1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh thừa thiên huế

104 678 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, kết quả phát triển du lịch Thừa Thiên Huế trong những năm qua còn khá khiêm tốn so với kỳ vọng: lượng khách quốc tế đến địa phương có xu hướng chững lại, doanh thu du lịch sụt

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

Trang 2

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các trích dẫn và số liệu được

sử dụng trong luận văn được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong khả năng hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh

tế Hồ Chí Minh hay Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Văn Phúc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô ở Chương trình Giảng dạy Kinh

tế Fulbright đã truyền đạt, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu

Với lòng kính trọng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Huỳnh Thế Du, TS Lê Việt Phú đã có những buổi trao đổi thú vị trong giai đoạn định hướng ban đầu về luận văn của tôi Đặc biệt, tôi xin gửi đến TS Vũ Thành Tự Anh lời cảm ơn sâu sắc vì Thầy đã tận tình hướng dẫn, tư vấn và khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu được thực hiện

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị nhân viên làm việc tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã tạo mọi điều kiện và hỗ trợ tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin cảm ơn các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đã hợp tác chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên, đặc biệt là các thành viên MPP8, các anh chị cựu học viên đã trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành nghiên cứu

Trang 5

TÓM TẮT

Thừa Thiên Huế là nơi hội tụ của núi, rừng, đầm phá, biển và quần thể di tích lịch sử đa dạng, đặc biệt với hai di sản văn hóa thế giới nổi tiếng là Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế, có tiềm năng rất lớn cho việc phát triển du lịch Du lịch Thừa Thiên Huế luôn được xem như là ngành kinh tế mũi nhọn, được thể hiện rõ trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của Trung Ương và địa phương Tuy nhiên, kết quả phát triển du lịch Thừa Thiên Huế trong những năm qua còn khá khiêm tốn so với kỳ vọng: lượng khách quốc tế đến địa phương có xu hướng chững lại, doanh thu du lịch sụt giảm, chi tiêu của du khách thấp và ngành du lịch chỉ đóng góp một phần nhỏ trong thu ngân sách địa phương Đứng trước thực trạng này, nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời hai câu hỏi chính sách: (i) Những nhân tố then chốt nào đóng vai trò thúc đẩy hoặc cản trở NLCT cụm ngành du lịch TT-Huế? và (ii) Cần phải làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch Thừa Thiên Huế? Thông qua đó, nghiên cứu đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Thừa Thiên Huế và khuyến nghị những chính sách phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cụm ngành này

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mô hình kim cương của Michael E.Porter cùng với việc thu thập thông tin nhằm kiểm định một cách thận trọng các giả thuyết được đưa ra, các tiêu chí được so sánh với địa phương lân cận là Quảng Nam Kết quả cho thấy, sự phát triển cụm ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế gặp phải nhiều cản trở, xuất phát từ các nguyên nhân: (i) quy hoạch phát triển du lịch dàn trải trên tất cả các loại hình, (ii) sự kém hiệu quả của các thể chế liên quan đến sự phát triển của cụm ngành, đặc biệt là chính quyền địa phương và các bên liên quan, dẫn đến các chương trình liên kết, quảng bá du lịch kém hiệu quả và môi trường kinh doanh có nhiều trở ngại, (iii) sự thiếu hụt về các sản phẩm du lịch, đặc biệt là các điểm vui chơi giải trí và cuộc sống về đêm và (iv) sự hạn chế về vốn đầu tư cho hoạt động du lịch cũng như cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của du khách

Với các nút thắt này, nghiên cứu tập trung đề xuất bốn nhóm gợi ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh ngành du lịch Thừa Thiên Huế: (i) địa phương cần xác định lại quy hoạch phát triển du lịch với các mức độ ưu tiên từng loại hình, với nền tảng là du lịch di sản văn hóa, (ii) thúc đẩy liên kết và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh trong phát triển du lịch, (iii) đa dạng hóa và cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch và (iv) thu hút vốn đầu tư và cải thiện cơ sở hạ tầng trong phát triển du lịch địa phương

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ vii

DANH MỤC HỘP ix

DANH MỤC PHỤ LỤC x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Nguồn thông tin 5

1.7 Cấu trúc của nghiên cứu 5

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

2.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh 6

2.2 Lý thuyết về cụm ngành 7

2.3 Các nghiên cứu liên quan đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch 9

2.4 Các giả thuyết nghiên cứu 11

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỤM NGÀNH DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 12

3.1 Các điều kiện nhân tố đầu vào 12

3.1.1 Nguồn tài sản vật chất 12

3.1.2 Cơ sở hạ tầng 16

3.1.3 Nguồn nhân lực 18

3.1.4 Nguồn kiến thức 20

3.1.5 Nguồn vốn 21

3.2 Bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh 23

Trang 7

3.2.1 Tổng quan PCI 24

3.2.2 Bối cảnh cạnh tranh của ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế 26

3.3 Các điều kiện cầu 29

3.4 Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan 35

3.4.1 Các thể chế hỗ trợ 35

3.4.2 Các ngành dịch vụ hỗ trợ và liên quan 38

3.5 Đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế 43

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 48

4.1 Kết luận 48

4.2 Khuyến nghị chính sách 48

4.2.1 Đối với quy hoạch phát triển du lịch 48

4.2.2 Đối với vấn đề liên kết và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh trong phát triển du lịch 49

4.2.3 Đối với việc đa dạng hóa và cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch 50

4.2.4 Đối với việc thu hút vốn đầu tư trong phát triển du lịch và cải thiện cơ sở hạ tầng tại địa phương 50

4.3 Hạn chế của luận văn 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 56

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á

CIEM Central Institute for Economic

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

ILO International Labour

Organization

Tổ chức lao động quốc tế

JICA The Japan International

Cooperation Agency

Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

KOIKA The Korea International

Cooperation Agency

Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc

Committee for Asia/Pacific

Ủy ban Ký ức thế giới khu vực Châu

USAID United States Agency for

International Development

Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ

UNESCO United Nations Educational

Scientific and Cultural Organization

Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên Hiệp Quốc

and Industry

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 3.1: 5 yêu cầu quan trọng nhất đối với du lịch tại TT-Huế và Quảng Nam 32

Hình 1.1: Khách du lịch quốc tế đến một số thành phố có di sản thế giới được công nhận bởi UNESCO giai đoạn 2011 – 2015 2

Hình 1.2: Doanh thu du lịch (cơ sở lưu trú và lữ hành) của các tỉnh TT-Huế, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thanh Hóa và Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2015 3

Hình 1.3: Phương pháp nghiên cứu 5

Hình 2.1: Các nhân tố quyết định NLCT của địa phương 6

Hình 2.2: Mô hình Kim cương Porter 8

Hình 2.3: Mạng lưới hoạt động cụm ngành du lịch 10

Hình 3.1: Đánh giá cơ sở hạ tầng ở các tỉnh thuộc VKTTĐ TB 2016 18

Hình 3.2: Số lượng và trình độ lao động ngành du lịch từ năm 2012 đến năm 2015 19

Hình 3.3: Đào tạo lao động tại TT-Huế so với Quảng Nam và trung vị cả nước năm 2015 21

Hình 3.4: Vốn đầu tư tính theo giá so sánh 2010 trên địa bàn tỉnh TT-Huế và Quảng Nam từ năm 2012 đến năm 2015 22

Hình 3.5: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010, tổng thu ngân sách và tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn năm 2015 của các tỉnh thuộc VKTTĐ TB (tỷ đồng) 23

Hình 3.6: Tổng quan PCI của TT-Huế và các tỉnh thuộc VKTTĐ TB 24

Hình 3.7: Các chỉ tiêu thành phần PCI của tỉnh TT-Huế năm 2013 và 2016 25

Hình 3.8: Đánh giá của du khách đối với chất lượng dịch vụ của cơ sở lưu trú 26

Hình 3.9: Lượt khách đến tỉnh TT-Huế năm 2008 - 2015 29

Hình 3.10: Các địa điểm tham quan phổ biến của khách du lịch tại TT-Huế 30

Hình 3.11: Các điểm đến mà khách du lịch sẽ viếng thăm cùng với TT-Huế 31

Hình 3.12: Các hoạt động khách du lịch sẽ tham gia khi đến TT-Huế 32

Hình 3.13: Đánh giá của du khách về tầm quan trọng và sự hài lòng đối với các khía cạnh du lịch TT-Huế 33

Hình 3.14: Đánh giá của du khách về chất lượng dịch vụ tại các địa điểm tham quan, du lịch 34

Trang 10

Hình 3.15: Các kênh tiếp cận thông tin về du lịch TT-Huế của du khách 36

Hình 3.16: Thống kê cơ sở lưu trú tại TT-Huế 38

Hình 3.17: Cơ cấu doanh nghiệp lĩnh vực dịch vụ lưu trú, ăn uống của tỉnh TT-Huế và Quảng Nam 39

Hình 3.18: Thời gian lưu trú của khách du lịch theo từng tỉnh 39

Hình 3.19: Cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế 43

Hình 3.20: Mô hình Kim cương của cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế 44

Hình 3.21: Chẩn đoán ngành du lịch của TT-Huế 47

Trang 11

DANH MỤC HỘP

Hộp 3.1: Cơ sở hạ tầng tại TT-Huế còn nhiều hạn chế 17

Hộp 3.2: Nguồn nhân lực tại địa phương đáp ứng được nhu cầu của các cơ sở tuyển dụng 19

Hộp 3.3: Sự cạnh tranh về giá của các doanh nghiệp du lịch 27

Hộp 3.4: Liên kết du lịch chưa phát huy hiệu quả 28

Hộp 3.5: Đồ lưu niệm và quà tặng du lịch TT-Huế còn khá đơn điệu 41

Trang 12

DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục 1.1: Chi tiêu khách du lịch tại Thừa Thiên Huế và Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013

56

Phụ lục 1.2: Các doanh nghiệp đóng góp ngân sách hàng đầu tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2016 56

Phụ lục 1.3: Mẫu khảo sát, phương pháp và nội dung phỏng vấn 57

Phụ lục 2.1: Mô hình năng lực cạnh tranh điểm đến 66

Phụ lục 2.2: Mô hình cụm du lịch: năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững 66

Phụ lục 2.3: Cụm ngành du lịch tại Tunisia 67

Phụ lục 2.4: Trình bày các giả thuyết nghiên cứu 68

Phụ lục 3.1: Thực trạng lao động ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2012 đến năm 2015 73

Phụ lục 3.2: Các cơ sở đào tạo nhân lực ngành du lịch tại Thừa Thiên Huế 74

Phụ lục 3.3: Vốn đầu tư trên địa bàn của các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ 75

Phụ lục 3.4: Tình hình đầu tư nước ngoài Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ giai đoạn 1988 - 2016 76

Phụ lục 3.5: Danh sách các dự án FDI đầu tư trong lĩnh vực du lịch tại Thừa Thiên Huế tính đến hết năm 2015 77

Phụ lục 3.6: Chỉ số PCI các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ năm 2016 80

Phụ lục 3.7: Tiêu chí đánh giá “Chi phí gia nhập thị trường” của Thừa Thiên Huế và Quảng Nam năm 2016 80

Phụ lục 3.8: Tiêu chí đánh giá “Cạnh tranh bình đẳng” của Thừa Thiên Huế và Quảng Nam năm 2016 81

Phụ lục 3.9: Tiêu chí đánh giá “Chi phí thời gian” của Thừa Thiên Huế và Quảng Nam năm 2016 82

Phụ lục 3.10: Tiêu chí đánh giá “Tính năng động” của Thừa Thiên Huế và Quảng Nam năm 2016 82

Phụ lục 3.11: Thị trường khách du lịch quốc tế lớn đến Thừa Thiên Huế 83

Phụ lục 3.12: Các đề án, dự án trọng điểm Du lịch của Thừa Thiên Huế 84

Trang 13

Phụ lục 3.13: Các dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư trong Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Thừa Thiên Huế 84 Phụ lục 3.14: Các dự án của chính phủ và tổ chức quốc tế tài trợ giai đoạn 1992 - 2014 85 Phụ lục 3.15: Các dự án tiêu biểu do các tổ chức phi chính phủ thực hiện tại Thừa Thiên Huế 89 Phụ lục 3.16: Tình hình phát triển cơ sở lưu trú tại Thừa Thiên Huế từ năm 2010 - 2016 90

Trang 14

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

Thừa Thiên Huế (TT-Huế) là một tỉnh ven biển miền Trung, là nơi hội tụ của núi, rừng, đầm phá, biển và quần thể di tích lịch sử đa dạng, có tiềm năng rất lớn cho việc phát triển

du lịch Cụ thể, tỉnh được thiên nhiên ưu ái ban tặng các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, vườn quốc gia Bạch Mã, đèo Hải Vân, đầm phá Tam Giang và một trong những vịnh đẹp nhất thế giới, Lăng Cô Bên cạnh đó, địa phương còn chứa đựng trong mình Quần thể di tích cố đô, Nhã nhạc cung đình, Mộc bản và Châu bản triều Nguyễn được Unesco công nhận là di sản văn hóa thế giới Tất cả những lợi thế này giúp địa phương có thể phát triển thành một cụm ngành du lịch hấp dẫn, đặc biệt là du lịch di sản văn hóa và thiên nhiên

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năn 2030 xác định TT-Huế là một trong những địa bàn trọng điểm phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ Theo đó, phát triển du lịch TT-Huế gắn với hệ thống di sản văn hóa cố đô Huế và cảnh quan thiên nhiên Lăng Cô, Cảnh Dương, Bạch Mã, Tam Giang (Tổng cục Du lịch, 2013)

Về phía tỉnh TT-Huế, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn 2013 – 2030

đã xác định mục tiêu “tập trung phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đến năm 2020 đưa TT-Huế trở thành điểm đến hàng đầu trong khu vực, đến năm 2030 xây dựng TT-Huế trở thành một điểm đến ngang hàng với các thành phố di sản văn hóa thế giới” (Ủy ban nhân dân (UBND) TT-Huế, 2013)

Mặc dù du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và có nhiều lợi thế tiềm năng, nhưng kết quả phát triển du lịch TT-Huế vẫn khá khiêm tốn so với kỳ vọng Tuy lượng khách và doanh thu du lịch tăng bình quân tăng lần lượt là 10,83%/năm và 15%/năm (Sở

Du lịch TT-Huế, 2016), nhưng khả năng thu hút khách quốc tế của tỉnh khá thấp khi so sánh với một số thành phố có di sản văn hóa được UNESCO công nhận ở trong nước và khu vực Đông Nam Á Giai đoạn 2011 – 2015, lượng khách quốc tế đến địa phương chỉ cao hơn tỉnh Ninh Bình và Luang Prabang – Lào, gần bằng 50% Quảng Nam, 40% Hà Nội, 35% Siem Reap - Campuchia và 22% so với BaLi – Indonesia (Hình 1.1) Không những vậy, lượng khách quốc tế đến tỉnh đang có xu hướng chững lại, đi ngược với xu hướng tăng trưởng ở các thành phố Vientiance, Luang Prabang, Bali, Quảng Nam và Hà Nội

Trang 15

Ngoài ra, so với một số địa phương lân cận hoặc một số địa phương có di sản thế giới được UNESCO công nhận, doanh thu du lịch bình quân của tỉnh giai đoạn 2010 - 2015 chỉ xấp

xỉ Quảng Nam, 1/2 Đà Nẵng, 1/10 Hà Nội và chỉ cao hơn Quảng Bình, Thanh Hóa, Ninh Bình Không những vậy, doanh thu du lịch của tỉnh có dấu hiệu sụt giảm vào năm 2015 (Hình 1.2) Điểm đáng chú ý là doanh thu du lịch năm 2015 của Quảng Nam và Đà Nẵng vượt xa TT-Huế, mặc dù cả 3 địa phương đều có mức xuất phát điểm tương đương nhau vào năm 2010

Thêm vào đó, kết quả điều tra chi tiêu của Tổng cục Thống kê cho thấy chi tiêu khách du lịch đến TT-Huế thấp hơn mức bình quân chung của cả nước, thậm chí chi tiêu của khách

du lịch quốc tế còn có xu hướng giảm mạnh sau năm 2006 (Phụ lục 1.1) Không những vậy, lượng khách lưu trú (cả quốc tế và nội địa) ở TT-Huế còn chứng kiến sự sụt giảm sau năm 2014

Hình 1.1: Khách du lịch quốc tế đến một số thành phố có di sản thế giới được công

nhận bởi UNESCO giai đoạn 2011 – 2015

Nguồn: Tổng hợp số liệu Niên giám thống kê TT-Huế, Ninh Bình, Quảng Nam và Hà Nội,

Cục Phát triển Du lịch Lào, Bộ Du lịch Campuchia, Văn phòng Du lịch Bali,

Trang 16

Hình 1.2: Doanh thu du lịch (cơ sở lưu trú và lữ hành) của các tỉnh TT-Huế, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thanh Hóa và Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2015

Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê từ Niên giám thống kê tỉnh TT-Huế,

Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thanh Hóa và Ninh Bình

Tóm lại, vẫn còn một chặng đường dài để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như mục tiêu đề ra của tỉnh TT-Huế (trên thực tế, số thu ngân sách của tỉnh trong những năm qua chủ yếu đến từ bia, xăng dầu và xi măng (Phụ lục 1.2)) Nhiều chuyên gia cho rằng có nhiều nguyên nhân khiến du lịch TT-Huế chưa phát triển mạnh như: hạn chế trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, thiếu hụt các sản phẩm du lịch hấp dẫn, thiếu hụt nguồn lao động du lịch có đủ năng lực, liên kết vùng trong phát triển du lịch chưa đạt hiệu quả… Đứng trước tình hình này, TT-Huế cần phải đánh giá lại tiềm năng, xác định những nhân tố then chốt cản trở và thúc đẩy năng lực cạnh tranh (NLCT) ngành du lịch, nhằm có những giải pháp phát triển đúng hướng và bền vững cho du lịch trong tương lai

Trang 17

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung xác định NLCT của cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, dựa trên mô hình đánh giá NLCT (được chỉnh sửa bởi TS Vũ Thành Tự Anh) và mô hình kim cương trong lý thuyết về cụm ngành của Micheal E Porter

để xác định thế mạnh, những nhân tố cản trở sự phát triển cụm ngành du lịch Qua đó đề xuất định hướng, chiến lược nhằm phát triển và nâng cao năng suất cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

(i) Những nhân tố then chốt nào đóng vai trò thúc đẩy hoặc cản trở NLCT cụm ngành du lịch TT-Huế?

(ii) Cần phải làm gì để nâng cao NLCT cụm ngành du lịch TT-Huế?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: NLCT của cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế

Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các tác nhân tham gia trong cụm ngành du

lịch của tỉnh TT-Huế

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo phương pháp định tính, dựa trên mô hình đánh giá NLCT (được chỉnh sửa bởi TS Vũ Thành Tự Anh) và mô hình kim cương trong lý thuyết về cụm ngành của Micheal E Porter

Nghiên cứu tiến hành phân tích số liệu thống kê và dữ liệu thứ cấp, kết hợp với kết quả phỏng vấn các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, khảo sát khách du lịch, các cơ quan quản lý

và những nhà hoạch định chính sách cấp Tỉnh để đánh giá thực trạng NLCT của cụm ngành du lịch Bên cạnh đó, thông tin thu thập được tác giả sử dụng nhằm kiểm định một cách thận trọng các giả thuyết đã được đặt ra về một số nhân tố chủ chốt cản trở hoặc thúc đẩy NLCT cụm ngành Trên cơ sở đó, khuyến nghị những chính sách phù hợp nhằm nâng cao NLCT cho cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế

Trang 18

Hình 1.3: Phương pháp nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tự vẽ

1.6 Nguồn thông tin

Nguồn thông tin thứ cấp: phân tích, tổng hợp dữ liệu từ Niên giám Thống kê tỉnh TT-Huế

và các tỉnh thành Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ (VKTTĐ TB), Sở Du lịch, Chi cục Thuế, Trung tâm Xúc tiến đầu tư… và thông tin từ sách báo, tạp chí, đề tài khác

Nguồn thông tin sơ cấp: phỏng vấn các nhà cung cấp dịch vụ như cơ sở lữ hành, cơ sở đào tạo nghề du lịch, cơ sở lưu trú, quán ăn, khách du lịch trong và ngoài nước, các cơ quan chức năng có liên quan (Phụ lục 1.3)

1.7 Cấu trúc của nghiên cứu

Nghiên cứu được trình bày thành 5 chương Trong đó, Chương 1 giới thiệu về bối cảnh và vấn đề chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi chính sách, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nguồn thông tin dự kiến Chương 2 trình bày mô hình NLCT, mô hình kim cương về cụm ngành của Michael E.Porter và khảo lược các nghiên cứu trước đây Chương 3 được tiến hành nhằm phân tích thực trạng cụm ngành du lịch TT-Huế Kết luận và các khuyến nghị chính sách sẽ được trình bày trong chương 4

Sở Du lịch, Tài Chính, Hiệp

hội Du lịch, Trung tâm xúc

tiến đầu tư du lịch…

Niên giám thống kê, Dự án

EU, AusAis, VCCI

Các Điều kiện Nhân

tố đầu vào

Các ngành

Cn hỗ trợ và liên quan

Các điều kiện cầu

Chính quyền

Dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu

sơ cấp

Trang 19

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh

Nhiều nghiên cứu trên thế giới lý giải NLCT của quốc gia dưới nhiều góc độ khác nhau Theo đó, NLCT: (i) là một hiện tượng kinh tế vĩ mô, được chi phối bởi các nhân tố như tỷ giá hối đoái, lãi suất hay thâm hụt ngân sách của chính phủ, (ii) là một hàm số của lao động giá rẻ và dồi dào, (iii) phụ thuộc vào việc sở hữu các tài nguyên thiên nhiên dồi dào và (iv) phụ thuộc sự can thiệp về mặt chính sách của chính phủ hay sự khác biệt trong phương pháp quản lý Tuy nhiên, hầu hết các giả thuyết được đưa ra để giải thích về NLCT quốc gia đều không hoàn toàn thỏa đáng và đầy đủ

Bằng những lập luận thuyết phục, Micheal E Porter (2008) đã chỉ ra khái niệm có ý nghĩa duy nhất về NLCT của quốc gia hay địa phương là năng suất Năng suất là giá trị sản lượng do một đơn vị lao động hoặc vốn sinh ra trong một đơn vị thời gian Hay nói một cách khác, năng suất là khả năng tạo ra các hàng hóa và dịch vụ có giá trị thông qua việc

sử dụng các nguồn lực con người, vốn và nguồn lực tự nhiên của một quốc gia, là động lực cốt lõi dẫn dắt sự thịnh vượng bền vững (CIEM, ACI, 2010)

Hình 2.1: Các nhân tố quyết định NLCT của địa phương

Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp

NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG

Hạ tầng văn hóa, giáo

dục, y tế, xã hội

Hạ tầng kỹ thuật (GTVT, điện, nước, viễn thông)

Chính sách tài khóa, đầu tư, tín dụng, cơ cấu kinh tế CÁC YẾU TỐ SẴN CÓ CỦA ĐỊA PHƯƠNG

Tài nguyên tự nhiên Vị trí địa lý Quy mô địa phương

Trang 20

Theo đó, NLCT của quốc gia được quyết định bởi ba nhóm nhân tố: (i) NLCT vĩ mô, không thực sự tác động trực tiếp đến năng suất nhưng tạo điều kiện cho các yếu tố thúc đẩy năng suất được phát huy, (ii) NLCT vi mô, tác động trực tiếp đến năng suất, mô tả cách thức các công ty hoạt động và các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của công

ty và (iii) các lợi thế tự nhiên, không tác động đến năng suất nhưng có mối quan hệ mật thiết trong việc tạo ra sự thịnh vượng quốc gia

Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu của luận văn là tỉnh TT-Huế nên khuôn khổ lý thuyết

sẽ được điều chỉnh theo khuôn khổ phân tích NLCT ở cấp độ địa phương của TS Vũ Thành Tự Anh (Hình 1.1) Trong đó, NLCT của địa phương được quyết định bởi ba nhóm nhân tố chính Trước hết, các yếu tố sẵn có của địa phương bao gồm tài nguyên tự nhiên,

vị trí địa lý và quy mô của địa phương Thứ hai, NLCT ở cấp độ địa phương bao gồm (i) chất lượng hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, (ii) chất lượng hạ tầng kỹ thuật và (iii) chính sách tài khóa, đầu tư, tín dụng hay cơ cấu kinh tế Cuối cùng, NLCT ở cấp độ doanh nghiệp bao gồm môi trường kinh doanh, trình độ phát triển cụm ngành và hoạt động, chiến lược của doanh nghiệp

2.2 Lý thuyết về cụm ngành

Theo Micheal E Porter (1998), tính phức tạp và năng suất mà các công ty dựa vào để cạnh tranh ở một địa điểm chịu tác động mạnh của chất lượng môi trường kinh doanh, được đánh giá thông qua bốn đặc tính tổng quát, bao gồm: (i) các đặc điểm nhân tố đầu vào, (ii) bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh, (iii) các điều kiện cầu và (iv) các ngành hỗ trợ và liên quan Các đặc tính này được mô tả thông qua bốn góc của một hình thoi và được gọi là mô hình Kim cương Porter Bên cạnh đó, chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế, định hình nhu cầu và thiết lập các tiêu chuẩn cho cạnh tranh, nhằm hướng đến cải thiện năng suất

Cụm ngành không những tạo thành một mặt của mô hình Kim cương là các ngành hỗ trợ và liên quan, mà còn thể hiện mối tương tác giữa bốn mặt với nhau Theo đó, “cụm ngành là xu hướng các công ty, nhà cung ứng chuyên biệt, nhà cung cấp dịch vụ liên quan, doanh nghiệp trong những ngành liên kết, và cả những hiệp hội (như các trường đại học, cơ quan tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại) tập trung quy tụ về một vùng địa lý, theo những lĩnh vực cụ thể,

có cạnh tranh nhưng cũng có hợp tác với nhau” (Micheal E Porter, 1998) Cụm ngành tác

Trang 21

động lên cạnh tranh theo ba cách: một, bằng cách tăng năng suất của các doanh nghiệp hay các ngành trong đó; hai, bằng cách tăng năng lực đổi mới của các doanh nghiệp và qua đó là tăng trưởng năng suất; ba, bằng cách thúc đẩy việc hình thành doanh nghiệp mới nhằm hỗ trợ sự đổi mới và mở rộng cụm ngành Do đối tượng nghiên cứu là cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế nên khung phân tích chủ yếu được sử dụng là mô hình Kim cương

Hình 2.2: Mô hình Kim cương Porter

CÁC ĐIỀU KIỆN CẦU

CÁC ĐIỀU

KIỆN NHÂN

TỐ ĐẦU VÀO

Các quy định và động lực khuyến khích đầu tư và năng suất; độ mở

và mức độ của cạnh tranh trong nước

Mức độ đòi hỏi và khắt khe của khách hàng và nhu cầu nội địa

Sự có mặt của nhà cung cấp và các ngành công nghiệp hỗ trợ

Tiếp cận các yếu tố đầu

vào chất lượng cao

BỐI CẢNH CHO CHIẾN LƯỢC VÀ CẠNH TRANH

Trang 22

2.3 Các nghiên cứu liên quan đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch

Khung phân tích mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu cụm ngành du lịch tỉnh TT-Huế khá phù hợp và tương đồng với một số mô hình được các nghiên cứu trên thế giới sử dụng Dwyer, Mellor và các cộng sự (2004) đã phát triển một khung phân tích NLCT của các điểm đến du lịch thông qua các nhân tố: (i) tài nguyên (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, di sản và nhân tạo), (ii) các yếu tố hỗ trợ, (iii) quản lý điểm đến (khu vực tư nhân và khu vực công), (iv) các điều kiện cầu và (v) các điều kiện bên ngoài (Phụ lục 2.1) Ngoài ra, Geoffrey I Crouch (2007) đã đưa ra 36 chỉ tiêu cấu thành NLCT của điểm đến du lịch, trong đó có 10 chỉ tiêu quan trọng nhất là: khí hậu, quan hệ thị trường, văn hóa và lịch sử, nội dung du lịch, an toàn, chi phí/giá trị nhận được, khả năng tiếp cận, nhận thức/hình ảnh,

vị trí và cơ sở hạ tầng

Trong khi đó, mô hình kim cương của Porter là một trong 3 lý thuyết chính được Monfot (2002) sử dụng trong nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh của ngành khách sạn ven biển Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cụm du lịch là một nhóm phức hợp của các yếu tố như các công

ty kinh doanh dịch vụ du lịch (nhà hàng, lưu trú, dịch vụ vận chuyển…), cơ quan quản lý

du lịch, cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, các dịch vụ hỗ trợ (tài chính, thông tin…), tài nguyên và thể chế chính sách

Tiếp đến, Sieglinde Kindl da Cunha (2005) đã phát triển khái niệm cụm ngành du lịch là một nhóm các công ty và tổ chức gắn liền với một sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm du lịch Cụm ngành này bao gồm (i) các điểm du lịch thu hút du khách, (ii) mật độ của các công ty dịch vụ du lịch, (iii) các nhóm hỗ trợ công ty cung cấp dịch vụ du lịch, (iv) cơ sở

hạ tầng, (iv) các tổ chức tài chính, thông tin … và (vi) các cơ quan khác của chính phủ (Phụ lục 2.2)

Ở một khía cạnh khác, Avnish Gunfadurdoss và các cộng sự (2012) đã đề xuất một mô hình nhằm đo lường cụm ngành du lịch thông qua NLCT, phát triển bền vững về kinh tế,

xã hội và môi trường tại Tunisia Tác giả đã xác định rất nhiều nguyên nhân cản trở NLCT của cụm ngành du lịch tại đây, chẳng hạn như: thiếu sự đa dạng và chất lượng của các dịch

vụ du lịch, tiếp thị điểm đến kém, thiếu tầm nhìn và sự phối hợp của các bên liên quan Qua đó, một loạt các định hướng chính sách đã được đưa ra theo mô hình kim cương (phụ lục 2.3)

Trang 23

Ở phạm vi trong nước, các nghiên cứu về NLCT cụm ngành du lịch khá ít1, thay vào đó là các chủ đề về cạnh tranh điểm đến du lịch Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Thanh Long (2010) đã tiếp cận du lịch tại Huế - Đà Nẵng – Quảng Nam dưới góc độ cụm ngành, xác định được mô hình cấu trúc các chủ thể trong cụm ngành du lịch Trong đó, nhóm tác giả nhấn mạnh đến việc tăng cường liên kết giữa các thành phần trong cụm ngành, bao gồm: các công ty du lịch, các ngành hỗ trợ, chính phủ và các bên liên quan khác

Trang 24

2.4 Các giả thuyết nghiên cứu

Các giả thuyết nghiên cứu được hình thành chủ yếu từ việc phân tích tài liệu thứ cấp và các nghiên cứu có liên quan, đa phần chú trọng đến các nhân tố cản trở hoặc nâng cao khả năng cạnh tranh của cụm ngành du lịch TT-Huế (Phụ lục 2.4) Các giả thuyết nghiên cứu được tác giả đặt ra như sau:

Giả thuyết H1: Tài nguyên du lịch tại địa phương thúc đẩy NLCT cụm ngành du lịch

Giả thuyết H2: Chất lượng cơ sở hạ tầng của địa phương tốt thúc đẩy NLCT cụm ngành du lịch

Giả thuyết H3: Sự hạn chế chất lượng lao động du lịch tại địa phương cản trở NLCT cụm ngành du lịch

Giả thuyết H4: Sự thiếu hụt sản phẩm du lịch cản trở NLCT cụm ngành du lịch tại địa phương

Trang 25

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỤM NGÀNH DU LỊCH

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

3.1 Các điều kiện nhân tố đầu vào

3.1.1 Nguồn tài sản vật chất

Vị trí địa lý

TT-Huế là tỉnh nằm ở duyên hải miền Trung Việt Nam và là một trong 5 tỉnh thuộc VKTTĐ TB, giáp với các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng; phía Tây giáp Lào với đường biên giới dài 81 km; tiếp giáp với biển Đông theo đường bờ biển dài 120

km Thành phố Huế là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh, cách thành phố Hà Nội 660 km (hơn 1 giờ bay và 13 giờ tàu) và cách thành phố Hồ Chí Minh 1080 km (khoảng 1 giờ 30 phút bay và 20 giờ tàu) Bên cạnh đó, với vị trí nằm trên Hành lang Kinh

tế Đông Tây (nối Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam) và Con đường Di sản Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam), địa phương có cơ hội rất lớn để phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng

TT-Huế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm khô và nóng vào mùa hè,

ẩm ướt và lạnh vào mùa đông Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, với nhiệt độ trung bình hàng tháng khoảng 30oC Mùa mưa trải dài từ tháng 9 đến tháng 2, với lưu lượng mưa tập trung vào từ cuối tháng 9 đến tháng 12 (ESRT, 2015) Địa hình của tỉnh có thể chia tách thành ba khu vực có tính chất địa lý khác biệt: khu vực phía Tây và miền núi trung tâm, khu vực trung du nhiều đồi và đất thấp trải dài đến giữa khu vực và khu vực ven biển phía Đông đặc thù bởi các con sông, đầm phá và ven biển

Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch di sản văn hóa, tôn giáo và di tích lịch sử

TT-Huế là vùng đất văn hiến, được đánh giá là điểm đến hấp dẫn về khía cạnh giá trị truyền thống, lịch sử và văn hóa2 Với bề dày lịch sử, TT-Huế hiện đang lưu giữ trong lòng gần 900 di tích, với 84 di tích cấp quốc gia và 52 di tích cấp tỉnh Trong đó, nổi bật nhất là

di sản thế giới quần thể các cung điện, đền đài, lăng tẩm của triều Nguyễn (Hoàng thành Huế); di sản văn hóa phi vật thể Nhã Nhạc cung đình Huế và các di tích lịch sử cách mạng

2

Trong gần 400 năm (1558 – 1945), địa phương là Thủ phủ của 9 đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, là Kinh

đô của triều đại Tây Sơn và 13 triều vua nhà Nguyễn (Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, 2014)

Trang 26

Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 11/12/1993, là những di tích lịch sử văn hóa do triều Nguyễn xây dựng trong khoảng thế kỷ 19 và 20, trên địa bàn kinh đô Huế xưa, thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng lân cận thuộc tỉnh TT-Huế ngày nay (Quỹ Hỗ trợ Bảo tồn Di sản Văn hóa Việt Nam, 2016) Tổng thể kiến trúc của quần thể được xây dựng trên diện tích hơn 500 ha và được bao bọc bởi ba vòng thành: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành Ngoài ra, một

hệ thống các khu di tích ngoài Kinh Thành góp phần không nhỏ vào các giá trị văn hóa lịch

sử cho mảnh đất văn hiến này, bao gồm: Phu Văn Lâu, Đàn Nam Giao, Điện Hòn Chén, Chùa Thiên Mụ, và 7 khu lăng tẩm được xây dựng với các lối kiến trúc riêng biệt3

Bên cạnh đó, Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2003 Mộc bản và Châu Bản triều Nguyễn được vinh danh di sản tư liệu thế giới qua các năm 2007 và 2014 Trong khi đó, ở cấp độ quốc gia, Ca Huế chính thức trở thành di sản văn hóa phi vật thể vào ngày 08/06/2015 Những sự kiện này khiến cho TT-Huế được khẳng định hơn như là một trung tâm văn hóa tiêu biểu cho dân tộc (Trung tâm Festival Huế, 2016)

Không những vậy, với vị trí là trung tâm tôn giáo của cả nước, đặc biệt là Phật giáo, Huế có hệ thống di sản tôn giáo với hơn 300 ngôi chùa và niệm phật đường lớn nhỏ Trong

TT-đó có những tổ đình và cổ tự có từ hàng trăm năm nổi tiếng như Thiên Mụ, Từ Đàm, Bảo Quốc, Trúc Lâm, Thiền Tôn… (Anh Phong, 2015) Một số điểm du lịch tâm linh được tỉnh đưa vào khai thác trong những năm gần đây như Thiền viện Trúc lâm Bạch Mã, đền Huyền trân Công chúa, chùa Huyền Không,… góp phần tăng thêm giá trị du lịch vùng đất này

Thêm nữa, TT-Huế có nhiều di tích lịch sử về hai cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước cùng những di tích về các vị danh nhân lỗi lạc như Phan Bội Châu, Nguyễn Tri Phương, Trần Cao Vân, … Đặc biệt, mảnh đất này còn lưu giữ khoảng 20 di tích và địa điểm di tích về Bác Hồ hoặc có liên quan trực tiếp đến gia đình Người Các di tích với số lượng lớn và mật

độ cao tập trung tại thành phố Huế tạo nên giá trị rất cao cho phát triển du lịch, góp phần quan trọng làm cho TT-Huế trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách (Nguyễn Hà Quỳnh Giao, Phạm Xuân Hậu, 2013)

3

Lăng Gia Long, Lăng Minh Mạng, Lăng Thiệu Trị, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Lăng Dục Đức và Lăng Khải Định

Trang 27

Đánh giá về tài nguyên du lịch di sản văn hóa, tôn giáo và di tích lịch sử, TT-Huế không hề kém cạnh tranh so với Quảng Nam Nếu như Quảng Nam có hai di sản văn hóa thế giới là Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn, thì TT-Huế đang hướng đến trở thành “Một thành phố năm di sản” với “Quần thể di tích cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Mộc bản triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn và Thơ văn chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế” (đã nộp xét duyệt lên MOWCAP)

Tài nguyên du lịch biển và đầm phá

Cách trung tâm thành phố Huế 60km và Đà Nẵng 25km, Lăng Cô là nơi lý tưởng cho du khách nghĩ dưỡng và tắm biển Nơi đây chứa đựng gần như tất cả những gì mà thiên nhiên có thể ban tặng (ngắm toàn cảnh các bãi biển, đầm phá Phú Lộc, rừng nhiệt đới Bạch Mã, đèo Hải Vân, làng địa phương) và là vịnh biển thứ 3 của Việt Nam4 có tên trong danh sách 30 vịnh viển đẹp nhất thế giới (Tổng cục Du lịch, 2016) Nơi đây có một loạt các địa điểm du lịch và hoạt động hỗ trợ hợp lý bao gồm các cơ sở nổi tiếng của Bayan Tree (Laguna, Angsana), nhiều khách sạn địa phương từ 1 đến 4 sao, số lượng hợp

lý các nhà hàng hải sản và quán cà phê địa phương, một số quán bán quà lưu niệm cơ bản

và không có trung tâm đón tiếp hay thuyết trình (ERST, 2015) Ngoài Lăng Cô, TT-Huế còn có hàng loạt các bãi biển đẹp khác như Thuận An, Cảnh Dương, Vinh Thanh…

Bên cạnh đó, với địa hình tương đối đặc biệt, TT-Huế đặc trưng bởi nhiều đầm phá ven biển như phá Tam Giang, đầm Cầu Hai, đầm Lập An Trong đó, Tam Giang – Cầu Hai (được xem là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á với nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm) và đầm Lập An đang được khai thác trong những năm gần đây

Bãi biển và đầm phá được xếp thứ hai trong sáu sản phẩm ưu tiên hàng đầu trong phát triển

du lịch của tỉnh, sau di sản văn hóa (ERST, 2015) So với Quảng Nam (nổi tiếng bởi Cù Lao chàm và bãi tắm Cửa Đại), TT-Huế rõ ràng có lợi thể hơn hẳn trong dòng sản phẩm du lịch này Tuy nhiên, ngoài Lăng Cô, hệ thống dịch vụ phục vụ khách du lịch tại các bãi tắm khác vẫn nhỏ lẻ, manh mún và chỉ hoạt động theo mùa

4

Sau Hạ Long và Nha Trang

Trang 28

Tài nguyên du lịch sinh thái

Vườn quốc gia Bạch Mã thuộc địa phận hành chính hai huyện Phú Lộc và Nam Đông, cách thành phố Huế gần 60 km về phía Nam Với tổng diện tích 37.487 ha và độ cao 1.450

m so với mực nước biển, Bạch Mã có khí hậu trong lành, được các chuyên gia đánh giá là một trong những vùng núi có khí hậu dễ chịu nhất Đông Dương (Tổng cục Du lịch, 2016)5 Ngoài khu nghỉ dưỡng dành cho du khách được xây dựng từ thời Pháp thuộc với 139 biệt thự và các cơ sở hạ tầng liên quan, Bạch Mã vẫn giữ được nét hoang sơ của thiên nhiên núi rừng hấp dẫn du khách Mặc dù vậy, hoạt động du lịch ở khu vực này bị ảnh hưởng đáng

kể bởi mùa mưa kéo dài, cơ sở hạ tầng cứng không đảm bảo và không được hỗ trợ bởi nhiều điểm tham quan khác gần đó (ERST, 2015)

Góp phần vào tài nguyên du lịch sinh thái của tỉnh phải kể đến một loạt các điểm du lịch thiên nhiên khác tại các huyện như Phú Lộc (Suối Voi, Suối Mơ – Hói Mít, Thác Nhị Hồ, Thác Trượt, Thác Bồ Ghè), Phong Điền (Thác A Don, Suối khoáng nóng Thanh Tân), Phú Vang (Suối khoáng nóng Mỹ An), và A Lưới (Suối Alin, Khu du lịch Thác A Nor, Suối nước nóng A Roàng) Trong các địa điểm trên, Suối khoáng nóng Thanh Tân và Mỹ An, lần lượt cách trung tâm thành phố Huế 40 km và 7 km, được đầu tư một số các hạng mục

cơ sở hạ tầng để phục vụ khách du lịch

Tài nguyên du lịch các làng nghề, làng nông thôn và bản dân tộc thiểu số

Tỉnh có sự hòa quyện thú vị các làng nghề, các làng nông thôn và/hoặc các bản dân tộc thiểu số Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 88 làng nghề được thống kê, tập trung chủ yếu tại các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, A Lưới và hai thị xã Hương Thủy, Hương Trà Hệ thống làng nghề phong phú, đa dạng tạo điều kiện để khai thác và phát triển du lịch địa phương Tuy nhiên, ngoại trừ 12 làng nghề đang hoạt động tốt như làng đúc đồng Phường Đúc, nón lá Phủ Cam, chế biến nước mắm cá cơm Bình An, dầu tràm nước Ngọt… các làng nghề còn lại chỉ phát triển cầm chừng, hoặc có nguy cơ mai một như làng gốm Phước Tích, rèn Hiền Lương, tranh làng Sình (UBND TT-Huế, 2015) Nguyên nhân chủ yếu là không tìm được đầu ra cho sản phẩm, không cạnh tranh được với các sản

5

Vườn quốc gia Bạch Mã là một trong những khu rừng nhóm A cuối cùng còn lại ở Việt Nam với 16.900ha được che phủ bởi rừng nguyên sinh, là nơi chứa đựng các giá trị động thực vật có mức đa dạng sinh học cao với 2.147 loài thực vật (trong đó 185 loài là đặc hữu của Việt Nam và 54 loài được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam) và 1.175 loài động vật (với 15 loài đặc hữu và 69 loài được liệt kê vào Sách Đỏ Việt Nam) (Lê Thanh

An, 2012)

Trang 29

phẩm với mẫu mã đa dạng trên thị trường và thiếu hụt nguồn nhân lực kế thừa với tay nghề cao Bên cạnh đó, các làng quê nông thôn hấp dẫn như làng Thanh Thủy (cầu ngói Thanh Toàn), Thủy Biều hay các làng bản đại diện cho một nhóm văn hóa dân tộc thiểu số tập trung tại huyện A Lưới (Tà Ôi, Cơ Tu, Vân Kiều…) và Nam Đông với nhiều lễ hội, ẩm thực, trang phục đặc trưng tạo nên những thành phần cơ bản trong hành trình của khách du lịch

Đánh giá về tài nguyên du lịch, TT-Huế hầu như không thua kém bất cứ địa phương nào nói chung và Quảng Nam nói riêng, khi có đầy đủ hệ thống bờ biển, đầm phá, núi rừng, vườn quốc gia, làng nghề truyền thống, làng quê nông thôn… và cả di sản văn hóa thế giới, về cả vật thể và phi vật thể Rõ ràng, tất cả những yếu tố này tạo nên sự khác biệt và

lợi thế cạnh tranh nhất định của cụm ngành du lịch của tỉnh so với các địa phương khác

Hay nói cách khác, giả thuyết H1 được khẳng định: “Tài nguyên du lịch thúc đẩy NLCT cụm ngành du lịch tại TT-Huế”

3.1.2 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng của tỉnh cơ bản đáp ứng được nhu cầu du lịch của tỉnh, tuy vẫn còn nhiều hạn chế so với phần lớn các địa phương trong cả nước nói chung và trong VKTTĐ TB nói riêng

Hệ thống mạng lưới đường bộ đảm bảo được sự liên kết giữa thành phố Huế với các huyện, thị xã trong tỉnh và các tỉnh lân cận6 Chạy dọc xuyên qua tỉnh từ Bắc xuống Nam

là quốc lộ 1A cùng hàng loạt đường tỉnh lộ và đường sắt Bắc Nam dài 101,2 km, quốc lộ

49 chạy ngang từ Tây sang Đông và kết nối thẳng với Lào Thêm vào đó, TT-Huế có lợi thế trong việc kết nối các địa điểm du lịch nổi tiếng tại Vùng duyên hải miền Trung, cách Hội An và Quảng Bình 4 giờ đi xe, cách Đà Nẵng khoảng 2,5 giờ Mặc dù vậy, tỉnh chỉ mới đưa vào khai thác 12 tuyến xe buýt ở trung tâm thành phố Huế, một số địa điểm ngoại thành như Lăng Cô, Thuận An, khu công nghiệp Phú Bài và một số huyện Đa phần khách

du lịch muốn tham quan các di tích khác đều phải đi taxi, xe tour hoặc thuê xe máy, gây nên một số bất tiện cho du khách tham quan

6

Toàn tỉnh có hơn 2,500 km đường bộ, nhựa hóa 100% đường tỉnh, 99.5% đường đô thị - vành đai và 70% đường nông thôn được bê tông hóa, với 75% đến 80% mặt đường được đánh giá tốt và trung bình (Sở Giao thông Vận tải TT-Huế, 2015)

Trang 30

Đối với hệ thống đường thủy, tỉnh có cảng biển nước sâu Chân Mây và cảng Thuận An Đặc biệt, cảng nước sâu Chân Mây đóng vai trò là cửa ngõ ra biển Đông gần nhất của tuyến hành lang Kinh tế Đông Tây, có khả năng đón tàu du lịch quốc tế cỡ lớn, góp phần thúc đẩy khả năng tiếp cận đối với khu du lịch trọng điểm quốc gia (Cảnh Dương – Lăng

Cô – Non Nước, Bạch Mã)

Ngoài ra, sân bay quốc tế Phú Bài cách thành phố Huế 15 km vừa được mở rộng, công suất đạt 1,5 triệu lượt hành khách/năm, phục vụ 24 chuyến/ngày đi về Hà Nội và Hồ Chí Minh Mặc dù không thể so sánh với sân bay Đà Nẵng, nhưng sân bay Phú Bài có năng lực phục

vụ vượt trội hơn hẳn so với sân bay Chu Lai thuộc Quảng Nam, với công suất chỉ 500 ngàn hành khách/năm và tối đa 12 chuyến/ngày đi về Hà Nội và Hồ Chí Minh Tuy nhiên, việc phục vụ du khách tại các đường bay quốc tế rất hạn chế khi Phú Bài chỉ mới khai thác đường bay quốc tế duy nhất là Huế - Băng Cốc, với tần suất 2 chuyến/1 tháng

Đánh giá theo PCI, chỉ số cơ sở hạ tầng của tỉnh liên tục giảm sút trong các năm qua, từ vị thế thứ 6/63 tỉnh thành vào năm 2013, đã giảm xuống vị thế 32/63 tỉnh thành vào năm

2016, đứng cuối bảng trong các tỉnh thuộc VKTTĐ TB Điều này được phản ánh khá chính xác trên thực tế, khi chỉ có 48,6% du khách (trong tổng số 216 du khách tham gia trả lời) là cảm thấy hài lòng đối với cơ sở hạ tầng ở địa phương Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các điểm đến ngoại thành chưa được hoàn thiện gây cản trở không nhỏ đến

quyết định tham quan của du khách Đây là một điểm làm hạn chế khả năng cạnh tranh

cụm ngành du lịch của tỉnh TT-Huế, hay nghiên cứu bác bỏ giả thuyết H2: “Chất lượng cơ sở hạ tầng tốt thúc đẩy NLCT cụm ngành du lịch tại TT-Huế”

Hộp 3.1: Cơ sở hạ tầng tại TT-Huế còn nhiều hạn chế

“Cơ sở hạ tầng ở TT-Huế chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của du khách Hầu như tất cả những gì tốt nhất, đầy đủ nhất đều tập trung tại thành phố Huế, nhiều điểm du lịch nổi tiếng nhưng cơ sở hạ tầng kém như Vườn quốc gia Bạch Mã, biển Thuận An…”

Nguồn: Tác giả phỏng vấn sâu ông Nguyễn Đình Thuận, Giám đốc công ty lữ hành Eagle Tourist

Trang 31

Hình 3.1: Đánh giá cơ sở hạ tầng ở các tỉnh thuộc VKTTĐ TB 2016

Nguồn: VCCI, Báo cáo chỉ số NLCT cấp tỉnh 2016

3.1.3 Nguồn nhân lực

Tính đến hết năm 2015, dân số tỉnh TT-Huế là 1.143.572 người, là tỉnh đông dân thứ 4 trong VKTTĐ TB và đứng thứ 58 so với cả nước, với 51,4% dân số sống ở nông thôn Tuy nhiên, dân số phân bổ không đồng đều trên địa bàn tỉnh, tập trung đông nhất tại thành phố Huế, huyện Phú Vang, huyện Phú Lộc với tỷ lệ lần lượt là 31%, 15,9%, 12%, trong khi hai huyện miền núi Nam Đông và A Lưới chiếm tỷ lệ dân số thấp nhất với 2,2% và 4,1% Lực lượng lao động trong độ tuổi của tỉnh là 612.060 người, chiểm 53,52% tổng dân số, phần lớn tập trung tại khu vực thành thị Từ năm 2006 đến năm 2015, lực lượng lao động chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ, tỷ lệ lực lượng lao động tại khu vực thành thị tăng từ 28,6% lên 53%, trái ngược với sự giảm sút từ 71,4% còn 47,0% của khu vực nông thôn Trong đó, lực lượng lao động qua đào tạo đã có bước chuyển biến tích cực từ 15,3% năm 2009 lên đến 22,50% năm 20157

(cao hơn hẳn so với mức 16,70% ở Quảng Nam)

7 Niên giám thống kê TT-Huế, 2015

14.000 9.000 11.5000 10.000 12.000

23.000 20.000 20.5000 20.000 18.000

16.000 15.000

15.000 15.000 15.000

21.000 18.000

18.5000 20.5000 24.000

Trang 32

Hình 3.2: Số lượng và trình độ lao động ngành du lịch từ năm 2012 đến năm 2015

Nguồn: Sở Du lịch TT-Huế, 2016 Năm 2015, lao động ngành du lịch đạt

12.000 người, tăng gần 15% so với năm

2012, với gần 88% là lực lượng lao động

trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch

Trong đó, lực lượng lao động tại khách sạn,

nhà hàng chiếm tỷ lệ cao nhất với 87,5%, số

lao động còn lại phân bổ vào các cơ sở lữ

hành (6,25%), các cơ sở vận chuyển (1,67%)

và các dịch vụ khác (4,58%) (Phụ lục 3.1)

Tương tự như Quảng Nam, lực lượng lao

động trong lĩnh vực lưu trú tại tỉnh có trình

độ tay nghề không cao, đặc biệt là các vị trí

quan trọng, vị trí quản lý Đa phần các vị trí

quản lý cao cấp trong các khách sạn từ 4-5

sao đều do người nước ngoài nắm giữ (ERST, 2015)

Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong ngành du lịch gia tăng hằng năm và chiếm một tỷ lệ khá cao so với mặt bằng chung của toàn quốc Từ chỗ 79% lao động trong lĩnh vực du lịch

Hộp 3.2: Nguồn nhân lực tại địa phương đáp ứng được nhu cầu của các cơ sở tuyển

dụng

Nguồn nhân lực đã qua đào tạo tại TT-Huế cơ bản đáp ứng khá tốt nhu cầu khách sạn, chủ yếu đến từ Khoa Du lịch – Đại học Huế và Cao đẳng Du lịch TT-Huế Tuy nhiên, vấn đề đau đầu của các doanh nghiệp du lịch trên cả nước chứ không riêng ở Huế là nguồn nhân lực quản lý, tay nghề cao tại tất cả các lĩnh vực: buồng phòng, bếp, nhân sự, sales & marketing, lữ hành… rất hiếm Có những vị trí phải đào tạo từ 5 đến 10 năm mới đạt chuẩn Nguồn: Tác giả phỏng vấn sâu ông Nguyễn Văn Tuyến, Trưởng bộ phận nhân sự của Khách sạn Saigon Morin ngày 21/12/2016

Trang 33

đã qua đào tạo vào năm 2012, con số này tăng lên mức 84% vào năm 2015, với 35% lực lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng trở lên Tính đến năm 2016, toàn tỉnh có 1.200 hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ (với 715 quốc tế), vượt trội hơn rất nhiều so với tổng số 141 hướng dẫn viên du lịch được cấp thẻ (113 quốc tế và 28 nội địa) tại Quảng Nam (Tổng cục Du lịch, 2016), tạo nên một lợi thế nhất định trong việc phục vụ và làm hài lòng khách du lịch

3.1.4 Nguồn kiến thức

TT-Huế là trung tâm giáo dục đào tạo lớn của miền Trung và cả nước Toàn tỉnh có 02 trường đại học (Đại học Huế, Đại học dân lập Phú Xuân), 02 học viện (Học viện hành chính khu vực miền Trung, Học viện Âm nhạc Huế), 05 trường cao đẳng8, 08 trường trung cấp và hơn 20 cơ sở có tham gia đào tạo nghề Trong đó, Đại học Huế có 08 đại học thành viên, 02 khoa và 01 phân hiệu tại Quảng trị, 10 viện và trung tâm nghiên cứu

Tỉnh có 7 cơ sở đảm nhận phần lớn việc đào tạo chuyên môn cho đội ngũ nhân lực về du lịch

từ trung cấp đến đại học (Phụ lục 3.2) Khoa Du lịch trực thuộc Đại học Huế chuyên đào tạo

cử nhân, Cao đẳng nghề du lịch Huế đảm nhận đào tạo trình độ cao đẳng và trung cấp, và hàng loạt các cơ sở giáo dục khác có mã ngành du lịch từ đào tạo nghề cho đến cao đẳng

Nguồn kiến thức của TT-Huế có nền tảng tốt hơn nhiều so với Quảng Nam Tính đến nay, Quảng Nam chỉ có 02 đại học, 09 trường cao đẳng, 06 trường trung cấp và 19 trung tâm dạy nghề, trong đó chỉ có trường Trung cấp Văn hóa – Nghệ thuật và Du lịch Quảng Nam có chương trình đào tạo hướng dẫn viên du lịch và nghiệp vụ lễ tân trong hai năm Điều này càng được khẳng định trong lĩnh vực đào tạo nghề, khi tỷ lệ số lao động của doanh nghiệp đã hoàn thành khóa đào tạo tại các trường dạy nghề của TT-Huế (45,24%) cao vượt trội so với Quảng Nam (36,46%) hay mức trung vị của cả nước (36,80%) Nếu so sánh về tỷ lệ người lao động tốt nghiệp trường đào tạo nghề trên số lao động chưa qua đào tạo, TT-Huế vẫn có chỉ số cao hơn nhiều so với Quảng Nam và mức trung vị của cả nước (lần lượt là 6,38% so với 4,05% và 4,36%)

Tuy đào tạo nghề đã đạt được kết quả khả quan, nhưng chỉ có 91,45% số lao động ở Huế được doanh nghiệp đánh giá là đáp ứng được nhu cầu sử dụng, thấp hơn khá nhiều so

8

Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế, trường Cao đẳng Sư phạm, trường Cao đẳng nghề du lịch, trường Cao đẳng nghề số 23 Bộ Quốc Phòng, Cao đẳng y tế

Trang 34

với 97,81% ở Quảng Nam và mức trung vị 93,51% của cả nước, cho thấy doanh nghiệp TT-Huế có yêu cầu khá cao đối với lao động

Hình 3.3: Đào tạo lao động tại TT-Huế so với Quảng Nam và trung vị cả nước

Nguồn: VCCI, Báo cáo Chỉ số NLCT cấp Tỉnh năm 2015

Với những phân tích về nguồn nhân lực và nguồn kiến thức tại địa phương, nghiên cứu nhận

thấy giả thuyết H3: “Sự hạn chế chất lượng lao động du lịch tại TT-Huế cản trở NLCT

cụm ngành du lịch” sẽ được bác bỏ nếu xét trong phạm vi nguồn lao động cơ bản

3.1.5 Nguồn vốn

Vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội và cơ sở hạ tầng ở TT-Huế khá hạn chế, kể cả ngành

du lịch, điển hình là vui chơi giải trí và dịch vụ ăn uống và lưu trú Từ năm 2012 đến năm

2015, tổng số vốn đầu tư tính theo giá so sánh 2010 ở TT-Huế là 44.289,69 tỷ đồng, chỉ bằng 82% so với Quảng Nam và 46% so với Đà Nẵng

Trong khi đó, giai đoạn này chứng kiến tỷ trọng vốn đầu tư vào dịch vụ lưu trú và ăn uống

ở TT-Huế sụt giảm mạnh, từ mức 1.743,13 tỷ đồng(17,62%) năm 2012 xuống còn 521,93

tỷ đồng (4,26%) vào năm 2015, thấp nhất trong các tỉnh thuộc VKTTĐ TB Không những vậy, tổng vốn đầu tư cho vui chơi giải trí của TT-Huế giai đoạn 2012 - 2015 chỉ đạt 670 tỷ

Mức độ hài lòng với lao động (% đồng ý rằng

lao động đáp ứng được nhu cầu sử dụng của

DN)

Tỉ lệ người lao động tốt nghiệp trường đào tạo

nghề/số lao động chưa qua đào tạo (%)

(BLĐTBXH)

Tỉ lệ lao động tốt nghiệp trung cấp chuyên

nghiệp, cao đẳng, đào tạo nghề ngắn và dài

hạn trên tổng lực lượng lao động …

% số lao động của DN đã hoàn thành khóa

đào tạo tại các trường dạy nghề (%)

Thừa Thiên Huế Quảng Nam Trung vị

Trang 35

đồng (1,51%), gần 65% so với Quảng Nam và chỉ bằng 16,47% so với Đà Nẵng (Phụ lục 3.3)

Hình 3.4: Vốn đầu tư tính theo giá so sánh 2010 trên địa bàn tỉnh TT-Huế và Quảng

Nam từ năm 2012 đến năm 2015

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh TT-Huế và Quảng Nam năm 2015 Giai đoạn 1988 – 2016, TT-Huế thu hút được 97 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký đạt hơn 2,113 tỷ USD, chiếm 11,93% tổng vốn đăng ký của cả Vùng, xếp thứ 3 về số dự án và thứ 4 về tổng số vốn đăng ký (Phụ lục 3.4) Đối với lĩnh vực du lịch, tính đến hết năm

2015, TT-Huế thu hút được 17 dự án FDI, chủ yếu là đầu tư phát triển các khách sạn và dịch vụ du lịch, trong đó chỉ có 12 dự án là đang hoạt động hoặc đang triển khai xây dựng

Tỷ lệ vốn đầu tư trên địa bàn cho dịch vụ lưu trú và ăn uống Thừa Thiên Huế

Tỷ lệ vốn đầu tư trên địa bàn theo cho dịch vụ lưu trú và ăn uống Quảng Nam

Trang 36

3.2 Bối cảnh cho chiến lƣợc và cạnh tranh

TT-Huế có tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 thấp nhất trong 5 tỉnh thuộc VKTTĐ TB (chỉ đạt 29.566 tỷ đồng năm 2015), tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2015 thấp nhất vùng với 8.818 tỷ đồng, chỉ bằng 46% của Quảng Nam, 38% của Đà Nẵng, 25% của Quãng Ngãi, thậm chí chỉ bằng 67% Bình Định năm 2014 Trong khi đó, tổng mức bán

lẻ hàng hóa và dịch vụ chỉ đạt 22.598 tỷ đồng, cũng thấp nhất vùng và chỉ hơn 80% so với Quảng Nam Khu vực công nghiệp xây dựng chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của tỉnh với 47%, theo sau là khu vực dịch vụ với 41%, khu vực nông, lâm, thủy sản chỉ chiếm 11% (Niên giám thống kê TT-Huế, 2015)

Hình 3.5: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010, tổng thu ngân sách và tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn năm 2015 của các tỉnh thuộc

VKTTĐ TB (tỷ đồng)

Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh TT-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng năm

2015 và Bình Định năm 2014

Trang 37

3.2.1 Tổng quan PCI

Chỉ số PCI của tỉnh TT-Huế liên tục giảm sút và chỉ mới được cải thiện không nhiều vào năm 2016, mặc dù UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch số 72/KH-UBND nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao NLCT của tỉnh Năm 2016, tỉnh TT-Huế đạt điểm số chung với 59,68 điểm, chỉ nhỉnh hơn 2015 là 1,16 điểm và thấp hơn năm 2013 (là năm có thứ hạng cao nhất của tỉnh) đến 5,88 điểm, xếp hạng 23/63 tỉnh, thành trong cả nước và có vị trí kế cuối trong VKTTĐ TB, thuộc nhóm các tỉnh xếp hạng “Khá” về PCI (Phụ lục 3.6) Điểm đáng chú ý là chỉ số PCI năm 2016 của tỉnh TT-Huế đang ở mức gần như thấp nhất trong 10 năm trở lại đây

Hình 3.6: Tổng quan PCI của TT-Huế và các tỉnh thuộc VKTTĐ TB

Nguồn: VCCI, Báo cáo chỉ số NLCT cấp tỉnh năm 2016

So với năm 2013, trong số 10 chỉ tiêu cấu thành NLCT cấp tỉnh mà PCI phản ánh thì tỉnh TT-Huế chỉ có 3 chỉ tiêu tăng điểm là gia nhập thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp và đào tạo lao động; 7 chỉ tiêu còn lại đều giảm điểm, trong đó các chỉ tiêu giảm mạnh nhất là chi phí không chính thức, tính năng động và tiếp cận đất đai

Trong các yếu tố thành phần của PCI, tác giả tập trung phân tích yếu tố được đánh giá cao

nhất là gia nhập thị trường và các yếu tố được đánh giá thấp nhất (thấp hơn đáng kể cho với Quảng Nam và mức trung vị của cả nước) là cạnh tranh bình đẳng, chi phí thời gian và tính năng động

Trang 38

Hình 3.7: Các chỉ tiêu thành phần PCI của tỉnh TT-Huế năm 2013 và 2016

Nguồn: VCCI, Báo cáo chỉ số NLCT cấp tỉnh năm 2013 và năm 2016

Về gia nhập thị trường Chỉ tiêu này luôn được đánh giá cao trong những năm gần đây và

tương đương so với Quảng Nam, chủ yếu là nhờ sự cải thiện đáng kể chi phí thời gian liên quan đến các thủ tục đăng ký doanh nghiệp và sự hướng dẫn thủ tục tại bộ phận một cửa rất

rõ ràng, đầy đủ (trên 80% doanh nghiệp đồng ý) (Phụ lục 3.7)

Về cạnh tranh bình đẳng Chỉ số PCI cho thấy các doanh nghiệp tại địa phương cho rằng

chính quyền đang quá ưu ái đối với các doanh nghiệp FDI và công ty nhà nước Điển hình, 45% doanh nghiệp nhận thấy tỉnh ưu tiên thu hút FDI hơn khu vực tư nhân, hơn 48% cho rằng tỉnh ưu tiên giải quyết các vấn đề, khó khăn cho doanh nghiệp FDI hơn trong nước, gần 80% cho rằng các nguồn lực kinh tế chủ yếu rơi vào tay doanh nghiệp có liên kết chặt chẽ với chính quyền tỉnh và 63% cho rằng bản thân doanh nghiệp bị trở ngại khi chính quyền ưu đãi quá nhiều đối với các công ty lớn Trong khi đó, tỷ lệ này ở Quảng Nam lần lượt là 39%, 39%, 69% và 51% (Phụ lục 3.8)

Về chi phí thời gian Trung bình các doanh nghiệp ở TT-Huế dành 16 giờ để làm việc với

thanh ra, kiểm tra thuế mỗi năm (gấp đôi so với Quảng Nam và mức trung vị cả nước) Trong khi đó, chỉ có 50,5% doanh nghiệp đồng ý rằng cán bộ nhà nước giải quyết công việc hiệu quả (năm 2015 là 65%), thấp hơn nhiều so với mức 75,34% ở Quảng Nam, và chỉ có 46% doanh nghiệp cho rằng thủ tục giấy tờ đơn giản (Phụ lục 3.9)

Trang 39

Về tính năng động Chỉ số PCI cho thấy các doanh nghiệp đánh giá khá thấp tính năng động

của chính quyền tỉnh Đặc biệt, gần 43% doanh nghiệp cho rằng tỉnh “trì hoãn thực hiện và xin

ý kiến chỉ đạo” hoặc “không làm gì cả” khi có điểm chưa rõ trong chính sách, văn bản (Quảng Nam chỉ có 26% và mức trung vị cả nước là 33%) Bên cạnh đó, chỉ có 47,3% (so với 60,7% Quảng Nam) doanh nghiệp cho rằng chính quyền tỉnh rất năng động và sáng tạo khi giải quyết vấn đề mới phát sinh và 65,7% cho rằng lãnh đạo tỉnh có chủ trương, chính sách đúng nhưng không thực thiện tốt ở cấp huyện (Quảng Nam chỉ là 54,9%) (Phụ lục 3.10)

3.2.2 Bối cảnh cạnh tranh của ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

Cạnh tranh trong kinh doanh du lịch

Hầu hết doanh nghiệp kinh doanh du lịch tại TT-Huế có quy mô nhỏ, cung cấp những sản phẩm và dịch vụ du lịch không có sự khác biệt so với các doanh nghiệp khác, do đó, việc các doanh nghiệp này thu hút khách hàng thông qua cạnh tranh về giá là điều tất yếu

Đối với các doanh nghiệp lưu trú Việc hạ giá quá mức để thu hút khách hàng đã diễn ra

trong nhiều năm trở lại đây, kể cả một số khách sạn từ 3 đến 4 sao Nguyên nhân cơ bản là

có khá nhiều doanh nghiệp lưu trú trên địa bàn, trong khi phải chịu nhiều áp lực từ tỷ lệ khách du lịch lưu trú tại địa phương ngày càng sụt giảm và sự ép giá của các doanh nghiệp

lữ hành Mặc dù vậy, việc du khách đánh giá khá cao chất lượng dịch vụ tại các cơ sở lưu trú, đặc biệt là tiêu chí thái độ phục vụ của nhân viên, dịch vụ bổ sung đi kèm, trang thiết

bị cơ sở vật chất, cho thấy các doanh nghiệp đang chú trọng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ để cạnh tranh và thu hút du khách

Hình 3.8: Đánh giá của du khách đối với chất lượng dịch vụ của cơ sở lưu trú

Nguồn: Khảo sát khách du lịch của tác giả

42.925%

27.143%

20.700% 26.700%

Trang thiết bị, cơ sở vật chất Dịch vụ bổ sung đi kèm (wifi, đặt tour, cho thuê …

Thái độ phục vụ của nhân viên

Vệ sinh tại cơ sở lưu trú (mức độ sạch sẽ)

Cảnh quang và không gian

Giá cả

Rất kém Kém Trung bình Tốt Rất tốt

Trang 40

Đối với các doanh nghiệp lữ hành

Sự cạnh tranh về giá diễn ra rất khốc

liệt trên tất cả các phân khúc khách

và đang có xu hướng tăng Tuy

nhiên, các đoàn khách này đều được

tổ chức và sử dụng dịch vụ tại các cơ

sở lữ hành, ăn uống, lưu trú do người Hàn Quốc, Trung Quốc chi phối Các doanh nghiệp du lịch trong nước không kiếm được lợi nhuận từ nguồn khách này và ngân sách nhà nước cũng không thu được bao nhiêu, ngoại trừ tiền vé tham quan

Để hạn chế việc phá giá, ép giá của các doanh nghiệp du lịch Hiệp hội Du lịch TT-Huế đã quản lý bằng cách buộc các hội viên cam kết mức “giá sàn” đối với các dịch vụ du lịch cụ thể Tuy nhiên, do không có chế tài để xử lý, nên hiện tượng này vẫn diễn ra tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn

Bên cạnh đó, việc liên tục tăng giá vé các điểm tham quan trong thời gian vừa qua khiến sự thu hút của điểm đến du lịch TT-Huế bị giảm sút so với các địa phương lân cận Nhiều công ty lữ hành đã phải cắt bớt một số điểm tham quan để có thể giữ giá tour không quá cao, trong khi nhiều du khách phàn nàn rằng chất lượng dịch vụ không được cải thiện sau khi giá vé tăng

Hộp 3.3: Sự cạnh tranh về giá của các doanh

nghiệp du lịch Ông Nguyễn Đình Thuận, Giám đốc công ty lữ hành Eagle Tourist: “Tại thị trường khách đi

(khách tại TT-Huế đi du lịch) rơi vào tình trạng cạnh tranh giá Các công ty lữ hành nhỏ, lẻ, hoạt động không đủ tiêu chuẩn, không có website và chỉ có vài ba nhân viên, mọc lên như nấm vào mùa hè nhằm rao bán tour với giá rất thấp”

Bà Nguyễn Trân Châu, Giám đốc bán hàng và Marketing Khách sạn Midtown Huế: “Một số

khách sạn tự đưa ra mức giá, tự bán, tự phá giá và

tự dìm nhau chết Với mức giá họ đưa ra, chắc chắn không thể cung cấp đúng chất lượng dịch vụ

3 sao, 4 sao như cam kết với khách hàng Rất may

là các khách sạn uy tín tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng”

Nguồn: Tác giả phỏng vấn sâu các công ty lữ hành và khách sạn

Ngày đăng: 18/08/2017, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w