MỞ ĐẦU Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam. Văn học, nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ. Phấn đấu sáng tác nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn xây dựng con người; vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của văn học, nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch. Tài năng văn học, nghệ thuật và vốn quý của dân tộc. Chăm lo phát hiện, bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ, người chiến sĩ xây dựng và phát triển nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc. Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển văn học, nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết đối với mỗi tổ chức đảng, đảng viên. Và em lựa chọn chuyên đề nghiên cứu này để có nhận thức sâu sắc hơn về sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Trong quá trình nghiên cứu tổng hợp, vẫn còn có những hạn chế nhất định, em kính mong Cô giáo góp ý, chỉnh sửa để chuyên đề được hoàn thiện hơn. Em trân trọng cảm ơn Cô giáo.
Trang 1Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của vănhoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; làmột trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinhthần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Văn học, nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ,thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ Phấn đấu sáng tác nhiều tácphẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng tolớn xây dựng con người; vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầuvăn hoá - tinh thần ngày càng cao của nhân dân Phát triển sâu rộng văn nghệquần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuậtchuyên nghiệp Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của vănhọc, nghệ thuật dân tộc, tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọccác giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyếtngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của cácthế lực thù địch
Tài năng văn học, nghệ thuật và vốn quý của dân tộc Chăm lo phát hiện,bồi dưỡng, quý trọng và phát huy các tài năng văn học, nghệ thuật là tráchnhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và của các tổ chứctrong hệ thống chính trị các cấp Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạođiều kiện thuận lợi phát huy tính độc lập, khơi dậy mọi nguồn lực sáng tạocủa văn nghệ sĩ Văn nghệ sĩ, người chiến sĩ xây dựng và phát triển nền vănnghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn,gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nênnhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc
Trên cơ sở đó, tiếp tục nghiên cứu, quán triệt quan điểm của Đảng vềphát triển văn học, nghệ thuật trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết đốivới mỗi tổ chức đảng, đảng viên Và em lựa chọn chuyên đề nghiên cứu này
để có nhận thức sâu sắc hơn về sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực vănhọc, nghệ thuật Trong quá trình nghiên cứu tổng hợp, vẫn còn có những hạn
Trang 2chế nhất định, em kính mong Cô giáo góp ý, chỉnh sửa để chuyên đề đượchoàn thiện hơn Em trân trọng cảm ơn Cô giáo.
1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1 Đổi mới
Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xãhội cũng như trong tư duy Bất kỳ sinh vật nào cũng luôn luôn tự Đổi mới đểthích nghi với những sự thay đổi của môi trường sống Đối với xã hội, Đổimới là một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghicủa nó trước những biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, đểthích ứng với tình thế Đổi mới là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiệntượng xã hội
Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “Đổimới” trong sự vận dụng cụ thể vào Đổi mới đất nước Người viết: “Công cuộcĐổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân” Khi nhấn mạnh sự cần thiết phảikhông ngừng Đổi mới nhận thức để phản ánh đúng tình hình thế giới, tìnhhình trong nước vốn không ngừng biến đổi, Hồ Chí Minh viết: thế giới ngàyngày Đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tụchọc và hành để tiến bộ kịp nhân dân” Đổi mới, theo Hồ Chí Minh, còn là đểthắng sức ỳ của thói quen, của tập quán cũ Dù đó là việc khó khăn, nhưngchẳng có việc gì là không thể Đổi mới”
Đổi mới còn là cách để thay đổi một phương thức sống, tạo lập mộtphương thức sống mới, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển Về vấn đề này, HồChí Minh viết: “Khi trước nhà nào lo làm nhà nấy, làm thế nào cũng được.Nhưng bây giờ không phải như thế Bây giờ mình phải Đổi mới nông thôn”.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đổi mới và phát triển là những khái niệm rấtgần gũi, đôi khi được hiểu như nhau Trong Báo cáo tại Hội nghị Chính trịđặc biệt năm 1964, Người viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiếnnhững bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Đất nước, xã hội, conngười đều Đổi mới”
Trang 3Vận dụng vào vấn đề mà chúng ta nghiên cứu “Đổi mới’ là thay cáchnghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng được nhu cầu phát triển,bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn, hợp với quy luật của sự pháttriển.
Phân tích tình hình đất nước trong những năm cuối thập niên 70, đầu thậpniên 80 thế kỷ XX, Đại hội VI của Đảng ta đã nhấn mạnh: Đổi mới là vấn đề
có ý nghĩa sống còn Sau khi nêu nội dung Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,Đổi mới chính sách xã hội,… Đại hội tập trung làm nổi bật nội dung Đổi mớiĐảng: Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; Đổi mới tổ chức; Đổi mớiđội ngũ cán bộ; Đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác của Đảng Từ đây,
“Đổi mới” được sử dụng rộng rãi trong các văn kiện của Đảng, trong sách báocũng như trong ngôn ngữ hằng ngày của nhân dân ta
Trong 20 năm qua, nhận thức về “Đổi mới ở Việt Nam” cũng khôngngừng phát triển Thời kỳ đầu, “Đổi mới” được hiểu như là những suy nghĩ,những hành động riêng lẻ, cụ thể nhằm thay đổi một nhận thức, một cách làmnhất định nào đó; càng về sau, càng nhận thức đầy đủ hơn về “Đổi mới” – đó
là vấn đề chiến lược lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; nó baoquát toàn diện, không trừ lĩnh vực nào của quá trình đó
Đổi mới là quá trình loại bỏ những gì kìm hãm và cản trở sự phát triển, tổ chức lại xã hội, đưa vào cơ chế vận hành của xã hội một hệ thống đồng bộ các yết tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực lượng cho sự phát triển vượt bậc “Đổi mới” – đó là quá trình giải phóng mang ý nghĩa toàn diện của từ đó – giải phóng về tư tưởng, giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người, giải phóng khả năng trí tuệ của nhân dân,… để phục vụ cho sự phát triển con người, bảo đảm tự do, sáng tạo của nhân dân.
“Đổi mới’ còn là quá trình sửa lại những nhận thức không đúng về
“cái cũ”, nhưng “cái cũ” ấy lại là cái đúng, để hiểu đúng nó hơn, vận dụng
có hiệu quả hơn vào thực tiễn mới.
Trang 4“Đổi mới” còn là làm rõ cái gì là đúng của ngày hôm qua, nhưng do hoàn cảnh đã thay đổi, ngày hôm nay không còn thích hợp, cần từ tổng kết thực tiễn để khái quát lý luận nhằm bổ sung, phát triển nhận thức, phát triển nền tảng tư tưởng của chúng ta Nhờ vậy, nền tảng tư tưởng đó thực hiện có
hiệu quả hơn chức năng là cơ sở hoạch định và triển khai đường lối của Đảng,thúc đẩy đất nước phát triển
Như vậy, “Đổi mới” có mục tiêu lý luận và mục tiêu thực tiễn Về lýluận, Đổi mới nhằm xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Về thực tiễn, Đổi mới để xãhội xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc Hai mục tiêu đó cóquan hệ biện chứng với nhau: Mục tiêu lý luận phục vụ cho mục tiêu thựctiễn; mục tiêu thực tiễn vừa là yêu cầu, là đòi hỏi nâng cao chất lượng mụctiêu lý luận, vừa là phương thức kiểm tra thành quả đạt được của mục tiêu lýluận Trong sự tác động qua lại đó, mục tiêu thực tiễn là cơ quan quan trọngnhất
Mục tiêu lý luận và thực tiễn đó cũng khẳng định rằng, chúng ta “Đổimới” nhưng không “đổi mầu” Đổi mới để giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, để làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắnhơn và được xây dựng có hiệu quả cao hơn Đổi mới không phải là xa rời chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là làm cho lý luận đó, tư tưởng
đó được nhận thức và vận dụng, phát triển sáng tạo hơn, mang lại kết quảthiết thực hơn
Đổi mới không phải là phủ định sạch trơn nhận thức và cách làm trướcđây cùng những thành tựu đã được tạo ra, mà là khẳng định những gì đã nghĩđúng, làm đúng, giữ lại những giá trị tích cực của quá khứ, lấy đó làm tiền đề
để Đổi mới, để tiến lên; đồng thời loại bỏ những gì hiểu sai, làm sai, nhữnghậu quả do những sai sót đó tạo ra Cho nên, giữ vững định hướng xã hội chủnghĩa trong quá trình Đổi mới là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Nógiúp chúng ta tránh những sai lầm hữu khuynh cũng như “tả” khuynh
Gần nghĩa với từ “Đổi mới”, có từ “Cải tổ”, “Cải cách”
Trang 5“Cải tổ”, là tổ chức lại cho khác hẳn trước; là thay đổi căn bản và toàndiện về tổ chức, thể chế, cơ chế… trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hộinhằm khắc phục hậu quả sai lầm trong quá khứ, đưa xã hội tiến lên.
1.2 Văn học, nghệ thuật
1.2.1 Văn học
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống
xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hưcấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ Kháiniệm văn học đôi khi có nghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường
bị dùng lẫn lộn Tuy nhiên, về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường cónghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thường chỉ nhấn mạnhvào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệthuật ngôn từ Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hìnhtượng, phản ánh và biểu hiện đời sống
Văn học có các thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ,kịch bản, lí luận phê bình Văn học có lịch sử phát triển từ lâu đời, là sự pháttriển của văn học dân gian (hay văn học truyền miệng) và văn học viết.Lịch sử của văn học viết là lịch sử phát triển của các bản viết bằng văn xuôihay thơ, đây là những loại nhằm mục đích giải trí, khai sáng hoặc chỉ dẫn chongười đọc, người nghe Không phải tất cả các loại bản viết đều là văn học.Một số tài liệu ghi chép như các tài liệu biên soạn về dữ liệu không được xếpvào văn học
- Văn học là 1 bộ phận quan trọng của văn nghệ Văn học theo nghĩarộng là thuật ngữ gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói - viết và các tác phẩmngôn ngữ Nó bao gồm các tác phẩm mà ngày nay có thể xếp vào loại chínhtrị, triết học, tôn giáo Với nghĩa rộng, văn học đồng nghĩa với văn hóa
Văn học theo nghiã hẹp chỉ khái niệm văn hóa - nghệ thuật mà ta quendùng hiện nay Nó bao gồm các tác phẩm ngôn từ có tính chất được sáng tácbằng hư cấu, tưởng tượng Như vậy khi hiểu văn học theo nghĩa hẹp chúng ta
Trang 6đã loại ra ngoài các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo Văn học theo nghĩahẹp chính là văn chương
Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích sáng tác của vănchương, đến vấn đề viết để làm gì, đến ý nghĩa xã hội của nó Văn học là 1hoạt động tinh thần không chỉ của người sáng tạo mà của cả người tiếp nhận,thưởng thức Nó mang những chức năng có ý nghĩa xã hội rộng lớn bởi "chứcnăng là sự biểu hiện ra bên ngoài các đặc tính của một khách thể nào đó trongmột hệ thống các quan hệ nhất định"
1.2.2 Nghệ thuật
Nghệ thuật (tiếng Anh: art) là một loạt những hoạt động khác nhau
của con người và những sản phẩm do những hoạt động đó tạo ra Bài viết này chủ yếu tập trung vào các môn nghệ thuật thị giác , bao gồm việc tạo ra những hình ảnh hay vật thể trong những lĩnh vực như hội họa , điêu khắc , đồ họa in ấn , nhiếp ảnh , và những phương tiện truyền thông hình ảnh khác Nghệ thuật có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thểchứa đựng những giá trị lớn về tư tưởng-thẩm mỹ, mang tính chất văn hóalàm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho người thưởng thức Theo ýnghĩa này thường là các loại hình nghệ thuật khác nhau
Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để người ta chiêm nghiệm qua các giácquan từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kĩ năng, kĩ xảo cao vượt lên trênmức thông thường phổ biến Theo nghĩa này thường là một tác phẩm nghệthuật hoặc một nghệ sĩ cụ thể nào đó
Được gọi là nghệ thuật là khi một nghề nghiệp nào đó được thực hiện ởmức hoàn hảo với trình độ điêu luyện, thậm chí siêu việt Chẳng hạn nghệthuật viết báo, nghệ thuật diễn thuyết, nghệ thuật nấu ăn, nghệ thuật đắc nhântâm, nghệ thuật dùng phím chuột của PC Theo nghĩa này thường là một tàikhéo đặc biệt nào đó
Trang 7"Nghệ thuật đấy là ngữ cảnh địa phương của cá nhân và cộng đồng".Đây là quan điểm đương đại về nghệ thuật và được đa số học giả chấp nhận.
Mọi sự miêu tả cảm tính bất kỳ một vật thể sống hay hiện tượng nào từgiác độ trạng thái cuối cùng của nó, hay là dưới ánh sáng của thế giới tươnglai, sẽ là tác phẩm nghệ thuật.” Soloviev - nhà thơ triết gia vĩ đại người Nga
Một số khái niệm đi liền với nghệ thuật là nghệ sĩ, nghệ nhân
2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐỔI MỚI PHÁT TRIỂN VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Tiếp tục khẳng định văn học, nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của văn hóa dân tộc
Văn kiện Đảng hội VI khẳng định: "Không hình thái tư tưởng nào có
thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lànhmạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khoá VI (1987) xác định: "Văn hoá là
nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ pháttriển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo
ra những giá trị văn hoá, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đờinày sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người ( ) Văn học nghệthuật là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hoá, thể hiện khát vọng của conngười về chân thiện mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm tâm hồn nhân cáchbản lĩnh của các thế hệ công dân xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội,
xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa"
Văn kiện Đại hội VII (1991) nêu rõ: "Văn học, nghệ thuật là một bộ
phận quan trọng trong nền văn hoá, gắn bó với đời sống nhân dân và sự
nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo"
Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII khẳng định: "Văn học nghệ thuật là
một bộ phận trọng yếu của nền văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân
dân về chân, thiện, mỹ"
Trang 8Nghị quyết Trung ương 5 Khoá VIII coi văn học nghệ thuật là một
trong những lĩnh vực quan trọng nhất của văn hoá-nền tảng tinh thần của xãhội
Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khoá X (2008) nêu rõ: “Văn học nghệ
thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá, là nhu cầu thiếtyếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người”
2.2 Khuyến khích sáng tạo văn nghệ theo hướng đa dạng hoá về phương pháp và phong cách sáng tác
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khoá VI nêu rõ: "Đảng khuyến khích
văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu cầu có những thể nghiệmmạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển sáng
tạo các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện"
Nghị quyết Trung ương khoá VIII (1998) tiếp tục khẳng định:
"Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp (sáng tác - NDB), mọiphong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh bổ íchcho công chúng."
Cùng với việc khuyến khích sáng tạo theo hướng đa dạng hoá là yêucầu coi trọng việc đảm bảo và phát huy tự do sáng tác chân chính cho vănnghệ sỹ:
Văn kiện Đại hội Đảng VI nêu rõ: “Đối với trí thức, điều quan trọng
nhất là đảm bảo quyền tự do sáng tạo, đánh giá đúng năng lực và tạo điều
kiện cho năng lực được sử dụng đúng và phát triển”
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị khoá VI khẳng định: "Tự do sáng tác là
điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hoá văn nghệ, pháttriển tài năng
Văn kiện Đại hội Đảng VII (1991) nêu rõ: "Khuyến khích tự do sáng
tạo văn học, nghệ thuật vì sự hoàn thiện con người, bồi dưỡng tâm hồn, tìnhcảm cao đẹp, đề cao tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, phấnđấu làm cho dân giàu, nước mạnh, phê phán những thói hư tật xấu, cái độc
Trang 9ác, thấp hèn ".
Văn kiện Đại hội VIII (1996) yêu cầu: "Bảo đảm dân chủ, tự do cho
mọi sự sáng tạo và hoạt động văn hoá, vun đắp các tài năng, đồng thời đề caotrách nhiệm của văn nghệ sĩ trước công chúng, dân tộc và thời đại Khuyếnkhích, tạo điều kiện thúc đẩy sáng tác văn học, nghệ thuật phản ánh các nhân
tố mới trong xã hội, cổ vũ cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người vớicon người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, phê phán cái sai, lên áncái xấu, cái ác, hướng tới chân, thiện, mỹ, phổ biến kịp thời các tác phẩm tốt"
.
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII xác định: Vừa bảo đảm cho văn
hoá, văn học nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị tư tưởng củaĐảng, vừa bảo đảm thực hiện quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo vănhoá, văn học nghệ thuật"
Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khoá IX (2004) tiếp tục khẳng định:
"Bảo đảm định hướng chính trị đi đôi với vận dụng đúng đắn những đặc trưngcủa công tác văn hoá ( ) tôn trọng tự do sáng tác, xây dựng quan hệ chânthành cởi mở đối với đội ngũ những người hoạt động văn hoá, có chính sáchtrọng dụng người tài đồng thời chăm lo định hướng chính trị và ý thức tráchnhiệm công dân nhằm phát huy cao nhất đóng góp của đội ngũ trí thức, vănnghệ sĩ ( ) cho sự nghiệp phát triển văn hoá"
Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (khoá X) đã ghi nhận: “Tự do sáng tạo
nghệ thuật và sự đa dạng về nội dung, phong cách sáng tác, phương thức biểuhiện được tôn trọng, dấu ấn con người, cá tính sáng tạo được khẳng định”
Như vậy, tinh thần chung của các chính sách, biện pháp mới trong
lãnh đạo và quản lý văn nghệ là “bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ” , tạo những điều
kiện vật chất và tinh thần để văn nghệ sĩ làm tốt vai trò xã hội và chức năngcao cả của mình Trân trọng nhân cách, tài năng và sự độc đáo của văn nghệ
sĩ, chu đáo, tế nhị, chân tình trong quan hệ đối xử, có cách làm việc thích hợp
với từng cá tính sáng tạo Khắc phục “biểu hiện giản đơn, thô thiển, thiếu dân
Trang 10chủ” , “tình trạng can thiệp thô bạo, tuỳ tiện, xâm phạm quyền tự do, dân chủ của văn nghệ sĩ trong sáng tạo và hoạt động văn hoá, văn nghệ".
2.3 Xác định rõ những tiêu chuẩn, giá trị mới trong sáng tạo văn nghệ
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII xác định: "Phấn đấu sáng tạo nhiều
tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấmnhuần tinh thần nhân văn, dân chủ có tác dụng sâu sắc xây dựng con người( ) Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính Hướng vănnghệ nước ta phản ánh hiện thực sinh động chân thực và sâu sắc"
Chỉ thị 61 của Ban Bí thư khoá VI nêu rõ: "Cần căn cứ vào thực tế mà
quy định cụ thể hơn nữa định hướng trong Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị:
"Tác phẩm văn nghệ không vi phạm pháp luật, không phản động (chống lạidân tộc, chống lại chủ nghĩa xã hội, phá hoại hoà bình) và không đồi truỵ(truyền bá tội ác, sự sa đoạ, phá hoại nhân phẩm) đều có quyền được lưu hành
và đặt dưới sự lãnh đạo, phán xét của công luận và sự phê bình"
Chỉ thị 18 của Ban Bí thư khoá IX (2003) Về tiếp tục thực hiện có hiệu
quả Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về công tác văn học, nghệ thuật trong
tình hình mới, đã nêu rõ: "Phát huy truyền thống cao đẹp của dân tộc và tiếp
thu tinh hoa văn hoá của thế giới, thực hiện tốt phương châm: lấy tác phẩm tốt
cổ vũ giáo dục con người và xã hội; tạo nguồn giải trí lành mạnh, đẩy lùinhững hoạt động văn nghệ phản động, đồi truỵ, phi nhân tính, phản dân tộc"
2.4 Công tác tác quản lý nhà nước
Chỉ thị 61/CT-TW ngày 21-6-1990 của Ban Bí thư khoá VI yêu cầu: "Về
quản lý nhà nước, cần tạo thuận lợi cho việc sáng tác và công bố các tác phẩmtốt, tăng kinh phí thích đáng, tạo điều kiện cho các hội văn học - nghệ thuật tiếntới tự chủ, tự quản về tài chính, chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ vănnghệ sĩ, giúp anh chị em có điều kiện đi sát cuộc sống, mua các tác phẩm vănhọc - nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, đặt hàng xây dựng các công
Trang 11trình và tác phẩm có ý nghĩa lịch sử xã hội quan trọng, tặng các giải thưởng vănhọc, nghệ thuật, trợ cấp cho các nghệ sĩ có công đã già yếu và gia đình cácnghệ sĩ có công đã qua đời đang gặp khó khăn cải tiến chế độ nhuận bút đểcho các nghệ sĩ chuyên nghiệp có thể sống và yên tâm hoạt động sáng tạo bằng
tiền nhuận bút và phụ cấp nghề nghiệp"
Chỉ thị 18 của Ban Bí thư khóa IX (2003) tiếp tục nhấn mạnh: "Chính
phủ chỉ đạo Bộ Văn hoá - Thông tin phối hợp với các bộ, ngành có liên quannghiên cứu, đề xuất chính sách cụ thể giúp đỡ văn nghệ sĩ thâm nhập thực tếtheo kế hoạch của từng loại hình văn nghệ Vận động, xây dựng thành phongtrào các ngành, các địa phương hỗ trợ, giúp đỡ, cổ vũ văn nghệ sĩ bám cơ sở
để sáng tác; triển khai hoạt động bảo hộ quyền tác giả đối với các loại hìnhvăn học, nghệ thuật; xây dựng chính sách phát triển nghệ thuật truyền thống,chính sách thu hút, khuyến khích các tài năng văn nghệ, cung cấp những điềukiện thuận lợi để phát huy cao nhất tiềm năng lao động nghệ thuật Nhà nướctăng cường nguồn kinh phí để mua các sản phẩm văn hoá tốt… vừa khuyếnkhích sáng tạo văn học, nghệ thuật, vừa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoácủa nhân dân Nghiên cứu chế độ, chính sách đối với hoạt động của các nghệ
sĩ biểu diễn, đặc biệt là với các nghệ sĩ múa, xiếc, múa rối Chăm lo đời sốngvật chất, tinh thần và phát huy khả năng đóng góp của văn nghệ sĩ cao tuổi.Coi trọng việc phổ biến các tác phẩm có giá trị Nâng cao chất lượng các giảithưởng văn học nghệ thuật"
Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị yêu cầu: “Chính phủ xây dựng Nghị
định về các hội văn học, nghệ thuật, khẳng định các hội là tổ chức chính trị-xãhội- nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnhđạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, được đầu tư, chăm lo cho sự pháttriển”
Nhà nước đã thể chế hoá đường lối quan điểm văn nghệ của Đảng trongnhiều bộ luật và chính sách quan trọng: Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Disản văn hoá, Luật Điện ảnh, Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Pháp lệnhQuảng cáo, Pháp lệnh Thư viện, Pháp lệnh Internet, Pháp lệnh Giải thưởng
Trang 12Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, Pháp lệnh vềPhong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú,…
Chính phủ đã có Quyết định số 25/TTg ngày 29-1-1993 và Quyết định số
583/QĐ-TTg ngày 1-6-1999 về tài trợ cho hoạt động sáng tạo tác phẩm văn
nghệ, công trình văn học nghệ thuật Quyết định số 25/TTg ngày 29-1-1993
của Thủ tướng Chính phủ Về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hoá nghệ thuật nêu rõ: Phát triển văn hoá nghệ thuật mang bản sắc
dân tộc Việt Nam là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân Nhà nước tạo điềukiện, xây dựng cơ sở hạ tầng và trang bị phương tiện cho việc phát triển vănhoá nghệ thuật mang bản sắc dân tộc
Bắt đầu từ năm 1993 và những năm sau, hàng năm ngân sách nhànước dành kinh phí đầu tư cho các hoạt động văn hoá nghệ thuật, xây dựngcác công trình văn hoá quy mô lớn, không nhằm mục đích kinh doanh mà
nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thực hiện
chế độ đặt hàng, hỗ trợ trong một số hoạt động văn nghệ
Quyết định số 583/QĐ-TTg ngày 1-6-1999 của Thủ tướng Chính phủ
Về tài trợ cho hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật,
báo chí nêu rõ: Nhà nước tiếp tục thực hiện việc tài trợ cho các văn nghệ sĩ,
nhà báo đi thực tế, thâm nhập cuộc sống, sáng tạo tác phẩm; hỗ trợ cho việc giới
thiệu, phổ biến các tác phẩm có chất lượng cao
Từ năm 1995 đến nay, Đảng và Nhà nước đã tặng giải thưởng Hồ ChíMinh và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, phong tặng danh hiệunghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú cho những nghệ sĩ có đóng góp lớn cho sựnghiệp văn nghệ của dân tộc và cách mạng Ngoài ra, còn có các giải thưởngcủa các hội chuyên ngành văn học nghệ thuật được trao thường niên hoặc độtxuất Từ năm 1999 đến nay Thủ tướng Chính phủ đã quyết định dành khoảnkinh phí hàng chục tỷ đồng/ năm để tài trợ cho hoạt động sáng tạo văn họcnghệ thuật ở trung ương và địa phương
2.5 Công tác phổ biến, truyền bá các tác phẩm văn học nghệ thuật cho công chúng