Trong tâm lý học ý thức là một vấn đề vô cùng quan trọng, sự quan trọng đó được A.N Lêonchiev khẳng định rằng:Hệ thống liên hệ của khoa học tâm lý không thể được xây dựng bên ngoài lý thuyết khoa học – cụ thể về ý thức.Sự ra đời của phạm trù ý thức trong tâm lý học là một quá trình phát triển lâu dài, là sự đấu tranh về thế giới quan và phương pháp luận của nhiều dòng phái tâm lý và nhiều tác giả.Trên cơ sở nền tảng triết học Mác và phương pháp luận duy vật biện chứng, tâm lý học mác xít ra đờiđã giải quyết một cách triệt để vấn đề ý thức với tư cách là một phạm trù của tâm lý học.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong tâm lý học ý thức là một vấn đề vô cùng quan trọng, sự quan trọng đó được A.N Lêonchiev khẳng định rằng: Hệ thống liên hệ của khoa học tâm lý không thể được xây dựng bên ngoài lý thuyết khoa học – cụ thể về ý thức
Sự ra đời của phạm trù ý thức trong tâm lý học là một quá trình phát triển lâu dài, là sự đấu tranh về thế giới quan và phương pháp luận của nhiều dòng phái tâm
lý và nhiều tác giả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác và phương pháp luận duy vật biện chứng, tâm lý học mác xít ra đời đã giải quyết một cách triệt để vấn đề ý thức với tư cách là một phạm trù của tâm lý học
Trong giai đoạn hiện nay, khoa học tâm lý đang trải qua giai đoạn phát triển tích cực, thể hiện ở việc mở rộng các vấn đề nghiên cứu, làm phong phú các phương pháp nghiên cứu và tư liệu thực tế Hình thành các xu hướng mới
và tăng cường mối liên hệ với thực tiễn, đây chính là những điều kiện mới để tiếp tục phát triển lý luận chung của tâm lý học Song bất kỳ lĩnh vực nghiên cứu nào, trong điều kiện nào thì những phạm trù trong tâm lý học mác xít nói chung và phạm trù ý thức nói riêng luôn là lý luận gốc cho việc nghiên cứu, phát triển khoa học tâm lý
Ý thức không chỉ là một phạm trù của tâm lý học mà còn là một phạm trù quan trọng của triết học Với cách tiếp cận của người học tập nghiên cứu tâm lý học mác xít, trong phạm vi bài tiểu luận này, xin được trình bày một số nghiên cứu cơ bản về ý thức trong tâm lý học theo quan điểm tâm lý học mác xít và vấn
đề rút ra trong xây dựng ý thức xã hội mới cho người quân nhân hiên nay
Trang 2NỘI DUNG
1 Vấn đề ý thức trong tâm lý học
Lịch sử nghiên cứu về ý thức có thể nói trước hết được các nhà triết học khám phá nghiên cứu và trở thành một trong những phạm trù trung tâm của triết học Song
để đi sâu, lý giải những hiện tượng đa dạng, phong phú về đời sống tinh thần của con người thì các vấn đề ý thức được tiếp cận ở góc độ khác, góc độ khoa học tâm lý, cho
dù nó còn mờ nhạt, chưa thực sự rõ nét Đó chính là những tư tưởng của Platon hay Aristot về linh hồn, ý niệm; những quan niệm này về mặt tích cực đã thấy được một khía cạnh quan trọng trong nhận thức rằng con người không chỉ khám phá, nhận thức thế giới mà còn nhận thức chính bản thân mình (tự ý thức) song mặt hạn chế lại không phân biệt được ý thức với tâm lý mà lại đồng nhất chúng với nhau
Trong giai đoạn thế kỷ XVII, thế kỷ XVIII, với những thành tựu của khoa học
tự nhiên, thành tựu trong sinh lý học, vấn đề ý thức dần được nghiên cứu một cách rõ ràng và trở thành đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Thành tựu tâm lý học nổi bật trong giai đoạn này là thuyết phản xạ gắn liền với tên tuổi của Descartes với châm ngôn nổi tiếng “tôi suy nghĩ tức là tôi tồn tại” với cách tiếp cận của ông và giá trị của thuyết phản xạ đã đặt nền móng cho tư tưởng quyết định luận duy vật trong nghiên cứu ý thức con người Cũng chính từ sự kiện này đã xuất hiện nhiều học thuyết nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất của ý thức như thuyết liên tưởng với quan điểm không tồn tại thế giới khách quan, chỉ có một thế giới cảm giác Con người trực tiếp tri giác tư tưởng của mình
Tuy rằng những nghiên cứu về ý thức trong giai đoạn này còn mang tính chất duy tâm, nội quan song những đóng góp của nó là đáng kể, thúc đẩy cho sự
ra đời của các dòng phái khách quan trong nghiên cứu về ý thức
Trước sự ra đời của các dòng phái tâm lý học khách quan, sự kiện năm 1879 tại Leipzing Wundt tổ chức ra phòng thực nghiệm đầu tiên và đưa tâm lý học chính thức trở thành khoa học độc lập Tâm lý học của Wundt coi ý thức là phạm
Trang 3trù trung tâm của tâm lý học, ông quan niệm tất cả các hiện tượng tâm lý đều ở trong vòng các hiện tượng tinh thần của con người và đều xuất phát từ ý thức Wundt coi tâm lý là cái thứ nhất, mọi cái trong thực tại đều bắt nguồn từ ý thức Ý thức của con người hoàn toàn đóng kín và mỗi người tự hiểu lấy chính mình, không ai có thể hiểu mình bằng chính bản thân mình
Có thể thấy quan niệm của Wundt về phạm trù ý thức thực chất là quan niệm duy tâm, tuyệt đối hóa ý thức, đồng nhất tâm lý với ý thức nên không thấy được mối quan hệ tâm lý – ý thức với bên ngoài Chính vì vậy khi giải thích về nguồn gốc, bản chất của ý thức lại theo quan niệm duy tâm nội quan, rơi vào vòng luẩn quẩn đó là: họ mong muốn đi tìm hiểu, nghiên cứu tâm lý người khác, hay ít nhất cũng là những người mong muốn tìm ra con đường, phương pháp để nghiên cứu các hiện tượng tâm lý lại chính là người thừa nhận rằng: tâm lý của ai chỉ có người
đó mới biết được, người khác chỉ nghe người ta kể lại rồi lý giải theo cách này hay cách khác một cách hoàn toàn chủ quan
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tâm lý học nội quan không còn đứng vững; tâm lý học rơi vào khủng hoảng Trong tình hình đó các dòng phái tâm lý học khách quan ra đời với xu hướng phủ nhận tâm lý học nội quan và tham vọng đưa tâm lý học thoát khỏi cuộc khủng hoảng về thế giới quan, phương pháp luận song chính những dòng phái này lại thể hiện quan điểm phiến diện về ý thức Tâm lý học hành vi thì gạt bỏ ý thức khỏi đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, phủ nhận phạm trù ý thức Họ tuyên bố chỉ quan tâm đến hành vi của con người Phân tâm học thì lại chủ tương nghiên cứu vô thức, coi vô thức là cái quyết định mọi biểu hiện của đời sống tâm lý con người, ý thức chỉ là cái thư yếu, là một phần rất nhỏ chịu sự quy định của cái vô thức
Có thể thấy rằng trong lịch sử các tư tưởng tâm lý học, thái độ đối với vấn đề
ý thức đã có thay đổi, và sự thay đổi ở đây khá đột ngột Từ việc khẳng định vấn
đề này hầu như là vấn đề duy nhất đến chỗ tuyên bố ý thức là điều hư cấu, giả tạo
Trang 4Như đã biết, tâm lý học nội quan cho rằng ý thức là bản thể độc lập và xem xét tất
cả các quá trình tâm lý như chức năng của ý thức Trong cuộc đấu tranh vì những phương pháp khoa học khách quan đã có những ý định bỏ hẳn vấn đề ý thức Ý thức được “tuyên bố” là tiếng vọng, dư âm yếu ớt, là lãng quên, là tâm hồn đang biến mất trong bầu không khí triết học Người ta khẳng định rằng chính khái niệm
ý thức “nhất định dẫn đến phép siêu hình” vì thế, đã đề nghị loại bỏ tất cả những điều nói đến ý thức (Watson) Có ý kiến cho rằng ý thức là thuật ngữ rất mơ hồ, vì thế “không nên định nghĩa tâm lý như một khoa học về ý thức”
Cần thừa nhận rằng tâm lý học phương Tây trong thời gian dài chịu ảnh hưởng rất lớn của chủ nghĩa hành vi và chủ nghĩa thực dụng, hiện nay mới phục hồi vấn đề ý thức Tuy nhiên, ở đây ý thức chủ yếu được xem như một biểu hiện đặc biệt của cá nhân, gắn liền với sự tích luỹ, biến đổi và tổ chức kinh nghiệm cá thể, hoặc như là sự thể hiện mối liên hệ tinh thần giữa mọi người
Trong một cuộc tranh luận rộng rãi về ý thức, nó được xác định như tri thức chung Một số đại biểu của xu hướng phân tâm cho rằng ý thức là kết quả biến đổi của vô thức trong liệu pháp tâm lý Ở một số quan niệm khác, ý thức được xem xét như việc cá nhân đối chiếu kinh nghiệm chủ quan của mình với các khuôn mẫu
do xã hội đưa ra
Chủ nghĩa hành vi cấp tiến giải thích ý thức như sự chế định tạo tác của hành vi ngôn ngữ Skinner cho rằng, ý thức chỉ xuất hiện khi cá nhân làm chủ ngôn ngữ đặc trưng cho cộng đồng nào đó và bắt đầu thể hiện trạng thái cá nhân của mình ở cấp tri thức mà cộng đồng đó làm chủ
Một cách lý giải khác thể hiện ở chỗ, ý thức được tuyên bố như là tri thức nội tâm hay chính kiến được thể hiện, trước hết ở việc chính mình bằng cách nhập tâm tất cả những quan sát hành động mà người khác thực hiện với họ Thực chất,
ở đây ý thức được thay thế bởi tự ý thức
Trang 5Ý thức còn được xem như tổng của cảm tưởng, ý nghĩ và tình cảm tạo nên
cá nhân Đó là một tâm thế tròn vẹn nhằm thống nhất các thời điểm của đời sống trí tuệ của cá nhân (Phingarett, Langis, Rid) Sự thống nhất của ý thức quy định sự
“nhạy cảm” của cá nhân đối với thành tựu của chính họ Tất cả các thời điểm của đời sống trí tuệ của cá thể được thống nhất lại vì chỉ khi diễn ra trong cùng một cơ thể, chúng tạo ra một phần ý thức cá nhân, cá nhân tạo ra các thời điểm đó dường như từ bên trong Cùng với vấn đề trọn vẹn của cá nhân, vấn đề phân đôi của ý thức được nghiên cứu (Xperi, Pucheti,v.v…) trong trạng thái phân ly thôi miên, trong thủ thuật rạch mép
Trong tất cả cách tiếp cận trên, ý thức được coi như một cái gì đó xuất phát
từ kinh nghiệm cá nhân, như các yếu tố của đời sống nội tâm của họ – cảm tưởng, tâm trạng, ý nghĩ
Với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của xu hướng khách quan được phổ biến rộng rãi vào nửa đầu thế kỷ XX, trong cuộc đấu tranh làm sáng rõ những vấn đề lý luận, phương pháp luận, tâm lý học mác xít đã bảo vệ vấn đề ý thức trên lập trường duy vật và xác định hướng nghiên cứu khoa học của phạm trù này
Tâm lý học Mác xít xem ý thức là chức năng của não, là sự phản ánh đời sống của con người Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới, là hình thức phản ánh cao nhất, khác về chất so với phản ánh chung Ý thức là sự phản ánh tích cực, chủ động, sáng tạo
Như vậy điều nhận thấy đầu tiên trong quan niệm về ý thức của tâm lý học Mác xít là xác định nguồn gốc, bản chất của ý thức; và đây cũng là những cơ sở đầu tiên, quan trọng để chống lại các quan điểm duy tâm, nội quan về ý thức; những quan điểm loại bỏ ý thức ra khỏi tâm lý học
Để lý giải bản chất, nguốn gốc của ý thức, các nhà tâm lý học mác xít dựa trên nền tảng triết học của Mác khi cho rằng: Để nắm được nguồn gốc, bản chất của ý thức như là sự phản ánh của đời sống, cần phải phân tích xã hội, quy luật
Trang 6khách quan sự phát triển của nó Ý thức theo Mác ngay từ đầu là sản phẩm của xã hội, và nó vẫn là sản phẩm xã hội chừng nào còn có sự tồn tại của con người Tính chất chế định về mặt xã hội của ý thức được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác, với cách hiểu duy vật và khoa học về xã hội đã chỉ ra sự liên hệ khăng khít với sản xuất vật chất, với thực tiễn xã hội
Khi bàn về vấn đề nguồn gốc và bản chất của ý thức, các nghiên cứu luôn dựa trên quan điểm của Mác cho rằng: ý thức của con người được hình thành một cách khách quan thông qua hoạt động xã hội và là sản phẩm của xã hội, chứ tuyệt nhiên không phải là cái có sẵn ý thức không phải cái gì khác hơn là sự tồn tại của
ý thức, nghĩa là ý thức bản thân nó luôn tồn tại khách quan; nó có nguồn gốc từ hiện thực khách quan: “ý thức không phải là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức,
mà tồn tại của người ta là quá trình thực tế của đời sống người ta” và “ý thức của chủ thể đó chỉ là cái bên ngoài được phản chiếu vào mà thôi”, chứ không phải tự thân bên trong con người theo kiểu “tự sản sinh” như quan niệm của Hêghen : “ý thức con người hình thành không phải theo cách chìm đắm trong cái âm thầm không bộc lộ ra của tính trực tiếp, không phải trong trạng thái vô vị không hoạt động, mà là trong lao động, trong bản thân hoạt động cải tạo thế giới của con người”, mà là theo công thức nổi tiếng trong “Tư bản” của Mác: “Bằng cách biến đổi tự nhiên bên ngoài con người, đồng thời biến đổi bản tính của chính mình” Khi con người tham gia vào các quá trình hoạt động thực tiễn xã hội (bao gồm cả hoạt động thuần tuý lý luận), thì con người luôn nhập vai với tư cách là chủ thể của hoạt động có ý thức, nhưng con người không thể tách mình biệt lập ra khỏi môi trường đó, mà ngược lại con người đã bị “khách quan hoá”- nghĩa là con người không thể tự ý hành động một cách chủ quan mà do chính những quy luật
xã hội quyết định và kết quả khách quan của hoạt động của chủ thể là do những quan hệ xã hội khách quan quyết định: các sản phẩm hoạt động của chủ thể về thực chất là sản phẩm của hoạt động xã hội: “mỗi một tư tưởng mà tôi diễn đạt ra
Trang 7đều mang một ý nghĩa khách quan, một ý nghĩa khách quan do nhu cầu xã hội mà
có, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khách quan đó tôi diễn đạt nó, chứ không tuỳ thuộc vào ý định và cứ nguyên chỉ có chủ quan thúc đẩy tôi đi đến có tư tưởng đó; những sản phẩm hoạt động lý luận cũng như những sản phẩm thực tiễn của tôi về mặt nội dung khách quan thực chất là sản phẩm của hoạt động hội” Xét về mặt bản chất của ý thức là ở chỗ: trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, trực tiếp là quá trình con người hoạt động tác động cải tạo tự nhiên, hoàn cảnh được nghiệm thấy trong ý thức của mình như một thái độ, nghĩa là thái độ thực sự của con người đã trở thành trung gian thông qua sự phản ánh của tinh thần Sự phản ánh đó được thực hiện trong ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và được ngôn ngữ ghi lại với tính cách là cái vỏ vật chất của ý thức; đồng thời, ngay chính cả ngôn ngữ cũng là sản phẩm tất yếu của hiện thực khách quan Khi nói về vấn đề này, Mác viết : “cả đến bản thân ngôn ngữ mà nhà tư tưởng dùng để hoạt động,- được cung cấp cho tôi với tính cách là một sản phẩm xã hội, mà tồn tại của bản thân tôi cũng
là hoạt động xã hội; cho nên, cái mà tôi làm ra từ trong con người của tôi là cái mà tôi làm ra cho xã hội, từ trong bản thân tôi, trong khi tôi có ý thức về tôi như một thực thể xã hội” và đối với Mác, ngôn ngữ là “ý thức thực sự thực tiễn tồn tại đối với những người khác và do đó cũng tồn tại đối với tôi”
Như vậy, về bản chất, ý thức con người không phải là cái gì trừu tượng
và khó hiểu; nó không phải là thứ được tự sản sinh ra theo kiểu “gan tiết ra mật” ngay chính trong chủ thể; nó lại càng không phải do thần linh hay thượng
đế sinh ra, mà ý thức là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan của một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao nhất đó là óc người Cũng như tâm lý người nói chung, ý thức mang bản chất xã hội rất sâu sắc- ý thức là sản phẩm cao nhất của phản ánh và hoạt động xã hội của con người, nghĩa là ý thức chịu
sự quy định và chi phối của điều kiện và hoàn cảnh xã hội lịch sử nhất định;
Trang 8trong xã hội có giai cấp, ý thức mang tính chất giai cấp rất sâu sắc và tồn tại cả trong ý thức cá nhân và ý thức xã hội
Dựa trên quan niệm của Mác: “Lao động trước hết là quá trình được thực hiện giữa con người và thiên nhiên, quá trình mà trong đó con người bằng hoạt động của chính mình quy định, điều khiển và kiểm tra sự trao đổi vật chất giữa họ
và tự nhiên Chính con người chống đối lại vật chất thiên nhiên, họ như sức mạnh
tự nhiên Để chiếm đoạt vật chất thiên nhiên ở dạng có lợi cho cuộc sống riêng của mình, con người làm cho những sức mạnh tự nhiên thuộc thân thể họ như: tay, chân, đầu vận động Khi tác động vào thiên nhiên bên ngoài nhờ sự vận động đó
và khi thay đổi thiên nhiên, con người đồng thời thay đổi cả chính nguồn gốc của mình Con người phát triển sức mạnh tiềm tàng trong thiên nhiên và bắt trò chơi của sức mạnh đó phục tùng quyền lực của bản thân mình” Và tiếp nữa: “Con nhện thực hiện thao tác, giống như thao tác của ngời thợ dệt, và con ong với việc xây dựng tổ sáp của mình làm hổ thẹn một số nhà kiến trúc sư Nhưng một nhà kiến trúc tồi nhất, ngay từ đầu được phân biệt với một con ong giỏi nhất ở chỗ, trước khi xây tổ bằng sáp họ đã xây dựng nó trong đầu mình Kết quả thu được cuối quá trình lao động đã có ngay từ đầu của quá trình đó trong sự tưởng tượng của con người, tức là một cách lý tưởng Con người không chỉ thay đổi hình thức của những cái được thiên nhiên tạo ra, trong những cái được thiên nhiên tạo ra, con người đồng thời thực hiện mục đích có ý thức của mình Mục đích đó như là quy luật xác định phương thức và tính chất hoạt động của con người và con người cần phải bắt ý chí của mình tuân theo mục đích đó” Theo đó ý thức trong tâm lý học được nghiên cứu trong mối quan hệ khăng khít với hoạt động để phân tích làm
rõ hoạt động của con vật với hoạt động có ý thức của con người
Ở động vật, cái tâm lý được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động sống mang tính chất thích nghi, như là yếu tố thích nghi với môi trường xung quanh Sự khác biệt cơ bản giữa phương thức tồn tại của con người và phương
Trang 9thức tồn tại của con vật ở chỗ Con người cải tạo thiên nhiên xung quanh trong quá trình lao động, tạo nên những phương tiện sống hay nói một cách khác trong hoạt động của con người luôn có sự chỉ đạo của ý thức
Như vậy, với lý luận này đã có cơ sở khoa học để luận giải về nguồn gốc của ý thức đó chính là lao động Chính lao động đã thay đổi cấu trúc hình thái và sinh lý cơ thể, đồng thời làm nảy sinh, phát triển các phẩm chất, năng lực tâm lý Bên cạnh lao động thì ngôn ngữ cũng có vai trò quan trọng trong sự hình thành ý thức bởi ngôn ngữ chính là phương tiện để con người lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm; chính ngôn ngữ là công cụ để con người nhận thức thế giới khách quan
Sự hình thành ý thức xét về phương diện tiến hóa cá thể cần nghiên cứu mối quan
hệ giữa ý thức cá nhân và ý thức xã hội
Trong lý giải sự hình thành ý thức cá nhân có nhiều cách tiếp cận khác nhau song cách tiếp cận được phổ biến khá rộng rãi là cách tiếp cận khẳng định sự bắt chước, lây lan, ám thị: thuyết phục là phương thức cơ bản của sự phát triển ý thức
cá nhân Trong Tâm lý học nước nhà người đầu tiên bắt đầu nghiên cứu những phương thức này là Becherev, Plêkhanovv.v…
G.Tacder cho rằng bắt chước có vai trò quan trọng trong việc cá nhân lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử Ông tuyệt đối hóa tư tưởng này, gắn cho bắt chước
ý nghĩa của cơ chế tổng hợp của cuộc sống xã hội Tiếp nhận tư tưởng này, Becherev đồng thời mở rộng khái niệm về “công cụ của xã hội” Bên cạnh bắt chước, ông còn đưa cả hiện tượng cảm ứng, ám thị, sự thuyết phục Ông cũng có ý định rất thú vị là nghiên cứu những “công cụ” đó bằng thực nghiệm Tuy nhiên, Becherev xem những cơ chế đó là tự nhiên Plêkhanov phê phán cách giải thích mang tính tự nhiên của họ trong các tác phẩm của Tacder Cho rằng, bắt chước thực sự là một cơ chế chung nào đó của sự phát triển tâm lý - ý thức Ông nhấn mạnh rằng tác dụng của cơ chế đó được xác định bởi điều kiện lịch sử cụ thể của cuộc sống xã hội Các cá nhân khác nhau bắt chước cái gì và bắt chước như thế
Trang 10nào, điều đó phụ thuộc vào vị trí của họ trong hệ thống quan hệ xã hội Plêkhanov cũng khẳng định rằng, cùng với bắt chước còn tồn tại cơ chế khác đối lập với bắt chước đó là phản đối được tạo ra bởi sự thay đổi tương xứng Chúng ta thấy rằng,
tư tưởng của Plêkhanov về cơ chế liên hệ một cách biện chứng các mặt đối lập trong tính chất quy định của sự phát triển tâm lý có ý nghĩa quan trọng đối với tâm
lý học Có cơ sở cho rằng tham gia vào cơ chế quy định phát triển tâm lý có các cặp cơ chế có liên quan biện chứng với nhau: bắt chước và kháng cự, ám thị và chống ám thị, lây lan và cơ chế chống lại sự lây lan Sự kết hợp cụ thể những cơ chế khác nhau phụ thuộc vào điều kiện xã hội của đời sống cá nhân
Bắt chước, ám thị, thuyết phục – tất nhiên đó là những phương thức cơ bản –của tính quy định xã hội về sự phát triển tâm lý cá nhân và cá nhân tiếp thu kinh nghiệm xã hội Nhưng tâm lý học không thể chỉ hạn chế ở chỗ xác nhận chúng Nhiệm vụ của tâm lý học là phải khám phá ra chính quá trình thực hiện những phương thức đó, phạm vi và điều kiện hành động của từng phương thức, khám phá
ra các quy luật mà sự phát triển các phương thức đó và chức năng thực sự của chúng trong sự hình thành ý thức cá nhân
Hướng khác phân tích cơ chế hình thành ý thức được Vưgôtxki đưa ra trong quan niệm của ông về chức năng tâm lý cấp cao Vưgôtxki là người có công lao đầu tiên trong việc xác định vị trí vai trò của ý thức với tư cách là phạm trù của tâm lý học Trong bài báo “ ý thức như một vấn đề của tâm lý học hành vi” ông nêu ra những luận điểm quan trọng trong nghiên cứu về ý thức: Ý thức là vấn đề trung tâm, là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học; muốn nghiên cứu ý thức phải nghiên cứu cấu trúc của hành vi, ý thức là một vấn đề của cấu trúc hành vi; bản thân ý thức là sản phẩm của sự phản ánh tâm lý ở trình độ cao nhất của dạng vật chất có tổ chức cao nhất là óc người; trong nghiên cứu tâm lý, ý thức con người phải nghiên cứu trong hoạt động, thông qua hoạt động Đi vào những nghiên cứu
cụ thể khi luận giải về sự hình thành ý thức cá nhân Vưgôtxki dựa trên công trình