Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Do đó, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi đó không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là nhiệm vụ chính trị xã hội có ý nghĩa chiến lược cả trước mắt và lâu dài.
Trang 1Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
HUY ĐỘNG VỐN CHO PHÁT TRIỂN KẾT CẤU
HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI NÔNG THÔN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
9
1.1 Vốn và huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội nông thôn
ĐỘNG VỐN CHO PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI NÔNG THÔN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI
45
2.1 Những quan điểm cơ bản nhằm tăng cường huy động
vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
45
2.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường huy động
vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương thời gian tới
56
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quantrọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo anninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trườngsinh thái của đất nước Do đó, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm, coi đó không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn lànhiệm vụ chính trị - xã hội có ý nghĩa chiến lược cả trước mắt và lâu dài
Từ vị trí, vai trò quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” [18, tr.88] Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [19, tr.12] Và, từ thực trạng “Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế”[19, tr.122], Nghị quyết xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới cần tập trung giải quyết là: “Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị” [19, tr 132].
KCHTKT - XH nông thôn, là một bộ phận cấu thành KCHTKT - XH của nềnkinh tế quốc dân, có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đẩymạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Phát triển KCHTKT - XH nông thôn sẽlàm thay đổi cơ bản toàn diện đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội nông thôn,thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi; giữaphát triển công nghiệp và phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, phát triển KCHTKT -
XH nông thôn đòi hỏi chi phí rất tốn kém, nên để thực hiện vấn đề này, cần huy độngmọi nguồn lực, trong đó vốn là nguồn lực quan trọng Vì vậy, HĐV để phát triển
Trang 3KCHTKT - XH nông thôn là vấn đề cấp thiết hiện nay nhằm thực hiện CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới
Hải Dương là một tỉnh ở trung tâm đồng bằng Sông Hồng, trong vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, song hiệntại hệ thống KCHTKT - XH ở địa bàn nông thôn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi tỉnh HảiDương phải đẩy nhanh phát triển hệ thống KCHTKT - XH nông thôn Nhận thứcđược vấn đề đó, thời gian qua, thực hiện chính sách HĐV năng động, phù hợp, HảiDương đã huy động được nhiều nguồn vốn của địa phương, trong nước và ngoàinước cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn Tuy nhiên, lượng vốn huy động đượcvẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển KCHTKT - XH nông thôn Để có một hệthống KCHTKT - XH nông thôn hiện đại, phục vụ đắc lực nhiệm vụ CNH, HĐHnông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và hội nhập kinh tế quốc tế,thì vấn đề HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở Hải Dương hiện nay có ýnghĩa quan trọng và cấp thiết
Với những lý do trên, vấn đề “Huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương hiện nay” được tác giả lựa chọn làm đề
tài nghiên cứu của luận văn
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
Vốn và HĐV là vấn đề rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đấtnước nói chung và đối với phát triển KCHTKT - XH nông thôn nói riêng, nên trong thờigian qua vấn đề này được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, trong đó nổi lên một sốcông trình khoa học tiêu biểu là:
- “Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng trong kinh tế nông thôn, nông nghiệp Việt Nam”, tác giả Phan Sỹ Mẫn, luận án PTS kinh tế, Viện kinh tế học, Hà Nội, năm
1995 Luận án đã phân tích vai trò, thực trạng KCHT trong nông nghiệp, nông thônnhững năm đầu đổi mới, đề xuất một số giải pháp cơ bản, trong đó có giải pháp vềvốn để xây dựng và phát triển hệ thống KCHT nông nghiệp, nông thôn
- “Những giải pháp chủ yếu nhằm huy động vốn trong nước phục vụ phát triển kinh tế Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Lai, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị
Trang 4quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 1996 Trên cơ sở phân tích thực trạng huy động
và sử dụng vốn, nhất là những yếu kém, bất cập trong thời gian gần 10 năm đổi mới,tác giả luận án đã đề xuất các giải pháp như: ổn định kinh tế vĩ mô; chú trọng pháttriển kinh tế thị trường và mở rộng thị trường vốn; hoàn thiện hệ thống pháp luật vềkinh tế…cho phát triển kinh tế - xã hội
- “Sử dụng công cụ tài chính - tiền tệ để huy động vốn cho đầu tư phát triển”,
tác giả Nguyễn Đình Tài, Nxb Tài Chính, Hà Nội, năm 1997 Tác giả đã khái quátkinh nghiệm huy động vốn của Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan phân tích các công
cụ huy động vốn ở nước ta trong giai đoạn 1986 - 1991
- “Chiến lược huy động và sử dụng vốn trong nước cho phát triển công nghiệp Việt Nam”, tác giả Trần Xuân Kiên, Nxb Lao động, Hà Nội, năm 1998 Tác giả tập
trung nghiên cứu thực trạng phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1995 - 2000,trên cơ sở đó khẳng định nhu cầu về vốn cho phát triển công nghiệp là rất lớn, có vaitrò quan trọng hàng đầu Đồng thời, thông qua khái quát một số kinh nghiệm tích tụ
và tập trung vốn ở một số nước Đông Nam Á và Trung Quốc, tác giả đưa ra nhữngđịnh hướng và giải pháp cơ bản để đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn trongnước cho phát triển công nghiệp
- “Huy động vốn trong nước phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng”, tác giả Phạm Thị Khanh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2004.
Cuốn sách phân tích thực trạng HĐV trong nước dưới các nguồn từ vốn ngân sách,vốn của các doanh nghiệp nhà nước, vốn trong nhân dân trên địa bàn vùng đồngbằng Sông Hồng nhằm phục vụ cho phát triển nông nghiệp giai đoạn 1991 - 2000
- “Thu hút và sử dụng vốn đầu tư để phát triển kinh tế miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”, tác giả Đinh Văn Phượng, luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2000 Từ phân tích đặc điểm kinh tế
-xã hội kém phát triển của miền núi phía Bắc, tác giả luận án khẳng định vai trò quantrọng của vốn, đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư đối với phát triểnkinh tế của vùng trong thời gian từ 1986 - 1998; đề xuất phương hướng và giải pháp
cơ bản huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở các tỉnhmiền núi phía Bắc
Trang 5- “Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và vai trò của nó đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay”, tác giả Nguyễn Đức Độ, luận án tiến sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị quân sự, Hà Nội, năm 2002 Tác giả luận giải vai trò phát triển kếtcấu hạ tầng kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự nghiệp củng
cố Quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; đánh giá thực trạng, đề xuất quan điểm, giải phápnhằm đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và phát huy vai trò của nó đối vớicủng cố quốc phòng ở nước ta
- “Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn, thực trạng
và giải pháp”, tác giả Chu Tiến Quang (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm
2005 Cuốn sách luận giải nội dung huy động và sử dụng các nguồn lực: đất nông nghiệp,lao động nông thôn, vốn cho phát triển nông thôn; đưa ra nhóm các giải pháp nhằm phân bổ
và sử dụng các nguồn lực trên một cách có hiệu quả
- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, tác giả
Trần Xuân Tùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2005 Tác giả phân tích vị trí,vai trò của vốn FDI, đánh giá thực trạng thu hút, sử dụng và tác động của vốn FDI đốivới sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta thời gian qua và đề xuất giải pháp nhằm thuhút có hiệu quả vốn FDI trong thời gian tới
- “Tăng cường huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đổi mới”, tác giả Nguyễn Lương
Thành, luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, năm 2006 Tác giả
đã phân tích hiện trạng HĐV cho đầu tư cho phát triển KCHTKT - XH ở tỉnh BắcNinh, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp đổi mới chính sách kinh tế vĩ mô, cải thiệnmôi trường chính trị, pháp lý, đa dạng hoá các hình thức HĐV
- “Huy động vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Đồng Nai” tác giả
Đỗ Thị Anh, luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị, Hà Nội, năm 2009 Tác giảluận giải cơ sở khoa học của việc HĐV cho CNH, HĐH ở tỉnh Đồng Nai; đánh giá thựctrạng HĐV cho CNH, HĐH ở tỉnh Đồng Nai từ năm 2000 đến năm 2008; đề xuất quanđiểm, giải pháp nhằm giải quyết những mâu thuẫn tồn tại trong quá trình huy động và sửdụng các nguồn vốn cho quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Đồng Nai
Trang 6Ngoài các công trình, luận án, luận văn nêu trên, còn một số bài báo khoa họcliên quan đến chủ đề của luận văn được đăng tải trên một số tạp chí, tiêu biểu là:
- “Huy động vốn trong nhân dân để góp phần thực hiện nhiệm vụ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tác giả Bùi Hồng Quang, Tạp chí Kinh tế và
dự báo, số 4/1995
- “Huy động vốn trong nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”, tác giả
Nguyễn Văn Hùng, Tạp chí Cộng sản số 14/1995
- “Xây dựng giao thông nông thôn đáp ứng sản xuất nông nghiệp hàng hoá”, tác giả
Chu Xuân Nam, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 4/2004
- “Tín dụng nông nghiệp, nông thôn: thực trạng và một số đề xuất”, tác giả
Kim Thị Dung, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 11 năm 2005
- “Cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng và hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư”, tác giả Lê Huỳnh Kỳ, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 9/2006.
- “Đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn thành tựu và giải pháp”, tác
giả Trần Anh Dũng, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 431- 2008
- “Một số giải pháp phát triển tam nông bền vững”, tác giả PGS, TS Nguyễn
Sinh Cúc, Thông tin phục vụ lãnh đạo tháng 4/2009 v.v…
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn,song cho đến nay vấn đề HDV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở tỉnh HảiDương chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố Vì vậy, đề tài luận vănkhông trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giảipháp tăng cường huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nôngthôn ở tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
Trang 7- Phân tích, đánh giá thực trạng HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nôngthôn ở tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến nay, xác định nguyên nhân và những vấn
đề đặt ra cần giải quyết
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn cho phát triểnKCHTKT - XH nông thôn ở tỉnh Hải Dương trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu: Huy động vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn.
* Phạm vi nghiên cứu: Huy động vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn
trên địa bàn tỉnh Hải Dương; thời gian khảo sát và lấy số liệu từ năm 2001 đến nay
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các Nghị quyết của Đại hội đạibiểu Đảng bộ và của Ban Chấp hành Tỉnh ủy tỉnh Hải Dương về phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh, trong đó đề cập đến vấn đề vốn và HĐV cho phát triển KCHTKT XH; đồng thời sử dụng số liệu khảo sát thực tế, tham khảo các tài liệu có liên quan và
-kế thừa -kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã công bố
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị Mác -Lênin: trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp và một sốphương pháp khác: thông kê, so sánh, chuyên gia v.v…
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn được thực hiện thành công sẽ góp phần cung cấp thêm cơ sở khoahọc cho việc xác định chủ trương, biện pháp tăng cường huy động vốn cho pháttriển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương và các tỉnh khác
Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứukhoa học và giảng dạy kinh tế chính trị Mác - Lênin, giáo dục quốc phòng ở các họcviện, nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 8Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HUY ĐỘNG VỐN CHO PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI
NÔNG THÔN Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 1.1 Vốn và huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
1.1.1 Quan niệm và đặc điểm của vốn phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
-xã hội nông thôn
* Quan niệm về vốn phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc độkhác nhau Các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái kinh tế trước C.Mác thông qua
phạm trù tư bản quan niệm: Vốn là phạm trù kinh tế Kế thừa chọn lọc tư tưởng của
các nhà tiền bối, khi nghiên cứu sự chuyển hóa của tiền thành tư bản, C.Mác khẳng
định: “Như vậy là giá trị được ứng ra lúc ban đầu không những được bảo tồn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị Chính sự vận động ấy biến giá trị thành tư bản" [31,
tr.228] Khẳng định trên của C.Mác đã vạch rõ bản chất và chức năng của tư bản (vốn)trong phát triển kinh tế Bản chất của tư bản là giá trị; chức năng của tư bản là sinh lời Tuynhiên, để giá trị trở thành tư bản và tư bản sinh lời phải trải qua sự vận động Thông qua sựvận động, tư bản sinh sôi nảy nở và lớn lên không ngừng
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho
rằng vốn là: “tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư
trong kinh doanh để tạo ra thu nhập và lợi tức” [35, tr 29].
Dưới góc độ tài sản, trong cuốn Từ điển kinh tế của Penguin Reference do
hai dịch giả Phạm Đăng Bình và Nguyễn Văn Lập dịch lại đưa ra khái niệm: “Vốn
là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra” [39, tr 56].
Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm Lịch sử tư tưởng kinh tế,I.Đ.Uđanxôp và F.I.Pôlianxki cho rằng: “Vốn là một trong ba yếu tố đầu vào
Trang 9phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn) Vốn bao gồm các sản phẩm lâubền được chế tạo để phục vụ sản xuất (tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhàcửa ” [22, tr.300].
Ở Việt Nam, cuốn Từ điển tiếng Việt, của Trung tâm Từ điển học Hà Nội - Đà
Nẵng đã định nghĩa: “vốn là tiền của ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lời” [41, tr.1126] Coi là vốn, thì điều hiển nhiên phải được đầu tư vào sản xuất - kinh
doanh nhằm mục đích thu được lợi nhuận; nhưng trên thực tế việc đầu tư vốn vào sản xuất
- kinh doanh thu được lợi nhuận nhiều hay ít, lãi hay lỗ lại tùy thuộc vào khả năng, trình
độ, tài tổ chức, năng lực của từng chủ thể sản xuất - kinh doanh
Như vậy, trong lịch sử và hiện tại có rất nhiều cách tiếp cận, quan niệm vềvốn, nói lên tính đa dạng, nhiều vẻ về hình thái tồn tại của vốn Vốn có thể là tiềnhoặc là tài sản đã được giá trị hoá, mặt khác với tư cách là vốn thì phải được đầu tưvào sản xuất - kinh doanh, tức là gắn với quá trình vận động và có chức năng sinh lời
Trên cơ sở nghiên cứu và kế thừa các quan niệm về vốn đã được cácnhà kinh tế học đưa ra, trong phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài, có thể
quan niệm về vốn như sau: Vốn là tổng giá trị của những tài sản (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tài sản tài chính) tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất - kinh doanh của các chủ thể đầu tư nhằm thu được lợi nhuận cho nhà đầu tư.
Từ quan niệm chung về vốn, có thể hiểu: Vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn là tổng giá trị của những tài sản (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, tài sản tài chính) tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn.
Trên cơ sở quan niệm về vốn, căn cứ vào những tiêu thức khác nhau có thểphân loại vốn phát triển KCHTKT - XH nông thôn như sau:
- Dựa vào phạm vi lãnh thổ quốc gia, vốn chia làm hai loại là: vốn trongnước và vốn ngoài nước
- Dựa vào đặc điểm vận động, vốn có hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.Vốn cố định được biểu hiện bởi giá trị những tài sản cố định, bao gồm : đất đai, máy
Trang 10móc, thiết bị, phương tiện xây dựng hệ thống KCHTKT - XH nông thôn v.v Vốn lưuđộng được biểu hiện bởi giá trị của những tài sản lưu động, bao gồm: Nguyên vật liệu,các khoản tiền tệ đáp ứng thanh toán cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn
- Dựa theo hình thái tồn tại cụ thể, vốn chia thành ba loại: vốn hữu hình, vốn
vô hình và vốn tài chính
- Dựa vào thời gian sử dụng vốn có ba loại gồm: vốn ngắn hạn (là lượng giátrị được sử dụng để đầu tư với thời hạn dưới một năm); vốn trung hạn (là lượng giátrị được sử dụng để đầu tư với thời hạn từ một năm đến dưới năm năm) và vốn dàihạn (là lượng giá trị được sử dụng để đầu tư với thời hạn từ năm năm trở lên)
- Dựa vào quan hệ sở hữu: Vốn được phân chia gồm: vốn chủ sở hữu (vốn tựcó) là vốn thuộc quyền quản lý, sử dụng của một hay nhiều chủ thể sở hữu và vốnvay (huy động từ bên ngoài) có thể huy động từ vay trong nước và vay ngoài nước
- Dựa vào phương thức sử dụng, không chỉ có vốn đầu tư trực tiếp mà còncần vốn đầu tư gián tiếp cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn
Việc phân chia vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn thành nhiềuloại khác nhau nhằm mục đích hiểu rõ bản chất của phạm trù vốn - là hình thái giátrị, là thứ hàng hóa đặc biệt, có mối quan hệ mật thiết với thời gian và nhận thứcđược tính đa dạng, nhiều vẻ và rất phức tạp của vốn trong nền kinh tế thị trường.Đồng thời, trong các nguồn vốn phát triển KCHTKT - XH nông thôn hiện nay ởnước ta cũng như ở Hải Dương, nguồn vốn tiền tệ là quan trọng nhất
* Đặc điểm vốn phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
Đặc điểm của vốn phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở nước ta hiện nay đượcthể hiện trên các khía cạnh:
Một là, quan hệ sở hữu về vốn: Ở nước ta hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh
tế đã làm cho chủ thể sở hữu về vốn tồn tại một cách đa dạng: Vốn ngân sách Nhà nước,vốn của các doanh nghiệp, vốn trong dân cư và vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực pháttriển KCHTKT - XH nông thôn
Hai là, sự tồn tại đa hình thức của vốn: Vốn tiền tệ, vật chất, đất đai ; vốn hữu
hình, vốn vô hình, vốn tài chính đã tạo ra sự đa dạng hóa các hình thức huy động, đóng
Trang 11góp cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn Với quan niệm, vốn không chỉ là tiền (tưbản), mà vốn trong phát triển KCHTKT nói chung và vốn cho phát triển KCHTKT - XHnông thôn nói riêng, được xác định tồn tại dưới nhiều hình thức, thông qua từng hìnhthức về vốn mà có thể thấy được tiềm năng, thế mạnh, lợi thế so sánh của từng vùng, khuvực, của từng chủ thể sản xuất kinh doanh, để khai thác một cách có hiệu quả
Ba là, vốn cần cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn là rất lớn: Xuất phát từ
tính chất, đặc thù của KCHTKT - XH nông thôn, là toàn bộ các hạng mục công trình, cơ
sở vật chất của KCHT nông thôn như: hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, nước sạch, cáccông trình văn hóa, giáo dục, y tế, hệ thống cầu cống, kho tàng, bến bãi mỗi hạng mụccông trình đòi hỏi lượng vốn đáp ứng khác nhau, thời gian thu hồi vốn khác nhau Để cóđược một KCHTKT - XH nông thôn hiện đại, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn đòi hỏi phải có lượng vốn rất lớn Trong cấu thành của vốn cho phát triểnKCHTKT - XH nông thôn chủ yếu là vốn cố định, có nguồn gốc kỹ thuật Vì vậy, để cóđược hệ thống KCHTKT - XH nông thôn phát triển ở Hải Dương đòi hỏi phải có mộtlượng vốn rất lớn Để có được lượng vốn, phải qua nhiều nguồn, kênh khác nhau mới cóthể đáp ứng được Quá trình HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn còn phải đápứng nâng cao năng lực sản xuất và kéo dài tuổi thọ của các hạng mục công trình
Bốn là, vòng quay của vốn chậm, thời gian thu hồi vốn dài, lợi nhuận thấp, lại chịu
nhiều rủi ro trước tác động của tự nhiên: KCHTKT - XH nông thôn cơ bản là các côngtrình mang tính cố định, thời gian sử dụng dài, làm cho quá trình tuần hoàn và chu chuyểnvốn chậm, thời gian thu hồi vốn dài Mặt khác, KCHTKT - XH nông thôn, chịu tác độngmạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, nên khi sử dụng vốn sẽ gặp nhiều rủi ro, tổn thất, giảmhiệu quả đầu tư vốn (khi thời tiết, khí hậu không thuận hòa) Nên khi HĐV cho pháttriển KCHTKT - XH nông thôn trong phát triển kinh tế hàng hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế, không chỉ đầu tư vốn cho quá trình xây dựng KCHTKT - XH nông thôn,
mà còn phải dành một khoản nhất định hình thành quỹ duy tu, bảo dưỡng, hỗ trợ rủi
ro nhằm phân tán rủi ro cho các chủ thể sản xuất - kinh doanh, khi họ sử dụngKCHTKT - XH nông thôn cho quá trình sản xuất - kinh doanh, đảm bảo tính ổnđịnh, bền vững trong phát triển KCHTKT - XH nông thôn
Trang 121.1.2 Quan niệm và tính tất yếu của việc huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương hiện nay
* Quan niệm huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn
Theo Từ điển Tiếng Việt, thì:“Huy động là điều động, tập trung số đông các yếu tố vào để thực hiện một mục tiêu nào đó” [42, tr.427] Trên cơ sở đó có thể hiểu
HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn là quá trình tập trung, thu hút các nguồn tiềntích luỹ trong xã hội, bao gồm: tiền vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; tiền tích luỹ từ hiệu quảsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiền tiết kiệm trong dân; huy động thông qua vayvốn ngân hàng, các quỹ tín dụng huy động từ nước ngoài (dưới các hình thức tài trợ, đầu tưliên doanh liên kết) vào đầu tư phát triển KCHTKT - XH hội nông thôn nhằm thực hiệnmục tiêu phát triển KCHTKT - XH nông thôn hiện đại
Với cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước, chính quyền địa phương nhằm điều động, tập trung, thu hút các nguồn vốn trong
xã hội theo đúng quy định của luật pháp cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn mới.
Chủ thể huy động vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn:
Do KCHTKT XH nông thôn là một bộ phận trong hệ thống KCHTKT
-XH của quốc gia, điều kiện chung của quá trình tái sản xuất xã hội, nên chủ thểchịu trách nhiệm đầu tư phát triển kết cấu HTKT - XH nông thôn trên địa bàntỉnh Hải Dương là Nhà Nước và chính quyền các cấp của tỉnh Hải Dương NhàNước và chính quyền các cấp của tỉnh Hải Dương có trách nhiệm huy động vốncho phát triển KCHTKT - XH nông thôn theo quy hoạch, kế hoạch đề ra
Phương thức huy động vốn:
Trên cơ sở quy định của luật pháp hiện nay, việc huy động vốn cho phát triểnKCHTKT - XH nông thôn ở tỉnh Hải Dương được thực hiện theo hai phương thức chủyếu sau: Phương thức kế hoạch hóa và phương thức thị trường
Trang 13Huy động vốn theo phương thức kế hoạch hóa, là phương thức HĐV thông qua
cơ chế kế hoạch huy động các nguồn ngân sách của Nhà nước và địa phương của HảiDương cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn Theo phương thức này, Nhà nước vàchính quyền các cấp ở tỉnh Hải Dương phân bổ và bảo đảm ngân sách cho phát triểncác công trình KCHTKT - XH nông thôn theo kế hoạch đã được xác định
Huy động vốn theo phương thức thị trường, là phương thức huy động vốn thôngqua cơ chế thị trường Nhà nước và chính quyền các cấp ở tỉnh Hải Dương thông qua
cơ chế thị trường để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách của các tổ chức, cá nhântrong tỉnh, ngoài tỉnh cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn
Trên thực tế, việc HĐV cho phát triển nhiều công trình KCHTKT - XH nôngthôn ở Hải Dương được thực hiện theo phương thức hỗn hợp: kết hợp cả hai phươngthức kế hoạch hóa và phương thức thị trường
- Huy động vốn theo hình thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Đây là hìnhthức khá phổ biến trong việc HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn khôngnhững ở Hải Dương mà còn rộng rãi trên phạm vi cả nước Nhà nước kích thích, thu hútmột phần vốn tự nguyện từ nhân dân thông qua việc hỗ trợ ngân sách cho phát triển cáccông trình KCHTKT - XH nông thôn Trong hình thức huy động vốn này, vốn ngân sách
nhà nước không chỉ đơn thuần là “vốn mồi”, mà quan trọng là nó đã trở thành “cú hích”,
là “lực đẩy” cho tất cả các thành phần kinh tế đua tranh phát triển KCHTKT - XH nông
thôn; đồng thời, vốn ngân sách Trung ương huy động vào phát triển KCHTKT - XH
nông thôn không mang tính “cào bằng” giữa các vùng, mà đầu tư có trọng tâm, trọng
điểm phát huy ưu thế từng vùng đã mang lại nét mới trong việc huy động nguồn ngânsách Trung ương cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở Hải Dương
Trang 14- Huy động vốn theo hình thức phát hành công trái, trái phiếu Đây là hình thứcHĐV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn thông qua việc Nhà nước phát hành côngtrái, trái phiếu nhằm nhằm huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chứckinh tế, xã hội tạo vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách, tăng cường đầu tư phát triểnKCHTKT - XH nông thôn
- Huy động vốn theo hình thức tín dụng Hiện nay, trên địa bàn Hải Dương
có ba tổ chức tín dụng chính thức là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nôngthôn, Ngân hàng chính sách xã hội và 79 Quỹ tín dụng nhân dân đến hết tháng 5năm 2010 nguồn vốn huy động tại chỗ trên địa bàn đạt 46.400,0 tỷ đồng; tổng dư nợước đạt: 31.700,0 tỷ đồng, chiếm tới 82,84% thị phần cho vay vốn phát triểnKCHTKT - XH nông thôn Thông qua hình thức tín dụng, Nhà nước và chínhquyền các cấp ở Hải Dương có thể huy động lượng vốn lớn cho phát triểnKCHTKT - XH nông thôn
- Huy động vốn theo hình thức BT (xây dựng, chuyển giao), BOT (xây dựng,kinh doanh, chuyển giao) Đây là hình thức huy động vốn thông qua việc Nhà nước,chính quyền địa phương các cấp ở Hải Dương cấp phép cho các tổ chức, cá nhânđầu tư vốn xây dựng một số công trình KCHTKT - XH nông thôn theo hình thứcxây dựng, chuyển giao, hoặc xây dựng, kinh doanh, chuyển giao Những năm vừaqua, hình thức đầu tư BT và BOT được xem là hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, nhất
là các doanh nghiệp lớn, có tiềm lực về tài chính “Mở màn” cho xu hướng đầu tưphát triển KCHT theo hình thức BT, BOT phải kể tới Tập đoàn Nam Cường, vớihàng loạt các dự án lớn ở Hải Dương, như: xây dựng cầu Cậy, cầu Tuần Mây, cầuHàn, cầu Quang Thanh, dự án xây dựng đường 394, 390B kéo dài, Đây có thể nói làtiền lệ tốt cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển KCHTKT -
XH nông thôn ở Hải Dương theo hình thức BT và BOT trong thời gian tới
- Huy động vốn viện trợ ODA Nguồn vốn này chủ yếu theo hình thức địaphương vay cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn Tập trung vào các dự án điện,đường, trường, trạm theo quy hoạch, kế hoạch Nhà nước Tổng số vốn huy động quaODA cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn trên địa bàn tỉnh những năm qua chỉ đạt
Trang 15894,9 tỷ đồng (chiếm 3,55 %) [43, tr.6] So với yêu cầu phát triển KCHTKT - XHnông thôn phục vụ quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn Tỉnh thìlượng vốn trên là rất nhỏ bé Vì vậy, trong những năm tới cần phải tăng cường huyđộng tối đa nguồn vốn ODA cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở Hải Dương.
* Tính tất yếu của việc huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương hiện nay
Việc huy động vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở tỉnh Hải Dươnghiện nay là một tất yếu khách quan Tính tất yếu đó được quy định bởi những lý dochủ yếu sau đây:
Một là, xuất phát từ vai trò của vốn đối với phát triển KCHTKT - XH nông thôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Các nhà kinh tế học từ cổ đại đến hiện đại đều khẳng định: vốn là nhân tố cơ bản củaquá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Khi nghiên cứu địa tô tư bản chủ nghĩa,C.Mác chỉ rõ vai trò của tư bản (vốn) trong quá trình phát triển nông nghiệp Ngườiviết: “ do những quy luật tự nhiên chi phối trong nông nghiệp, nên khi canh tác đãđạt đến trình độ nhất định và khi đất đã bị kiệt màu đi một cách tương ứng, thì tưbản sẽ trở thành yếu tố quyết định” [32, Tr.333] Ngày nay, khi nghiên cứu các nhân
tố đầu vào của quá trình sản xuất, các nhà kinh tế học hiện đại vẫn tiếp tục khẳng định vốn
là “chìa khóa” của tăng trưởng và phát triển kinh tế
Khi nghiên cứu các nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất, hai nhà kinh tế họcR.F.Harrod (Anh) và E.Domanr (Mỹ) đã lượng hóa vai trò của vốn đối với tăng trưởngkinh tế của một đơn vị kinh tế bất kỳ (công ty, ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp thậm chí là một nền kinh tế) thông qua mô hình Harrod - Domanr các ông đã đưa ra mộthàm sản xuất giản đơn:
g =
k s
Trong đó: - g là tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng đầu ra
- s là tỷ lệ đầu tư so với sản lượng đầu ra
- k là tỷ số giữa gia tăng tư bản (vốn) với gia tăng đầu ra (hệ số ICOR)
Trang 16Hệ số k cho biết, để có thêm một đồng sản phẩm đầu ra (giá trị tăng thêm) cần phảiđầu tư k đồng vốn
Mô hình Harrod - Domanr khẳng định: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ
lệ tiết kiệm đầu tư và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR Để tăng trưởng kinh tế cần phải tiếtkiệm để đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Khi phát triển kinh tế với đà tăng trưởngcao, cùng sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, để giữ đượcnhịp độ tăng trưởng cao thì càng cần nhiều vốn Trong trường hợp, tiết kiệm không đủ bùđắp đầu tư, có thể bổ sung sự thiếu hụt vốn bằng việc thu hút vốn từ bên ngoài
Từ những cơ sở lý luận trên, trước hết có thể thấy, vốn là tiền đề quan trọngquyết định tới quy mô, cơ cấu, trình độ và tốc độ phát triển KCHTKT - XH nôngthôn Để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Hải Dương hiện nay, pháttriển hệ thông KCHTKT - XH nông thôn không chỉ đòi hỏi về quy mô mà còn đòihỏi phải theo hướng hiện đại Điều đó lại đòi hỏi phải có vốn
Mặt khác, vốn là cơ sở, điều kiện để khai thác, phát huy các nguồn lực khác
vào phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn Có vốn, sẽ tạo điều kiện
để xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hộitừng thời kỳ, khai thác và sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý Thông qua vốnhuy động, mà Hải Dương có điều kiện bố trí nguồn vốn hợp lý cho đầu tư pháttriển kinh tế - xã hội và cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn trên địa bàn tỉnh Đồng thời, vốn chi phối rất lớn đến việc nghiên cứu, ứng dụng những thànhtựu khoa học - công nghệ mới; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn Cùng với hệ thống trang thiết bị - kỹ thuật sử
dụng cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn, có vốn sẽ đảm bảo cho hệ thốngcông nghiệp phục vụ cho phát triển nông nghiệp và KCHTKT cũng được hình thànhvới các ngành như: chế tạo máy, sản xuất vật liệu cho xây dựng hệ thống KCHTKT,các trạm xưởng lắp ráp, sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng, hệ thống cơ sở hạ tầng thủy lợi,điện, đường, trường, trạm, hệ thống dịch vụ cho sản xuất
Ngoài ra, vốn còn góp phần xây dựng, củng cố và phát triển các mối liên kết, liêndoanh giữa “bốn nhà” (nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông) tham gia
Trang 17vào đầu tư phát triển KCHTKT - XH nông thôn trên địa bàn tỉnh Hải Dương Thôngqua việc HĐV cho phát triển hệ thống KCHTKT - XH nông thôn, góp phần phát huydân chủ ở cơ sở với phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, tạo sự đồngthuận cao giữa nhà nước và nhân dân trong xây dựng quy hoạch, kế hạch, chiến lược đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội, cũng như cho phát triển hệ thống KCHTKT - XH nôngthôn, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và xây dựng nông thôn mớihiện nay Đồng thời, thông qua góp vốn giữa doanh nghiệp với địa phương, tạo điềukiện để đầu tư phát triển KCHTKT - XH trên địa bàn như: điện, đường, trường,trạm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, làm cho mối quan
hệ giữa doanh nghiệp và nông dân ngày càng mật thiết, gắn bó hơn; qua góp vốn,doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu của nông dân về các loại hàng hóa, dịch vụ chosản xuất và tiêu dùng, trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển vùngnguyên liệu, triển khai ứng dụng các dự án về các loại giống mới, ứng dụng nhanhthành tựu về khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả cácloại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhândân, góp phần phát triển nền nông nghiệp hàng hóa bền vững, tham gia bảo vệ môitrường Mặt khác, có vốn sẽ là điều kiện cho nông dân và các nhà khoa học liên kếtchặt chẽ với nhau trong việc nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các loại phươngtiện kỹ thuật, dây chuyền công nghệ mới vào sản xuất các loại vật liệu phục vụ choxây dựng hệ thống KCHTKT - XH nông thôn, đảm bảo chất lượng, hạ giá thành,tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp hàng hóa bền vững
Hai là, xuất phát từ yêu cầu phát triển hệ thống KCHTKT - XH phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hải Dương.
Để sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thành công, một trongnhững nhiệm vụ và giải pháp quan trọng là: “Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội nông thôn gắn với phát triển các đô thị” [19, tr.6] Là một tỉnh nằm trong vùngkinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh sovới nhiều địa phương khác, Hải Dương có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển Tuynhiên trên thực tế, Hải Dương vẫn là tỉnh thuần nông với hệ thống KCHTKT - XH
Trang 18yếu kém, lạc hậu, phát triển thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu sự nghiệpCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Do đó, để xây dựng được hệ thống KCHTKT -
XH nông thôn hiện đại, Hải Dương cần rất nhiều vốn Vì thế, Hải Dương phải tậptrung huy động tối đa mọi nguồn vốn trong và ngoài tỉnh để đầu tư phát triển hệthống KCHTKT - XH nông thôn một cách đồng bộ, trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch,chiến lược phát triển cả trước mắt và lâu dài
Đồng thời, nhằm phục vụ cho phát triển nền nông nghiệp hàng hóa; tạo sự phát triểncân đối, rút ngắn khoảng cách giữa thành phố Hải Dương, Thị xã Chí Linh với một sốhuyện kém phát triển như Tứ Kỳ, Thanh Hà, Kinh Môn,…đòi hỏi phải có một nguồn vốnlớn để xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển KCHTKT - XH nông thôn gắn với pháttriển KCHT các trung tâm kinh tế - văn hóa trên toàn địa bàn Tỉnh, nhất là những địa bànkhó khăn, tạo ra bước phát triển mới có tính đồng bộ ở các địa phương này
Mặt khác, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Hải Dương còn đặt
ra yêu cầu xây dựng, củng cố và ngày càng hoàn thiện quan hệ sản xuất mới trongkhu vực nông nghiệp, nông thôn Thực tế quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn ở Hải Dương thời gian qua cho thấy, quan hệ sản xuất được xây dựng ngàycàng phù hợp Toàn tỉnh hiện có 1.179 trang trại, 36 làng nghề, 355 HTX, 8.047 cơ
sở sản xuất, tổ kinh tế hợp tác và 150 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động tại khuvực nông thôn Tất cả 229 xã của tỉnh đều có HTX đang hoạt động Đây là nhân tốquan trọng trong chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế nông thôn Thông quaCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn để phát triển lực lượng sản xuất, hướng tới xâydựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
1.2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương
1.2.1 Đặc điểm tình hình tác động đến huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương
* Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Hải Dương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố:Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Hưng Yên Tổng
Trang 19diện tích tự nhiên 1.662 km2; được chia ra làm hai vùng: vùng đồi núi chiếm11% diện tích (gồm: Thị xã Chí Linh và huyện Kinh môn), còn lại là đồng bằngchiếm 89% diện tích tự nhiên Hải Dương có nhiều bãi cát, sỏi và đá vôi tự nhiên
có thể khai thác làm vật liệu xây dựng các công trình KCHTKT - XH nông thôn.Mặt khác, địa hình Hải Dương khá thuận lợi cho phát triển toàn diện KCHTKT -
XH nông thôn phục vụ cho các ngành kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu nông,sản phẩm trong Tỉnh và xuất khẩu
Đồng thời, với vị trí địa - kinh tế và địa - chính trị thuận tiện, nằm giữa vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Hải Dương có nhiều tiềm năngđóng góp vào phát triển kinh tế vùng Đồng bằng Sông Hồng, đặc biệt là cho phát triểnvùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; điều kiện tự nhiên thuận lợi cho Hải Dương phát triển cảcông nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và du lịch Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phát triểnmạnh mẽ hệ thống KCHTKT - XH, nhất là KCHTKT - XH nông thôn, mới có thể đánhthức, khơi dậy những tiềm năng to lớn mà điều kiện thiên nhiên đã ưu đãi cho Hải Dương
* Đặc điểm về tình hình kinh tế - xã hội
Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số của Hải Dương là 1.732.347 người,tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn (1.417.131 người Hiện nay, Hải Dương có1.097.967 người trong độ tuổi lao động, trong đó, lao động nông thôn có 579.219người, chiếm 59,7%, là lực lượng lao động hùng hậu, sẵn sàng tham gia vào pháttriển KCHTKT - XH nông thôn của Tỉnh
Đồng thời, Hải Dương là một trong những vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, cótruyền thống hiếu học; người Hải Dương thông minh, cần cù, chịu khó Hiện nay,trình độ học vấn của người dân Hải Dương khá cao; trên địa bàn Hải Dương có 43
cơ sở dạy nghề (trong đó, do trung ương quản lý 7 cơ sở và địa phương quản lý 36
cơ sở) Quy mô đào tạo của Tỉnh được mở rộng, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt40% (năm 2010); cán bộ khoa học - công nghệ chiếm 17%; lao động có tay nghề bậccao: 47%; trình độ Cao đẳng và Đại học trên 60,83%; Sau đại học là 19,17% Hải Dương
là một trong số 20 Tỉnh, Thành phố đứng đầu về chỉ số HDI của Việt Nam Điều này thểhiện sự vượt trội về tiềm năng phát triển nguồn nhân lực cho phát triển KCHTKT - XH
Trang 20nông thôn ở Hải Dương Bên cạnh đó, Hải Dương lại nằm trong vùng có nhiều trườngđại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu, khoa học đầu ngànhcủa đất nước Đây là một lợi thế rất lớn trong khai thác “chất xám” để phát triểnKCHTKT - XH nông thôn hiện đại.
Ngoài ra, lịch sử đã để lại cho Hải Dương một vùng văn hóa và vùng văn hiếntâm linh chính của cả nước Lịch sử đã để lại cho Hải Dương 1.098 di tích lịch sử,trong đó có 133 di tích được xếp hạng quốc gia và xếp hạng đặc biệt như di tíchCôn Sơn - Kiếp Bạc đây là lợi thế để Hải Dương phát triển mạnh kinh tế du lịchtrong thời gian qua và những năm tiếp theo; đồng thời, đó cũng là những thuận lợi
để “mời gọi” các nhà đầu tư bỏ vốn vào phát triển KCHTKT - XH nông thôn
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó, hiện tại mức thu nhập của người dân bìnhquân/người /tháng của Tỉnh ở mức thấp, mới chỉ đạt 985.000đ, trong đó, thu nhậpbình quân/người/tháng của 20% số hộ có thu nhập cao nhất so với 20% số hộ có thunhập thấp nhất chênh lệch là 6,02 lần; GDP bình quân đầu người ở nông thôn chỉ đạt923.000đồng, bằng 69,81% so với thành thị (1.322.000đồng) Mặt khác, Hải Dương
là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao trong vùng đồng bằng Sông Hồng; số hộ nghèo (theochuẩn nghèo mới) đến năm 2009 là 31.429 hộ chiếm 6,9% tổng số hộ trong toànTỉnh; thu nhập thấp, tích lũy từ nội bộ không lớn, đầu tư thấp dẫn đến tình trạng kinh
tế - xã hội chậm phát triển Đây là yếu tố tác động tiêu cực đến khả năng huy độngvốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở Hải Dương
* Đặc điểm hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn tỉnh Hải Dương
Sau khi tách tỉnh tháng 1/1997, Hải Dương đã quan tâm coi trọng phát triểntoàn diện kinh tế, văn hóa - xã hội Với quan điểm: “Phát triển cơ sở hạ tầng phải đitrước một bước, phải có sự quan tâm đầu tư đúng mực”, và cùng với vị trí địa kinh
tế khá thuận lợi, đến nay Hải Dương đã có hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển kháđồng bộ, với hệ thống giao thông gồm: 3 tuyến đường sắt, 6 tuyến quốc lộ, 13 tuyếntỉnh lộ, tổng chiều dài 256,9 km; các tuyến đường huyện có chiều dài 356,6 km và7.070 km đường giao thông nông thôn [44, tr.12]; hệ thống đường thủy thuận tiện,cảng Cống Câu công suất bốc dỡ trên 800.000 tấn hàng mỗi năm, hệ thống giaothông phân bố thuận lợi tới các tỉnh, thành phố trong khu vực vùng kinh tế trọng
Trang 21điểm Bắc Bộ, đảm bảo cho Hải Dương có đủ khả năng giao lưu kinh tế mạnh mẽ, rộngkhắp với các tỉnh, thành phố trong vùng Đồng bằng Sông Hồng, với cả nước cũng nhưgiao lưu kinh tế quốc tế Với 32 trạm bơm, 1.248 km kênh, mương hệ thống thủynông đảm bảo tưới tiêu cho trên 82,3% diện tích cây trồng [44, tr.10] Hệ thống điện
và lưới điện khá hoàn chỉnh, đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật cung cấp điện an toàn vàchất lượng ổn định, phục vụ tốt cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Mạng lưới bưuchính viễn thông đã thực hiện phủ sóng trên phạm vị toàn tỉnh 100% thôn, xã đều
có hệ thống điện thoại đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, chỉ đạo và liên lạc trực tiếp, nhanhchóng thuận tiện đi các vùng trong cả nước và quốc tế
Hệ thống tín dụng ngân hàng phát triển mạnh gồm: các Chi nhánh Ngân hàngCông thương; Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn; Ngân hàng Đầu tưphát triển; Ngân hàng Ngoại thương; Ngân hàng Chính sách xã hội, có quan hệ thanhtoán trong phạm vi cả nước và quốc tế nhanh chóng, thuận tiện Ngân hàng Cổ phầnnông nghiệp và 79 quỹ tín dụng nhân dân đã đáp ứng việc khai thác và cung ứng vốncho hoạt động sản xuất - kinh doanh của nhân dân trong Tỉnh Bên cạnh đó, phát triển
du lịch và thương mại cũng được Tỉnh quan tâm đầu tư Hiện nay, trên địa bàn tỉnh
có 18 doanh nghiệp nhà nước, 12 Hợp tác xã thương mại, 54 doanh nghiệp ngoàiquốc doanh, 20.298 cửa hàng kinh doanh thương mại và 01 trung tâm thương mạiđứng chân trên địa bàn thành phố Hải Dương là đầu mối giao dịch và xúc tiến thươngmại, thông tin, tiếp thị, dự báo thị trường, tư vấn, môi giới, đàm phán, ký kết hợpđồng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong nước và quốc tế
Mạng lưới y tế được Tỉnh đầu tư phát triển khá mạnh, với 6 bệnh viện, 01trung tâm điều dưỡng, 01 trung tâm điều trị bệnh phong, 13 trung tâm y tế huyện và
6 phòng khám đa khoa khu vực, 236 trạm y tế xã, phường; bình quân có 4 Bác sĩ và
21 giường bệnh/10.000 dân [48, tr.28], đảm bảo phục vụ tốt việc khám, chữa bệnhcủa nhân dân Đây là điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các nhà đầu tư vào lĩnhvực phát triển KCHT y tế nông thôn
Hiện nay, Trên địa bàn tỉnh có 10 KCN, hàng năm lượng vốn đầu tư vào cácKCN là rất lớn, Hải Dương luôn coi trọng việc phát triển KCHTcác KCN với phát
Trang 22triển KCHTKT - XH nông thôn vùng phụ cận, tạo điều kiện phát triển một cáchđồng bộ KCHTKT - XH, kết nối các KCN, các CCN với trung tâm kinh tế - chínhtrị - văn hóa xã hội Tỉnh, Huyện với địa bàn nông thôn, góp phần đẩy mạnh CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
Với những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hệ thống KCHTKT - XHnông thôn của Hải Dương, về cơ bản có nhiều lợi thế để khai thác, huy động cácnguồn vốn để phát triển KCHTKT - XH nông thôn hiện đại, bền vững và hộinhập quốc tế
1.2.2 Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương thời gian qua
* Thành tựu huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương thời gian qua
Trong những năm qua, phát huy thành tựu hơn 20 năm đổi mới, nhất là kết quả,tiến bộ đạt được trong 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV,Đảng bộ và nhân dân Hải Dương đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua những khókhăn, thử thách, đạt được nhiều thành tựu trong HĐV cho phát triển KCHTKT - XHnông thôn như sau:
Một là, vốn huy động đã cơ bản đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV, HảiDương đã thông qua 10 chương trình và 32 đề án về phát triển kinh tế xã hội 10 năm
2001 - 2010, trong đó có “Chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Hải Dương 2001 - 2010” Cho đến nay, theo đánhgiá chung, các mục tiêu cơ bản của các chương trình, dự án phát triển KCHTKT - XHnông thôn do Tỉnh đề ra đã được thực hiện tốt và phát huy hiệu quả, thể hiện: kinh tếtăng trưởng khá, đạt bình quân 11,15%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướngCNH, HĐH (tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là:
Trang 2327,5% - 43% - 29,5%) Tổng vốn huy động cho đầu tư xây dựng KCHTKT - XH trênđịa bàn Tỉnh đạt: 25.196,0 tỷ đồng, trong đó, vốn huy động cho phát triển KCHTKT -
XH nông thôn đạt 10.006,0 tỷ đồng (chiếm 39,7%) [44, tr.6]
Thực tế nguồn vốn Hải Dương huy động được cho phát triển KCHTKT - XH
có xu hướng ngày càng tăng lên Hàng năm, Tỉnh đã quan tâm tăng tỷ lệ vốn đầu tư
từ ngân sách, từ nguồn tăng thu cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn; đồngthời, tích cực khai thác các nguồn vốn đầu tư của các bộ, ngành Trung ương, như:chương trình hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn, vốn tài trợ phát triển ODA cholĩnh vực nông - lâm nghiệp và thủy sản: 200,0 tỷ đồng (chiếm 1,99%); y tế: 239,0 tỷđồng (chiếm 2,38%); khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường: 141,9 tỷ đồng(chiếm 1,41%) ; cấp, thoát nước và nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn: 250,0
tỷ đồng (chiếm 2,49%) ); vốn vay Ngân hàng thế giới (WB) đầu tư phát triển lĩnhvực điện nông thôn: 208,0 tỷ đồng (chiếm 2,07%); vốn đầu tư JBIC cho phát triểngiao thông nông thôn, cấp thoát nước và nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn:272,0 tỷ đồng (chiếm 2,71%) [44, tr.6, 26]
Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách còn hạn chế, Tỉnh đã áp dụng nhiềuhình thức huy động vốn đầu tư phát triển KCHTKT - XH nông thôn theo hình thức
BT, BOT hoặc ứng vốn thi công Ngoài ra, trên cơ sở các quy định của Luật đất đai,Tỉnh đã khai thác có hiệu quả nguồn vốn từ quỹ đất cho đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, phát triển đô thị: đổi đất lấy công trình, giao đất có thu tiền sử dụng đất, đấuthầu quyền sử dụng đất Đồng thời, Tỉnh, đẩy mạnh huy động các nguồn vốn thôngqua hình thức cho vay đối với các dự án đầu tư xây dựng KCHTKT - XH nông thôn
từ hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Với kết quả HĐV từ nhiều nguồn khác nhau, trong thời gian qua, tỉnh Hải Dương
đã làm mới, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo 182,2 km đường tỉnh lộ; 383 km đường huyện;7.070 km đường giao thông nông thôn, trong đó đường chất lượng cao là 4.211km (bêtông xi măng là: 3,584 km, đường nhựa là 627 km); hoàn thành 44 tuyến đường thuộc
dự án giao thông nông thôn 3 (bằng vốn vay của Ngân hàng thế giới WB) chiều dài 83
km và 6.953 m cầu, cống; 263/263 số xã có đường ô tô đi đến trung tâm xã, với tổng
Trang 24vốn đầu tư: 3.638,8 tỷ đồng (không tính vốn đầu tư của nhà nước và địa phương vàogiao thông đường sắt, đường quốc lộ và đường thủy) [44, tr.11]; hoàn thiện cơ sở hạtầng 10 khu công nghiệp với diện tích 2.087 ha, với tổng số vốn đầu tư xây dựng hạtầng các KCN là: 1.650 tỷ đồng; quy hoạch và triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng cho 07khu công nghiệp mới với tổng diện tích 1.523 ha; đầu tư xây dựng KCHT 36 làng nghềtrên địa bàn nông thôn với tổng số vốn đầu tư: 42,0 tỷ đồng v.v.[44, tr.17 – 18].
Hệ thống thủy nông của Tỉnh được củng cố, nâng cấp, trong đó xây dựng mới
15 trạm bơm (gồm trạm bơm Ứng Hèo, Tuần Mây, An Phụ, Thanh Xá, Ngọc Tân, ÔXuyên,, Ngọc Châu, Đò Đồn ); duy tu, bảo dưỡng 17 trạm bơm nước hiện có, đảmbảo chủ động trong việc tưới, tiêu, chống úng, thoát lũ Đáng lưu ý là, thực hiệnchương trình kiên cố hóa kênh, mương nội đồng, những năm qua Hải Dương đã thựchiện kiên cố hóa 1.248 km kênh, mương (trong đó, kênh chính, kênh cấp I dài 180km; kênh cấp III dài 350 km, còn lại kênh nội đồng dài 718 km); đào, đắp hơn2.397,061 m3 đất đắp đê, gia cố 236.616mks, tu bổ kè 126.246 m3 đá, xây dựng và cảitạo 16 cống dưới đê, cải tạo và xây dựng mới 96 điếm canh đê và 4 nhà quản lý đê,cải tạo 76.265m mặt đê, thực hiện cứng hóa 29,7 km mặt đê; ngoài ra còn xây dựngcác công trình chắn sóng, hạ tầng nuôi, trong thủy sản, với tổng vốn đầu tư đạt:1.777,42 tỷ đồng [44, tr.9 – 10] Đồng thời, hệ thống trạm biến áp, đường dây tải điệncủa Tỉnh được nâng cấp, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu sản xuất kinh doanh vàsinh hoạt của nhân dân Hiện nay, trên địa bàn Tỉnh đã có 263/ 263 xã có điện và100% hộ gia đình sử dụng điện [44, tr.12 – 13]
Với tổng vốn đầu tư: 975,0 tỷ đồng (chiếm 9,74%); ngành Bưu chính viễnthông của tỉnh Hải Dương đã tập trung đầu tư nâng cao chất lượng thông tin liên lạc
và mở rộng phạm vi phục vụ; đến nay đã có 230/ 263 xã có các trạm, điểm bưu điệnvăn hóa xã; xây dựng hàng trăm điểm dịch vụ điện thoại công cộng, lắp đặt thêm65.000 điện thoại cố định cho các hộ dân, 100% xã có điện thoại ở trụ sở UBND, đạt
tỷ lệ 45 máy điện thoại/ 100 dân, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc thông suốt trong
và ngoài Tỉnh [44, tr.15]
Về kết quả đầu tư phát triển hệ thống cơ sở giáo dục, tính đến hết năm 2009, toàntỉnh Hải Dương có 284 trường Mần non với tổng số học sinh hàng năm (60.500 cháu);
Trang 25279 trường tiểu học (116.200 học sinh); 273 trường trung học cơ sở (100.001 họcsinh); 52 trường trung học phổ thông (70.000 học sinh); 43 trường cao đẳng và trungtâm dạy nghề mỗi năm đào tạo nghề cho trên 30.000 lao động [44, tr.14]
Hệ thống y tế ở Hải Dương trong những năm qua cũng được quan tâm đầu tư,nâng cấp nhất là các tuyến y tế xã, phường, thị trấn, các trung tâm y tế, có 263/263
xã, phường, thị trấn có trạm y tế, trong đó, có 208/ 263 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.Tỉnh đã tập trung có trọng điểm trong việc đầu tư trang thiết bị hiện đại cho tuyến y tếcấp tỉnh Thông qua nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế, của nhân dân, kếthợp với vốn vay bên ngoài, nhất là nguồn vốn ODA từ Chính phủ, mạng lưới y tếđược Tỉnh đầu tư phát triển khá mạnh, với 6 bệnh viện, 01 trung tâm điều dưỡng, 01trung tâm điều trị bệnh phong, 13 trung tâm y tế huyện và 6 phòng khám đa khoa khuvực, 236 trạm y tế xã, phường; bình quân 4 Bác sĩ và 21 giường bệnh/ 10.000 dân;đảm bảo phục vụ tốt việc khám, chữa bệnh của nhân dân, với tổng vốn đầu tư 623,5 tỷđồng (chiếm 6,22%) [44, tr.13]
Trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ những năm qua được Tỉnh quan tâm đầu tưxây kết cấu hạ tầng thương mại trong các khu công nghiệp, trung tâm thương mại, hệthống thương mại - dịch vụ tại các trung tâm kinh tế - văn hóa xã hội ở các thị trấn, thị
tứ Dịch vụ các khu công nghiệp ngày càng đa dạng như: vận tải, nhà ở cho công nhân,
hệ thống kho chứa; dịch vụ vận tải (đường bộ, đường thủy, đường sắt); dịch vụ ngânhàng với tổng vốn đầu tư đạt: 4.965,4 tỷ đồng, đã tạo ra sự liên kết giữa hiệu quả kinh
tế và xã hội trên địa bàn toàn tỉnh
Hai là, thực hiện đa dạng hoá các nguồn vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn với quy mô và tốc độ ngày càng cao.
Thời gian qua, việc thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn huy động cho phát triểnKCHTKT - XH nông thôn là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lượcHĐV của Tỉnh Để huy động được một lượng lớn vốn cho phát triển KCHTKT -
XH nông thôn, Hải Dương đã đề ra nhiều giải pháp, chính sách nhằm khuyến khíchcác nhà đầu tư, đầu tư vốn vào các lĩnh vực, ngành nghề mà Hải Dương có lợi thế,
Trang 26đồng thời khắc phục tình trạng thụ động, trông chờ trong quá trình HĐV, nhất là chỉnhìn vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước như trước đây
Hiện nay, nguồn vốn mà Hải Dương huy động được rất phong phú và đa dạng,song chủ yếu vẫn là nguồn vốn trong nước Tập trung vào các nguồn như: ngân sáchNhà nước trung ương, ngân sách địa phương, vốn vay tín dụng, vốn dân doanh, vốnvay phát triển ODA, huy động vốn theo phương thức BT, BOT…Trong các nguồnvốn huy động, vốn ngân sách địa phương, tín dụng, dân doanh giữ vai trò quyết định;vốn vay phát triển ODA là quan trọng Trong tổng số vốn huy động đầu tư phát triểnKCHT phục vụ CNH, HĐH ở Hải Dương từ 2001 - 2010 cho thấy, vốn ngân sách Nhànước Trung ương huy động đầu tư phát triển KCHTKT - XH ở Hải Dương 10 năm(2001 - 2010) là: 3.939,5 tỷ đồng/ tổng số 23.486,3 tỷ đồng vốn huy động (chiếm16,8%) Qua từng năm, mặc dù vốn ngân sách Nhà nước có sự tăng về lượng; nhưnglại có xu hướng giảm dần tỷ lệ trong tổng số vốn mà Hải Dương huy động được chophát triển KCHTKT - XH nông thôn Trong tổng số: 23.486,3 tỷ đồng vốn huy độngđược, vốn ngân sách địa phương chiếm tỷ lệ cao nhất đạt: 6.458,1 tỷ đồng (chiếm27,5%); vốn tín dụng, huy động được: 5.981,3 tỷ đồng (chiếm 25,47%); vốn dândoanh là: 4.942,4 tỷ đồng (chiếm 21,04%)
Đánh giá chung, từ năm 2001 - 2009 kết quả HĐV trên địa bàn Tỉnh tăngkhá nhanh Về cơ bản, đã đáp ứng được nhu cầu về vốn đưa Hải Dương vào tốp
10 tỉnh, thành phố đạt khối lượng HĐV cao Tổng số vốn mà Hải Dương huyđộng được trong 10 năm đạt 74.077,4 tỷ đồng; tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP trungbình qua các năm đạt 39,1%, cao hơn mục tiêu giai đoạn 2006 – 2010 đặt ra là38,5% GDP (xem Biểu 1)
Trang 27Biểu 1: vốn đầu tư phát triển kết câu hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001 - 2010
n v tính: T Đơn vị tính: Tỷ ị tính: Tỷ ỷ
ng đồng
Nguồn vốn Giai đoạn
Nguồn: UBND tỉnh Hải Dương (2010): Nghiên cứu, tổng kết chương trình Xây
dựng kết cấu hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Hải Dương giai đoạn
2001 - 2010
Ba là, cơ cấu vốn huy động có sự thay đổi theo hướng tích cực.
Trong 10 năm, với quyết tâm cao Hải Dương đã xây dựng được một cơ cấukinh tế hợp lý, theo hướng CNH, HĐH tiên tiến, hiện đại; làm cho cơ cấu và tỷtrọng các loại vốn huy động trên địa bàn có sự thay đổi Nhằm hiện thực hóa chủtrương của Đảng: “Nhà nước dành phần đầu tư ngân sách thỏa đáng xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn, tập trung đầu tư, đẩy nhanh nhịp độ pháttriển kinh tế ở một số vùng trọng điểm” [17 Tr.69] Những năm qua, trên địa bànHải Dương nguồn vốn ngân sách Nhà nước đang chiểm tỷ lệ nhỏ dần trong tổng sốnguồn vốn mà Tỉnh có được, vốn dân doanh trên địa bàn tăng nhanh, nguồn vốn tíndụng đang trở thành kênh “bơm và hút” quan trọng đáp ứng cho nhu cầu phát triển
Cơ cấu kỹ thuật của vốn đầu tư được huy động có sự biến đổi theo chiều hướng tíchcực, đáp ứng quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Theo đó, các nguồnvốn huy động tập trung vào phát triển KCHTKT - XH giai đoạn 2001 - 2005, tổngvốn đầu tư cho phát triển KCHTKT - XH trên địa bàn Tỉnh là: 10.006,8 tỷ đồng.Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước trung ương có xu hướng tăng về lượng nhưnggiảm về tỷ lệ Vốn ngân sách Nhà nước tập trung chủ yếu cho phát triển KCHTKT -
Trang 28XH như: nông, lâm nghiệp, thủy sản; hệ thống giao thông; hệ thống điện; hệ thốnggiáo dục, y tế; khoa học - công nghệ và môi trường KCHT các KCN, cụm côngnghiệp và khu vực nông thôn giai đoạn 2001 - 2005 là 2.420,2 tỷ đồng/ 10.006,8 tỷđồng vốn huy động (chiếm 24,2 %); giai đoạn 2006 - 2010 đạt: 3.539,5 tỷ đồng /15.189,2 tỷ đồng vốn huy động (chiếm 23,3 %) [44, tr 6, 26].
Vốn ngân sách của địa phương huy động cho phát triển KCHTKT - XH có xuhướng tăng cả về diện và lượng Giai đoạn 2001 - 2010, tổng số vốn huy động chophát triển KCHTKT - XH của Tỉnh là: 25.196,0 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách củaTỉnh huy động được: 7.064,7 tỷ đồng (chiếm 28,03%) Vốn huy động được phân bổtheo vùng lãnh thổ, tập trung chủ yếu cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn,miền núi tạo điều kiện cho việc khai thác các lợi thế tự nhiên của từng địa phươngtrên địa bàn Tỉnh
Nguồn vốn huy động khu vực dân doanh trên địa bàn tăng nhanh Giai đoạn
2001 - 2009, tổng vốn huy động đầu tư cho phát triển KCHTKT - XH là: 6.756,1tỷđồng/25.196,0 tỷ đồng vốn huy động đầu tư của Tỉnh (chiếm 26,81 %); trong đó vốnđầu tư cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn là: 2.026,1 tỷ đồng (chiếm 29,98%).Nguồn vốn huy động qua kênh tín dụng ngày càng được mở rộng Với 79 tổchức tín dụng nhân dân, và hệ thống các chi nhánh Ngân hàng như: Ngân hàng Nôngnghiệp & phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội, ngân hàng đầu tư pháttriển đứng chân trên địa bàn thành phố Hải Dương và 11 huyện trong toàn Tỉnh đãđáp ứng kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Tỉnh Theo sốliệu thống kê cho thấy, nguồn vốn huy động vào đầu tư phát triển trên địa bàn giaiđoạn 2001 - 2009 đạt: 9.032,6 tỷ đồng/ 25.196,0 tỷ đồng vốn huy động (chiếm35,84%); vốn cho vay đầu tư phát triển KCHTKT - XH nông thôn đạt: 2.002,6 tỷđồng (chiếm 21,47 %)
Ngoài ra, trong tổng số vốn huy động được qua kênh tín dụng thực hiệnchương trình xóa đói, giảm nghèo đã có trên 156 nghìn lượt hộ được vay vốn ủythác với số lũy kế lên tới 1.482 tỷ đồng để sản xuất - kinh doanh và gần 30 tỷ đồngcho phát triển KCHT (điện, đường, trường, trạm) cho 1 xã đặc biệt khó khăn (xã
Trang 29Kênh Giang thuộc Thị xã Chí Linh) của Tỉnh Hệ thống tín dụng, ngân hàng trên địabàn Tỉnh đã đáp ứng kịp thời nguồn vốn tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình pháttriển, mở mang ngành nghề, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông thôn theo hướng hiện đại và phát triển bền vững
Đặc biệt một số dự án đầu tư theo phương thức BT, BOT vào phát triểnKCHTKT - XH nông thôn như: xây dựng cầu, làm đường, xây dựng các khu đô thịmới, khu dịch vụ thương mại và chung cư cao cấp, khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 - 5 sao,
dự án chế biến rác thải, xây dựng khu du lịch sinh thái, trung tâm y tế chất lượng cao,
dự án khu đào tạo Cao đẳng và Đại học, Dự án trường Đại học quốc tế Hải Dương,
dự án chế biến rau quả, dự án sản xuất giống, cây trồng, vật nuôi phù hợp với chiếnlược đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh (xem biểu 2)
Biểu 2: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở Hải Dương
8 Cấp thoát nước và nước sạch vệ sinh môi trường
nông thôn
Nguồn: UBND tỉnh Hải Dương (2010): Nghiên cứu, tổng kết chương trình Xây
dựng kết cấu hạ tầng phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Hải Dương giai đoạn
2001 - 2010
Trang 30Tóm lại, qua một loạt số liệu trên cho thấy, với chủ trương đúng đắn và sự
thông thoáng trong cơ chế chính sách đầu tư vào Tỉnh Những năm qua, Hải Dương
đã thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn; lượng vốn huy động được ngày càng tăng;việc phân bổ, sử dụng vốn cho đẩu tư phát triển KCHTKT - XH nông thôn, pháttriển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, đầu tư cho phát triển khoa học -công nghệ, đầu tư cho phát triển, đào tạo nguồn nhân lực đã được Tỉnh thực hiệnđúng hướng, các lĩnh vực đầu tư đều đem lại hiệu quả kinh tế cao, giữ vững nhịp độtăng trưởng kinh tế, môi trường pháp lý thuận lợi, đặc biệt là Hải Dương đã quantâm phát triển, nâng cao chất lượng KCHTKT - XH nông thôn, đã làm cho kinh tế -
xã hội phát triển toàn diện, tạo “sức hút” mạnh mẽ các nhà đầu tư trong và ngoàinước đầu tư vào địa bàn Tỉnh, giúp cho nền kinh tế của Tỉnh phát triển ổn định, cómức tăng trưởng khá cao, phát triển sản xuất hàng hóa, đảm bảo an sinh xã hội, cảithiện đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần đẩy mạnh sự nghiệpCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
* Hạn chế trong huy động vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội nông thôn ở tỉnh Hải Dương thời gian qua
Việc HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn thời gian qua ở HảiDương, bên cạnh những thành tựu đã đề cập ở trên, còn tồn tại một số hạn chế chủyếu sau:
Một là, chưa thực hiện tốt xã hội hóa việc huy động vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn.
Theo số liệu thống kê hàng năm, nguồn vốn dân doanh là rất lớn, với khoảng3.846 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 25.009,3 tỷ đồng với lợi nhuậntăng 12,6 % Nhưng, khả năng tăng vốn của các doanh nghiệp hàng năm còn hạn chế.Vốn tiết kiệm của 455,502 hộ trong toàn tỉnh, mức tiết kiệm hàng năm trungbình 6,8 triệu đồng/ hộ (ước đạt: 29.254 tỷ đồng/ năm) song cũng chưa được huyđộng một cách hiệu quả vào phát triển KCHTKT - XH nông thôn Tâm lý cất trữ tiền,vàng, ngoại tệ, hoặc sử dụng vào việc xây dựng nhà ở, đầu tư vào kinh doanh bất
Trang 31động sản là chủ yếu, đầu tư cho phát triển kinh tế, phát triển KCHTKT nhất làKCHTKT - XH nông thôn càng hạn chế
Nguồn vốn huy động theo kênh tín dụng là rất lớn, theo thống kê của Ngânhàng Nhà nước cho thấy, dư nợ tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thônđạt trên 292.919 tỷ đồng (chiếm 16,7% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế), nhưngnguồn vốn đầu tư vào phát triển KCHTKT - XH nông thôn còn ở mức thấp
Hai là, hiệu quả đầu tư vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn hạn chế.
Hàng năm, nguồn vốn tỉnh Hải Dương huy động được cả trong nước và ngoàinước là rất lớn so với một số tỉnh nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng Vốn đầu
tư trực tiếp FDI bình quân mỗi năm thu hút được khoảng 250 triệu USD (tương ứng2,5 tỷ USD); vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước trên 25.000 tỷ đồng;ngoài ra vốn ngân sách Nhà nước, nguồn thu trực tiếp ở địa phương và nguồn vốn
mà nhân dân bỏ ra đầu tư Tuy nhiên, vốn huy động đầu tư cho phát triển KCHTKT
- XH nông thôn trên địa bàn tỉnh còn rất hạn chế; nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDIchủ yếu tập trung cho phát triển công nghiệp, hoặc đầu tư cho phát triển cơ sở hạtầng trong KCN và CCN, bên trong hàng rào Còn bên ngoài hàng rào chủ yếu doTỉnh đầu tư xây dựng Phát triển hệ thống giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênhmương nội đồng, điện, trường, trạm chủ yếu là nguồn vốn thuộc ngân sách Nhànước, ngân sách địa phương và nguồn vốn do Nhà nước và nhân dân cùng đónggóp , một số công trình thực hiện theo hình thức đầu tư BT hoặc BOT nhưngnguồn vốn đầu tư cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn còn rất nhỏ bé
Ba là, cơ cấu đầu tư vốn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho từng ngành, từng lĩnh vực chưa thật hợp lý.
Thực tế những 10 năm qua ở Hải Dương cho thấy, vốn đầu tư vào các ngành,lĩnh vực kinh tế - xã hội chưa cân đối, nhất là đầu tư cho phát triển KCHTKT - XHnông thôn Thể hiện: toàn Tỉnh có 10 KCN được quy hoạch và được Chính phủ phêduyệt với 204 dự án đầu tư FDI, tổng số vốn đầu tư đăng ký trên 2,5 tỷ USD, nhưngvốn đầu tư cho phát triển KCHTKT chỉ đạt 3.182,462 tỷ đồng và 10,615 triệu
Trang 32USD Trong khi đó, vốn đầu tư cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn, tập trungchủ yếu là nguồn ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương, vốn tính dụng, vốncủa doanh nghiệp và vốn huy động tiết kiệm của nhân dân, song còn rất thiếu, chưađáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Như vậy, trênthực tế cơ cấu vốn huy động đầu tư cho phát triển KCHTKT - XH trong từng lĩnhvực, qua từng giai đoạn chưa cân đối, nhưng chậm được điều chỉnh
Bốn là, vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn chiếm tỉ lệ thấp trong tổng số vốn huy động được
Tính đến hết ngày 31/12/2009, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 204 dự án đầu tưtrực tiếp FDI, với tổng số vốn đăng ký là 2,5 tỷ USD, song vốn đầu tư cho phát triểnKCHTKT - XH các KCN, CCN mới chỉ đạt 10,8 triệu USD; riêng lĩnh vực phát triểnKCHTKT - XH nông thôn ở Hải Dương, thì nguồn vốn này chỉ chiếm 1,87 % (tươngđương 470,0 tỷ đồng) Đối với nguồn vốn ODA, theo Bộ Nông nghiệp & phát triển nôngthôn thì tổng vốn ODA cho nông nghiệp là khá lớn, nhưng quy mô các dự án lại nhỏ,những dự án có quy mô 70 - 100 triệu USD chỉ chiếm 1,7 %; quy mô trên 100 triệu USDchỉ chiếm 1,3 % Vốn ODA đã góp phần tích cực trong việc xây dựng KCHT nông thôn,tăng năng suất nông sản, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tăng diện tích cây lâm nghiệp.Tuy nhiên, đối với Hải Dương trong thời gian qua, số vốn huy động từ nguồn vốn ODAcho phát triển KCHTKT - XH còn rất khiêm tốn, chỉ đạt 894,9 tỷ đồng (chiếm 3,55 %).Ngoài ra, vốn đầu tư theo hình thức BT, BOT cho phát triển KCHTKT - XH nông thônmặc dù có một số doanh nghiệp tham gia, nhưng lượng vốn đầu tư cũng còn rất khiêmtốn Tổng vốn đầu tư theo hình thức BT trên địa bàn Tỉnh mới chỉ đạt 2.156 tỷ đồng(chiếm 8,56 %) tổng vốn huy động
* Nguyên nhân thành tựu và hạn chế trong việc huy động vốn cho phát
triển KCHTKT – XH nông thôn ở tỉnh Hải Dương thời gian qua:
Phân tích nguyên nhân thành tựu và hạn chế trong việc huy động vốn cho pháttriển KCHTKT - XH nông thôn ở tỉnh Hải Dương thời gian qua sẽ làm rõ hơnnhững chủ trương, chính sách, biện pháp HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nôngthôn của Tỉnh
Trang 33Về nguyên nhân của những thành tựu:
Một là, Tỉnh đã có những chủ trương đúng đắn, phù hợp, tạo cơ chế thông thoáng trong chiến lược huy động vốn.
Những năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Hải Dương đã nhận thức sâusắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về huy động vốn vàvận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương Hải Dương
đã chủ động xúc tiến đầu tư, thương mại nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.Trong đó, Hải Dương lựa chọn HĐV cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn và pháttriển các KCN, CCN làm khâu đột phá
Trước hết, Hải Dương đã biết phát huy tối đa các lợi thế là nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ Tỉnh đã tập trung phát triển KCHTKT - XH đáp ứng được cácđiều kiện của các nhà đầu tư Cùng với đó, các nhà đầu tư còn bị hấp dẫn bởi sự chủđộng, kịp thời của chính quyền các cấp ở Hải Dương trong việc giải quyết các vấn đềliên quan đến thủ tục hành chính, cải cách hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” và
“một cửa liên thông”; có chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư phát triển côngnghiệp thông qua Quyết định số 3149/ QĐ - UB ngày 17 tháng 7 năm 2002 củaUBND tỉnh Hải Dương: về việc ban hành quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tưvào các KCN trên địa bàn tỉnh Hải Dương; Chính sách ưu đãi đầu tư vào các KCN vàlàng nghề trên địa bàn Hải Dương tại Quyết định số 920/2003/QĐ - UB ngày03/4/2003 của UBND Tỉnh Thông qua các quyết định trên, Hải Dương đã thực hiệnchính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư vào Hải Dương về đất, vốn đầu tư và lãi suấtcho vay; ưu đãi lãi suất cho thuê tài chính; ưu đãi trong việc cung cấp các dịch vụNgân hàng; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, giải phóng mặt bằng; ưu đãi về thông tinquảng cáo, chính sách khen thưởng trên số vốn đầu tư (tính bằng USD)
Từ những chủ trương, biện pháp đúng đắn, linh hoạt, phát huy lợi thế về vị tríđịa kinh tế của Tỉnh, với cơ chế, chính sách thông thoáng, đúng pháp luật, đáp ứngkịp thời yêu cầu của các nhà đầu tư, cùng với điều kiện kinh tế - xã hội ổn định đãgiúp cho Hải Dương trở thành vùng đất đầy tiềm năng, lôi kéo mạnh mẽ các nhàđầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn Tỉnh
Trang 34Hai là, tình hình kinh tế - xã hội ổn định, tạo môi trường hấp dẫn các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn trên địa bàn Tỉnh.
Từ một tỉnh thuần nông, sản xuất nhỏ, manh mún, ngành nghề thủ công kémphát triển, sau hơn 20 năm đổi mới cùng đất nước, Hải Dương đã tạo ra cho mình mộtdiện mạo mới, với sắc thái mới: kinh tế luôn đạt mức tăng trưởng cao, nhịp độ tăngtrưởng kinh tế tăng từ 10,8% giai đoạn 2001 - 2005, lên 11,5 % giai đoạn (2006 -2009); thu nhập GDP bình quân đầu người tăng tư 580 USD (năm 2005) lên 862 USD(năm 2008), dự kiến hết năm 2010 đạt 1000 USD; tỷ lệ hộ nghèo (tính theo chuẩnnghèo mới) giảm từ 12,6 % xuống còn 6,9 %; thu nhập bình quân người/năm đạt 17triệu VNĐ; nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư gia tăng nhanh, đầu tư cho sản xuất kinh -doanh đạt bình quân 6,8 triệu đồng/hộ/năm Với điều kiện kinh tế - chính trị, văn hóa -
xã hội trên địa bàn ổn định, mức thu nhập của người dân tăng nhanh, KCHTKT - XHtrên địa bàn nông thôn phát triển, cùng với sức hút của các KCN, CCN, một cơ cấukinh tế được điều chỉnh hợp lý cả (công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ), với hành langpháp lý thông thoáng, thuận tiện, đã giúp cho Hải Dương có sức hút mạnh mẽ cácnhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn Tỉnh, đưa Hải Dương đứng trongtốp 10 tỉnh, thành phố đứng đầu trong cả nước về thu hút vốn đầu tư
Ba là, Tỉnh đã huy động được nguồn vốn từ nhiều lực lượng cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn.
Những năm qua, Hải Dương đã thu hút được nhiều nguồn vốn của nhiều thànhphần kinh tế trên địa bàn tham gia đầu tư phát triển KCHTKT - XH nông thôn Hải Dương đã tăng cường sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước trung ương chocác dự án phát triển KCHTKT - XH nông thôn, nhất là các dự án trọng điểm; thựchiện tận thu các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí; mở rộng hình thức vay nợ qua khobạc nhà nước; triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong sản xuất và tiêudùng ở các cơ quan nhà nước; HĐV thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệpnhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp; tăng nguồn thu từ lệ phí trước bạ nhà đất vàthuế chuyển quyền sử dụng đất; tăng viện trợ nước ngoài không hoàn lại HảiDương còn tích cực tranh thủ các nguồn vốn từ các chương trình, mục tiêu và quỹ
Trang 35quốc gia như: Quỹ xóa đói giảm nghèo; Quỹ giải quyết việc làm; Chương trìnhcung cấp nước sạch nông thôn; Chương trình y tế, giáo dục, môi sinh môi trườngnông thôn
Hải Dương đã khai thác và huy động tổng lực nguồn vốn tín dụng trên thịtrường tín dụng nông thôn của tỉnh, nhằm hình thành lượng vốn lớn, tập trung đápứng yêu cầu cao về vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn và sự nghiệpCNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Thông qua hình thức tiết kiệm truyền thống(loại không kỳ hạn và loại có kỳ hạn 3,6,9,12 tháng ) với lãi xuất linh hoạt, uyểnchuyển, kết hợp hài hòa giữ lợi ích của người đi vay và người cho vay; HĐV thôngqua các nguồn thu của các đơn vị kinh tế có nguồn thu ổn định, lâu dài; mở rộng cácdịch dụ ủy thác, tư vấn đầu tư cho các dự án phát triển KCHTKT-XH nông thôn,dịch vụ bảo lãnh
Hải Dương cũng đã huy động nguồn vốn của doanh nghiệp Nhà nước trên địabàn nông thôn, thông qua sự liên kết (4 nhà) và nguồn vốn tự có của doanh nghiệp;đồng thời kích thích, khơi dậy nội lực của các doanh nghiệp tư nhân trong đầu tưphát triển KCHTKT - XH nông thôn
Đối với nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư, Tỉnh đã tạo mọi điều kiện, xóa bỏ mọitrở ngại về cơ chế, chính sách, tâm lý cho nhân dân, khuyến khích mọi người có vốn ởnông thôn tự tổ chức hoặc hợp tác với nhau, HĐV thông qua việc hình thành doanhnghiệp tư nhân, các xưởng sản xuất, phát triển kinh tế trang trại nhất là tham gia đầu tưphát triển KCHTKT - XH nông thôn, trên cơ sở ưu tiên về địa điểm, hỗ trợ giải phóngmặt bằng, lãi suất vay vốn, thuế quyền sử dụng đất Đồng thời, khơi dậy, thu hút vốn từkhu vực thành thị về nông thôn
Về nguyên nhân của những hạn chế:
Một là, Hải Dương vẫn thuộc diện tỉnh nghèo, nên nguồn vốn đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn còn hạn chế.
Hiện tại, so với cả nước Hải Dương vẫn thuộc diện tỉnh nghèo, GDP bình quân đầungười thấp, trung bình 10 năm qua là 862 USD, chỉ đạt 83,33 % so với bình quân GDPcủa cả nước Tỷ lệ vốn tích lũy trong các doanh nghiệp đạt thấp, với 3.846 doanh nghiệp
Trang 36hoạt động theo luật doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 25.009,3 tỷ đồng (bìnhquân mới đạt hơn 6,5 tỷ đồng/doanh nghiệp) Nguồn thu ngân sách của Tỉnh bình quânhàng năm giai đoạn (2001 - 2005) đạt khoảng 1.500 - 1.700 tỷ đồng; giai đoạn (2006 -2009) trung bình đạt 2.576 tỷ đồng; riêng năm 2009, tổng thu ngân sách nhà nước trênđịa bàn đạt 2.788,6 tỷ đồng (thu nội địa đạt 2.319,5 tỷ đồng) tăng 60,6% so với cùng kỳnăm trước Trong đó, chi ngân sách địa phương ước thực hiện 2.202 tỷ 404 triệu đồng,bằng 80,1% so với dự toán; trong đó chi cho đầu tư phát triển 622 tỷ 367 triệu đồng,bằng 105,1% kế hoạch dự toán; chi thường xuyên là 1.409 tỷ đồng bằng 79,2% dự toánđiều chỉnh [48, tr.4]
Nguồn vốn người dân tiết kiệm được là rất lớn, nhưng chưa huy động được một cáchhiệu quả cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn, do tâm lý tiêu dùng và tích trữ trongdân chúng Nhìn tổng thể, thời gian qua hiệu quả đầu tư trên địa bàn Tỉnh còn nhiều hạnchế, chưa tạo được cơ sở vững chắc cho các chủ đầu tư có cơ sở xây dựng kế hoạch sửdụng vốn lâu dài, mặt khác đầu tư vào phát triển KCHTKT - XH nông thôn, tính rủi rolớn, hệ thống pháp luật và thị trường chưa phát triển đồng bộ Công tác tuyên truyền, vậnđộng quần chúng chưa tốt, không kích thích, huy động hết nội lực vốn trong dân Nhất làtrong tình hình hiện nay, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã vàđang tác động tiêu cực, đến nền kinh tế các nước, trong đó có Việt Nam Người dân, nhất
là những người khá giả và giàu, chưa thực sự đặt niềm tin vào ngân hàng khi gửi nhữngkhoản tiền lớn, dài hạn Trong khi đó, Ngân hàng cũng chưa thực hiện tốt phương châm
“đi vay để cho vay” Nhiều ngân hàng chưa có phương thức thu hút tiền gửi dài hạn của
nhân dân, nên hầu hết các chi nhánh ngân hàng thương mại đều thiếu vốn cho vay dài hạn.Thực tế 79 quỹ tín dụng vẫn còn tâm lý ngần ngại đối với khách hàng là nông dân, nhất lànhững khoản tiền lớn đầu tư vào phát triển KCHTKT - XH nông thôn; chưa phân địnhđược rành mạnh khung vốn tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để xây dựng mức lãixuất huy động và cho vay hợp lý, sát đúng với quy luật kinh tế thị trường Vì vậy, khảnăng huy động vốn gặp khó khăn Ngân hàng chưa làm tốt nhiệm vụ là cầu nối đắc lựcgiữa người có vốn (người dân) với người cần vốn (các doanh nghiệp); bên cạnh đó, ngânhàng chưa làm tốt chức năng chủ thể đầu tư vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn,
Trang 37hướng dẫn các chủ thể sản xuất, kinh doanh sử dụng vốn như thế nào cho hiệu quả, cònnặng về nghiệp vụ cho vay - thu gốc và lãi Vì vậy, dân chúng một mặt sử dụng tiền tiếtkiệm vào việc tiêu dùng cá nhân và gia đình họ, một mặt họ chuyển sang tích trữ vàng,hoặc kinh doanh bất động sản, sử dụng tiền tiết kiệm để đưa vào đầu tư sản xuất, kinh
doanh, làm cho nguồn tiền tiết kiệm được trở thành “vốn chết”.
Hai là, do công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội nói chung và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn nói riêng còn nhiều hạn chế.
Ngay từ khi tách tỉnh năm 1997, mặc dù đã chủ động trong công tác quy hoạch,
kế hoạch, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, công tác quyhoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển KCHTKT được xác định là: “phải đi trước mộtbước” Nhưng do thiếu vốn, điều kiện KCHTKT - XH còn lạc hậu, yếu kém đã ảnhhưởng trực tiếp đến công tác quy hoạch, kế hoạch và xây dựng chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của Tỉnh thể hiện: chậm được điều chỉnh kịp thời, phù hợp với tìnhhình thực tiễn và diễn biến của nền kinh tế thị trường, xây dựng các cân đối lớn hiệuquả thấp Chiến lược phát triển KCHTKT - XH thiếu đồng bộ, nhất là khu vực nôngthôn vừa thiếu, vừa yếu; đầu tư manh mún, nhỏ lẻ, chưa mang tính tổng thể, gắn kếtgiữa các vùng, địa phương với các trung tâm kinh tế - xã hội của Tỉnh Đầu tư pháttriển KCHTKT - XH còn nhiều bất cập, mới chỉ tập trung chủ yếu ở các trung tâmhuyện, tỉnh, các KCN, CCN còn khu vực nông thôn chưa thực sự được coi trọng Hệthống KCHTKT - XH nông thôn yếu kém, lạc hậu Do đó, tính hấp dẫn các nhà đầu tư
có sự suy giảm so với các tỉnh bạn như Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc
Ba là, do nhận thức về yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn trong các tầng lớp nhân dân còn hạn chế.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ và Chính quyền tỉnh đã xácđịnh: ưu tiên phát triển KCHTKT - XH nói chung và KCHTKT - XH nông thôn nóiriêng, phải đi trước một bước Nhưng công tác tuyên truyền, vận động làm chưa tốt, dàntrải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, còn mang tính hình thức Do đó, một số ngành, địaphương và phần lớn nhân dân nhận thức về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đặc biệt
Trang 38là nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của hệ thống KCHTKT - XH nông thôn chưathật đầy đủ Do vậy, làm cho công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch, triển khai thiếuđồng bộ, đầu tư dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp; Tình trạng đơn giản trong cấp phép đầu
tư, môi trường sống trên địa bàn bị ô nhiễm, nhiều doanh nghiệp vi phạm việc bảo vệmôi trường (công ty Tung Kuang là một ví dụ) Do đó, chưa khai thác, huy động đượctriệt để nguồn vốn (như vốn nhà rỗi trong dân cư đang nằm dưới dạng vàng, bạc, đá quý,ngoại tệ mạnh, bất động sản vốn tiềm tàng trong các doanh nghiệp nhà nước, doanhnghiệp tư nhân) vào phát triển KCHTKT - XH nông thôn ở Hải Dương
Bốn là, do môi trường đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa thực sự “thông thoáng, hấp dẫn”.
Nhìn một cách tổng quát, môi trường đầu tư nói chung gồm nhiều yếu tố như:môi trường kinh tế, môi trường pháp lý Trong đó, môi trường pháp lý là hành langđảm bảo an toàn đồng vốn đối với mỗi nhà đầu tư Còn môi trường kinh tế (chínhsách thuế, lãi suất, chất lượng nguồn nhân lực, điều kiện cơ sở hạ tầng ) được xemnhư là một lực đẩy
Những năm qua, mặc dù Hải Dương đã có nhiều nỗ lực, song tỉnh cũng chưathực sự tạo lập được môi trường tài chính, tiền tệ lành mạnh, thông thoáng để giảiphóng mọi nguồn lực tài chính và tiềm năng sản xuất - kinh doanh của các doanhnghiệp, các tầng lớp dân cư; việc định giá đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất, các quy định, quy chế cho hoạt động đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư, bảo toànvốn vẫn còn bất cập, đó là nguyên nhân dẫn đến sự cản trở năng lực hấp thụ vốn từbên ngoài vào địa bàn và nhất là vào lĩnh vực phát triển KCHTKT - XH nông thôngặp nhiều khó khăn
Đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong kinh tế thịtrường và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề cải cách thủ tục hành chính, hệ thốngpháp luật là yêu cầu đặt lên hàng đầu trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội Trênthực tế, Hải Dương mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong cải cách thủ tục hành chính,song, vẫn còn nhiều bất cập, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tuy đã đượcthực hiện, nhưng chưa được thực hiện một cách triệt để giữa các cơ quan chứcnăng; nguồn nhân lực thực hiện một cửa liên thông chất lượng, năng lực còn hạn
Trang 39chế, còn nhiều mảng công việc bị chồng chéo chức năng Thủ tục trong cấp phép,đấu thầu, xét duyệt các dự án còn nhiều kẽ hở Chính sách quản lý vốn của cơ quanchức năng còn thiếu đồng bộ, hiện tượng thất thoát, lãng phí vẫn còn sảy ra Chấtlượng KCHTKT - XH nông thôn còn nhiều yếu kém, lạc hậu, chưa đáp ứng kịp vớithực tiễn phát triển của nền kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường vàgiao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế.
Chất lượng nguồn nhân lực hạn chế về trình độ, tay nghề, chuyên môn, nghiệp
vụ, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực phát riển KCHTKT - XHnông thôn, và cho các ngành công nghệ hiện đại ít Năng lực của đội ngũ cán bộ quản
lý, chuyên môn còn thiếu và yếu về kiến thức kinh tế thị trường cũng là một trongnhững nguyên nhân gây nên tâm lý băn khoăn, không mạnh dạn của các nhà đầu tưnước ngoài trong hợp tác kinh doanh trên địa bàn Chưa xây dựng được cơ chế quản lývấn đầu tư tập trung, thống nhất, có phân công, phân cấp rành mạch, rõ ràng giữa các
sở, ban, ngành địa phương với các tổ chức tài trợ vốn để phát triển KCHTKT - XHnông thôn, dẫn đến quản lý còn chồng chéo, thất thoát, lãng phí, làm giảm hiệu quả đầu
tư Mặt khác, khả năng sử dụng vốn của các chủ thể kinh tế ở các thành phần kinh tếtrên địa bàn Tỉnh, còn kém hiệu quả KCHTKT - XH nông thôn còn ở trình độ thấp,lại chịu tác động rất lớn của điều kiện tự nhiên, nên khi hiệu suất đầu tư càng thấp, thìcàng hạn chế khả năng thu hút vốn vào phát triển KCHTKT - XH nông thôn
1.2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc huy động vốn cho phát triển kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở Hải Dương trong thời gian tới
Với thành tựu đạt được và những hạn chế trong HĐV cho phát triển KCHTKT
-XH nông thôn ở Hải Dương thời gian qua, đã và đang đặt ra những mâu thuẫn mà tỉnhcần tập trung giải quyết trong thời gian tới như sau:
Một là, mâu thuẫn giữa nhu cầu cao về vốn cho phát triển KCHTKT - XH nông thôn của Tỉnh với khả năng huy động từ các nguồn vốn còn hạn chế, nhất là vốn dân doanh.
Qua các cuộc khảo sát, điều tra của Cục thống kê và một số cơ quan sở, ban,ngành của Tỉnh cho thấy, tỷ lệ HĐV trong dân cư trên địa bàn Tỉnh là rất thấp, sovới tiềm năng thực tế (chỉ chiếm khoảng 40% tiết kiệm), Tỉnh chưa đề ra được một
Trang 40chính sách thông thoáng, linh hoạt nhằm kích thích, thu hút biến nguồn tiết kiệmthành vốn đầu tư cho sản xuất - kinh doanh Vốn trong dân cư, doanh nghiệp chưađược khai thác triệt để trước hết là do môi trường đầu tư, chính sách hút vốn củangân hàng chưa đủ lực, thiếu hấp dẫn; mặt khác là do tâm lý lo ngại lạm phát, tâm
lý thích tích trữ trong dân chúng Theo nghiên cứu của các chuyên gia Viện pháttriển quốc tế Harvard: “Việt Nam có nhiều khả năng để tích lũy vàng và USD củacác hộ gia đình thành trái phiếu, tài khoản ngân hàng hay những khoản đầu tư trựctiếp Nếu tìm cách khuyến khích được nguồn vốn này thì tỷ lệ tích lũy sẽ tăng songsong với mức đầu tư Mỗi năm nguồn tích lũy này có thể bằng 3 - 4% GDP”
Bên cạnh đó, trong tổng số vốn đầu tư của dân chúng trên địa bàn Tỉnh, thì đầu tưvào xây dựng cơ bản như: xây dựng nhà ở, mua bán bất động sản, mua sắm vàng, các đồtrang sức có giá, tích trữ ngoại tệ mạnh chiếm tới 75%; còn lại là đầu tư vào xây dựngphát triển KCHT, sản xuất - kinh doanh
Hai là, mâu thuẫn giữa mục tiêu kinh tế trước mắt của vốn đầu tư với yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn hiện đại, đảm bảo môi trường sinh thái
và an sinh xã hội nông thôn bền vững.
Phát triển bền vững đã và đang trở thành vấn đề được quan tâm có tính toàn cầu ỞViệt Nam, trong thập kỷ gần đây, chủ đề phát triển bền vững đã được nhiều nhà nghiêncứu, hoạt động thực tiễn đặc biệt quan tâm Đại hội IX của Đảng đã khẳng định, pháttriển bền vững là một trong những quan điểm cần được quán triệt trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội đến năm 2010; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởngkinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường
Đối với Hải Dương, mục tiêu trước mắt là phát triển nhanh, tăng trưởng kinh
tế cao, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển nôngnghiệp, nông thôn bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện công bằng xãhội và bảo vệ môi trường Trong những năm qua, vốn huy động được Tỉnh đã tậptrung hướng vào phát triển KCHT của các KCN, CCN, các trung tâm thánh phố, thị
xã, các vùng kinh tế trọng điểm, các ngành công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu Chưa
có giải pháp khả thi để HĐV cho các lĩnh vực như: phát triển nông nghiệp, chănnuôi, trồng trọt; phát triển KCHTKT - XH nông thôn; đầu tư cho giáo dục đào tạo,