tăng tính thống nhất của nó

* Đầu tư quốc tế gia tăng mạnh và có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cảthương mại quốc tế với mức tăng trên 10%/năm)cùng thay đổi đáng kể trong

cơ cấu đầu tư (dịch vụ, khai thác, ), chủ đầu tư (Bắc- Nam, Nam- Nam), hìnhthức đầu tư (M&A) Động lực này đã góp phần tạo ra một định hình mới củanền kinh tế toàn cầu, khơi thông nguồn lực, làm cho dòng vốn quốc tế luânchuyển rộng rãi và có hiệu quả hơn bao giờ hết đồng thời góp phần tạo nên mộtdiện mạo mới cho nền kinh tế thế giới

* Thị trường tài chính toàn cầu phát triển mạnh mẽ, lưu thông tiền vốnquốc tế phát triển mạnh nhờ vào sự phát triển của các phương tiện thông tin liênlạc hiện đại, trở thành lực lượng chi phối đối với trao đổi hàng hóa, dịch vụ, làmột đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thế giới ngày nay (thập niên cuối của thế

kỷ XX, khối lượng tiền lưu chuyển trên thị trường tài chính quốc tế gấp 30 lầngiá trị khối lượng hàng hóa lưu chuyển), nhưng điều này đang tiềm ẩn nhữngbất ổn về khả năng kiểm soát những rủi ro hối đoái, khả năng thanh toán… vàrất có thể gây ra những đổ vỡ có tính hệ thống

* Nền kinh tế thế giới đang chuyển sang một trật tự mới với các nét điểnhình:

- Ba liên minh kinh tế lớn ảnh hưởng, chi phối nền kinh tế thế giới làLiên minh châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tư do Bắc Mỹ (NAFTA); Diễn đànhợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC) có nhiều thay đổi;

+ EU ngày càng được mở rộng như một biểu hiện tiên phong của tínhnhất thể hóa trong nền kinh tế thế giới;

Trang 8

+ Khối NAFTA cũng được mở rộng khỏi khuôn khổ Bắc Mỹ, hnh thànhkhối mậu dịch tự do Mỹ Latinh từ sau năm 2000;

+ APEC sẽ trở thành khối mậu dịch tự do vao 2020 với dân số và tiềmlực kinh tế kỹ thuật khổng lồ

- Ngoài 3 trung tâm kinh tế truyền thống (EU Nhật, Mỹ) đang xuất hiệnmột số nền kinh tế mới nổi như: Trung Quốc, Ấn Độ, Coonbgj hòa Liên BangNga, Đức Tại châu Á Nhân tố quan trọng sẽ là Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc,các nước công nghiệp mới- NICs, góp phần tạo lập trật tự kinh tế thế giới mới.Trật tự kinh tế mới và các quan nhệ kinh tế quốc tế sẽ bị chi phối mạnh mẽ bởinhiều nhân tố; ví dụ:

+ Các liên kêt kinh tế khu vực và tiểu khu vực- ASEAN 2015

+ Sự phân hóa mạnh mẽ giữa các nước giàu và nghèo à bất lợi chonước nghèo

+ Vấn đề dân tộc, quốc gia

* Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tác động rất lớn làm cho lựclượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, với các công nghệ mũi nhọn- tin học, viễnthông là cơ sơ để nền kinh tế thế giới chuyển sang một chất lượng mới (Kinh tếtri thức) với các nền tảng mới (kết cấu hạ tầng; kết cấu kinh tế kỹ thuật; chiếnlược quản tri Kinh doanh mới…

* Sự phát triển của nền kinh tế thị trường thế giới với những nét mới củacạnh tranh mà thực chất là việc nỗ lực kiếm tìm một trật tự vừa hợp tác vừacạnh tranh giữa các quốc gia song hành với việc phổ cập mô hình Kinh tế mởđến tất cả các nền kinh tế trên thế giới

* Xuất hiện nhiều vấn đề xã hội mới tác động đến sự vận động của nềnkinh tế thế giới:

-Sự tan rã của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu khién cácquốc gia trên thế giới cần có sự điều chỉnh chiến lược kinh tế đôi ngoại

Trang 9

- Khu vực châu Á- Thái Bình Dương trở thành khu vực kinh tế năngđộng nhất khiến cho các nguồn lực và các hoạt động kinh tế có xu hướngchuyển dịch về khu vực này.

- Những bất ổn phi truyền thống nổi cộm: Khủng bố, chiến tranh cục bộ,sắc tộc, nội chiến…và sự bùng nổ hàng loạt các vấn đề có tính toàn cầu(biến đổikhí hậu, ô nhiễm môi trường, bệnh dịch, thiên tai, sự cạn kiệt tài nguyên, chủnghĩa khủng bố….) đang buộc các quốc gia trên thế giới, các lực lượng kinh tế ,

xã hội phải có sự liên minh chặt chẽ, làm tăng sự liên kết như một tất yếu

1.1.3.2 Xu hướng vận động mới và dự báo tương lai của nền Kinh tế thế giớ.i

* Do tác động mạnh mẽ của Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại,nền kinh tế thế giới sẽ có những biến đổi lớn lao,với cơ cấu và chất lượng mớicủa một nền kinh tế tri thức Công nghệ và kết cấu ngành sản xuất và dịch vụ sẽchuyển dịch theo hướng:

+ Các ngành công nghiệp cổ điển giảm dần tỷ trọng và vai trò

+ Các ngành có hàm lượng khoa học – công nghệ cao tăng nhanh, nhất làcác ngành dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất

+ Kết cấu kinh tế trở nên mềm hóa, vai trò của các hoạt động tài chính tiền

tệ, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ công nghệ ngày càng trở nên quan trọng, cácluồng vốn di chuyển với quy mô ngày càng lớn và đa chiều

+ Kết cấu lao động theo ngành nghề thay đổi sâu sắc, xuất hiện nhiềungành nghề mới với sự đan kết của nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ

* Phân công lao động quốc tế phát triển mạnh mẽ nhờ sự thay đổi trongchiến lược kinh doanh toàn cầu của các TNCs và quá trình toàn cầu hóa với sựgia tăng quốc tế hóa, khu vực hóa nền kinh tế Thể chế kinh tế quốc tế biếnchuyển theo hướng thị trường hoá mọi nền kinh tế trên toàn cầu và kéo chúngvào một dòng chảy chung vừa có hợp tác vừa có cạnh tranh với nhiều nét mới

Trang 10

mà trước đây chưa từng có Dường như mỗi quốc gia đang đứng trước nhiều cơhội phát triển hơn nhưng cũng nhiều thách thức hơn do vậy quyền lợi cũngnhiều mà nghĩa vụ trong việc giải quyết các vấn đề chung của toàn cầu cũng rấtlớn.

* Sự gia tăng rất mạnh của các hoạt động tài chính tiền tệ, các hoạt độngthương mại, đầu tư toàn cầu đang đưa nền kinh tế thế giới vào một xu hướngkhó có thể thay đổi đó là tự do hóa thương mại, đầu tư mà chất xúc tác là sựluân chuyển của các nguồn lực sản xuất vật chất ngày càng năng động và cóhiệu quả với những nét mới (M&A, TNCs hình thành tại các nước đang pháttriển….)

* Dự báo một số xu hướng mới của nền kinh tế thế giới:

- Các TNCs ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền Kinh tế thế giới

và sẽ trở thành một trong những chủ thể kinh tế quyền lực của thế kỷ XXI vớichiến thuật phân đoạn sản xuất và mạng lưới kinh doanh trên khắp toàn cầu

- Nền văn minh mới của loài người được đặt trên những cơ sở mới vềnăng lượng, nguyên liệu, cơ sở tổ chức sản xuất mới đáp ứng nhu cầu phát triểnbền vững

- Một quan niệm và tinh thần mới của kinh tế thị trường sẽ được hìnhthành, mà các học giả nổi tiếng Trung Quốc dự đoán sẽ là:

+ Biến động cơ mưu lợi đơn thuần và dục vọng muốn làm giàuvề vật chấtthành cảm giác tự hào về thành tựu và trách nhiệm xã hội cao cả hơn

+ Biến việc coi trọng thương nghiệp và ý thức làm giàu bằng lưu thônghàng hóa thành tinh thần công nghiệp và thực nghiệm

+ Biến ý thức coi trọng hàng hóa và tiền bạc thành ý thức coi trọng nguồnvốn nhân lực

+ Biến ý thức hại người lợi mình thành ý thức cùng có lợi

Trang 11

+ Coi trọng tự nhiên như một bộ phận hữu cơ gắn liền với con người và

sự tồn vong của loài người trong sản xuất vật chất, không còn bóc lột tự nhiên

+ Biến ý thức an nhàn hửơng lạc trong sự giàu có vô tận và thủ đoạn làmgiàu không lương thiện thành tinh thần siêu việt, mưu cầu giá trị và ý nghĩacuộc sống

è Thế giới đang chứng kiến một sự biến chuyển mạnh mẽ của nền kinh

tế toàn cầu, mà trong đó có một số nhân tố chính đang tác động lớn đến xu thế vận động của thế giới Có thể kể ra: Sự cơ cấu lại quyền lực trên bình diện thế giới mà tỷ lệ sức mạnh Mỹ đang dần giảm dù vẫn dẫn đầu, và nổi lên những thế lực mới mẻ như Nga, Trung Quốc , Ấn Độ, Bên cạnh đó là sự lên ngôi của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực, các diễn đàn liên chính phủ, các nhân

tố phi nhà nước, các Liên kết kinh tế quốc tế…đã và đang làm cho các động lực định hình thế giới như GDP toàn cầu, hoạt động thương mại, dịch vụ, các dòng đầu tư, trật tự kinh tế thế giới có nhiều diễn biến khó lường đòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải hết sức linh hoạt, nhạy bén khi tham gia vào nền kinh tế toàn cầu

1.2 Đối tượng và nội dung môn học kinh tế quốc tế

12.1 Một số khái niệm và tính tất yếu khách quan của việc hình thànhquan hệ kinh tế quốc tế:

- Quan hệ kinh tế đối ngoại là những mối quan hệ về kinh tế, thươngmại, khoa học và công nghệ, hợp tác về đầu tư, tín dụng… của một nền kinh tếhoặc một chủ thể kinh doanh quốc tế với bên ngoài (có quốc tịch khác)

- Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoạicủa các nền kinh tế xét trên phạm vi toàn thế giới Thực chất là quan hệ kinh tếhình thành giữa các chủ thể kinh tế quốc tế trong tiến trình di chuyển quốc tếcác yếu tố và các nguồn lực của quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất trênbình diện toàn cầu

Trang 12

* Tính chất của quan hệ kinh tế quốc tế:

- Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ thỏa thuận, tự nguyện giữacác quốc gia độc lập, các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân.Nó chỉ có thểphát triển trên cơ sở giữ vững chủ quyền, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, cùng

có lợi của các bên tham gia

- Quan hệ kinh tế quốc tế bị điều tiết bởi các quy luật kinh tế, đặc biệt làcác quy luật của kinh tế thị trường vì vậy một mặt, cần vận dụng và tôn trọngtính khách quan của các quy luật, mặt khác cũng cần sự tôn trọng và giúp đỡ lẫnnhau, cùng có lợi;

- Quan hệ kinh tế quốc tế chịu sự tác động của các hệ thống quản lý khácnhau, của các chính sách, luật pháp, thể chế của từng quốc gia cũng như điềuước quốc tế vì vậy cần có sự am hiểu tường tận luật pháp để có thể vận dụngphù hợp, từng bước nâng cao sự tương thích giữa luật pháp từng nước và thông

lệ quốc tế;

- Quan hệ kinh tế quốc tế được vận hành gắn liền với sự vận động của cácloại đồng tiền, sự vận động của quan hệ tiền tệ quốc tế vừa là một phương tiệnthúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế vừa chính là một bộ phận quan trọng củacác quan hệ kinh tế quốc tế;

- Các khoảng cách về không gian địa lý tác động trực tiếp đến quá trìnhhình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế vì nó liên quan đến thờigian, chi phí vận tải… Do đó cần chú ý đến vị trí địa lý khoảng cách khônggian khi thiết lập một bang giao kinh tế với đối tác bên ngoài

* Tính tất yếu khách quan của việc hình thành và phát triểquan hệ kinh tếquốc tế

- Do sự khác biệt về điều kiện tự nheein giữa các quốc gia như đất đai,khí hậu, khoáng sản… đưa đến tình trạng mỗi quốc gia có lợi thế riêng trongsản xuất một số loại sản phẩm nào đó và họ phải trao đổi với nhau nhằm cân

Trang 13

bằng giữa phần dư thừa về loại sản phẩm này với sự thiếu hụt về loại sản phẩmkhác;

- Do sự phát triển không đều về kinh tế, kỹ thuậtgiữa các quốc gia đưađến sự khác nhau về điều kiện tái sản xuất giữa họ (về vốn, về trình độ kỹ thuật,

bí quyết công nghệ, nguồn nhân lực, trình độ quản lý) à các quốc gia phải mởrộng phạm vi trao đổi quốc tế sang các nhân tố trên, đó chính là trao đổi quốc tế

về vốn; sức lao động; công nghệ …., đối tượng tham gia trao đổi ngày càngđược mở rộng hơn nhiều;

- Phân công lao động mở rộng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia khiếncho chuyên môn hóa sản xuất và hợp tác sản xuất, hợp tác kinh tế trở thành tấtyếu để tạo ra một sự phân công hợp tác tối ưu và quy mô tối ưu cho từng ngànhsản xuất (Ví dụ: Để sản xuất máy bay chở khách đòi hỏi chỉ có một số hãng đủđiều kiện mới sản xuất);

- Do sự gia tăng và đa dạng hóa trong nhu cầu tiêu dùng của mỗi quốcgia khiến cho trao đổi quốc tế trở nên cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của sảnxuất và đời sống;

1.2 2 Các hình thức quan hệ kinh tế quốc tế

* Thương mại quốc tế là một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế trong đódiễn ra sự trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệ giữa cácchủ thể của nền kinh tế thế giới Nó ra đời sớm nhất và giữ vai trò trung tâm củacác mối quan hệ kinh tế quốc tế Bao gồm các bộ phận: Thương mại quốc tế vềhàng hóa; về dịch vụ; Thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư; liên quanquyền sở hữu trí tuệ;

* Đầu tư quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đódiễn ra sự di chuyển các nguồn lực để đầu tư (vốn, nhân lực, công nghệ…)giữacác chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế để tiến hành kinh doanh và các hoạtđộng khác nhằm thu lợi nhuận và đạt những mục tiêu kinh tế - xã hội khác;

Trang 14

* Di chuyển quốc tế về hàng hóa sức lao động là 1 hình thứcquan hệ kinh

tế quốc tê trong đó diễn ra sự trao đổi mua bán giữa các chủ thể trong nền kinh

tế thế giới về một loại hàng hóa đặc biệt là hàng hóa sức lao động, có 2 hìnhthức chủ yếu là xuất khẩu lao động trực tiếp qua biên giới và xuất khẩu laođộng tại chỗ;

* Hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ là một hình thức quan hệ kinh

tế quốc tế trong đó diễn ra sự trao đổi giữa các chủ thể kinh tế của nền kinh tếthế giới những tiến bộ và thành tựu khoa học công nghệ;

* Quan hệ quốc tế về tiền tệ là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tếtrong đó diễn ra sự di chuyển tiền tệ và các chứng từ có giá giữa các chủ thể củanền kinh tế thế giới thường được thực hiện đi kèm cùng với quan hệ mua bántrao đổi trong thưng mại quốc tế, đầu tư quốc tế, quan hệ quốc tế về tài chính,tín dụng, vay vốn, viện trợ…

1.2.3 Đối tượng và nội dung nghiên cứu môn học kinh tế quốc tế.

* Kinh tế quốc tế (International Economics) là môn khoa học kinh tếnghiên cứu tính quy luật tác động qua lại lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các chủthể của nền kinh ntees thế giới; nghiên cứu sự vận động và phân phối lợi íchgiữa các chủ thể của nền kinh tế thế giới trong quá trình trao đổi hàng hóa, dịch

vụ và dịch chuyển các nguồn lực sản xuất cũng như tính quy luật và tác độngcủa các hoạt động kinh tế quốc tế giữa 1 quốc gia với phần còn lại của thế giới,

từ đó rút ra cơ sở cho việc định hướng chính sách kinh tế đối ngoại

* Nội dung nghiên cứu của môn học

- Lý thuyết về thương mại và các hoạt động thương mại quốc tế

- Nghiên cứu vềđầu tư quốc tế và sự di chuyển các nguồn lực của sảnxuất vật chất

- Nghiên cứu phân tích về tài chính quốc tế: phân tích thị trường tiền tệ

và cán cân thanh toán quốc tế, hệ thống tiền tệ quốc tế, tỷ giá hối đoái từ đó chỉ

Trang 15

ra vai trò tác động của nó với nền kinh tế thế giới và nền kinh tế các nước thànhviên;

- Nghiên cứu và làm rõ tính quy luật trong việc hình thành các liên kếtkinh tế quốc tê, cơ sở , khả năng, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của mỗiquốc gia trong bối cảnh hiện nay

1.3 Những vấn đề có tính chất toàn cầu và ảnh hưởng của nó đến quan hệ kinh tế quốc tế.

1.3.1 Khái niệm và nội dung cơ bản của những vấn đề có tính chất toàn cầu:

* Khái niệm: Vấn đề có tính chất toàn cầu là những vấn đề có liên quan

đến lợi ích, sự tồn vong và phát triển của cả nhân loại, của mọi quốc gia trên thếgiới

* Nội dung cơ bản của những vấn đề có tính chất toàn cầu:Ngày nay, tổng hợp các vấn đề có tính chất toàn cầu bao gồm 4 nhóm sau đây:

- Các vấn đề liên quan đến nguồn lực phát triển gồm: Dân số; lương

thực; an toàn vệ sinh thực phẩm; nguyên liệu; năng lượng, tài nguyên…

- Các vấn đề liên quan đến môi trường sinh thái như: vấn đề nước ngọt;

nước sạch; nước thải; cháy rừng; biến đổi khí hậu(ô nhiễm đất, nước, khôngkhí….)

- Các vấn đề liên quan đến tăng trưởng và phát triển kinh tế như các

vấn đề: nợ nước ngoài; thất nghiệp và lạm phát; chiến tranh thương mại; khủnghoảng tài chính- tiền tệ, suy thoái Kt…

- Các vấn đề liên quan đến khía cạnh xã hội: Phân hóa xã hội; các bệnh

dịch xã hội, xung đột tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc…nguy cơ chiến tranh hạtnhân

1.3.2 Tác động của những vấn đề toàn cầu đến sự phát triển kinh tế

xã hội

Trang 16

- Các vấn đề toàn cầu đang đe dọa sự phát triển bền vững đối với

mọi quốc gia và sự tồn vong của toàn thể nhân loại Ví dụ, bùng nổ dân số, mộtmặt đang tạo ra sức ep về các vấn đề như: Đảm bảo lương thực, nhà ở, việc làm,

y tế, văn hóa… Mặt khác, sự phân bố dân số và tốc độ tăng dân số không đềugiữa các quốc gia trên thế giới và các vùng trên trái đất, sự bùng nổ dân số cònkéo theo nhiều vấn đề có tính toàn cầu khác như vấn đề lương thực, năng lượng,môi trường, tài nguyên

- Các vấn đề toàn cầu thường tạo nên những đổ vỡ có tính dây chuyền, hệ thống mà tác hại của nó là rất lớn và hiệu ứng lây lan nhanh chóng.

Vấn đề nợ nước ngoài không chỉ là sự đe dọa với nước con nợ, tạo ra sự phụthuộc của quốc gia đó cả về kinh tế, chính trị, cả về ngoại giao mà còn lànguyên nhân đưa đến các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, từ đó đưa đến hệlụy cho cả nền kinh tế thế giới, tàn phá thành quả kinh tế- xã hội của cả nhânloại trong nhiều thập kỷ

- Những vấn đề toàn cầu đang gây ra những hậu quả nặng nề mà chi phí để khắc phục, tái tạo là rất lớn cả về mặt thời gian công sức và tiền của.

* Nhận xét và bài học rút ra từ việc nghiên cứu các vấn đề toàn cầu:

- Những vấn đề toàn cầu phản ánh mâu thuẫn của quá trình phát triển:

+ Sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế thế giới và các quan hệ

kinh tế quốc tế thì càng làm tăng sự liên kết, thống nhất trong nền kinh tế thế giới đồng thời cũng làm sự phụ thuộc giữa các chủ thể của nền kinh tê thế giới

Trang 17

- Cần nhận thức rõ tính cấp bách và sự cần thiết của việc giải quyết tác

động xấu từ các vấn đề có tính toàn cầu;

- Để giải quyết tác động xấu từ những vấn đề toàn cầu cần có sự phối hợp toàn diện, chặt chẽ của tất cả các quốc gia, các tổ chức, cá nhân trong các

chương trình phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới;

- Mỗi quốc gia cần có một chiến lược phát triển bền vững(về Kinh tế,

Xã hội, môi trường; )

+ Về Kinh tế: tăng trưởng kinh tế phải gắn với sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng tiến bộ, nhằm đạt được tăng trưởng cao và ổn định và vữngchắc Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào năng lực nội sinh và làm gia tăng nănglực nội sinh (nguồn nhân lực, công nghệ; mức tích lũy nội bộ của nền kinh tế,

cơ sở hạ tầng

+ Về xã hội: Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với đảm bảo công bằng vàtiến bộ xã hội- Tạo cơ hội bình đẳng về học tập, việc làm, giảm đói nghèo, nângcao dân trí, tăng sự đồng thuận và an sinh xã hội

+ Về môi trường: Gắn tăng trưởng kinh tế nhanh, ổn định với khai thác

sử dụng hợp lý,có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên không làm suy thoái, hủyhoại môi trương mà còn nuôi dưỡng, tái tạo, cải thiện chất lượng môi trường

Case study: - Một số vấn đề kinh tế và chính trị thế giới nổi bật đầu thế

kỷ 21

- Tương lai của các nền kinh tế thị trường mới nổi

- Môi trường an ninh và phát triển của Việt Nam đến năm 2020

(Tài liệu tham khảo cho case study: Lưu Ngọc Trịnh chủ biên (2008),

Kinh tế và Chính trị thế giới: Vấn đề và xu hướng tiến triển, Nxb Lao động)

Câu hỏi củng cố kiến thức

1 Làm rõ những xu hướng vận động chính của nền kinh tế thế giới hiệnnay và tác động của nó tới Việt Nam?

Trang 18

2 Bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới có nét gì nổi bật? Việt nam cầnlàm gì để nâng cao hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế?

3 Nội dung của những vấn đề toàn cầu hiện nay và tác động của nó đếnquan hệ kinh tế quốc tế? Ứng xử của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, của Việt Nam?

Trang 19

CHƯƠNG 2 THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (TMQT) VÀ CHÍNH SÁCH TMQT

Chương này trang bị cho người học những hiểu biết về các lý thuyết thương mại quốc tế ; nội dung, đặc điểm của thương mại quốc tế; nội dung các chính sách thương mại quốc tế và phân biệt rõ các công cụ của chính sách thương mại quốc tế trong tự do hóa thương mại và bảo hộ mậu dịch.

2.1 Khái niệm, nội dung và vai trò của thương mại quốc tế

2.1.1 Khái niệm, nội dung của thương mại quốc tế

* Khái niệm thương mại:

- Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trênthị trường, là các hoạt động kinh tế nhằm sinh lợi của các chủ thể kinh doanhtrên thị trường Theo Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại là hoạtđông nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa dịch vụ, đầu tư, xúctiến thương mại và mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.Theo WTO,thương mại gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trítuệ…

- Theo nghĩa hẹp, là quá trình mua bán hàng hóa trên thị trường; là lĩnhvực phân phối và lưu thông hàng hóa, nếu 1 bên trong quá trình mua bán đó làngười nước ngoài thì gọi đó là Thương mại quốc tế

*Khái niệm: Thương mại quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế

quốc tế, thể hiện ở các hoạt động trao đổi mua bán các hàng hóa hữu hình và vôhình giữa các nước lấy tiền tệ làm môi giới tuân theo nguyên tắc trao đổi nganggiá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia

* Nội dung của Thương mại quốc tế: dưới góc độ một nền kinh tế,

Thương mại quốc tế chính là hoạt động ngoại thương, gồm các hoạt động:

- Xuất, nhập khẩu hàng hóa hữu hình;

Trang 20

- Xuất, nhập khẩu hàng hóa vô hình (bí kíp kinh doanh; công nghệ; sángchế; bản vẽ, dịch vụ du lịch…)

- Gia công quốc tế là một hình thức cần thiết khi phân công lao độngquốc tế phát triển và tồn tại sự khác biệt giữa các quốc gia Thực tế, đây là mộtviệc làm liên quan nhiều đến sản xuất công nghiệp nhưng vì đầu ra, đầu vaò đềugắn với thị trường nước ngoài nên được coi là hoạt động ngoại thương

- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu

+ Tái xuất khẩu là: Nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào sau đótiến hành xuất khẩu sang nước thứ 3, hoạt động này đưa lại lợi nhuận lớnnhưng rủi ro rất cao vì nó gắn liền với các hoạt động mua và bán;

+ Chuyển khẩu, không có hành vi mua bán mà chỉ thực hiện các dịch vụnhư vận tải, quá cảnh, lưu kho, bảo quản, mặc dù rủi ro thấp nhưng lợi nhuậnkhông cao;

- Xuất khẩu tại chỗ: là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho các ngoại giaođoàn, khách du lịch quốc tế Hàng hóa, dịch vụ chưa ra khỏi biên giới quốc gianhưng ý nghĩa kinh tế lại tương đương như xuất khẩu và có nhiều thuận lợi, lợinhuận cao rủi ro thấp;

2.1.2 Vai trò của Thương mại quốc tế

* Thương mại quốc tế mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng của một nước vì khi chưa có trao đổi quốc tế, đường giới hạn khả năng sản xuất của một

nước cũng là đường giới hạn khả năng tiêu dùng; khi có ngoại thương trênnguyên tắc phát huy lợi thế so sánh thì sẽ tăng sản lượng của mỗi nước, ngườitiêu dùng được hưởng lợi Thương mại quốc tế tăng thêm cơ hội cho người tiêudùng , một mặt vì sự phong phú của các mặt hàng, mặt khác, vì sự cạnh tranhgiữa các nhà sản xuất sẽ dẫn đến hạ chi phí sản xuất làm cho giá cả hàng hóahạ;

* Thương mại quốc tế là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó :

Trang 21

- Đưa đến cơ hội sử dụng hết các nguồn lực trong nước , thúc đẩy phâncông lao động hợp lý hơn;

- Thương mại quốc tế tạo ra con đường du nhập công nghệ, phương phápquản lý kinh doanh là cơ sở của tăng trưởng kinh té;

- Thương mại quốc tê làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi nhấtcho mỗi quốc gia Do đòi hỏi của quan hệ kinh tế quốc tế và phân công laođộng mà khi gia nhập vào nền kinh tế toàn cầu thì nền kinh tế nào cũng phảithay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất, cơ cấu xuất nhập khẩu trên cơ sởnguồn lực và lợi thế của quốc gia mình

- Thơ]ng mại quốc tế là công cụ chống độc quyền, kích thích cạnh tranh,nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế;

-Thương mại quốc tế làm gia tăng phân công lao động quốc tế cả vềchiều rộng lẫn chiều sâu, giúp các nền kinh tế mở rộng quy mô sản xuất và tiêudùng, tăng sản lượng và thu nhập cho nền kinh tế;

* Thương mại quốc tế tạo đà cho hoạt động đầu tư quốc tế, đặc biệt là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vì trong nhiều trường hợp, để khai

thác thị trường nước ngoài có hiệu quả, các nhà kinh doanh sẽ đầu tư ra nướcngoài, mở rộng thị trường ở nước ngoài bằng việc chuyển nguyên vật liệu, sảnphẩm trung gian sang các cơ sở đầu tư của họ và không bị cản trở bởi các hàngrào mà nước nhận đầu tư dùng để bảo vệ nền sản xuất trong nước

* Tạo cơ hội để các nước nhỏ tham gia và đạt được lợi ích từ thương mại quốc tế.

+ Điều kiện để các nền kinh tế nhỏ tham gia vào thương mại quốc tế làchấp nhận giá quốc tế về hàng hóa xuất nhập khẩu Họ nên xuất khẩu khi cungmặt hàng nào đó > cầu, có lợi thế so sánh về nguồn tài nguyên hoặc lao động,

và nhập khẩu mạt hàng có cung < cầu, kỹ thuật sản xuất trong nước kém.Thường thường giá mặt hàng nhập khẩu (giá quốc tế) < giá trong nước vì điều

Trang 22

kiện sản xuất ở nước nhỏ kém hơn điều kiện trung bình Hậu quả là người tiêudùng thay đổi thói quen; lượng hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu thay đổi màkhông làm giá cả hàng hóa trong nước thay đổi.

+ Đối với các nước đang phát triển, việc nhập khẩu hàng hóa hiện đại,công nghệ cao từ các nước tiên tiến hơn không những chỉ thỏa mãn nhu cầu tiêudùng mà còn kích thích sản xuất trong nước, thay đổi cơ cấu tiêu dùngà thayđổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất thay thế nhập khẩu, dầndần đi đến việc sản xuất để hướng về xuất khẩu;

2.1.3 Đặc điểm của thương mại quốc tế

* Hoạt động Thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới cả ởnước nhập khẩu, cả nước xuất khẩu, thị trường khu vực, toàn cầu;

* Các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, mục đích chính của các chủthể tham gia Thương mại quốc tế là lợi nhuận, ngoài ra có thể có những mụcđích khác;

* Phương tiện thanh toán trong Thương mại quốc tế là đồng tiền có khảnăng chuyển đổi;

* Điều chỉnh Thương mại quốc tế là luật pháp quốc tế, luật pháp của cácnước tham gia, quy ước khu vực, quốc tế, quy định của các tổ chức, Liên kếtkinhy tế quốc tế, các điều ước quốc tế

* Đặc điểm của của Thương mại quốc tế hiện nay:

- Có quy mô & tốc độ tăng trưởng nhanh Ước tính, từ 1950s lại đây,Thương mại quốc tế đã tăng gấp 20 lần, trong khi tổng sản lượng kinh tế toàncầu chỉ tăng 6,5 lần Sự vận động của Thương mại quốc tế thường gắn với biếnđộng của kinh tế toàn cầu

Nguyên nhân của mức gia tăng mạnh mẽ của Thương mại quốc tế là

do phân công lao động ngày càng sâu, chuyên môn hóa sản xuất ở mức cao, sảnxuất luôn vượt quá mức nhu cầu nội địa và việc dỡ bỏ dần và ngày càng mạnh

Trang 23

những rào cản thương mại đã làm cho xu hướng tự do hóa thương mại trở nêntất yếu à thúc đẩy tăng trưởng Thương mại quốc tế.

nhanh, gấp đôi so với thương mại hàng hóa, với tốc độ tăng trưởng trung bìnhhàng năm khoảng 15% và chiếm 20% giá trị Thương mại quốc tế Nguyên nhân

là do xu hướng chuyển dịch từ kinh tế sản xuất vật chất sang kinh tế tri thức,nhu cầu dịch vụ cho sản xuất và đời sống ngày càng tăng

thế chính nhưng bên cạnh đó, bảo hộ thươg mại vẫn tồn tại dưới các hình thứctinh vi hơn

trong thương mại quốc tế Hiện nay khối lượng thương mại của TNCs chiếm tớixấp xỉ 80% thương mại toàn cầu Thương mại nội bộ TNCs cũng gia tăngmạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch thương mại của nhiều quốc gia

trung ở các nước phát triển nhưng gần đây vai trò của các nền kinh tế đang pháttriển đã ngày một gia tăng

học- Công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu, cách thức hoạt động, dung lượng hànghóa của Thương mại quốc tế Ví dụ, tỷ trọng hàng hóa thô giảm , tỷ trọng nhómnhiên liệu tăng nhanh do nhu cầu cho sản xuất và đời sống gia tăng quá lớntrong khi trữ lượng có hạn

giao dịch, xuất hiện thương mại điện tử

tế ngày càng gay gắt, các chủ thể tham gia đông đảo hơn, hình thức và nội dungcạnh tranh rộng và phong phú hơn

Trang 24

2.2 Một số lý thuyết vềthơ]ng mại quốc tế.

2.2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương

* Hoàn cảnh ra đời: Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào thời kỳ hình

thành Chủ nghĩa tư bản, khi các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa đangthực hiện quá trình tích lũy vốn ban đầu cho quá trình chuyển từ sản xuất nhỏlên sản xuất lớn, về thực chất là quá trình tích lũy vốn ban đầu cho nền sảnxuấttư bản chủ nghĩa

* Nội dung chính của chủ nghĩa trọng thương:

- Coi việc có nhiều tiền, vàng, bạc là biểu hiện sự giàu có của một quốcgia vì vậy vấn đề quan trọng nhất của nền kinh tế là việc làm thế nào có nhiềutiền, vàng, bạc

- Khuyến khích sản xuất để xuất khẩu, nhưng cấm xuất khẩu vàng (kimloại quý); khuyến khích trao đổi không ngang giá trong ngoại thương

- Sử dụng quyền lực của Nhà nước để can thiệp vào kinh tế;

* Ưu điểm, nhược điểm của chủ nghĩa trọng thương:

- Đánh giá được vai trò củathương mại quốc tế

- Cổ vũ cho sự can thiệp sâu của chính phủ vào hoạt động kinh tế;

- Hạn chế lớn nhất: thương mại quốc tế chỉ có lợi cho 1 phía, làm lu mờnguyên tắc tối thượng của thương mại (là nguyên tắc ngang giá)èlà trò chơi cótổng số lợi ích gia tăng bằng không

2.2.2 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith

* Điểm xuất phát của sự phân tích về Lợi thế tuyệt đối

* Mô hình phân tích là 2 nền kinh tế, sản xuất 2 măt hàng x và y, dựa

trên nguồn lực duy nhất là lao động

Trang 25

è Nước A có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất mặt hàng thép (y),còn nước B có lợi thế trong việc sản xuất ra mặt hàng gạo (x) à Chuyên mônhóa sản xuất và trao đổi quốc tế sẽ có lợi cho từg nước và cả thế giới

Gạo

Thép

è Lợi ích của từng nước và sản lượng của thế giới đều tăng

* Nội dung lý thuyết:

- Khi một nước có thế sản xuất một loại hàng hóa với chi phí lao động íthơn, có hiệu quả hơn so với một quốc gia khác thì tức là có lợi thế tuyệt đốitrong việc sản xuất hàng hóa đó

- Khi có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất một hàng hóa nào thì cácnước nên tập trung vào sản xuất nó và thực hiện trao đổi hàng hóa với nướckhác Khi đó, sản lượng của từng nước cũng như của cả thế giới đều tăng

*Ưu điểm, hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối

- Khắc phục được những hạn chế của lý thuyết trọng thương, lý thuyết lợithế tuyệt đối đã đi đúng hướng khi vạch ra cơ sở khoa học để tạo ra giá trị là sảnxuất chứ không phải là lưu thông

- Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối, thương mại có lợi cho cả 2 quốc gia,điều này đúng với thực tế hơn so với lý thuyết trọng thương

- Lần đầu tiên đề cập đến chuyên môn hóa và chỉ ra được lợi ích của nó;

- Giải thích được một phần thương mại hiện tại như thương mại giữa cácnước phát triển đối với các nước đang phát triển

- Hạn chế là nó chỉ căn cứ vào yếu tố lao động để giải thích lợi thế của

Trang 26

(và bất lợi về sản xuất 1loại hàng hóa khác) Lý thuyết này sẽ không giải thíchđược sự cần thiết của thương mại quốc tế trong trường hợp một nước có lợi thếtuyệt đối (hoặc bất lợi tuyệt đối) trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng Chorằng lao động là yếu tố duy nhất để tạo ra giá trị , lao động là đồng nhất, được

sử dụng với tỷ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hóa Điều này là khôngđúng với thực tế

2.2.3 Lý thuyết về lợi thế so sánh của D Ricardo

* Điểm xuất phát trong phân tích của Ricardo là việc có thể có quốc gia

có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng và có quốc gia bất lợitrong việc sản xuất tất cả các mặt hàng Vậy có thể xảy ra trao đổi quốc tế vàđem lại lợi ích cho các bên tham gia hay không?

* Mô hình mà Ricardo đưa ra vẫn là là 2 nền kinh tế, sản xuất 2 măt hàng

x và y, dựa trên nguồn lực duy nhất là lao động Ví dụ, khi chưa có chuyên mônhóa và trao đổi quốc tế, Mỹ là nước bất lợi tuyêt đối trong việc sản xuất cả 2mặt hàng, Anh là nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả 2 mặt hàng

* Tỷ lệ trao đổi nội địa (giá tương đối) và lợi thế so sánh: Khi không tính

đến việc trao đổi quốc tế thì trao đổi trong nước sẽ phản ánh ở tỷ lệ trao đổi nộiđịa và giá tương đối của các mặt hàng Tỷ lệ trao đổi nội địa sẽ phản ánh giátương đối của một mặt hàng, đó là giá của mặt hàng tính bằng số lượng của mặthàng kia tại nước đó Trường hợp cụ thể, tại nước Anh và Mỹ, giá tương đốicủa 2 mặt hàng lúa mý và vải như sau:

+ Nước Anh: 1m vải = 2 giạ lúa mỳ và 1 giạ lúa mỳ = ½ m vải

+ Nước Mỹ: 1m vải = 2/3 giạ lúa mỳ và 1 giạ lúa mỳ = 1,5 m vải

Trang 27

èNhận xét: (1)Giá tương đối của vải tại Mỹ thấp hấp hơn tại nước Anh

- Theo Ricacdor, 2 nước nên chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi theo

tỷ lệ trao đổi hợp lý (tỷ lệ trao đổi quốc tế) là tỷ lệ sẽ có thể mang lại lợi íchcho cả 2 bên Khi đó cả 2 nước đều có lợi và sản lượng thế giới cũng tăng lên.Thực tế, cả 2 nước đều có lợi ích chính là điều kiện thương mại trong đó yêucầu xác định tỷ lệ trao đổi quốc tế là tỷ lệ trao đổi nằm trong giới hạn 2 tỷ lệtrao đổi nội địa, vì chỉ có như thế mới có thể đảm bảo ích lợi của các bên Nếu

tỷ lệ nằm ngoài giới hạn đó thì một trong hai nước sẽ từ chối tham gia trao đổi

do họ không có lợi ích, thậm chí có thể bị thiệt hại

Giả sử nguồn lực (Lao động) của 2 nước là như nhau, tương đương với30h, trong đó sử dụng 12h để sản xuất lúa và 18h để sản xuất vải Trước và sauchuyên môn hóa sản xuất sẽ có quy mô sản lượng từng nước như sau:

Trang 28

1m vải = 1 giạ lúa Lợi 4h LĐ Lợi 9h LĐ Có TM

1 m vải = 4 giạ lúa Lợi 10h LĐ Thiệt 18h LĐ Không có TM

- Trong ví dụ, nếu tỷ lệ là 1m vải = 1 giạ lúa là tỷ lệ chấp nhận vì nước

Mỹ sau khi trao đổi sẽ có được: 1 tấn gạo, 2,5 tấn thép, như vậy so với khi chưachuyên môn hóa sản xuất và trao đổi thì dư ra 1,5 tấn thep tương đương với30h lao động Tương tự, nước B sẽ có được: 2 tấn gạo, 1 tấn thép, tức là dư ra

1 tấn gạo tương đương với 60h lao động

* Nội dung lý thuyết:

- Một quốc gia có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một mặt hàng x làmặt hàng có giá tương đối thấp hơn tại quốc gia khác Nghĩa là để sản xuấtthêm 1 đơn vị của mặt hàng x đó thì người ta phải cắt giảm thời gian để sảnxuất ra một đơn vị mặt hàng y ít hơn so với các quốc gia khác;

- Các nước đều có lợi khi chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng có lợi thế

so sánh và tham gia Thương amij quốc tế(win – win game)

* Lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối:

+ Lợi thế tuyệt đối là lợi thế thể hiện trong sự so sánh giữa 2 quốc giacùng Sản xuất 1 mặt hàng, nước nào rẻ hơn là có lợi thế tuyệt đối

+ Lợi thế so sánh là lợi thế thể hiện sự so sánh giá tương đối – thể hiện

ở tỷ lệ trao đổi nội địa giữa các mặt hàng cùng được sản xuất ra tại 1 nước)

* Ưu điểm của Lý thuyết của Ricacdor:

So với Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của A.Smith: Lý thuyết lợi thế sosánh được coi là lý thuyết cơ bản, đặt cơ sở nền tảng cho thương mại quốc tế vàđược coi là lý thuyết quan trọng nhất trong quan hệ kinh tế quốc tế Lý thuyếtnày đã vạch ra cơ sở của thương mại quốc tế là sự khác biệt về lợi thế tương đối(Lợi thế so sánh) trong sản xuất một loại hàng hóa nào đó Chỉ ra được lợi íchcủa quá trình phân công lao động quốc tế Nó cũng đã khắc phục được nhữnghạn chế mà A.Smith vấp phải Đó là chỉ ra ích lợi của thương mại quốc tế trong

Trang 29

bất cứ trường hợp nào, kể cả khi một nước nào đó bất lợi (không có lợi thế tuyệtđối) trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng

2.2.4 Lý thuyết về chi phí so sánh của Haberler

* Điểm xuất phát của lý thuyết này là lợi thế so sánh được giải thích dựa

trên lý thuyết chi phí cơ hội

* Mô hình phân tích được sử dụng vẫn là mô hình dựa trên lợi thế so sánh

của Ricacdor Tuy nhiên lợi thế so sánh được Haberler giải thích dựa trên lýthuyết về chi phí cơ hội

Ví dụ: Mỹ và Anh cùng sản xuất 2 mặt hàng là lúa mỳ (W) và vải (C).Trong cùng 1h lao động, Mỹ sản xuất được 6kg lúa mỳ còn Anh sản xuất được

ít hơn và là 1kg lúa mỳ Đối với vải, Mỹ cũng sản xuất được nhiều hơn và đạtsản lượng 4 m/h còn Anh chỉ đạt 2m/h

Mỹ sẽ phải từ bỏ 2/3 đơn vị vải để có đủ nguồn lực để sản xuất thêm 1 đơn vịlúa mỳ Nói cách khác, chi phí cơ hội của lúa mỳ là tại Mỹ là 2/3 đơn vị vải

Trang 30

(1w =2/3c) Còn tại nước Anh, 1w = 2c Tương tự như thế ta có chi phí cơ hội

để sản xuất thêm 1 đơn vị vải tại Mỹ sẽ là 1c = 1,5w, tại Anh sẽ là 1 c = 0,5 w.Như vậy, Mỹ là nước có lợi thế so sánh về lúa mỳ còn Anh là nước có lợi thế sosánh về vải

à Chi phí so sánh chính là chi phí cơ hội được dùng để đo lường lợi thế

so sánh trong một nền kinh tế Trong ví dụ trên, nước Mỹ có chi phí so sánh đểsản xuất ra mặt hàng lúa mỳ, nước Anh có chi phí so sánh để sản xuất ra mặthàng vải thấp hơn Theo đó nước Mỹ nên chuyên môn hóa sản xuất lúa mỳ vàxuất khẩu 1 phần để đổi lấy vải của nước Anh, còn nước Anh nên tập trungnguồn lực để sản xuất vải và xuất khẩu 1 phần để đổi lấy lúa mỳ của Mỹ

* Kết luận: - Chi phí so sánh là chính là chi phí cơ hội trong trường hợp

nó được dùng để giải thích về lợi thế so sánh của 1 quốc gia, theo đó quốc gianào có chi phí cơ hội để sản xuất ra 1 mặt hàng thấp hơn chi phí cơ hội cũng đểsản xuất ra mặt hàng đó tại quốc gia kia thì có nghĩa là họ có lợi thế so sánh

- Các quốc gia nên tập trung nguồn lực để chuyên môn hóa sảnxuất ra mặt hàng mà có chi phí so sánh thấp hơn và thực hiện trao đổi quốc tế

để tăng thêm lợi ích

2.2.5 Lý thuyết của Hecksher – Ohlin (H- O)

* Sự ra đời và phát triển của lý thuyết H- O: Đây cũng là lý thuyết về lợi

thế so sánh, do nhà kinh tế học Thụy Điển Hecksher xây dựng vào đầu thế kỷ

XX và được người đồng hương Ohlin tiếp tục bổ sung vào những năm 1920s vàsau đó Paul Samuelson phát triển

- Cơ sơ của lý thuyết H- O là chỉ ra nguồn gốc của lợi thế so sánh giữa

các quốc gia là do sự khác nhau về nguồn lực sản xuất bao gồm nhiều yếu tốchứ không chỉ là yếu tố duy nhất là lao động như trong lý thuyết của Ricardo.Hơn nữa, tỷ lệ giữa các yếu tố sản xuấtgiữa các ngành khác nhau là không

Trang 31

giống nhau Trường hợp giả định nền kinh tế sử dụng 2 yếu tố nguồn lực là laođộng (L) và vốn (K) để sản xuất 2 mặt hàng là thép và gạo.

* Mô hình phân tích- Mô hình tỷ lệ yếu tố sản xuất:

- Hai nước a và b sản xuất 2 mặt hàng thép và gạo, La và Lb là lao động

ở 2 nước, Ka và Kb là lượng vốn của 2 nước Nếu Ka/La (ở nước a) > Kb/Lb (ởnước b) thì nước a được coi là có nhiều vốn tương đối so với nước b Nếu Lb/

Kb > La/K a thì nước b được coi là coi là có nhiều lao động tương đối so vớinước a

- Gọi Lt là chi phí Lao động để sản xuất 1 đơn vị thép, Lg là chi phí Laođộng để sản xuất một đơn vị gạo; Kt là chi phí vốn để sản xuất 1 đơn vị thép,

Kg là chi phí vốn để sản xuất 1 đơn vị gạo Nếu Kt/ Lt > Kg/ Lg thì thép làmặt hàng có lượng vốn cao (có lợi thế tương đối); Lg/ Kg > Lt/ Kt thì gạo làmặt hàng có hàm lượng Lao động cao (có lợi thế tương đối)

è Nước A sẽ chuyên môn hóa sản xuất thép, nước b sẽ chuyên môn hóasản xuất gạo và trao đổi với nhau sẽ mang lại thu nhập cao hơn cho tất cả

* Nội dung cơ bản của lý thuyết H-O:

- Các nước khác nhau thì có khối lượng các yếu tố sản xuất khác nhau(do tự nhiên hoặc do tích lũy) và tỷ lệ sử dụng các yếu tố sản xuất giữa cácngành sản xuất khác nhau trong một nước cũng khác nhau

- Sự khác nhau này tất yếu dẫn đến sự trao đổi quốc tế giữa các nước trênthế giới trên cơ sở lợi thế tương đối về yếu tố sản xuất và chuyên môn hóa sảnxuất Theo đó, mỗi quốc gia nên xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiềutương đối yếu tố sản xuất dối dào tương đối và nhập khẩu những mặt hàng sửdụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất khan hiếm tương đối của họ

* Sự phát triển của lý thuyết H- O của Paul Samuelsonà định lý H- O –S:

Trang 32

Samuelson lập luận rằng, khi có thương mại quốc tế, 1 quốc gia sẽchuyên môn hóa sản xuất mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố dư thừa tương đối,chẳng hạn là Lao động) do đó cầu tương đối về Lao Động tăng làm cho tiềnlương tăng trong khi đó cầu tương đối về vốn sẽ giảm làm cho lãi suất giảm.Ngược lại, quốc gia có vốn tương đối dồi dào sẽ chuyên môn hóa sản xuất mặthàng sử dụng vốn nhiều tương đối thì cầu tương đối về vốn sẽ tăng và lãi suất

sẽ tăng, cầu tương đối về Lao Động giảm và tiền lương giảmà Thơ]ng mạiquốc tế đã làm giảm bớt sự cách biệt về tiền lương và lãi suất giữa các quốc gia.Nói khái quát, Thương mại quốc tế sẽ dẫn đến sự cân bằng tương đối và tuyệtđối trong lợi suất của các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia

* Ưu điểm của lý thuyết H- O là đã giải thích triệt để nguồn gốc phát sinhcủa lợi thế so sánh Đó là do sự khác nhau do sự dồi dào tương đối về các yếu

tố sản xuất và mức độ sử dụng chúng tại mỗi quốc gia Đồng thời, lý thuyết nàycũng cho thấy được những nhân tố ảnh hưởng đến giá cả sản xuất và cung cấpnền tảng lý luận cho quá trình xác điịnh giá cả sản phẩm

Về mặt thực tế, lý thuyết H- O là một cơ sở để các quốc gia có địnhhướng trong chính sách xuất nhập khẩu sản phẩm, đồng thời tham khảo xemxét mức tiền lương và lãi suất vay vốn của các nước để có chính sách phù hợp

* Hạn chế của mô hình H – O và nghịch lý Leonteif

Tinh thần của mô hình H- O là các quốc gia nên xuất khẩu sảnphẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó thừa tương đối và nhập khẩu sản phẩmthâm dụng yếu tố mà quốc gia đó khan hiếm tương đối Nhưng thực tế khôngphải lúc nào cũng như vậy (Điều này sau đó được Leonteif- một nhà kinh tế họcngười Mỹ được giải Nobel kinh tế năm 1973 kiểm chứng) Ngoài ra, H- O cũng

đã không đề cập đến sự khác biệt về chất lượng Lao Động giữa các quốc gia;công nghệ sản xuất cũng không giống nhau và một số các cản trở thương mại

Trang 33

như chi phí vận chuyển; thuế quan, hạn ngạch … mà các quốc gia gặp phảicũng không đồng nhấtà Lý thuyết H- O đúng nhưng chưa thật triệt để.

Leontief sử dụng các dữ liệu trong bảng so sánh đầu ra – đầu vào của nền kinh

tế Mỹ để tính toán số lượng L và K của 1 nhóm hàng hóa xuất khẩu và nhómhàng hóa thay thế nhập khẩu trong năm 1947

Nước Mỹ khi đó là nước dư thừa vốn nhiều nhất thế giới, nếu theo H- Othì Mỹ phải xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều tương đối K và nhập khẩu hànghóa sử dụng nhiều tương đối L Thế nhưng theo dữ liệu đã phân tích về 2 nhómhàng hóa nêu trên, Leontieif đã chỉ ra rằng hàng hóa thay thế nhập khẩucủa Mỹchứa đựng nhiều K (ít L) hơn so với hàng hóa nhập khẩu thực sự và lạisử dụng

ít K (nhiều L) hơn so với hàn hóa xuất khẩu Cụ thể:hàng hóa thay thế nhậpkhẩu của Mỹ chứa đựng nhiều vốn hơn hàng hóa xuất khẩu là 30% Nghĩa là

Mỹ đã xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều tương đối L và nhập khẩu hàng hóa sửdụng nhiều tương đối K

2.2.6 Một số lý thuyết mới về thương mại quốc tế

Các lý thuyết mới về thương mại quốc tế có thể phân làm 4 nhómchính: Lý thuyết gắn với kinh tế quy mô, lý thuyết liên quan đến công nghệ, lýthuyết liên quan đến cầu và lý thuyết lợi thế cạnh tranh

2.2.6.1 Lý thuyết về thương mại dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô

Trong một số ngành kinh tế, khi quy mô của nó ngày càng tăng thìsản xuất sẽ ngày càng hiệu quả Ví dụ, để sản xuất sản phẩm A, cần phải dùng

15 giờ lao động, nếu tăng quy mô lên 30 giờ (gấp đôi) thì sẽ sản xuất được 25sản phẩm (hơn gấp đôi) Một cách nhìn khác: khối lượng lao động trung bình sửdụng để sản xuất 1 sản phẩm sẽ giảm xuống khi tăng quy mô sản xuất

Giả sử nền kinh tế thế giới có 2 quốc gia Mỹ và Nhật cùng sử dụng15h lao động (ở mỗi nước) để sản xuất ra sản phẩm A Nếu như việc sản xuất

Trang 34

sản phẩm A chỉ do một trong hai nước đó đảm nhiệm với nguồn lực như cũ là30h lao động thì sẽ khiến số sản phẩm A được sản xuất ra tăng thêm được 5 sảnphẩm, chi phí để sản xuất mỗi sản phẩm giảm Bảng số liệu sau sẽ minh họacho lợi thế kinh tế nhờ quy mô:

21,51,331,251,2

Trường hợp này trở thành cơ sở sinh ra thương mại quốc tế vì cácquốc gia sẽ chuyên môn hóa sản xuất để có được lợi thế nhờ quy mô, sau đó sẽtrao đổi với nhau với một mức giá quốc tế không thay đổi so với mức giá tươngđối Việc chuyên môn hóa được thực hiện, hướng chuyên môn hóa có thể rấtlinh hoạt

Có hai loại lợi thế kinh tế nhờ quy mô, đó là lợi thế kinh tế nhờ quy

mô bên ngoài và lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên trong

Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài làm cho chi phí trên mỗi đơn

vị sản phẩm phụ thuộc vào độ lớn của ngành và lợi thế kinh tế nhờ quy mô bêntrong làm cho chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm phụ thuộc vào độ lớn của công

ty Trên thực tế thì thương mại dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên trongphổ biến hơn vì dễ xác định hơn và thể hiện ở chi phí biên cho mỗi đơn vị sảnphẩm sẽ giảm nếu sản lượng tăng, điều đó làm cho chi phí trung bình giảmxuống

Trang 35

AC = C/X = F/X + (Trong đó, AC là chi phí trung bình; C làtổng chi phí; X là số lượng sản phẩm; F là chi phí cố định (không phụ thuuojcvào khối lượng sản phẩm); c là chi phí biên cho mỗi đơn vị sản phẩm).

Thương mại dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô có thể diễn ra trongphạm vi một ngành (thương mại nội bộ), vốn đóng vai trò quan trọng trongquan hệ Thươmg mại quốc tế hiện nay bởi vì nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trongThương mại quốc tế Điều này có thể giúp một nước cùng một lúc vừa giảm bớtgánh nặng cung ứng quá nhiều mặt hàng mà có thể là Sản xuất kém hiệu quảhơn, đồng thời có thể đa dạng hóa cơ cấu tiêu dùng nội địa, người tiêu dùng cónhiều sự lựa chọn hơn Sự trao đổi quốc tế trong trường hợp này có thể lấp đầycác phân khúc thị trường Ví dụ, Nhật Bản có thể vừa nhập khẩu và xuất khẩu

ô tô vào Mỹ và ngược lại vì việc sản xuất và tiêu thụ ô tô ở 2 quốc gia nàynhằm vào tính dị biệt của các dòng khác nhau trong cùng loại sản phẩm ô tô

2.2.6.2 Lý thuyết về thương mại liên quan đến công nghệ và vòng đời sản phẩm

Lý thuyết về khoảng cách công nghệ được Posner đưa ra vào năm

1961 Theo đó, sự thay đổi liên tục của công nghệ sẽ tạo ra dòng chảy thươngmại từ các nước đón đầu công nghệ sang một nước thứ 2 khi nhu cầu ở nướcnày xuất hiện Lý thuyết này giải thích cho 2 dạng thương mại Một là, thươngmại giữa 2 quốc gia có tiềm lực công nghệ ngang nhau nhưng lại đón đầu ởnhững lĩnh vực công nghệ khác biệt do đó thương mại như một cuộc chơi có đi

có lại giữa các vị trí khác nhau trên cùng mặt trận.; Hai là, thương mại là dòngchảy từ một nước tiên tiến sang nước kém hơn, khi đó nước tiên tiến là người

đã sử dụng giá trị đón đầu công nghệ sau đó thương mại hóa được cả công nghệ

và sản phẩm ứng dụng công nghệ đó

Lý thuyết vòng đời quốc tế của sản phẩm sản phẩm chính là sự phát triển của lý thuyết trên Theo đó cho chu kì sống của các sản phẩm bao

Trang 36

gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chínmuồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.

Akamatsu Kaname (1962) và Raymond Vernon (1966) cho rằng sảnphẩm ban đầu được phát minh, sản xuất ở nước đầu tư, có công nghệ vượt trội,(sản phẩm mới), sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nướcnhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng,nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu nàybằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài (giai đoạn sản phẩmchín muồi) Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trongnước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa).Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành hoạt độngFDI và thương mại quốc tế

Lý thuyết này thực ra không còn giải thích được thương mại quốc tếtrong điều kiện vòng đời sản phẩm đang có xu hướng ngắn lại Một là, do sựthay đổi nhanh chóng của công nghệ mà các công ty lại trở thành người tự làmlạc hậu sản phẩm của chính mình do đó buộc họ phải đưa sản phẩm của mìnhtới nhiều thị trường khác nhau để có thể nhanh chóng thu hồi chi phí bù đắp cho

sự sáng tạo, đường đi của sản phẩm sẽ không còn như lý thuyết chu kỳ sảnphẩm đã chỉ ra Hai là, hiện nay quá trình sáng tạo không chỉ còn là công việcthuộc về duy nhất các nước phát triển Mạng sản xuất toàn cầu đang cho phépcác xí nghiệp nhỏ cùng tham gia vào phát triển sản phẩm và công nghệ mới, do

đó họ có thể tham gia vào tiêu thụ quốc tế

2.2.6.3 Lý thuyết về thương mại liên quan đến cầu

Đây là lý thuyết giải thích về xu hướng thương mại xuất phát từ sựkhác biệt về cầu giữa các quốc gia Sự đa dạng của nhu cầu đặt ra cho sản xuátmột nhiệm vụ là phải dị biệt hóa sản phẩm Sự dị biệt này có thể do tỷ lệ sửdụng các yếu tố sản xuất dùng để chế tạo ra chúng khác nhau, vì thế mỗi quốc

Trang 37

gia sẽ sản xuất dạng nào phù hợp với mức độ sẵn có về yếu tố sản xuất củaquốc gia đó (theo lý thuyết H - O) Cũng có thể sự phân hóa sản phẩm là do bởilợi thế nhờ quy mô, để từ đó khẳng định rằng cách thức tốt nhất để cung cấp cácsản phẩm dị biệt là chuyên môn hóa sản xuất dựa trên lựa chọn lợi thế nhờ quy

mô và sau đó tiến hành trao đổi Phương thức này giống với những gì xảy ratrong trường hợp thương mại nội ngành dựa trên cạnh tranh độc quyền

Cũng có một ý kiến khác về Thương mại quốc tế liên quan đến cầu.Năm 1961, một nhà kinh tế học Thụy điển là Linder đã đưa ra giả thiết cho rằngyếu tố quan trọng dẫn đến thương mại quốc tế nội ngành là sự tương đồng về sởthích và mức thu nhập của các quốc gia Lúc đầu các nhà sản xuất tại một quốcgia sẽ sản xuất với lợi thế nội hóa để đáp ứng nhu cầu và sở thích trong nước.Nhưng sau đó sẽ xuất hiện nhu cầu về sản phẩm đó từ thị trường bên ngoài (lànhững thị trường có mức thu nhập và sở thích tương đồng) do vậy sản phẩm sẽđược xuất khẩu Tính tương đồng càng cao thì mức mở rộng thị trường cànglớn

2.2.6.4 Lý thuyết về thương mại liên quan đến lợi thế cạnh tranh quốc gia:

Trong khung phân tích năng lực cạnh tranh mà giáo sư Michael EPorter đã phát triển trong vòng 2 thập kỷ qua thì yếu tố trung tâm cốt lõi của nó

là năng suất lao động, và năng suất là động lực cốt lõi dẫn dắt sự thịnh vượng.Năng suất được thể hiện thông qua các kết quả kinh tế mà quốc gia đạt đượctrong môi trường cạnh tranh Ông đưa ra một mô hình môi trường kinh doanhrất điển hình được gọi là Mô hình Kim cương, bao gồm 4 nhóm yếu tố chính,

đó là: các yếu tố đầu vào của sản xuất; bối cảnh cho chiến lược cạnh tranh; cácyếu tố điều kiện cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan

Trang 38

Hình 2.1.Mô hình kim cương của giáo sư Michael E Porter

Các yếu tố đầu vào của sản xuất bao gồm: lao động; vốn; cơ sở hạ

tầng; công nghệ Để có được năng lực cạnh tranh, thì các yếu tố đầu vào phải cóchất lượng cao, trong đó yếu tố chất lượng lao động là yếu tố có tiềm năng lâudài, vô hạn; Công nghệ là yếu tố trực tiếp tác động mạnh đến năng lực cạnhtranh của ngành, sản phẩm cũng như nền kinh tế

Yếu tố chiến lược của doanh nghiệp được mô tả cuối cùng ở khả

năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh trên cả địa bàntrong nước và quốc tế Muốn có khả năng như vậy, doanh nghiệp phải có chiếnlược, cơ cấu phù hợp với các định chế quốc tế và trong nước đã có quy phạmphù hợp với định chế này Tính cạnh tranh cao của ngành và doanh nghiệp biểuhiện trên các khía cạnh: Chiếm thị phần quan trọng trên phạm vi quốc tế; trình

độ công nghệ cao; nắm giữ giai đoạn có giá trị gia tăng cao hơn và có vị trí thenchốt trong chuỗi các giai đoạn tạo ra giá trị sản phẩm

Trang 39

Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan tác động lớn đến

năng lực cạnh tranh của một ngành chủ lực trong nền kinh tế thông qua việccung cấp linh kiện, bộ phận, bán thành phẩm, dịch vụ hỗ trợ Sự phát triển củacác ngành công nghiệp dịch vụ và hỗ trợ là một yếu tố tạo sức hút dòng FDI, vàqua đó tham gia vào chuỗi giá trị, nhận ảnh hưởng lan truyền công nghệ, thúcđẩy hình thành cụm công nghiệp

Các điều kiện về cầu tác động đến năng lựccạnh tranh như đòn bẩy

và gây áp lực Ví dụ, nếu như một ngành phải cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu ởtrong nước, thì có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế cao hơn Hoặcnếu quy mô thị trường trong nước lớn – cầu lớn, khách hàng đòi hỏi chất lượngcao, cạnh tranh trong ngành gay gắt hơn sẽ buộc doanh nghiệp phải khôngngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh và chất lượng sản phẩm, do đó nâng caođược năng lực cạnh tranh

Thông thường, có các giai đoạn sau trong quá trình nâng canănglực cạnh tranh:

Giai đoạn 1: Giai đoạn phát triển dựa vào các yếu tố của sản xuất

mà trong đó giá nhân công rẻ và các nguồn lực được khai thác tối đa Lúc nàycác công ty tham gia cạnh tranh quốc tế chỉ có thể giành thắng lợi nhờ giá rẻ.Mức độ công nghệ của các ngành thấp, hoặc là công nghệ giá rẻ, được nhậpkhẩu từ nước ngoài Các ngành và doanh nghiệp trong nước ít thiết lập đượcquan hệ với khách hàng nước ngoài, mà phần lớn do công ty nước ngoài thiếtlập

Giai đoạn 2 là giai đoạn phát triển dựa vào đầu tư, các công ty đầu

tư xây dựng các công trình quy mô lớn, hiện đại, được trang bị công nghệ tốtnhất và có khả năng thích ứng với thị trường toàn cầu Công nghệ quốc gia cóđược từ việc các công ty dùng biện pháp mua bản quyền phát minh sáng chế,góp vốn liên doanh để có công nghệ từ nhà đầu tư nước ngoài Ngoài ra, điều

Trang 40

rất đáng lưu ý là các công ty đã biết cải tiến công nghệ du nhập, lợi thế cạnhtranh được quyết định thông qua cải thiện hiệu quả trong sản xuất đối với nhữngsản phẩm tiêu chuẩn Môi trường đầu tư được cải thiện rõ rệt mở ra các cơ hộicho mới cho đầu tư, thương mại và hội nhập quốc tế Các công ty cạnh tranh đãđược tiêu chuẩn hóa, nhạy cảm với giá cả, trình độ công nghệ chưa phải là tiêntiến nhất, sản phẩm sản xuất ra lạc hậu so với sản phẩm tiên tiến nhất cùng loạimột thế hệ

So với giai đoạn 1, công ty đã có năng lực cạnh tranh quốc tế rộnglớn hơn Nền kinh tế khó bị tổn thương hơn trước nhờ vốn thúc đẩy tăngtrưởng, ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, nền kinh tế lúc này phát triển khôngbền vững, cho nên vai trò của chính phủ rất quan trọng Để khắc phục, chínhphủ có thể hướng dẫn đầu tư vào ngành có lợi, bảo hộ tạm thời, chia sẻ rủi ro,khuyến khích một số ngành công nghiệp mới, khuyến khích cạnh tranh quốc tế

và sản xuất để xuất khẩu

Giai đoạn 3 là giai đoạn phát triển dựa vào đổi mới cạnh tranh trong

lĩnh vực sản xuất ra những sản phẩm mới được thị trường chấp nhận Công typhải thực hiện nâng cấp và cải tiến công nghệ không ngừng Lúc này thu nhập

cá nhân, trình độ giáo dục được nâng cao thì nhu cầu tiêu dùng nâng lên và khắtkhe hơn, cạnh tranh trong nước gay gắt đòi hỏi phải nỗ lực thi đua, sáng tạo.Trong giai đoạn này công nghệ, kỹ thuật và chất lượng nguồn nhân lực là vấn

đề quan trọng quyết định năng lực cacnh tranh, các ngành dịch vụ cao cấp vàcông nghệ cao thu được lợi nhuận lớn và giữ vị thế độc quyền Trong thời kỳnày, chính phủ phát huy vai trò gián tiếp ở những mặt: khuyến khích sáng tạoyếu tố sản xuất cao cấp, cải thiện chất lượng nhu cầu trong nước, kích thích việchình thành ngành mới, giữ vững cạnh tranh trong nước

Giai đoạn 4 là giai đoạn chạy đua của cải Các công ty lúc này chú

trọng vào giữ vị thế hơn là tăng cường khả năng cạnh tranh với mục tiêu bảo

Ngày đăng: 19/08/2017, 12:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w