1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận cổ phiếu tại một số nước đông nam á

85 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả cũng cho thấy độ bất ổn của giá dầu thế giới và giá dầu quốc gia có tác động giống nhau đến sự thay đổi lợi nhuận cổ phiếu tại các nước Inđônesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan c

Trang 1

Ờ Ồ

-❧❧ -

Ấ Ổ Ủ Ầ VÀ LỢ Ậ Ổ

SỐ Ớ Ô

L Ậ S

p ồ n - 2017

Trang 2

Ờ Ồ

-❧❧ -

Ấ Ổ Ủ Ầ LỢ Ậ Ổ

SỐ Ớ Ô

u n n n : n – Ngân hàng ã số: 60340201

L Ậ S

Ờ Ớ

S S Ầ

p ồ n - 2017

Trang 3

LỜ

Tôi xin cam đoan luận văn “Độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận cổ phiếu tại một số nước Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

p ồ n , n 31 tháng 7 năm 2017

ác ả luận văn

u ễn m oa

Trang 4

M C L C

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

TÓM TẮT……… 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2

1.1 Lý do chọn đề tài: 2

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu: 5

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu: 6

1.5 Ý nghĩa của đề tài: 6

1.6 Kết cấu của luận văn: 7

CHƯƠNG 2 T NG QUAN CÁC B I LÝ THUYẾT LI N QUAN 8

CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU V PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU 16

3.1 Dữ liệu nghiên cứu: 16

3.2 Phương pháp nghiên cứu: 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHI N CỨU 31

4.1 Kiểm định đơn vị Unit root test 31

4.2 Kiểm định đồng liên kết dùng phương pháp Johansen 35

4.2 Cấu trúc độ trễ của mô hình 37

4.2.1 Lựa chon độ trễ tối ưu 37

4.2.2 Kiểm định nghịch đảo đơn vị gốc đa thức AR root 44

Trang 5

4.3 Kiểm định phần dư: 45

4.3.1 Kiểm định tự tương quan: 45

4.3.4 Kiểm định phương sai thay đổi: 48

4.4 Phản ứng đẩyvà phân rã phương sai: 48

4.4.1 Phản ứng đẩy: 48

4.4.2 Phân rã phương sai: 55

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 60

T I LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Ữ Ắ

DANH M C VI T TẮT TI NG VIỆT

VOL_ ROIL Độ bất ổn của giá dầu quốc gia thực

VOL_NOIL Độ bất ổn của giá dầu quốc gia danh nghĩa

Trang 7

Ả Ể

Bảng 3.1: Trình bày định nghĩa các biến và nguồn

Bảng 4.1 Kết quả ADF test của các biến đầu vào của mô hình VAR

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen và Juselius của các biến trong mô hình (lãi suất, ch số sản xuất công nghiệp, giá dầu, giá cổ phiếu)

Bảng 4.3 Kết quả lựa chọn độ trễ cho mô hình của Indonesia

Bảng 4.4 Kết quả lựa chọn độ trễ của mô hình VAR của Malaysia

Bảng 4.5 Kết quả lựa chọn độ trễ cho mô hình của Singapore

Bảng 4.6 Kết quả lựa chọn độ trễ cho các mô hình của Thái Lan

Bảng 4.7 Kết quả lựa chọn độ trễ cho mô hình của Việt Nam

Bảng 4.8 Kết quả kiểm định nghịch đảo đơn vị gốc đa thức AR

Bảng 4.9 Kết quả kiểm định tự tương quan cho tất cả mô hình của các nước

Bảng 4.10 Kết quả phân rã phương sai lợi nhuận chứng khoán tại Indonesia xét trường hợp giá dầu thế giới

Bảng 4.11 Kết quả phân rã phương sai lợi nhuận chứng khoán tại Malaysia xét trường hợp giá dầu thế giới

Bảng 4.12 Kết quả phân rã phương sai lợi nhuận chứng khoán tại Singapore xét trường hợp giá dầu thế giới

Bảng 4.13 Kết quả phân rã phương sai lợi nhuận chứng khoán tại Thái Lan xét trường hợp giá dầu thế giới

Bảng 4.14 Kết quả phân rã phương sai lợi nhuận chứng khoán tại Việt Nam xét trường hợp giá dầu thế giới

Trang 8

Ì Ẽ

Hình 1.1 Tình hình tiêu thụ năng lượng trên thế giới từ năm 1950-2050

Hình 2.1 Giá dầu thế giới qua các năm từ 1998 đến 2016

Hình 3.2 Đồ thị giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch chứng khoán

Hình 3.3 Đồ thị phần dư của mô hình GARCH cho các biến giá dầu thế giới, giá dầu danh nghĩa tại các nước

Hình 3.4 Đồ thị phần dư của mô hình GARCH cho các biến giá dầu thực của quốc gia bằng đồng nội tệ tại các nước

Hình 4.1 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho biến lãi suất của Indonesia

Hình 4.2 Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu dầu tại các nước Đông Nam Á

Hình 4.3 Phản ứng của tỷ suất sinh lợi chứng khoán trước độ bất ổn của giá dầu thế giới

Hình 4.4 Phản ứng của tỷ suất sinh lợi chứng khoán trước độ bất ổn của giá dầu quốc gia danh nghĩa

Hình 4.5 Phản ứng của tỷ suất sinh lợi chứng khoán trước độ bất ổn của giá dầu quốc gia thực

Trang 9

Tác giả ước lượng mô hình tự hồi quy VAR với các biến sau: lãi suất, ch số sản xuất công nghiệp, lợi nhuận cổ phiếu và biến độ bất ổn của giá dầu Kết quả là độ bất

ổn của giá dầu đóng góp một phần rất ít trong lợi nhuận chứng khoán Hơn 99% việc thay đổi giá chứng khoán là phụ thuộc vào chính bản thân nó Nhìn chung thị trường các nước đang nghiên cứu phản ứng nhanh và tích cực với độ bất ổn của giá dầu trong hai ngày đầu tiên và giảm dần ảnh hưởng trong các ngày tiếp theo Kết quả cũng cho thấy độ bất ổn của giá dầu thế giới và giá dầu quốc gia có tác động giống nhau đến sự thay đổi lợi nhuận cổ phiếu tại các nước Inđônesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan chứng tỏ thị trường các nước này không chịu nhiều ảnh hưởng nhiều của sự thay đổi tỷ giá hay lạm phát

Trang 10

1 Ớ Ệ

1.1 Lý do c ọn đề t :

Trong sự tồn tại và phát triển của con người thì năng lượng luôn có một vai trò cực kỳ quan trọng Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ con người được tiếp cận nhiều nguồn năng lượng khác nhau như năng lượng mặt trời, năng lượng hạt nhân, năng lượng sinh học bên cạnh các nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên… Tuy nhiên năng lượng dầu mỏ vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng khối lượng tiêu thụ

n 1 1 n n t u t năn l n tr n t ớ t năm 1950-2050

gu u g g

Do vai trò quan trọng của dầu trong nền kinh tế thế giới vì thế tại nhiều nước

Trang 11

phát triển có một số lượng lớn các nghiên cứu về những ảnh hưởng của sự thay đổi giá dầu trong kinh tế và tài chính Rất nhiều nghiên cứu cho thấy có sự tác động tiêu cực của những cú sốc giá dầu lên các hoạt động kinh tế thực tế như nghiên cứu của Hamilton (1983), nghiên cứu của Cunado và Perez de Gracia (2005), Herrera và cộng

sự (2011), Jo (2014), Cunado và cộng sự (2015)

Thực tế cho thấy cú sốc giá dầu có ảnh hưởng lên thị trường tài chính và chứng khoán, vì chúng có ảnh hưởng đến dòng tiền cũng như lợi nhuận kỳ vọng và quyết định đầu tư Kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các cú sốc giá dầu hay độ bất

ổn của giá dầu, có ảnh hưởng đáng kể đến các thị trường tài chính như nghiên cứu của Jones và Kaul (1996), Sadorsky (1999) và Cunado và Perez de Gracia (2013) Trong một bài báo gần đây Jo (2014) ch ra rằng giá dầu biến động tăng lên có thể làm suy giảm nhiều hoạt động kinh tế thực, nghiên cứu sử dụng mô hình tự hồi quy (VAR) với

dữ liệu theo quý, cho thấy một tác động tiêu cực của độ bất ổn của giá dầu lên sản lượng sản xuất công nghiệp thế giới Ngoài ra, Elder và Serletis (2010) sử dụng mô hình vectơ tự điều ch nh tổng quát trong điều kiện phương sai thay đổi (GARCH) để nghiên cứu tác động kinh tế vĩ mô của độ bất ổn của giá dầu, tìm ra phản ứng tiêu cực trong việc đo lường đầu tư, tiêu dùng và tổng sản lượng

Nghiên cứu gần đây mà tác giả được tiếp cận là của Elena Maria và cộng sự (2016) xem xét mối quan hệ giữa độ bất ổn của giá dầu và lợi tức cổ phiếu trong các nền kinh tế G7 (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Anh và Mỹ) sử dụng số liệu hàng tháng cho giai đoạn 1970 đến 2014

Ở Việt Nam cũng có vài nghiên cứu về tác động của cú sốc giá dầu lên lợi nhuận thị trường chứng khoán của Việt Nam Như nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013) cho thấy mức độ phản ứng của ch số giá tiêu dung CPI trước cú sốc giá dầu thế giới mạnh hơn so với cú sốc trong giá gạo Tuy nhiên mức ảnh hưởng là không lớn và tác động của cú sốc này không phải là tức thời Cụ thể tác

Trang 12

động của cú sốc giá dầu lên CPI thể hiện rõ nét sau 6 tháng và tác động của nó là dai dẳng Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình định lượng SVAR để kiểm định mức độ ảnh hưởng của tổng các yếu tố đến lạm phát Bằng kỹ thuật phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy nghiên cứu này kết luận cú sốc từ giá dầu thế giới không tác động đến CPI của Việt Nam Nghiên cứu này cho rằng trong giai đoạn nghiên cứu 2001-2011 lạm phát của Việt Nam ít chịu ảnh hưởng của cú sốc giá dầu mà chủ yếu từ các yếu tố nội tại bên trong Đồng thời đề cập tác động của cú sốc tỷ giá lên lạm phát trong nước

là không lớn Tỷ giá đóng vai trò là kênh truyền dẫn ảnh hưởng của các yếu tố khác đến lạm phát hơn là nhân tố tác động trực tiếp

Tương tự có nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng Nga (2016) trong giai đoạn nghiên cứu từ 2010 đến 2015 cũng cho thấy giá dầu thế giới tác động đến ch số giá chung cũng như ch số giá của nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng, ch số nhóm hàng giao thông Còn lại mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và các nhóm hàng còn lại trong 11 nhóm nghiên cứu của đề tài là không có ý nghĩa thống kê Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy và phân tích phương sai cho thấy giá dầu thế giới tác động rõ nét đến CPI của Việt Nam sau khoảng thời gian 2 tháng

Tuy nhiên tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của những

cú sốc giá dầu trên thị trường chứng khoán của các nước đang phát triển khác cũng như khu vực Đông Nam Á Theo WB hiện Asean đã trở thành khu vực có nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới với GDP lên tới 2.43 nghìn tỷ năm 2016 Còn theo IEA thì Asean đang

sử dụng tới 4.5% năng lượng của thế giới năm 2016 và ước tính đến năm 2035 sẽ tăng gấp 2.7 lần để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2035 Điều này tạo ra thách thức về an ninh năng lượng và phát triển bền vững cho khu vực này Với mong muốn tìm hiểu về nền kinh tế các nước Asean tác giả chọn đề tài nghiên cứu là “Độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận cổ phiếu tại một số nước Đông Nam Á” dựa trên nghiên cứu gốc của Elena Maria và cộng sự (2016) với đề tài “Oil price volatility and stock returns

in the G7 economies”

Trang 13

1 2 c t u v câu ỏ n n cứu:

Trong bối cảnh này, mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ mối tương quan giữa độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận trên thị trường chứng khoán của các nền kinh tế ở Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) trong khoảng thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 12 năm 2016 Làm rõ tác động của độ bất ổn ba loại giá dầu (thế giới, giá dầu quốc gia danh nghĩa hay giá dầu quốc gia thực) lên thị trường chứng khoán của các nước trong phạm vi nghiên cứu

Tác giả đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, độ bất ổn của giá dầu tại một số nước Đông Nam Á có mối tương quan ngược chiều đến lợi nhuận trên thị trường chứng khoán hay không?

Thứ hai, lợi nhuận trên thị trường chứng khoán phản ứng nhạy cảm hơn trước

độ bất ổn của giá dầu thế giới hay giá dầu quốc gia?

1 3 ố t n v p ạm v n n cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tại các nước Đông Nam Á Tác giả chọn các nước Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam vì đây là một trong các nền kinh tế phát triển nhất trong khu vực Đông Nam Á và nguồn dữ liệu cho các biến trong mô hình này tác giả có thể tiếp cận dễ dàng trên IMF Hiện tại trên thế giới có rất nhiều thước giá dầu như giá dầu thô Brent Châu Âu, giá dầu thô Mỹ WTI, giá dầu thô Dubai, giá dầu thô OPEC Tuy nhiên theo Driesprong (2008) thì các loại giá này có liên hệ chặt chẽ với nhau Do vậy tác giả ch chọn một loại giá dầu UK Brent làm đại diện trong nghiên cứu này

Phạm vi nghiên cứu: Do những hạn chế về mặt thời gian thực hiện nghiên cứu

và những hạn chế trong cách tiếp cận dữ liệu nên phạm vi nghiên cứu của tác giả ch lấy trong mốc thời gian từ 2008-2016 Tác giả sử dụng dữ liệu giá dầu và giá cổ phiếu theo ngày từ ngày 1/1/2008 đến 31/12/2016 cho các một số nước Đông Nam Á gồm

Trang 14

Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Các biến vĩ mô khác lấy số

liệu theo tháng từ tháng 1/2008 đến tháng 12/2016

1 4 ơn p áp n n cứu:

Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên tác giả sử dụng mô hình Vectơ tự hồi quy VAR dạng tổng quát để kiểm định mối liên hệ giữa độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ở các nước trong phạm vi nghiên cứu Các biến đưa vào mô hình là: Lãi suất ngắn hạn (IR); hoạt động kinh tế đo lường bằng ch

số sản xuất công nghiệp (IP), tỷ suất sinh lợi của chứng khoán (SR), độ bất ổn của giá dầu thế giới (VOL_OIL_world), biến động giá dầu quốc gia danh nghĩa (VOL_NOIL),

độ bất ổn của giá dầu thực tính theo đồng nội tệ mỗi quốc gia (VOL_ROIL) Tác giả áp dụng mô hình như các nghiên cứu trước đây của Sadorsky (1999), Park and Ratti (2008), Cong et al (2008) and Ono (2011), Elena Maria (2015) Thông qua các nghiên cứu này tác giả thấy rằng tác động của sự thay đổi giá dầu không ch ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán thông qua việc tăng hoặc giảm giá ảnh hưởng đến dòng tiền hoặc lợi nhuận kỳ vọng mà việc thay đổi giá dầu thường xuyên và lớn còn làm gia tăng tính bất ổn Cách tiếp cận của tác giả là đo lường phản ứng của thị trường chứng khoán các nước Đông Nam Á trước cú sốc của giá dầu để cho thấy rằng độ bất ổn của giá dầu sẽ ảnh hưởng tiêu cực hay tiêu cực đến hiệu quả của thị trường chứng khoán ở các nước này Dấu kỳ vọng của tác giả là độ bất ổn của giá dầu sẽ có mối tương quan ngược chiều đến lợi nhuận chứng khoán tại các nước đang nghiên cứu

1 5 Ý n ĩa của đề t :

Luận văn đã cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn về mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán và độ bất ổn của giá dầu ở các nước Đông Nam Á Giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn chính xác hơn về vấn đề năng lượng tại các nước nghiên cứu

Trang 15

1.6 t cấu của luận văn:

Cấu trúc của bài nghiên cứu như sau:

Phần 1: Giới thiệu chung

Phần 2: Đánh giá các nghiên cứu trước đây về mối liên hệ giữa độ bất ổn của giá dầu

và lợi nhuận cổ phiếu

Phần 3: Trình bày dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Phần 4: Bao gồm các phân tích thực nghiệm, trong đó nội dung chính là xem xét các nhân tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận cổ phiếu trên thị trường chứng khoán thông qua phép phân rã phương sai; xem xét mối quan hệ giữa độ bất ổn của giá dầu và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu qua hàm phản ứng đẩy

Phần 5: Kết luận

Trang 16

2 Ổ Q Ê Ứ Ớ Â

Tại các nước phát triển có rất nhiều công trình nghiên cứu về mối tương quan giữa độ bất ổn hoặc cú sốc giá dầu và tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán Các bài nghiên cứu này áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau đồng thời cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Tác giả sẽ tóm tắt các nghiên cứu liên quan thành 3 nhóm cụ thể như sau:

- Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm độ bất ổn của giá dầu và thị trường chứng khoán có mối tương quan cùng chiều: Narayan và Sharma (2011), Shigeki Ono (2010)

- Các nghiên cứu ủng hộ quan điểm độ bất ổn của giá dầu và thị trường chứng khoán có mối tương quan ngược chiều: Kling (1985) , Jones và Kaul (1996), Sadorsky (1999), Apergis và Miller (2009), Kilian và Parks (2009), Shigeki Ono(2010), Güntner(2014), Scholtens và Yurtsever (2012), Wee Chan Koh (2015), Elena Maria (2016)

- Ủng hộ quan điểm độ bất ổn của giá dầu và thị trường chứng khoán không có mối liên hệ với nhau: JD Hamilton (1983), Shigeki Ono(2010), Degianakis (2014)

JD Hamilton (1983) trong bài nghiên “Dầu mỏ và kinh tế vĩ mô sau chiến tranh thế giới thứ II” Nghiên cứu lấy dữ liệu của Mỹ trong giai đoạn từ năm 1948-1972 Kết quả nghiên cứu khắng định mặc dù có mối tương quan giữa giá dầu mỏ và các biến vĩ

mô khác nhưng không đáng kể Ủng hộ giả thuyết cho rằng cú sốc giá dầu là yếu tố góp phần ít nhất gây ra cuộc suy thoái kinh tế Mỹ trước năm 1972

Kling (1985) trong bài nghiên cứu “Cú sốc giá dầu và hành vi của thị trường chứng khoán” kết luận giá dầu có mối liên hệ với tỷ suất sinh lợi trong thị trường chứng khoán Bài nghiên cứu dùng mô hình VAR và ch số S P 500 Nghiên cứu kết luận việc tăng giá dầu trong nhiều tháng trước hết sẽ làm giảm giá chứng khoán sau đó

là sự giảm sút trong hoạt động kinh tế thực

Trang 17

Jones và Kaul (1996) đã nghiên cứu tác động của một đặc điểm tuyến tính của các cú sốc giá dầu trên thị trường chứng khoán ở Mỹ, Canada, Anh và Nhật Bản Họ nhận thấy phản ứng tiêu cực của thị trường chứng khoán đối với những cú sốc giá dầu

và nhận thấy rằng, mặc dù phản ứng này có thể được giải thích đầy đủ bởi sự thay đổi dòng tiền dự kiến và lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Mỹ và Canada, còn thị trường Anh và Nhật dường như phản ứng thái quá với những cú sốc này

Sadorsky (1999) sử dụng mô hình VAR, hàm phản ứng đẩy và phân tích biến động để nghiên cứu tác động của cả giá dầu và độ bất ổn của giá dầu lên thị trường chứng khoán Mỹ Ông nhận thấy những cú sốc giá dầu có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đến lợi nhuận của cổ phiếu và sau năm 1986, cả giá dầu và biến độ bất

ổn của giá dầu giải thích một tỷ lệ lớn hơn dự báo lỗi dự báo sai lệch so với lãi suất Theo Sadorsky (1999) thì bằng chứng cho thấy sự biến động giá dầu đã thay đổi sau năm 1986 Trong nghiên cứu này, ông phân tích mẫu dữ liệu theo quý từ 1970: 01 đến 2014: 12, và chia thành hai giai đoạn trước và sau năm 1986

Papapetrou (2001) trong bài nghiên cứu “Những thay đổi giá dầu, hoạt động kinh tế, thị trường chứng khoán và thất nghiệp ở Hy Lạp” với việc sử dụng mô hình tự hồi quy vecto đa biến (VAR) đã cho thấy sự tồn tại mối quan hệ giữa giá dầu, tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán, lãi suất, hoạt động kinh tế thực và tỷ lệ thất nghiệp ở

Hy Lạp Bằng chứng thực nghiệm cho thấy giá dầu ảnh hưởng đến hoạt động thực của nền kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp cũng như lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tác động tiêu cực của sự thay đổi giá dầu trên thị trường chứng khoán Mỹ (Miller and Ratti, 2009) trong bài nghiên cứu “Dầu thô và thị trường chứng khoán: ổn định, bất ổn và bong bóng” cho thấy ch số chứng khoán trong 6 quốc gia OECD phản ứng trước sự gia tăng giá dầu trong dài hạn và đặc biệt là trước năm

2000

Ngoài ra còn có nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá dầu và mối quan hệ với các

Trang 18

cổ phiếu nhằm phân biệt cú sốc cung dầu và cú sốc cầu dầu Hầu hết các nghiên cứu này đều xác định những cú sốc cung thông qua việc sản xuất dầu trên thế giới thế giới tức cú sốc cung dầu gây ảnh hưởng lên giá cố phiều nhiều hơn như các nghiên cứu của Apergis and Miller (2009), Kilian and Park (2009) và Güntner, (2014) các hoạt động kinh tế (thông qua cú sốc cầu), và những cú sốc nhu cầu dầu còn lại là không đồng đều (Apergis và Miller, 2009) Güntner (2014) Các cú sốc cung dầu trên toàn thế giới không có tác động đáng kể đến thị trường chứng khoán quốc tế, trong khi nhu cầu tổng cầu tăng lên có ảnh hưởng đến giá dầu tăng và lợi nhuận của các nhà đầu tư

Tuy nhiên, các cú sốc cầu dầu, nghĩa là những thay đổi trong nhu cầu về dầu độc lập với sự thay đổi trong tổng cầu, và có ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán của các nước nhập khẩu dầu như nghiên cứu của Apergis và Miller (2009) đối với thị trường chứng khoán của các nước G7 và Úc

Cunado và Perez de Gracia (2013) đã chia ra cú sốc giá dầu ra các cú sốc cầu và cung dầu để xác định tương quan thay đổi giữa giá dầu và sản lượng dầu thế giới Kết quả cho thấy một tác động tiêu cực và đáng kể đối với hầu hết các thị trường chứng khoán châu Âu Một bài báo khác của Park và Ratti (2008) cũng nghiên cứu tác động của những cú sốc biến động về giá dầu và độ bất ổn của giá dầu trên thị trường chứng khoán của Mỹ và 13 nước châu Âu trong giai đoạn 1986-2005 Nghiên cứu xác định độ bất ổn của giá dầu như là tổng của các khoản bình phương log độ khác biệt trong ngày giữa giá hiện tại hoặc giá cả trong tương lai, và thấy rằng sự biến động gia tăng của giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực đến 9 trong 14 quốc gia Elyasani và cộng sự (2011) đo lường ảnh hưởng của độ bất ổn của giá dầu đối với lợi nhuận cổ phiếu của 13 ngành công nghiệp Mỹ, bằng cách thoái lui lợi nhuận của ngành trong việc độ bất ổn của giá dầu, được xác định theo mô hình GARCH (1, 1)

Gần đây, Caporale et al (2015) phân tích ảnh hưởng của độ bất ổn của giá dầu trên giá chứng khoán tại Trung Quốc trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1997 đến tháng 2

Trang 19

năm 2014 để tạo ra độ bất ổn của giá dầu với mô hình GARCH (1, 1)

Hầu hết các nghiên cứu về tác động của giá dầu trong nền kinh tế và thị trường tài chính tập trung vào sự thay đổi giá dầu Những nghiên cứu thường đề cập đến việc tăng hoặc giảm sự biến động của giá dầu có thể ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán, có nghĩa là không ch việc cao hơn (hoặc thấp hơn) của giá dầu tạo ra phản ứng trên thị trường, mà nó còn làm tăng (giảm) độ bất ổn Điều này ngụ ý rằng độ bất ổn tăng lên sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư mà sau đó phản ánh lợi nhuận của cổ phiếu

Shigeki Ono (2010) trong bài nghiên cứu “Cú sốc giá dầu và thị trường chứng khoán trong các nước BRICs” Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ tháng 1 năm 1999 đến tháng 10 năm 2009 để đánh giá tác động của cú sốc giá dầu lên thị trường chứng khoán tại 4 nước là Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Brazil Kết quả cho thấy có tương quan dương giữa cú sốc giá dầu và lợi nhuận thị trường chứng khoán tại Nga Ngược lại là mối quan hệ tương quan âm giữa cú sốc giá dầu và lợi nhuận trên thị trường chứng khoán tại Trung Quốc, độ bất ổn của giá dầu đóng góp hơn 10% lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Tại Ấn Độ và Brazil thì không tìm thấy mối quan hệ tương quan này

Elyas (2011) trong nghiên cứu “Cú sốc giá dầu và lợi nhuận chứng khoán các ngành công nghiệp; Bằng chứng thực nghiệm các nước G7 và Nauy” Nghiên cứu dùng

mô hình VAR với 4 biến là lãi suất, giá dầu, sản lượng công nghiệp và lợi nhuận thực trên thị trường chứng khoán Kết quả thực tiễn cho thấy một tác động phi tuyến của biến dộng giá dầu vào lợi nhuận trên thị trường chứng khoán

Các nghiên cứu khác đã điều tra tác động của những cú sốc giá dầu ở mức ngành như: Scholtens và Yurtsever (2012) trong bài nghiên cứu “Cú sốc giá dầu và các ngành công nghiệp ở các nước Châu Âu” Nghiên cứu điều tra tác động của những cú sốc giá dầu ở mức ngành công nghiệp ở khu vực Châu Âu từ năm 1983-2007 Sử dụng

Trang 20

mô hình hồi quy động và hồi quy nhiều biến để điểu tra làm thế nào 38 ngành công nghiệp khác nhau phản ứng lại với cú sốc giá dầu Kết quả cho thấy sự tương quan tiêu cực của các ngành công nghiệp khác nhau và tổng lợi nhuận của thị trường chứng khoán đối với sự thay đổi giá dầu (trừ ngành sản xuất dầu và khí đốt) ở khu vực Châu

Âu

Ngoài ra, Narayan và Sharma (2011) trong nghiên cứu “Giá dầu và lợi nhuận chứng khoán của các công ty tiêu thụ và sản xuất dầu” phân tích mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận của 560 công ty Hoa Kỳ và thấy rằng các công ty thuộc lĩnh vực năng lượng và giao thông vận tải đã có những tác động tích cực từ cú sốc giá dầu trong khi các ngành còn lại lại gặp phải những tác động tiêu cực Ngoài ra, khi quy mô công ty tăng lên, mối quan hệ giữa giá dầu và lợi nhuận của công ty dường như tiêu cực hơn và

có ý nghĩa thống kê

Degianakis và các cộng sự (2014) chứng minh rằng nếu sự gia tăng trong giá dầu là do sự gia tăng trong tổng cầu của nền kinh tế thì điều này sẽ làm gia tăng sự biến động trên thị trường chứng khoán Châu Âu Ngược lại nếu nguyên nhân của cú sốc giá dầu đến từ cung hoặc cầu riêng của thị trường dầu thì nó sẽ không tác động đến sự biến động trên thị trường chứng khoán

Wee Chan Koh (2015) trong nghiên cứu “Cú sốc giá dâu và thị trường chứng khoán ở 5 nước ASEAN” Bài nghiên cứu ch ra tác động của cú sốc giá dầu lên thị trường chứng khoán ở Indonesia, Malaysia, Phillipine, Singapore và Thái Lan Sử dụng

dữ liệu theo tháng từ tháng 7 năm 1997 đến tháng 12 năm 2013 Kết quả cho thấy phản ứng lại cú sốc giá dầu thì thị trường chứng khoán của các quốc gia này đều giảm sau 6 tháng vì ngân hàng Trung ương tăng lãi suất để giảm áp lực lạm phát Trái ngược với các bằng chứng được tìm thấy ở Mỹ và Châu Âu thì tại các nước Asean cú sốc chính sách tiền tệ thì quan trọng hơn cú sốc giá dầu trong việc giải thích lợi nhuận chứng khoán thực Để phản ứng lại với sự tăng biến dộng giá dầu thì lợi nhuận trên thị trường

Trang 21

chứng khoán cũng giảm nhanh tức thì nhưng sẽ nhanh chóng được phục hồi khi nền kinh tế được điều ch nh trở lại

Elena Maria (2016) trong bài nghiên cứu “Biến động giá dầu và lợi nhuận chứng khoán trong thị trường các nước G7” Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa

độ bất ổn của giá dầu và lợi tức cổ phiếu trong các nền kinh tế G7 (Canada, Pháp, Đức,

Ý, Nhật Bản, Anh và Mỹ) sử dụng số liệu hàng tháng cho giai đoạn 1970 đến 2014 Để

đo lường sự biến động của dầu Elena xem xét các thông số kỹ thuật thay thế cho giá dầu (thế giới, giá danh nghĩa và giá thực) Và ước lượng mô hình tự động tự hồi quy với các biến sau: lãi suất, hoạt động kinh tế, lợi tức cổ phiếu và độ bất ổn của giá dầu

có tính đến sự phá v cơ cấu trong năm 1986 Kết quả cho thấy phản ứng tiêu cực của thị trường chứng khoán G7 với sự gia tăng độ bất ổn của giá dầu Và sự độ bất ổn của giá dầu thế giới nói chung có ý nghĩa quan trọng đối với thị trường chứng khoán hơn là

sự độ bất ổn của giá dầu quốc gia

Tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề độ bất ổn của giá dầu lên thị trường chứng khoán và các biến vĩ mô trong nền kinh tế Cụ thể có các nghiên cứu dưới đây:

Nghiên cứu của Le Viet Trung và Nguyen Thi Thuy Vinh (2011) cho thấy giá dầu tăng lại có ảnh hưởng tích cực đáng kể tới hoạt động kinh tế được đo bằng ch số sản xuất công nghiệp

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Trang và Đinh Thị Thu Hồng (2016) trong nghiên cứu “Tác động phi tuyến của giá dầu đến tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp và thâm hụt ngân sách” xác định ngư ng của giá dầu trong khi phân tích tác động của các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam bao gồm lạm phát, tăng trưởng và thâm hụt ngân sách và thất nghiệp trong giai đoạn từ năm 2000-2015 Ứng dụng mô hình TVAR bài nghiên cứu này xác định mức ngư ng giá dầu là 26.7 USD/thùng Khi giá dầu trên mức này thì một sự gia tăng trong giá dầu sẽ tác động làm tăng lạm phát, tăng thâm hụt

Trang 22

ngân sách và tỷ lệ thất nghiệp trong khi không có bằng chứng thống kê về tác động của giá dầu lên tăng trưởng GDP

Nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh, Chu Khánh Lẩn, Đào Bích Ngọc, Nguyễn Minh Phương và Trần Huy Tùng (2015) với bài “Biến động giá dầu và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam” Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm phân tích nguyên nhân dẫn tới sự biến động của giá dầu thế giới trong thời gian qua và đánh giá ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu thế giới tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng mô hình VAR để phân tích tác động của các cú sốc tới giá dầu thế giới giai đoạn 1975-2015 và đánh giá tác động của các cú sốc giá dầu tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1997-2015 Kết quả mô hình cho thấy đóng góp chủ yếu vào sự biến động của giá dầu thế giới trong suốt giai đoạn 1975-2015 là các các cú sốc tổng cầu và cú sốc cầu dự phòng, còn cú sốc cung dầu có ảnh hưởng tương đối thấp tới sự biến động của giá dầu Cú sốc tăng sản lượng dầu, cú sốc tăng tổng cầu có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong khi

cú sốc tăng cầu dự phòng lại làm giảm tăng trưởng kinh tế Cú sốc tăng sản lượng dầu làm giảm lạm phát, trong khi cú sốc tăng tổng cầu và cú sốc tăng cầu dự phòng làm tăng lạm phát của Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Quốc Bảo (2013) trong bài “Tác động của cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại Việt Nam và một số khuyến nghị” Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xem xét tác động cú sốc giá dầu lên cán cân thương mại Việt Nam và mối quan hệ nhân quả giữa cán cân thương mại và các yếu tố vĩ mô khác trong giai đoạn nghiên cứu từ 1999 đến 2011 Bằng việc sử dụng mô hình ARDL bài nghiên cứu kết luận có mối quan hệ ngược chiều đáng kể giữa giá dầu và tỷ giá hối đoái Cụ thể

Tóm lại ở Việt Nam cú sốc giá dầu thường có tác động tiêu cực đến các nhân tố

vĩ mô khác nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến tác động của nó lên thị trường

Trang 23

chứng khoán

Trong nghiên cứu này tác giả xem xét mối quan hệ giữa độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận thị trường chứng khoán, sử dụng mô hình VAR cùng với lãi suất ngắn hạn, tăng trưởng sản xuất công nghiệp, và lợi nhuận của cổ phiếu Ảnh hưởng của độ bất ổn của giá dầu trên thị trường chứng khoán sau đó được xác định thông qua chức năng phản ứng đẩy tạo ra từ mô hình VAR

Trang 24

3 Ữ L Ệ Ê Ứ

3 1 ữ l ệu n n cứu:

Tác giả sử dụng bộ dữ liệu bao gồm dữ liệu hàng tháng cho các nước đang nghiên cứu từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 12 năm 2016 Tác giả chọn thời gian nghiên cứu này là vì tại Việt Nam số liệu ch số sản xuất công nghiệp vừa trở thành ch

số quốc gia bắt buộc phải công bố từ sau năm 2010 và dữ liệu theo tháng đáng tin cậy trên Tổng cục thống kê ch có từ năm 2008 đến nay Và mốc thời gian từ 2008 cũng là thời điểm bùng phát khủng hoảng tài chính dẫn đến sự sụt giảm ch số giá chứng khoán

và mất giá tiền tệ ở quy mô lớn tại nhiều nước trong đó có các nước tác giả đang nghiên cứu Các paper khác cũng sử dụng số liệu hàng tháng để nghiên cứu lợi tức cổ phiếu và các cú sốc dầu là Apergis and Miller (2009), Park và Ratti (2008), Miller and Ratti (2009) và Cunado và Perez de Gracia (2013) , Elena Maria (2016) Số liệu thu được từ số liệu thống kê tài chính quốc tế IFS (Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, 2017), và Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ EIA (2017), tổng cục thống kê của Việt Nam (GSO)

Central Bank Policy Rate, Percent per annum

Đây là lãi suất định hướng chính sách của ngân hàng trung ương các nước

Trang 25

Index, All items, Index

Ch số lạm phát theo tháng sẽ đƣợc điều ch nh yếu tố mùa

n

Europe Brent Price FOB (Dollar per Barrel)

Giá dầu lấy theo tháng

danh nghĩa

quốc gia

đồng nội tệ trên một thùng

Lấy giá dầu thế giới nhân với

Lấy giá dâù danh nghĩa loại trừ đi lạm phát = Giá dầu danh nghĩa x (1-CPI)

sẽ đƣợc điều ch nh yếu tố mùa vụ bằng Eview Sau đó trừ đi yếu tố lạm phát

Thailand

Manufacturing Production Index

Trang 26

Tổng cục thống kê

ch số sản xuất công nghiệp của Việt Nam

Số liệu IP của việt Nam từ

2008 đến 2012 lấy theo năm gốc 2005 nên tác giả sẽ tiến hành quy đổi năm gốc về

2010 cho phù hợp với dữ liệu

IP từ năm 2013 đến 2016 Sau đó điều ch nh yếu tố mùa

vụ trên Eview

Composite Index

https://www.investing.com/indices/idx-composite-

historical-data

Lợi nhuận cổ phiếu

Malaysia KLCI index

https://www.investing.com/indices/ftse-malaysia-klci

Lợi nhuận cổ phiếu

Singapore Straits Times

Index

https://www.investing.com/indices/singapore-straits-time

Lợi nhuận cổ phiếu

g.com/indices/thailand-set

Lợi nhuận cổ phiếu

Trang 27

động kinh tế, độ bất ổn của giá dầu và giá cổ phiếu Các biến này xuất hiện trong các nghiên cứu của Sadorsky, (1999), Miller and Ratti (2009), Cunado và Perez de Gracia (2013) và Elena Maria Diaz (2016) Tác giả áp dụng mô hình VAR như trong paper

“Độ bất ổn của giá dầu và lợi nhuận chứng khoán của các nước G7” của Elena Maria Diaz và cộng sự

- Lã suất Theo paper gốc thì Elena Maria lấy lãi suất chiết khấu ngắn hạn cho

từng quốc gia G7 Ở đây tác giả chọn lãi suất chính sách của Ngân hàng trung ương vì lãi suất này ít biến động và mang tính đại diện cho chính sách kinh tế nhiều nhất Tại Việt Nam lãi suất này chính là lãi suất cơ bản Thông thường lãi suất mà các ngân hàng trung ương cố gắng tác động là lãi suất rất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng chứ không bao giờ can thiệp trực tiếp vào lãi suất huy động hoặc cho vay giữa ngân hàng thương mại Tên gọi chung trong tiếng Anh cho các loại lãi suất mục tiêu này là

“policy rate” Còn ở Việt Nam nó lại được dùng thành “lãi suất cơ bản” Thông thường, sau khi quyết định lãi suất mục tiêu ngân hàng trung ương sẽ can thiệp vào thị trường liên ngân hàng thông qua “hoạt động thị trường mở”, nghĩa là mua hoặc bán trái phiếu chính phủ để lái mặt bằng lãi suất trên thị trường này về gần với mục tiêu Bên cạnh “hoạt động thị trường mở”, nhiều ngân hàng trung ương còn sử dụng một số công

cụ bổ sung để tăng tính hiệu quả của chính sách tiền tệ như mua bán repo, trả lãi suất cho dự trữ bắt buộc, phát hành trái phiếu ngân hàng trung ương, hay cho vay tái cấp vốn trực tiếp cho các ngân hàng thương mại Trong nghiên cứu của Tang và cộng sự (2010) Ở đây chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng giúp chính phủ đối phó với cú sốc giá dầu Ví dụ nếu chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt thông qua việc gia tăng lãi suất để đối phó với áp lực lạm phát do giá dầu tăng cao Điều này làm cho nhà sản xuất thấy lợi nhuận giảm từ đó tác động sản lượng trong dài hạn cũng bị giảm theo dẫn đến nhu cầu dầu giảm sẽ làm giảm giá dầu trên thế giới Nghiên cứu còn ch

ra chính sách thắt chặt tiền tệ và cú sốc giá dầu đã tạo hiệu ứng suy giảm nền kinh tế thực

Trang 28

Theo Elana Maria (2016), lãi suất và các hoạt động kinh tế cho phép chúng ta kiểm soát các cú sốc ảnh hưởng đến lợi nhuận của cổ phiếu, nhưng không bị ảnh hưởng bởi độ bất ổn của giá dầu ngắn hạn Lãi suất chính sách được tác giả lấy dữ liệu trên IMF, và đây cũng là biến duy nhất không lấy log khi đưa vào mô hình, ví dụ lãi suất của Singapore luôn có giá trị nhỏ hơn một Lãi suất ngắn hạn thì cũng được xem xét bởi các nghiên cứu khác như Miller và Ratti (2009) Cunado và Perez de Gracia (2013) và Vitaly (2016)Elena Maria Diaz (2016)

- oạt độn k n t Để đo lường hoạt động kinh tế, tác giả sử dụng ch số sản

xuất công nghiệp hàng tháng đã được điều ch nh yếu tố mùa vụ cho từng quốc gia Ch

số sản xuất công nghiệp hàng tháng là tổng ch số sản lượng sản xuất thực tế của các ngành công nghiệp sản xuất chế biến, khai khoáng, sản xuất và phân phối điện, các ngành thuộc lĩnh vực công ích Dữ liệu này được lấy trên IMF cho các nước Tuy nhiên Việt Nam và Thái Lan không có dữ liệu này trên IMF Tác giả lấy số liệu của Thái Lan

từ nguồn Ngân hàng Trung ương Thái Lan Còn riêng Việt Nam tác giả lấy dữ liệu về

ch số sản xuất công nghiệp hàng tháng trên Tổng cục thống kê Bộ dữ liệu thu được này là tốc độ phát triển công nghiệp so sánh với năm gốc 2010 Sau đó điều ch nh yếu

tố mùa vụ trên Eview 8 sử dụng phương pháp X11 do Bureau of Cencus của Mỹ xây dựng Để phản ánh được hoạt động kinh tế thực tác giả sẽ sẽ loại bỏ yếu tố lạm phát bằng cách trừ cho ch số giá tiêu dùng (CPI) của mỗi quốc gia Ch số CPI tác giả cũng lấy theo tháng và điều ch nh yếu tố mùa vụ trên Eview 8 dùng mô hình X11 Các paper khác cũng sử dụng ch tiêu sản xuất công nghiệp là Herrera et al (2011) và Cunado và Perez de Gracia (2013) và Elena Maria (2016)

- á dầu Tác giả sử dụng giá dầu thô Brent Châu Âu giao ngay Dữ liệu được

lấy theo ngày từ 1/1/2008 đến 31/12/2016 Tuy nhiên tác giả xem xét các thông số kỹ thuật cho giá dầu bao gồm giá dầu danh nghĩa trên thế giới, giá dầu danh nghĩa của quốc gia và giá dầu thực tế của quốc gia Giá dầu Brent niêm yết từ cơ quan năng lượng Mỹ EIA với đơn vị bằng đô la Mỹ cho mỗi thùng Theo Elena Maria (2016) thì

Trang 29

giá dầu danh nghĩa quốc gia sẽ đƣợc đo bằng tỷ giá của mỗi quốc gia (số đơn vị nội tệ trên một đô la Mỹ) nhân với giá dầu thế giới; Giá dầu thực tế bằng giá dầu danh nghĩa của quốc gia sau khi loại trừ tỷ lệ lạm phát mà ở đây là ch số CPI theo tháng có điều

ch nh yếu tố mùa vụ Tức là giá dầu thực = giá dầu danh nghĩa x (1-tỷ lệ lạm phát) Ở đây tác giả không tính đến yếu tố thuế và các loại phí khi nhập khẩu xăng dầu khi quy đổi từ giá dầu thế giới sang giá dầu quốc gia Tỷ giá hối đoái và ch số CPI đƣợc sử dụng trong mô hình cũng lấy dữ liệu từ IFS Nghiên cứu của Cunado và Perez de Gracia (2005) cũng xem xét giá dầu quốc gia và thế giới

n 2 1 á dầu t ớ qua các năm t 1998 đ n 2016

gu Dữ iệu theo th g u g g , Thomso Reuters

Có thể thấy thời điểm khủng hoảng năm 2008-2009 giá dầu thế giới có sự sụt giảm đột ngột và rất lớn từ 130 đô la /thùng xuống ch còn 40 đô la/thùng Điều này làm cho tình hình kinh tế của các quốc gia xuất khẩu dầu gặp nhiều khó khăn vì chi phí sản xuất còn cao hơn giá bán Sau đó giá dầu dần tăng từ năm 2011 đến năm 2014 và luôn ở mức trên 100 đô la/thùng Tuy nhiên những tháng cuối năm 2014 thì giá dầu

Trang 30

liên tục sụt giảm qua các năm đến 2016, mức thấp nhất là đến tháng 2 năm 2016 với

giá 30 đô la/thùng Điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến thị trường chứng khoán thế giới

nói chung và các nước tại khu vực Đông Nam Á nói riêng

- suất s n l t ị tr ờn c ứn k oán Từng quốc gia sẽ có một ch số

chứng khoán riêng đại diện trong nghiên cứu này Các ch số chứng khoán tác giả lựa

chọn cho các nước Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Việt Nam lần lượt là

Jarkarta Stock Exchange Index, FTSE Malaysia KLCI, Straits Times Index, SET Index,

VN Index Để đo lường lợi nhuận của cổ phiếu, tác giả sử dụng tốc độ tăng ch số giá

cổ phiếu trung bình hàng tháng của mỗi quốc gia Sau khi lấy dữ liệu từ IFS, dữ liệu

này có mốc so sánh là năm 2010 Định nghĩa về lợi tức cổ phiếu thực tế phù hợp với

các tài liệu thực nghiệm trước đây như Park và Ratti (2008) và Cunado và Perez de

Gracia (2013), Elena Maria (2016) Quan sát các biểu đồ bên dưới có thể thấy rằng ch

số này thể hiện khá chính xác hoạt động kinh tế trong thời gian vừa qua Trong giai

đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008-2009 thì ch số lợi tức thị trường chứng khoán đều

sụt giảm tại các nước nghiên cứu Đến năm 2010 thì ch số chứng khoán bắt đầu khởi

sắc Thị trường chứng khoán Indonesia là thị trường lớn nhất khu vực với khối lượng

giao dịch cao nhất lên đến 400 tỷ USD và ch số giá lên đến 5653.01 điểm trung bình

của 12/2016 Tiếp theo là Singapore với 3249 điểm, Malaysia với 1766 điểm, Thái

Lan với 1560 điểm và thấp nhất là Việt Nam ch 724 điểm tính tại thời điểm tháng

12/2016 Đồ thị giá chứng khoán và khối lượng giao dịch được minh họa như bên dưới

Trang 33

Nó là sự kết hợp của hai phương pháp là tự hồi quy đơn chiều (univariate autoregression -AR) và hệ phương trình ngẫu nhiên (simultanous equation -SEs) Theo các nhà nghiên cứu ưu điểm của VAR là rất dễ ước lượng bằng phương pháp tối thiểu hóa phần dư (OLS) đồng thời khắc phục dược nhược điểm của các mô hình kinh tế lượng khác là sẽ không cần quan tâm đến tính nội sinh của các biến kinh tế (endogeneity) Vì xét trong mối quan hệ kinh tế, các biến kinh tế vĩ mô thường mang tính nội sinh tức là chúng tác động qua lại lẫn nhau Rõ ràng tính chất này làm cho phương pháp hồi quy bội cổ điển dùng một phương trình nhiều khi bị sai lệch ước

Trang 34

lượng

Một mô hình VAR bao gồm các biến số có thể được biểu diễn như sau:

(1) Trong đó số độ trễ i , là một vector cột của tất cả các biến trong mô hình (bao gồm theo thứ tự là lãi suất ngắn hạn, ch số sản xuất công nghiệp thực tế, độ bất ổn của giá dầu thế giới, độ bất ổn của giá dầu danh nghĩa theo đồng nội tệ, độ bất ổn của giá dầu thực tế quốc gia theo đồng nội tệ và lợi nhuận chứng khoán là một vector cột của các hằng số; Là một ma trận vuông cấp k của các hệ số tương quan chưa biết; là một vector cột của các sai số với các thuộc tính sau:

Trong việc lựa chọn thứ tự của các biến cho mô hình VAR, lãi suất ngắn hạn được lựa chọn đầu tiên bởi vì giả định rằng cú sốc tiền tệ độc lập trong tác động tới các biến khác, nhưng có thể ảnh hưởng đến giá dầu và dầu độ bất ổn của giá dầu Giả định này phù hợp với Scholtens và Yurtsever (2012) và Sadorsky (1999)

Để xác định biến độ bất ổn của giá dầu, tác giả căn cứ các nghiên cứu trước đây như của Elyasani và cộng sự (2011) và Chen và Hsu (2012), dùng mô hình GARCH (1, 1) đơn giản ước tính riêng cho độ bất ổn của giá dầu cho mỗi quốc gia

= + trong đó | |~N(0, ) (2)

= + - +

Trong đó là giá dầu ở thời điểm t, và là sự thay đổi giá dầu trong mỗi thời kỳ, theo phân phối chuẩn với giá trị trung bình bằng 0 và độ biến động theo thời gian Các tham số để đo độ nhạy của phương sai của giá dầu trung bình dài hạn đo

Trang 35

lường độ nhạy cảm của của độ bất ổn của giá dầu đối với sự thay đổi giá lần gần nhất

và tham số đo độ nhạy đối với tất cả các giá trị độ bất ổn của giá dầu trước đó Trong phương trình (2), nếu tất cả các tham số lớn hơn 0 và + bé hơn 1 thì phương sai mô hình GARCH dừng Tác giả ước tính chuỗi thời gian cho biến biến độn giá dầu cho từng sử dụng phương pháp Maximum likehood Nếu + tiến gần tới 1 cho thấy các

cú sốc biến động khá dai dẳng Kết quả này thường được quan sát nếu mẫu dữ liệu quan sát ở tần suất cao

Kết quả ước lượng đều cho thấy các hệ số đều lớn hơn 0 và có ý nghĩa thống kê Giá trị thống kê Durbin-watson trong mô hình GARCH (1,1) đều gần bằng 2 nên không có hiện tượng tự tương quan cho biến giá dầu thế giới là 1.938; biến giá dầu quốc gia danh nghĩa tại Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Việt Nam lần lượt là 1.949, 1.953, 1.948, 1.945, 1.934; biến giá dầu quốc gia thực là 1.951, 1.955, 1.949, 1.95 và 1.94

Tác giả sẽ tạo ra phần dư và chuỗi dữ liệu GARCH (biến độ bất ổn của giá dầu) dựa trên mô hình vừa chạy Quan sát đố thị thì các phần dư đều dừng nên kết quả hồi quy là đáng tin cậy

Trang 36

Hình 3.3 ồ t ị p ần d của mô n c o các b n á dầu t ớ , á dầu dan n ĩa của quốc a bằn đồn nộ tệ tạ các n ớc

gu T g h từ view 8

Trang 37

Hình 3.4 ồ t ị p ần d của mô n c o các b n á dầu t ực của quốc a bằn đồn nộ tệ tạ các n ớc

gu T g h từ view 8

Trang 38

Mô hình VAR được ước tính trong bài báo này đã được sử dụng rộng rãi để xác định tác động của một số chi tiết về cú sốc giá dầu trên thị trường chứng khoán giống như các nghiên cứu trước đây của của Park và Ratti (2008), Güntner (2014), Cunado và Perez de Gracia (2013),Elena Maria (2016)

Các bước tiến hành nghiên cứu với mô hình VAR-unrestricted:

Bước 1: Xét tính dừng của các biến trong mô hình Nếu chưa dừng thì dùng kỹ thuật lấy sai phân để đưa về chuỗi dừng

Bước 2: Kiểm tra tính đồng liên kết giữa các biến trong mô hình để lựa chọn mô hình thích hợp VAR hay VECM

Bước 3: Lựa chọn các khoảng trễ thích hợp

Bước 4:Kiểm định tính ổn định của mô hình thông qua các bước:

❖ Kiểm định nghịch đảo đơn vị gốc đa thức AR root

❖ Kiểm định tính dừng của các phần dư tương ứng qua đồ thị

❖ Kiểm định tự tương quan bằng LM test

❖ Kiểm định phương sai thay đổi bằng kiểm định White

Bước 5: Phản ứng đẩy và phân rã phương sai theo trật tự Cholesky để phân tích tác động của các cú sốc giá dầu lên tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán

Trang 39

ơn 4 Q Ả Ê Ứ

4 1 ểm địn đơn vị n t root test

Theo Gujarati (2003) một chuỗi thời gian là dừng khi giá trị trung bình, phương sai, hiệp phương sai (tại các độ trễ khác nhau) giữ nguyên không đổi cho dù chuỗi được xác định vào thời điểm nào đi nữa Chuỗi dừng có xu hướng trở về giá trị trung bình và những dao động quanh giá trị trung bình sẽ là như nhau Nói cách khác, một chuỗi thời gian không dừng sẽ có giá trị trung bình thay đổi theo thời gian, hoặc giá trị phương sai thay đổi theo thời gian hoặc cả hai

Theo Dickey và Fuller (1981) giá trị t ước lượng của các hệ số trong các mô hình (3.1) và (3.2) sẽ theo phân phối xác suất τ (tau statistic, τ = giá trị hệ số ước lượng/ sai số của hệ số ước lượng) Giá trị tới hạn τ được xác định dựa trên bảng giá trị tính sẵn của Mackinnon (1996) Giá trị tới hạn này cũng được tính sẵn khi kiểm định ADF bằng phần mềm Eviews Để kiểm định giả thuyết H0 (tức chuỗi dữ liệu là không dừng) nghiên cứu so sánh giá trị kiểm định τ tính toán với giá trị τ tới hạn của Mackinnon và kết luận về tính dừng của các chuỗi quan sát Cụ thể, nếu trị tuyệt đối của giá trị tính toán lớn hơn trị tuyệt đối giá trị tới hạn thì giả thuyết H0 sẽ bị bác bỏ, tức chuỗi dữ liệu có tính dừng và ngược lại chấp nhận giả thuyết H0, tức dữ liệu không

có tính dừng Ở đây tác giả lấy một ví dụ cho chuỗi dữ liệu lãi suất của Indonesia Kết quả cho thấy giá trị |τ| tính toán =29.52> giá trị τ tới hạn là 3.43 tại mức ý nghĩa 5%

Trang 40

n 4 1 t quả k ểm địn n ệm đơn vị c o b n lã suất của ndones a

gu T gi t g h từ hầ mềm view 8.0

Thực hiện tương tự cho các tất cả các biến còn lại trong mỗi mô hình cho từng quốc gia bao gồm các biến đại diện của giá dầu (giá dầu thế giới danh nghĩa và giá thực dầu quốc gia thực) Các biến về giá dầu được lấy log Tác giả dùng cả hai kiềm định Augmented Dickey-Fuller (ADF, Dickey và Fuller, 1981) để kiểm tra nghiệm đơn đơn vị Các kết quả cho thấy hầu hết các biến không dừng ở bậc 0 mà dừng ở bậc 1 Ngoại trừ hai biến ch số sản xuất công nghiệp của Thái Lan và lãi suất cổ phiếu của Việt Nam dừng ở bậc 0 Ngoài ra còn có một số nghiên cứu liên quan trước đây xác nhận nghiệm đơn vị của hoạt động kinh tế, lãi suất ngắn hạn, giá cổ phiếu và giá dầu

Ngày đăng: 18/08/2017, 23:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w