1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam

97 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá liệu có sự khác biệt giữa nhóm công ty Big 4 và không phải Big 4 hoặc giữa các nhóm chưc vụ về áp lực thời gian kiểm toán hay về cách thức phản ứng trướ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

TRẦN THỊ KIM LIÊN

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ÁP LỰC THỜI GIAN KIỂM TOÁN VỚI PHẢN ỨNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

TRẦN THỊ KIM LIÊN

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ÁP LỰC THỜI GIAN KIỂM TOÁN VỚI PHẢN ỨNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Kính thưa Quý thầy cô, tôi tên là Trần Thị Kim Liên, học viên cao học khóa

23 – ngành kế toán – trường Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong luận văn do tác giả trực tiếp thu thập, thống kê và

xử lý Các nguồn dữ liệu khác được sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồn trích dẫn và xuất xứ

TP Hồ Chí Minh, tháng năm 2016

Học viên

Trần Thị Kim Liên

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ PHẢN ỨNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN TRƯỚC ÁP LỰC THỜI GIAN 5

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới: 5

1.1.1 Nghiên cứu cảm nhận về áp lực thời gian của KTV và phản ứng của KTV 5

1.1.2 Nghiên cứu về các yếu tố khác ngoài áp lực thời gian ảnh hưởng hành vi không đúng chức năng của KTV 10

1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 11

1.3 Khoảng trống trong nghiên cứu 11

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 13

2.1 Các khái niệm căn bản 13

2.1.1 Áp lực thời gian 13

2.1.2 Cách thức phản ứng không đúng chức năng của kiểm toán viên trước áp lực về quỹ thời gian kiểm toán 14

2.1.3 Hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán 14

2.1.4 Hành vi báo cáo không đầy đủ thời gian làm việc thực tế (under-reporting of time - URT) 16

Trang 5

2.2 Lý thuyết nền tảng: 17

2.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý của Friedman & Hechter (1988) 17

2.2.2 Lý thuyết hành vi dự định của Aijen (1991) 18

2.3 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 19

2.3.1 Giả thuyết nghiên cứu 19

2.3.2 Mô hình nghiên cứu 21

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Quy trình nghiên cứu chung: 24

3.2 Phương pháp khảo sát 25

3.3 Xây dựng bảng câu hỏi 25

3.4 Mẫu khảo sát: 29

3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu: 29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Phân tích thống kê tần số: 33

4.1.1 Đặc điểm của mẫu khảo sát 33

4.1.2 Thống kê mô tả tần số của các thang đo trong mô hình nghiên cứu: 34

4.2 Phân tích và đánh giá độ tin cậy của thang đo 38

4.2.1 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 38

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 39

4.3 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu: 44

4.3.1 Phân tích tương quan: 44

4.3.2 Phân tích hồi quy tuyến tính: 45

4.3.3 Kiểm định T-test: 49

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, KIỂN NGHỊ VÀ CÁC GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 61

5.3 Đóng góp của đề tài 64

5.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tương lai 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

PHỤC LUC 2: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) PHỤ LỤC 4: BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KTV: Kiểm toán viên

Big 4: 4 công ty kiểm toán tại Việt Nam: KPMG, Deloitte, PwC, EY Non-Big 4: các công ty kiểm toán tại Việt Nam ngoài 4 công ty trên BCTC: Báo cáo tài chính

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Bảng 4.1: Cơ cấu về chức vụ của KTV 33Bảng 4.2: Cơ cấu về công ty kiểm toán mà KTV làm việc 33Bảng 4.3: Kết quả thống kê mô tả các yếu tố 34Bảng 4.4: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát của yếu tố “Áp lực thời gian kiểm toán” 35Bảng 4.5: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát của yếu tố “Hành vi giảm chất lượng kiểm toán” 36Bảng 4.6: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát của yếu tố “Hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế” 37Bảng 4.7: Kết quả Cronbach’s alpha của các nhóm biến quan sát 39Bảng 4.8: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) của biến độc lập “áp lực thời gian kiểm toán” 40Bảng 4.9: Bảng phân tích nhân tố của biến độc lập “áp lực thời gian kiểm toán” 40Bảng 4.10: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) của biến phụ thuộc “hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán” 41Bảng 4.11: Bảng phân tích nhân tố của biến phụ thuộc “hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán” 41Bảng 4.12: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) của biến phụ thuộc “hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế” 42Bảng 4.13: Bảng phân tích nhân tố của biến phụ thuộc “hành vi không báo cáo đầy

đủ thời gian kiểm toán thực tế” 43Bảng 4.14: Bảng hệ số tương quan giữa TBP và RAQP 44Bảng 4.15: Bảng hệ số tương quan giữa TBP và URT 44

Trang 9

Bảng 4.16: Tóm tắt mô hình 1 45

Bảng 4.17: ANOVAa 46

Bảng 4.18: Hệ số phương trình hồi quy 46

Bảng 4.19: Tóm tắt mô hình 2 47

Bảng 4.20: ANOVAa 48

Bảng 4.21: Hệ số phương trình hồi quy 49

Bảng 4.22: Kiểm định sự khác biệt về công ty kiểm toán đang làm việc về hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán 50

Bảng 4.23: Bảng thống kê nhóm sự khác biệt công ty kiểm toán đang làm việc về hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán 51

Bảng 4.24: Kiểm định sự khác biệt về công ty kiểm toán đang làm việc về hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán 51

Bảng 4.25: Bảng thống kê nhóm sự khác biệt chức vụ về hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán 52

Bảng 4.26: Kiểm định sự khác biệt chức vụ về hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán 52

Bảng 4.27: Bảng thống kê nhóm sự khác biệt chức vụ về hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế 53

Bảng 4.28: Kiểm định sự khác biệt chức vụ về hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế 54

Bảng 4.29: Bảng thống kê nhóm sự khác biệt công ty kiểm toán đang làm việc về áp lực thời gian kiểm toán 55

Bảng 4.30: Kiểm định sự khác biệt công ty kiểm toán đang làm việc về áp lực thời gian kiểm toán 55

Bảng 4.31: Bảng thống kê nhóm sự khác biệt chức vụ về áp lực thời gian kiểm toán 56

Trang 10

Bảng 4.32: Kiểm định sự khác biệt chức vụ về áp lực thời gian kiểm toán 56Bảng 4.33: Bảng tổng hợp các kết quả nghiên cứu 57

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN

Hình 2.1: Mô hình về sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến các hành vi không đúng chức năng của KTV 21 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 24

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên thế giới, hoạt động kiểm toán độc lập đã xuất hiện từ lâu, trải qua một quá trình phát triển dài và ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng của mình trong quá trình phát triển kinh tế toàn cầu Báo cáo tài chính được kiểm toán đang dần trở thành một trong những kênh thông tin hữu ích sử dụng trong tiến trình ra quyết định của nhiều đối tượng có liên quan khác nhau như những nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, và một số bên liên quan khác Đây là một công cụ nhằm thu hẹp thông tin bất cân xứng giữa các nhà quản lý và các bên liên quan do người sử dụng không thể trực tiếp đánh giá chất lượng của các hoạt động kiểm toán Nói cách khác, kiểm toán là một loại dịch vụ đảm bảo nhằm nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC

Tuy vậy, trong thời gian gần đây, khá nhiều sai sót trong các cuộc kiểm toán khiến cho xã hội hoài nghi về chất lượng của hoạt động kiểm toán Ví dụ như trong năm 2014, Hội đồng giám sát kế toán các công ty đại chúng Mỹ (PCAOB) đã phát hiện thiếu sót trong 19/59 cuộc kiểm toán của PwC, những sai sót tiêu biểu của các cuộc kiểm toán này có thể kể ra như: thiếu quy trình đánh giá doanh thu, thiếu phân tích về lợi thế thương mại và tài sản vô hình, thiếu sót trong kiểm tra các thương vụ

mua bán (Nguồn: Trang tin điện tử - Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam –

VACPA) Các sai sót này do từ nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân rất quan

trọng là do quỹ thời gian của KTV dành cho cuộc kiểm toán khá ít Kết quả nhiều nghiên cứu trên thế giới như David T Otley Bernard J Pierce (1996), Coram et al., (2003), Leanne C Gundry Gregory A Liyanarachchi (2007), Teerooven Soobaroyen & Chelven Chengabroyan (2006),… cho thấy, trên thực tế các KTV luôn luôn phải chịu áp lực về ngân sách thời gian trong quá trình thực hiện kiểm toán Trước áp lực này, KTV đã phản ứng lại bằng cách không tuân thủ đầy đủ thủ tục, quy trình kiểm toán, và/hoặc báo cáo không đầy đủ thời gian làm việc thực tế của mình Những phản ứng này tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng của

Trang 12

hoạt động kiểm toán Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, áp lực này ngày càng gia tăng thì các phản ứng tiêu cực như trên cũng ngày càng tăng

Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến áp lực về thời gian kiểm toán và các phản ứng của KTV khi phải đối mặt trước áp lực này chưa được các nhà nghiên cứu thực hiện

Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài nhằm nghiên cứu thực nghiệm hiện tượng trên tại Việt Nam nhằm xác định áp lực thời gian của các KTV tại Việt Nam

ở mức độ nào, cách thức họ phản ứng lại trước áp lực thời gian này ra sao, các phản ứng này có đúng chức năng hay không, có làm cho chất lượng hoạt động kiểm toán

bị ảnh hưởng hay không, ý kiến kiểm toán có còn hợp lý hay không Kết quả nghiên cứu giúp cho các công ty kiểm toán cần lưu ý trong hoạch định thời gian kiểm toán một cách hợp lý nhằm giảm thiểu hành vi không đúng chức năng của KTV

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu:

Bài nghiên cứu phân tích sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến các phản ứng không đúng chức năng của KTV Theo đó, tác giả đi sâu vào xem xét liệu các KTV tại các công ty kiểm toán đang hoạt động tại Việt Nam có chịu áp lực về thời gian để hoàn thành công việc kiểm toán, các phản ứng của các KTV trước áp lực về quỹ thời gian kiểm toán Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá liệu có sự khác biệt giữa nhóm công ty Big 4 và không phải Big 4 hoặc giữa các nhóm chưc vụ về

áp lực thời gian kiểm toán hay về cách thức phản ứng trước áp lực về ngân sách thời gian kiểm toán nhằm giúp cho các công ty kiểm toán, các nhà sử dụng BCTC được kiểm toán có cái nhìn tổng quát hơn về áp lực mà KTV phải chịu trong quá trình thực hiện kiểm toán và các cách phản ứng của họ như thế nào, từ đó đưa ra các kiến nghị về việc lập kế hoạch kiểm toán nói chung cũng như thời gian kiểm toán nói chung phù hợp với từng công ty kiểm toán có quy mô, cách thức hoạt động khác nhau hay giữa các KTV giữ các chức vụ khác nhau nhằm giảm thiểu các phản ứng không đúng chức năng của KTV

Trang 13

Mục tiêu trên của đề tài nhằm làm sáng tỏ các câu hỏi chính sau:

a KTV tại các công ty kiểm toán đang hoạt động tại VN (viết tắt là công

ty kiểm toán VN) có thực sự chịu áp lực về ngân sách thời gian kiểm toán không?

b KTV sẽ có những phản ứng gì đối với quỹ thời gian đã lập trong cuộc kiểm toán?

c Liệu có sự khác biệt về phản ứng của KTV thuộc nhóm các công ty kiểm toán Big 4 và không phải Big 4?

d Liệu có sự khác biệt về phản ứng của KTV thuộc nhóm chức vụ khác nhau không?

e Liệu có sự khác biệt về áp lực thời gian của KTV thuộc nhóm các công ty kiểm toán Big 4 và không phải Big 4?

f Liệu có sự khác biệt về áp lực thời gian của KTV thuộc nhóm chức vụ khác nhau không?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là các phản ứng của KTV trước áp lực về thời gian

kiểm toán trong kiểm toán độc lập Đối tượng khảo sát là các nhân viên tham gia vào cuộc kiểm toán trong các công ty kiểm toán hoạt động tại TP.HCM

Phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu cảm nhận của KTV về áp lực thời gian

liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính, không nghiên cứu các cuộc kiểm toán khác như: kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ,…

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp định lượng Trong đó, dựa trên các nghiên cứu trước có liên quan, đề tài xây dựng mô hình Tiếp đến sẽ kiểm định mô hình này nhằm xem xét tác động của áp lực về thời gian kiểm toán đến các hành vi không đúng chức năng của KTV, cũng như xem xét sự khác biệt trong cách phản ứng (giữa KTV thuộc các công ty kiểm toán Big 4 và không phải Big 4, giữa chức vụ của KTV) Tác giả sử dụng công cụ khảo sát là bảng câu hỏi được gửi đến các

Trang 14

KTV Các kỹ thuật phân tích kết quả nghiên cứu với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS Statistics 20 bao gồm: thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha, kiểm định giá trị thang đo bằng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính, kiểm định T-test

5 Kết cấu của luận văn:

Luận văn bao gồm các 5 phần chính như sau:

Phần mở đầu: Giới thiệu chung về đề tài, trong đó đề cập đến lý do chọn đề tài,

mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước nhằm tổng hợp các nghiên cứu trên

thế giới, cũng như tại Việt Nam liên quan đến áp lực về ngân sách thời gian kiểm toán và phản ứng của KTV khi đứng trước áp lực về thời gian

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về áp lực thời gian kiểm toán và cách thức phản ứng

của KTV trước áp lực này: nhằm làm sáng tỏ các khái niệm liên quan cũng như những lý thuyết nền tảng giải thích các mô hình sử dụng trong bài

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu đề cập đến các phương pháp sử dụng để

nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa áp lực thời gian kiểm toán và cách thức phản ứng của KTV tại các công ty kiểm toán Việt Nam

Chương 4: Kết quả nghiên cứu trình bày kết quả từ việc phân tích số liệu

Chương 5: Kết luận, kiến nghị và những hạn chế của đề tài nhằm trình bày các

phát hiện mới, những giới hạn của luận văn và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

VỀ PHẢN ỨNG CỦA KIỂM TOÁN VIÊN TRƯỚC ÁP LỰC

THỜI GIAN

1.1 Các nghiên cứu trên thế giới:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế trên toàn thế giới, hoạt động kiểm toán độc lập cũng không ngừng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư, ngân hàng và các bên liên quan là nâng cao độ tin cậy thông tin Các công ty kiểm toán độc lập được xem là một bên thứ ba với vai trò cung cấp một sự đảm bảo trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính dựa vào sự độc lập của mình đối với công ty được kiểm toán, vì vậy hoạt động của các công ty kiểm toán ngày càng được quan tâm đáng kể

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập nói chung, cũng như xem xét mối quan hệ giữa áp lực thời gian kiểm toán

và các cách phản ứng của KTV trước áp lực về thời gian này nói riêng Hầu hết các nghiên cứu này đều cho thấy, có tồn tại một mối quan hệ giữa áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng không đúng của KTV làm ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng của hoạt động kiểm toán ở các mức độ khác nhau Các dòng nghiên cứu tiêu biểu cho chủ đề này bao gồm:

1.1.1 Nghiên cứu cảm nhận về áp lực thời gian của KTV và phản ứng của KTV

David T Otley Bernard J Pierce (1996), khảo sát 3 trong số 6 công ty kiểm toán thuộc Big 6 ở Ireland và đưa ra kết luận rằng có một mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân sách thời gian để hoàn thành công việc với phản ứng của KTV Theo đó, nếu KTV không đủ thời gian hoàn thành, phản ứng của KTV sẽ là hoặc bỏ bớt các thủ tục làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán hoặc sử dụng thêm thời gian của cá nhân ngoài thời gian kiểm toán đã được phân công để hoàn thành nhiệm vụ của mình mà không báo cáo đầy đủ thời gian làm thêm giờ này Có đến 48% KTV được

Trang 16

khảo sát tại Ireland cảm thấy rằng quỹ thời gian kiểm toán của họ quá ít và trong thực tế thì họ không thể nào hoàn thành nhiệm vụ trong quỹ thời gian được phân công này Ngoài ra, đa phần các KTV thừa nhận rằng họ đã thực hiện các hành vi không đúng chức năng sau ở mức độ ít nhất là “thỉnh thoảng”, cụ thể có khoảng 28% các trưởng nhóm kiểm toán thực hiện hành vi bỏ qua một số bước kiểm toán trong cuộc kiểm toán, 37% chấp nhận các giải thích không thuyết phục của khách hàng, 41% kiểm tra một cách qua loa các chứng từ của khách hàng, 29% không nghiên cứu kĩ càng các nguyên tắc kế toán, 33% giảm khối lượng công việc trong một bước kiểm toán ở dưới mức độ hợp lý, và khoảng 55% người trả lời thừa nhận rằng họ báo cáo thời gian làm việc thực tế của mình không đầy đủ

Nghiên cứu của Coram et al., (2003) khảo sát nhận thức của KTV về áp lực thời gian kiểm toán tại Australia và phản ứng KTV trước áp lực này nhằm xem xét liệu các KTV có thực hiện những hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán hay không, lý do KTV thực hiện hành vi này và những hành vi nào là phổ biến nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng KTV ở Australia chịu áp lực về ngân sách thời gian kiểm toán là khá lớn, trong đó, hơn 50% các KTV được khảo sát nhận định rằng họ đã thực hiện một số hành động làm giảm chất lượng kiểm toán ở mức

độ “thỉnh thoảng” bởi vì họ đánh giá rằng vấn đề kiểm toán đó có rủi ro không trọng yếu, và có đến 63% các KTV tham gia khảo sát tại Australia sử dụng một số hành vi

để gia tăng tốc độ kiểm tra như loại bỏ một số chỉ tiêu khó ra khỏi mẫu kiểm toán, không kiểm tra tất cả những khoản mục trong mẫu, chấp nhận những bằng chứng kiểm toán không thuyết phục của khách hàng, cũng ở mức độ “thỉnh thoảng”

Timothy Kelley (1999) nghiên cứu về các loại áp lực mà KTV phải chịu: áp lực về thời gian kiểm toán, áp lực về thời hạn phát hành báo cáo kiểm toán Kết quả nghiên cứu cho thấy, trưởng nhóm kiểm toán chịu áp lực về thời hạn phát hành báo cáo kiểm toán thường xuyên hơn áp lực về thời gian kiểm toán Trong khi đó, các trợ lý kiểm toán lại cho biết rằng họ chịu hai loại áp lực thời gian này là ngang nhau Kết quả nghiên cứu còn cho thấy áp lực về thời gian kiểm toán có ảnh hưởng

Trang 17

đến chất lượng kiểm toán, gia tăng khả năng không báo cáo đầy đủ thời gian làm việc thực tế của KTV

Leanne C Gundry, Gregory A Liyanarachchi (2007) đã kiểm định mối quan

hệ giữa áp lực về thời gian kiểm toán đến các hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc chịu áp lực thời gian sẽ làm giảm chất lượng kiểm toán do việc cắt giảm các bước trong quy trình kiểm toán và chấp nhận các giải thích chưa được thuyết phục của khách hàng tại các công ty kiểm toán New Zealand Bên cạnh đó, năm 2008, Gregory A Liyanarachchi

&Shaun M McNamara (2008) tiếp tục đưa ra mô hình nghiên cứu về áp lực thời gian và những phản ứng không đúng chức năng của KTV trong mô hình được gọi tên là “căng thẳng nghề nghiệp” Trong nghiên cứu này, tác giả chứng minh được rằng áp lực thời gian là một trong những nhân tố dẫn đến hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán và hành vi báo cáo không đầy đủ thời gian làm việc thực tế của KTV Theo đó, loại KTV (KTV được chia thành 2 loại: KTV thuộc Big 4 và không thuộc Big 4), cảm nhận của KTV về mức độ ảnh hưởng của phí kiểm toán đến chương trình kiểm toán, quỹ thời gian thực tế kiểm toán năm trước, cũng như mức

độ trực tiếp tham gia của KTV trong việc thiết lập quỹ thời gian kiểm toán là những nhân tố ảnh hưởng đến áp lực thời gian của KTV

Tại Thụy Điển, nghiên cứu gần đây của Tobias Svanström (2015) thông qua khảo sát các KTV tại các công kiểm toán nhỏ Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tác động ngược chiều về áp lực thời gian kiểm toán đến chất lượng kiểm toán (do các phản ứng không đúng chức năng của KTV) Chẳng hạn như: kiểm tra hời hợt các chứng từ, bỏ qua một số bước kiểm toán trong chương trình kiểm toán, chấp nhận những giải thích không thuyết phục của khách hàng hay đặt một sự tin tưởng nhiều hơn vào khách hàng Cụ thể là có đến 50% các KTV ít nhất một vài lần thực hiện các hành vi này, trong đó, việc chấp nhận những giải thích không thuyết phục của khách hàng được các KTV áp dụng nhiều hơn so với các hành vi khác, chiếm khoảng 20%

Trang 18

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa áp lực về quỹ thời gian kiểm toán với phản ứng của KTV trước áp lực này không chỉ được thực hiện ở các nước phát triển mà còn tiến hành tại các quốc gia đang phát triển Các nghiên cứu tiêu biểu có thể kể ra như: Teerooven Soobaroyen & Chelven Chengabroyan (2006) thực hiện nghiên cứu tại Cộng hòa Mauritius, thông qua kiểm tra sự tồn tại và những ảnh hưởng của áp lực về thời gian kiểm toán đến hành vi không đúng chức năng của KTV (như giảm các bước kiểm toán trong quá trình kiểm toán), cũng như việc KTV phải làm thêm ngoài thời gian kiểm toán đã được đơn vị phân công mà không báo cáo khoảng thời gian làm việc này Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có khoảng 52% KTV tại đây cho biết rằng họ cần một nổ lực khá lớn để có thể hoàn thành được nhiệm vụ hoặc

họ hoàn toàn không thể hoàn thành được nhiệm vụ trong quỹ thời gian kiểm toán được phân công Có khoảng 25% các KTV được khảo sát cho rằng họ “đồng ý” hoặc “hoàn toàn đồng ý” rằng họ đã ghi nhận một số bước kiểm toán vào báo cáo công việc mặc dù họ đã không thực hiện chúng và 77% KTV cho rằng họ phải mang công việc về nhà để làm và đã không báo cáo khoảng thời gian làm việc thêm này Kết quả nghiên cứu tìm ra mối tương quan đáng kể giữa việc cắt giảm một số bước trong quy trình kiểm toán với áp lực thời gian kiểm toán của KTV Tuy nhiên, mối liên hệ giữa áp lực về thời gian này với việc không báo cáo đầy đủ thời gian làm việc thực tế lại không được chứng minh

Nghiên cứu tại Malaysia của nhóm tác giả Halil Paino, Zubaidah Ismail & Malcolm Smith (2010) cho thấy hiện tượng các KTV tại Malaysia chịu áp lực vì thời gian kiểm toán quá ít xảy ra khá phổ biến tại quốc gia này, biểu hiện ở chỗ có hơn 70% KTV được khảo sát trả lời rằng họ đã phải chịu áp lực thời gian khi thực hiện kiểm toán và 42% KTV nói rằng họ phải sử dụng thời gian cá nhân của mình

để hoàn thành công việc nhưng không báo cáo đầy đủ về khoảng thời gian làm thêm này Trước áp lực đó, các KTV đã chọn một số phản ứng không đúng chức năng của nghề nghiệp đưa đến giảm chất lượng kiểm toán, đồng thời họ cũng báo cáo không đầy đủ thời gian làm việc thực tế, hoặc sử dụng thời gian kiểm toán cho công

ty này để hoàn thành công việc cho công ty khác (nếu như có công ty nào đó mà họ

Trang 19

hoàn thành trước hạn) Bên cạnh đó, các KTV làm việc tại các công ty kiểm toán xếp hạng thấp (low ranks) có xu hướng thực hiện hành vi giảm chất lượng kiểm toán khi phải đối mặt với thời gian kiểm toán quá ít nhiều hơn so với các KTV công tác tại các công ty kiểm toán xếp hạng cao (high ranks)

Tương tự, nhóm các tác giả thuộc đại học Brawijaya của Indonexia cũng đã thực hiện một nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố dẫn đến hành vi “giảm hoặc không thực hiện một số bước kiểm toán trong chương trình kiểm toán”, một trong những nhân tố đó có áp lực về thời gian kiểm toán và chính nhân tố này đã có những tác động trực tiếp khiến KTV phải giảm một số bước kiểm toán trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán và hành động này thường xảy ra ở các KTV có kinh nghiệm dưới 2 năm nhiều hơn các KTV có kinh nghiệm lâu hơn, theo Cakti Dito Angkoso, Bambang Subroto & Sutrisno (2014)

Nghiên cứu của Desmond C.Y Yuen Philip K.F Law Chan Lu Jie Qi Guan, (2013) cũng đã thực hiện nghiên cứu hiện tương này tại Macau, và cho biết rằng áp lực về quỹ thời gian kiểm toán là một trong những yếu tố khiến cho các KTV có các hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán Theo đó, KTV đã bỏ qua một số bước kiểm toán trong chương trình kiểm toán, không nghiên cứu kĩ càng các nguyên tắc kế toán, chấp nhận các giải thích không thuyết phục của khách hàng, không giám sát kĩ càng công việc của các thành viên trong nhóm và thực hiện công việc theo hướng mà khách hàng hay cấp trên mong muốn

Ngoài những nghiên cứu tiêu biểu được nêu trên, hàng loạt các nghiên cứu tương tự khác cũng được thực hiện tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới, chẳng hạn như tại Pakistan có nghiên cứu của Sadaf Khan et al., (2014), McDaniel, L.S (1990) thực hiện nghiên cứu tại Mỹ cũng cho ra kết quả tương tự

 Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới được thực hiện từ các nước lớn như Ireland, Australia, New Zealand, Thụy Điển, Mỹ đến các nước nhỏ hay thành phố như Malaysia, Indonexia, Mauritius, Macau, Pakistan đã cho thấy rằng áp lực thời gian kiểm toán là một trong những nhân tố dẫn tới phản ứng không đúng chức năng của KTV

Trang 20

1.1.2 Nghiên cứu về các yếu tố khác ngoài áp lực thời gian ảnh hưởng hành vi không đúng chức năng của KTV

Malone and Roberts (1996) thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá một số yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến việc thực hiện hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm soát chất lượng, giám sát quá trình kiểm toán, việc thiết lập các biện pháp kỹ luật, việc phê duyệt của cấp trên trước khi thực hiện là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán Jan Svanberg Peter Öhman (2013) đánh giá sự tác động của văn hóa đạo đức đến chất lượng hoạt động kiểm toán dưới sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán Theo đó, nhóm tác giả chứng minh được rằng yếu tố văn hóa như môi trường đạo đức, các mức phạt (nhằm bắt buộc các KTV phải tuân thủ các hành vi ứng xử

có đạo đức) có ảnh hưởng ngược chiều đến hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán Trong khi đó, yêu cầu cần phải tuân thủ theo quy định của cấp trên mà không được thắc mắc lại có ảnh hưởng cùng chiều đến hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng xem xét mối quan hệ giữa hành vi báo cáo không đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế và các yếu tố văn hóa đạo đức, tuy nhiên, kết quả phân tích lại không cho thấy mối tương quan giữa 2 yếu tố này nhưng lại chứng minh được áp lực thời gian tác động cùng chiều lên hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế

Ngoài yếu tố áp lực về quỹ thời gian kiểm toán, Desmond C.Y Yuen Philip K.F Law Chan Lu Jie Qi Guan (2013) cũng đã chứng minh thêm rằng tính chất phức tạp của công việc, áp lực từ phía khách hàng và các vấn đề về đạo đức cũng góp phần tạo ra các hành vi phản ứng không đúng chức năng của KTV – yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán

Một số nhân tố khác như rủi ro kiểm toán, việc giám sát chất lượng kiểm toán, mục đích tăng doanh thu cho công ty kiểm toán cũng có tác động trực tiếp đến hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán như trong nghiên cứu của Cakti Dito Angkoso, Bambang Subroto & Sutrisno (2014) tại Indonexia

Trang 21

Ponemon, Lawrence A (1992) đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế bao gồm: quỹ thời gian kiểm toán quá eo hẹp, đạo đức nghề nghiệp của các KTV, phí kiểm toán của khách hàng, cách thức đánh giá hiệu quả làm việc, quy mô công ty kiểm toán, chức vụ của KTV và áp lực trong công việc

 Những nghiên cứu trên cho thấy rằng phản ứng không đúng chức năng của KTV ngoài chịu sự tác động của áp lực thời gian của KTV mà còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như mức độ giám sát quá trình kiểm toán, việc thiết lập các biện pháp kỉ luật, việc phê duyệt của cấp trên trước khi thực hiện, yếu tố văn hóa, tính chất phức tạp của công việc, đạo đức của KTV, mục đích tăng doanh thu của công ty kiểm toán

1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu liên quan đến chủ đề này chưa nhiều Phần lớn nghiên cứu tập trung vào chất lượng hoạt động kiểm toán tại các công ty kiểm toán Việt Nam và xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán ở mức độ tổ chức, chẳng hạn như nghiên cứu của TS Trần Khánh Lâm (2011), Đinh Thanh Mai (2014), Lâm Huỳnh Phương (2013), Hà Hoàng Điệp (2015),

Tuy nhiên, việc nghiên cứu cách thức mà KTV thực hiện trong chương trình kiểm toán – một trong những nhân tố làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán thì vẫn chưa được xem xét cụ thể

1.3 Khoảng trống trong nghiên cứu

Áp lực về thời gian là chủ đề được khẳng định thông qua khá nhiều nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên cho đến nay, chưa có nghiên cứu tại VN nhằm xem xét liệu các KTV tại Việt Nam có chịu áp lực về quỹ thời gian khi thực hiện kiểm toán hay không và họ thường phản ứng như thế nào khi phải đối mặt với áp lực về quỹ thời gian kiểm toán eo hẹp Do đó, đây có thể được xem là khoảng trống nghiên cứu

và đó chính là lý do người viết lựa chọn đề tài này

Trang 22

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày các nghiên cứu được công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó xác định khe hở nghiên cứu nhằm làm cơ sở cho việc lựa chọn đề tài này để thực hiện nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định thêm một nhân tố mới là áp lực về thời gian có ảnh hưởng đến việc thực hiện các hành vi không đúng chức năng của KTV, dẫn đến khả năng sụt giảm chất lượng hoạt động kiểm toán tại các công

ty kiểm toán tại Việt Nam

Trang 23

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN

CỨU 2.1 Các khái niệm căn bản

2.1.1 Áp lực thời gian

Áp lực hiểu theo nghĩa thông thường là sức ép Áp lực về thời gian để hoàn thành công việc là hiện tượng xảy ra khi có sự ràng buộc về thời gian phải hoàn thành công việc Điều này sẽ gây ra cảm giác căng thẳng cho người thực hiện và từ

đó tạo ra hành vi đối phó trước áp lực này (Ordonez and Benson (1997))

Trong lĩnh vực kiểm toán, áp lực về thời gian kiểm toán được chia ra thành hai loại áp lực: áp lực về quỹ thời gian kiểm toán (time budget pressure) và áp lực

về thời hạn phát hành báo cáo kiểm toán (time deadline budget) Theo Timothy Kelley (1999), khác biệt giữa hai loại áp lực thời gian này là: áp lực về quỹ thời gian kiểm toán xảy ra khi khoảng thời gian phân bổ để hoàn thành các công việc kiểm toán nhất định khá ít so với thời gian cần thiết để thực hiện chúng tạo ra sức

ép để có thể hoàn thành nhiệm vụ, trong khi đó, áp lực về thời hạn phát hành báo cáo kiểm toán là sức ép xảy ra khi KTV phải hoàn thành những công việc kiểm toán

để phát hành báo cáo kiểm toán ở một mốc thời gian nhất định (Salomon & Brown (1992)

De Zoort and Lord (1997) cũng có định nghĩa tương tự về áp lực về quỹ thời gian kiểm toán Theo đó, đó là sự ràng buộc về thời gian của việc thực hiện chương trình kiểm toán, xuất phát từ việc giới hạn thời gian phân bổ cho việc thực hiện các phần hành kiểm toán cần thiết

Hai khái niệm về áp lực thời gian kiểm toán nêu trên có sự khác biệt đáng kể

do chúng tác động đến các nhóm KTV khác nhau, cũng như ảnh hưởng đến hành vi

Trang 24

làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán khác nhau, và phản ứng của KTV khác nhau (không báo cáo đầy đủ thời gian làm việc thực tế của các KTV, hay sử dụng thời gian riêng để bù đắp sự thiếu hụt thời gian này (Timothy Kelley, 1999)) Trong giới hạn của luận văn, áp lực về thời gian kiểm toán chỉ được xem xét ở khía cạnh

áp lực về quỹ thời gian kiểm toán

2.1.2 Cách thức phản ứng không đúng chức năng của kiểm toán viên trước áp lực về quỹ thời gian kiểm toán

Khi đứng trước áp lực về thời gian kiểm toán, KTV sẽ phản ứng theo hai cách thức phổ biến đó là phản ứng đúng chức năng và không đúng chức năng

- Phản ứng đúng chức năng:

Dựa trên tổng kết các nghiên cứu trước về những phản ứng đúng chức năng của KTV, Liyanarachchi et al., (2008) khái quát hóa như sau: phản ứng đúng chức năng là đơn giản hóa công việc và tính phí khách hàng một cách hợp lý, yêu cầu thêm nhân sự cho nhóm kiểm toán, tăng thời gian kiểm toán từ cấp trên, sử dụng những kĩ thuật kiểm toán hiệu quả hơn

Glover (1997) cho rằng thời gian kiểm toán được thiết lập phù hợp là một động lực giúp cải thiện hiệu quả kiểm toán thông qua việc khuyến khích các KTV tập trung vào những thông tin trọng yếu, tránh nguy cơ bỏ sót các thủ tục kiểm toán cần thiết hay thu thập bằng chứng thiếu thuyết phục

- Phản ứng không đúng chức năng là những hành vi ảnh hưởng trực tiếp hoặc

gián tiếp đến việc giảm sút chất lượng hoạt động kiểm toán Nhìn chung, hai phản ứng chủ yếu được xem xét trong các nghiên cứu đó là “thực hiện một số hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán” (reduced audit quality practices) và “hành vi KTV không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế của mình” (under-reporting audit time)

2.1.3 Hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán

- Khái niệm chất lượng hoạt động kiểm toán:

Trang 25

Tùy theo từng lĩnh vực hoạt động, từng góc độ tiếp cận khác nhau, chất lượng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau

Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của

sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các

sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật

(Nguồn: Viện từ điển học và bách khoa thư Việt Nam – Viện Hàn Lâm Khoa Học

Xã Hội Việt Nam)

Đối với chất lượng hoạt động kiểm toán cũng có nhiều khái niệm khác nhau

Theo quan điểm của IAASB (Khuôn mẫu về chất lượng hoạt động kiểm toán: Các

yếu tố quan trọng tạo ra môi trường cho chất lượng kiểm toán - 2015), “một cuộc

kiểm toán có thể đạt được chất lượng bởi nhóm dịch vụ thực hiện mà:

 Thể hiện các giá trị, đạo đức và thái độ thích hợp

 Có đủ kiến thức, kinh nghiệm và thời gian phân bổ cho các công việc kiểm toán hợp lý

 Áp dụng một quy trình kiểm toán và các thủ tục kiểm toán một cách nghiêm ngặt

 Cung cấp các báo cáo có giá trị và kịp thời

 Tương tác với các bên liên quan một cách thích hợp”

Ngoài ra, DeAngelo (1981) định nghĩa chất lượng kiểm toán được xem xét dựa trên “khả năng mà KTV sẽ (a) phát hiện ra khiếm khuyết của hệ thống kế toán của khách hàng (b) và báo cáo các khiếm khuyết này”

Theo Hillison et al (2004), chất lượng kiểm toán được đánh gia thông qua:

 Mức độ tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán trong một cuộc kiểm toán

 Khả năng KTV phát hiện các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính và báo cáo các sai sót đó

 Khả năng không phát hành một báo cáo không đủ tiêu chuẩn khi có sai sót trọng yếu xảy ra

Trang 26

 Đảm bảo tính đúng đắn của các thông tin đã được báo cáo

 Trong đề tài này, chất lượng kiểm toán được hiểu theo định nghĩa của IAASB

- Hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán

Malone and Roberts (1996) định nghĩa hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán là “một hành động được thực hiện bởi những KTV trong cuộc kiểm toán làm cho hiệu quả thu thập bằng chứng không hiệu quả”

Leanne C Gundry Gregory A Liyanarachchi (2007) đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới (Kelley and Margheim(1990), Malone and Roberts (1996), Coram et al.(2003,2004), Pierce and Sweeney (2004)) và đã đưa ra kết luận rằng KTV có nhiều cách thức phản ứng khác nhau trước áp lực về quỹ thời gian kiểm toán làm ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán như:

 Bỏ qua một số bước kiểm toán cần phải thực hiện mà không ghi nhận lại sự

bỏ qua này trong báo cáo công việc của mình

 Kiểm tra một cách qua loa chứng từ của khách hàng

 Không nghiên cứu kĩ càng các nguyên tắc kế toán

 Không kiểm tra một số chỉ tiêu có nghi vấn trong quá trình kiểm toán

 Loại bỏ một số chỉ tiêu khó ra khỏi mẫu kiểm toán

 Chấp nhận giải thích không thuyết phục từ phía khách hàng

2.1.4 Hành vi báo cáo không đầy đủ thời gian làm việc thực tế reporting of time - URT)

(under-Theo David T Otley Bernard J Pierce, (1996b), URT xảy ra khi KTV hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng quỹ thời gian cá nhân ngoài thời gian kiểm toán

đã được giao và không báo cáo khoảng thời gian làm thêm này KTV thực hiện hành động này là do họ muốn loại bỏ hoặc tối thiểu hóa thời gian vượt mức này để chứng tỏ năng lực của mình, theo Otley & Pierce (1996a)

Các nghiên cứu trước đây trên thế giới đã cho thấy rằng hành động báo cáo không đầy đủ thời gian làm việc thực tế của mình xảy ra ở hầu hết các KTV Tuy

Trang 27

nhiên, điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của công ty kiểm toán

Michael Akerset al., (1998) cho biết có 5 lý do khiến các công ty kiểm toán cần

phải ghi nhận đầy đủ thời gian làm việc của KTV khi tính phí kiểm toán cho khách hàng, đó là thời gian thực tế làm việc của KTV được dùng để:

 Hỗ trợ cho việc lập kế hoạch ngân sách năm tiếp theo

 Sử dụng để đàm phán phí kiểm toán cho năm tiếp theo

 Những nhà quản lý sử dụng trong việc ra các quyết định liên quan đến công việc kinh doanh và phân bổ nguồn lực

 Rà soát tổng thể những phương pháp tiếp cận liên quan đến công việc của năm hiện tại

 Tính thêm phí kiểm toán cho khách hàng

Chính vì những lý do như trên nên các tác động của URT được giải thích như sau:

 Khi lập kế hoạch về quỹ thời gian kiểm toán thường dựa vào quỹ thời gian ghi nhận ở những năm trước, do đó nếu thời gian thực tế làm việc của KTV không được ghi nhận đầy đủ ở những năm trước sẽ dẫn đến quỹ thời gian kiểm toán của những năm sau đó cũng eo hẹp theo, và điều này có thể gây ra những hành vi đe dọa đến chất lượng của hoạt động kiểm toán

 Ngoài ra, URT cũng có thể làm cho lợi nhuận của các công ty kiểm toán giảm đi, vì thời gian báo cáo là căn cứ để tính phí kiểm toán cho khách hàng

 Bên cạnh đó, Shapeero et al., (2003) cho biết rằng quỹ thời gian kiểm toán là một trong những nhân tố để đánh giá hiệu suất làm việc của các KTV, do đó, URT có thể gây ra sự sai lệch trong quá trình đánh giá hiệu quả làm việc

2.2 Lý thuyết nền tảng:

2.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý của Friedman & Hechter (1988)

Trang 28

Lý thuyết lựa chọn hợp lý được xây dựng dựa trên một số định đề, trong đó, định đề duy lý nhấn mạnh rằng cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của hành động đó và khả năng thành công là lớn nhất vì bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn và lãng tránh nỗi đau Friedman & Hechter (1988) trong nghiên cứu “Đóng góp của lý thuyết lựa chọn hợp lý đến nghiên cứu

xã hội học vĩ mô” cho rằng trên thực tế các chủ thể không có nhiều sự lựa chọn và

cơ may Như vậy, bắt buộc họ phải lựa chọn sao cho phù hợp với nhu cầu hay sở thích cơ bản, cần thiết nhất và đạt đến mục đích cuối cùng Do đó, nếu chủ thể nhận thức rằng mục đích với giá trị cao nhất của họ không phù hợp với năng lực hiện tại của bản thân thì họ dễ dàng lựa chọn một phương án khác phù hợp với năng lực bản thân hơn Có thể thấy, trong tiến trình đưa ra quyết định hành động thì chủ thể phải chịu tác động bởi 2 nhóm yếu tố đó là (1) sự hạn chế về năng lực (nên họ có thể không lựa chọn hành động mang lại lợi ích cao nhất mà sẽ lựa chọn hành động phù hợp với năng lực của bản thân nhất), (2) sự ràng buộc của các quy định, các nguyên tắc buộc chủ thể phải tuân theo

 Vận dụng lý thuyết này vào đề tài nghiên cứu:

Trong luận văn này, các phản ứng của KTV chịu sự tác động bởi quỹ thời gian kiểm toán do các nhà quản lý đưa ra (các quy định, các nguyên tắc phải tuân theo) và KTV sẽ lựa chọn hành động phù hợp (chứ không theo đuổi mục đích có giá trị cao nhất) nếu có quá ít cơ may và nếu năng lực cá nhân là không cao

2.2.2 Lý thuyết hành vi dự định của Aijen (1991)

Lý thuyết hành vi dự định của Aijen (1991) được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein và Ajzen (1975), giả định rằng hành vi có thể dự báo hoặc giải thích bởi xu hướng để thực hiện hành vi đó Theo đó, xu hướng hành vi bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính đó là: thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Trong đó, yếu tố thứ nhất “thái độ” được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Yếu tố thứ hai “chuẩn chủ quan” là nhận

Trang 29

thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi đó Và cuối cùng, “nhận thức kiểm soát hành vi” liên quan đến nhận thức về khả năng thực hiện hành vi đó dễ hay khó và điều này phụ thuộc vào

các nguồn lực và cơ hội để thực hiện hành vi

 Vận dụng vào đề tài nghiên cứu:

Trong luận văn này, các phản ứng không đúng chức năng có thể được dự báo bởi nhận thức hành vi kiểm soát của KTV trong điều kiện nguồn lực về thời gian bị giới hạn

2.3 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

2.3.1 Giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào các nghiên cứu trước, tác giả xây dựng các giả thuyết sau:

 Tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến các hành vi không đúng

chức năng của KTV:

Kết quả nghiên cứu Otley (1996a) và Teerooven Soobaroyen & Chelven Chengabroyan (2006), cho thấy mối tương quan giữa quỹ thời gian kiểm toán và việc thực hiện các hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán Trong đề tài nghiên cứu này, giả thuyết nghiên cứu được đặt ra tương tự là:

H1: Khi khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong quỹ thời gian kiểm toán đã được

phân công càng thấp (áp lực thời gian càng cao) thì tỷ lệ KTV thực hiện các hành vi

làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán sẽ càng cao

H2: Khi khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong quỹ thời gian kiểm toán đã được

phân công càng thấp (áp lực thời gian càng cao) thì tỷ lệ KTV thực hiện hành vi

không báo cáo đầy đủ thời gian thực hiện kiểm toán thực tế sẽ càng cao

Trang 30

 Sự khác biệt về phản ứng của KTV trước áp lực thời gian giữa nhóm

các KTV thuộc Big 4 và không thuộc Big 4, giữa nhóm các trợ lý kiểm toán và trưởng nhóm kiểm toán

Để tìm hiểu liệu có sự khác biệt giữa phản ứng của KTV làm việc tại các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big 4 và KTV không thuộc nhóm Big 4 Do đó, tác giả đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

H3: Hành vi sụt giảm chất lượng kiểm toán vì chịu áp lực thời gian của các kiểm

toán viên thuộc nhóm Big 4 khác với các kiểm toán viên không thuộc nhóm Big 4

H4: Hành vi hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế vì chịu áp

lực thời gian của các kiểm toán viên thuộc nhóm Big 4 khác với các kiểm toán viên không thuộc nhóm Big 4

Bên cạnh đó, trợ lý kiểm toán và trưởng nhóm kiểm toán thường đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau trong một cuộc kiểm toán, do đó, giữa hai nhóm KTV này có thể tồn tại sự khác biệt trong phản ứng khi đứng trước áp lực về thời gian

Do đó, tác giả đặt ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

H5: Hành vi sụt giảm chất lượng kiểm toán vì chịu áp lực thời gian của các trợ lý

kiểm toán khác với các trưởng nhóm kiểm toán

H6: Hành vi hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế vì chịu áp

lực thời gian của các trợ lý kiểm toán khác với các trưởng nhóm kiểm toán

 Sự khác biệt về cảm nhận áp lực thời gian giữa nhóm các KTV thuộc

Big 4 và không thuộc Big 4, giữa nhóm các trợ lý kiểm toán và trưởng nhóm kiểm toán

Kết quả nghiên cứu của Gist and Davidson (1999), Gregory A Liyanarachchi (2008) cho thấy cảm nhận về áp lực thời gian khác nhau của KTV cấp thấp ít hơn so với KTV cấp cao Do đó, giả thuyết đặt ra là:

Trang 31

H7: Nhận thức về áp lực quỹ thời gian kiểm toán của các trợ lý kiểm toán khác với

các trưởng nhóm kiểm toán

Kết quả nghiên cứu của Gregory A Liyanarachchi (2008) cho thấy áp lực KTV khác nhau phụ thuộc môi trường làm việc, cụ thể là các KTV làm việc tại các công ty thuộc nhóm Big 4 mức độ cạnh tranh cao hơn các công ty không thuộc nhóm Big 4, do đó nhận thức về áp lực thời gian kiểm toán của KTV thuộc nhóm Big 4 sẽ cao hơn so với KTV không thuộc nhóm Big 4 Giả thuyết đặt ra là:

H8: Các KTV thuộc nhóm Big 4 cảm nhận về áp lực thời gian kiểm toán khác với

các KTV không thuộc nhóm Big 4

2.3.2 Mô hình nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu của luận văn là mô hình về mối quan hệ giữa áp lực về quỹ thời gian kiểm toán và phản ứng không đúng chức năng của KTV khi đứng trước áp lực thời gian Ngoài ra, luận văn còn xem xét sự khác biệt về phản ứng của KTV khi chịu áp lực thời gian kiểm toán giữa các công ty Big 4 và không phải Big 4, giữa trưởng nhóm kiểm toán và trợ lý kiểm toán, tương tự như nghiên cứu của Leanne C Gundry Gregory A Liyanarachchi, (2007)

Hình 2.1: Mô hình về sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến các hành

vi không đúng chức năng của KTV (mô hình 1 & 2) được khái quát như sau:

(1)

Thực hiện hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán (RAQP)

Không báo cáo đầy

đủ thời gian làm việc thực tế (URT)

Áp lực thời

gian (TBP)

Phản ứng không đúng chức năng của KTV(+)

(2)

Trang 32

Giải thích các biến:

Các biến trong 2 mô hình này được giải thích như sau:

- Biến độc lập: là áp lực về quỹ thời gian kiểm toán, được đánh giá căn cứ vào

nhận thức của KTV về khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong quỹ thời gian được phân công, theo đó, trong mô hình đo lường này khi khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong quỹ thời gian càng thấp thì áp lực thời gian càng cao

- Biến phụ thuộc: là các phản ứng của KTV khi chịu áp lực về quỹ thời gian

kiểm toán, bao gồm hai biến đó là các hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán (mô hình 1) và hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế của KTV (mô hình 2) trước áp lực thời gian

Trang 33

-

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 cung cấp những lý luận nền tảng về áp lực thời gian, các hành vi không đúng chức năng của KTV, cũng như lý thuyết nền tảng về sự lựa chọn hợp lý

để giải thích các phản ứng của KTV khi đứng trước áp lực về thời gian kiểm toán

Từ đó đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu của đề tài, theo đó có 2

mô hình nghiên cứu (1) sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến việc thực hiện các hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán, (2) sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế

Trang 34

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Quy trình nghiên cứu chung:

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu chung của luận văn có thể được tóm tắt như sơ

đồ sau:

Vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu:

Sự tác động của áp lực thời gian kiểm

toán đến các phản ứng không đúng

chức năng của KTV

Khe hở nghiên cứu:

Chưa có nghiên cứu về sự tác động này

tại Việt Nam

Câu hỏi nghiên cứu:

phản ứng giữa KTV làm việc tại các

công ty kiểm toán Big4 và không

phải Big 4, giữa chức vụ của KTV?

Q4: Liệu có sự khác biệt về áp lực

thời gian kiểm toán giữa KTV làm

việc tại công ty kiểm toán Big4 và

không phải Big 4, giữa chức vụ của

KTV?

Cơ sở lý thuyết:

1/ Áp lực thời gian

2/ Phản ứng không đúng chức năng

Mô hình nghiên cứu

Xây dựng thang đo:

1/ Thang đo TBP

2/ Thang đo RAQP

3/ Thang đo URT

Tiến hành khảo sát

Phân tích và kiểm định:

1/ Phân tích thống kê mô tả 2/ Phân tích Cronbach’s alpha 3/ Phân tích nhân tố EFA 4/ Phân tích tương quan

5/ Phân tích hồi quy tuyến tính 5/ Kiểm định T-test

Kết quả phân tích và kết luận,

kiến nghị

Trang 35

Theo quy trình này, các công việc cụ thể cần phải thực hiện như sau:

- Tổng hợp các cơ sở lý thuyết nền tảng và các lý thuyết liên quan đến đề tài đang nghiên cứu, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu

- Thiết kế bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát

- Thu thập và tổng hợp dữ liệu thu thập được

- Sử dụng phần mềm SPSS Statistics 20 để phân tích các dữ liệu thu thập được như đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo, phân tích tương quan và phân tích hồi quy, kiểm định t-test

- Kết luận và đưa ra những kiến nghị, giải pháp, cũng như hướng nghiên cứu trong tương lai

3.2 Phương pháp khảo sát

Các nghiên cứu trước đây liên quan khi nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa áp lực về quỹ thời gian kiểm toán và những phản ứng không đúng chức năng của KTV khi phải đối mặt với áp lực về thời gian này thường sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu là bảng câu hỏi (Coram et al., (2003), Otley and Pierce (1996a),

…) Kế thừa phương pháp thu thập dữ liệu từ các nghiên cứu trước, nghiên cứu này cũng sử dụng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu về áp lực ngân sách thời gian kiểm toán, và các hành vi không đúng chức năng của KTV

Phương pháp thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi có điểm yếu là đối tượng được khảo sát có thể từ chối trả lời do e ngại về thông tin cần phải cung cấp, nhưng thông tin về các hành vi không đúng chức năng của KTV trong đề tài này là những thông tin nhạy cảm và bí mật đôi khi phỏng vấn trực tiếp sẽ làm cho người được khảo sát trả lời không chính xác các câu hỏi

3.3 Xây dựng bảng câu hỏi

Trang 36

Đề tài nghiên cứu này sử dụng bảng câu hỏi khảo sát của Otley and Pierce (1996a), đồng thời thêm hai câu hỏi về chức vụ và công ty kiểm toán mà KTV đang làm việc như trong bài nghiên cứu của Gregory A Liyanarachchi et al.,(2008) Bảng câu hỏi (trình bày phụ lục 1) được chia thành 2 phần:

Phần 1: thu thập dữ liệu liên quan đến các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu

Phần 2: thu thập các thông tin cá nhân của KTV liên quan đến chức vụ, và công ty mà KTV đang công tác

Đề tài sử dụng 2 mô hình nghiên cứu:

(1) Mô hình 1 nghiên cứu mối tương quan giữa áp lực về thời gian kiểm toán và hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán

(2) Mô hình 2 nghiên cứu mối tương quan giữa áp lực về thời gian kiểm toán và hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế

Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm với sự lựa chọn từ 1 đến 5 với (1) luôn luôn, (2) thường xuyên, (3) thỉnh thoảng, (4) hiếm khi, (5) không bao giờ,

cụ thể cho các biến sau:

 Biến phụ thuộc:

Thang đo về hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy khi KTV chịu áp lực thời gian kiểm toán, họ sẽ thực hiện một số hành vi làm giảm cho chất lượng của hoạt động kiểm toán Căn cứ vào các nghiên cứu đó, các biến quan sát cho hành vi làm giảm chất lượng được xây dựng tương tự như câu hỏi số 8 của bảng câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu của Leanne C Gundry Gregory A Liyanarachchi, (2007) như sau:

RAQP1 KTV đã từng chấp nhận những giải thích không thuyết phục của khách

Trang 37

hàng

RAQP2 KTV đã từng kiểm tra hời hợt chứng từ của khách hàng

RAQP3 KTV đã từng không nghiên cứu kĩ các nguyên tắc kế toán

RAQP4 KTV đã từng giảm số lượng công việc cần phải thực hiện trong bước

kiểm toán

RAQP5 KTV đã từng bỏ qua một số thủ tục kiểm toán mà không thay thế bằng

thủ tục kiểm toán khác và ghi nhận lại vấn đề này

Thang đo về hành vi báo cáo không đầy đủ thời gian thực tế thực hiện kiểm toán

Khi đứng trước áp lực phải hoàn thành nhiệm vụ trong khoảng thời gian kiểm toán được phân công, KTV thường có một số cách sắp xếp thời gian cho phù hợp Một số nghiên cứu trên thế giới như đã được trình bày ở chương 1 – tổng quan các nghiên cứu cho thấy KTV thường báo cáo không đầy đủ khoảng thời gian này

Dựa vào các nghiên cứu này, hành vi báo cáo không đầy đủ thời gian thực tế được đo lường tương tự như câu hỏi số 9 của bảng câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu của Leanne C Gundry Gregory A Liyanarachchi, (2007) như sau:

URT1 Khi thời gian kiểm toán quá ít, KTV thường thay đổi thời gian kiểm toán

giữa các công ty mà mình thực hiện nhưng không tính thêm phí kiểm toán

URT2 Khi thời gian kiểm toán quá ít, KTV thường làm việc vất vả hơn nhưng

vẫn không tính thêm phí một cách hợp lý

URT3 Khi thời gian kiểm toán quá ít, KTV thường sử dụng thời gian cá nhân để

làm việc nhưng không báo cáo về thời gian làm thêm này

 Biến độc lập:

Thang đo áp lực về thời gian kiểm toán

Theo nghiên cứu của Otley and Pierce (1996a), biến áp lực thời gian kiểm toán được đo lường thông qua nhận thức của KTV về khả năng hoàn thành nhiệm

Trang 38

vụ của mình trong quỹ thời gian được giao Do đó, các biến quan sát cho thang đo

áp lực về thời gian kiểm toán được xây dựng tương tự như câu hỏi số 1, 2, 3 của bảng câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu của Leanne C Gundry Gregory A Liyanarachchi, (2007) như sau:

TBP1 Quỹ thời gian kiểm toán có đủ để hoàn thành việc kiểm toán

TBP 2 Nhận thức về khả năng hoàn thành công việc của mình trong quỹ thời

gian kiểm toán được phân công

TBP 3 Khả năng hoàn thành nhiệm vụ nếu không làm thêm giờ hay sắp xếp lại

thời gian kiểm toán giữa các công ty

Bảng câu hỏi khảo sát (phụ lục 1) được thực hiện dựa vào công cụ google biểu mẫu và được gửi đến các trợ lý kiểm toán và các trưởng nhóm kiểm toán làm việc tại hai nhóm công ty Big 4 (KPMG, Delloite, EY, PwC) và không phải Big 4 (A&C, Mazars, AISC, DTL,…) ở Thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, theo đó bảng câu hỏi sẽ được gửi đến các KTV mà tác giả có thể tiếp cận được Lý do tác giả chọn các đối tượng này vì trợ lý kiểm toán và trưởng nhóm kiểm toán là những người tham gia trực tiếp vào cuộc kiểm toán, vì thế, họ là người trực tiếp chịu những áp lực phải hoàn thành nhiệm vụ trong quỹ thời gian kiểm toán mà cấp trên đã phân công

Cấu trúc của bảng câu hỏi và các thang đo được tóm tắt như bảng sau:

sát

Thang đo

Phần 1: Câu hỏi khảo sát

Mô hình 1: Mối tương quan giữa áp lực về thời gian kiểm toán và hành vi làm giảm chất lượng hoạt động kiểm toán

Trang 39

2 Hành vi giảm chất lượng kiểm toán 5 Likert 5 điểm

Mô hình 2: Mối tương quan giữa áp lực về thời gian kiểm toán và hành vi không

báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế

2 Hành vi báo cáo không đầy đủ thời

gian kiểm toán thực tế

Phần 2: Thông tin cơ bản của KTV

Bảng câu hỏi chi tiết được trình bày ở Phụ lục 1

3.4 Mẫu khảo sát:

Trong kiểm định EFA, kích thước mẫu thường được xác định dựa vào kích thước tối thiểu và số lượng biến đo lường đưa vào phân tích Theo Hair et al., (2006), để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt nhất là 100 và tỉ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1, tốt nhất là 10 trở lên Trong đề tài nghiên cứu này, số lượng biến đo lường của mô hình 1 và mô hình 2 lần lược là là 8 và 6 Do đó, kích

thước mẫu tốt nhất để đáp ứng điều kiện của mô hình kiểm định thang đo EFA

cho mô hình 1 là 80, mô hình 2 là 60

Bên cạnh đó, công thức kinh nghiệm thường dùng để tính kích thước mẫu cho mô hình hồi quy là: n ≥ 50 + 8p Trong đó: n là kích thước mẫu tối thiểu cần

thiết và p là số lượng biến độc lập trong mô hình Vì vậy kích thước mẫu tối thiểu

cho mô hình hồi quy trong bài nghiên cứu này là: 50 + 8 = 58

Từ hai kết quả của mô hình EFA và hồi quy, đề tài này cần có kích thước mẫu tối thiểu là 80 quan sát

Trong đề tài này, kích thước mẫu cho nghiên cứu là 132

3.5 Phương pháp phân tích dữ liệu:

Trang 40

Sử dụng phương pháp thống kê tần số để tính toán các giá trị trung bình và

độ lệch chuẩn để đánh giá mức độ đồng ý của người được khảo sát đối với các biến quan sát

Đánh giá độ tin cậy của thang đo qua việc sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha

nhằm đo lường độ tin cậy (tính nhất quán nội tại) của từng thang đo Đây là hệ số

đo lường độ tin cậy của thang đo tổng chứ không phải hệ số tin cậy cho từng biến quan sát Nếu Cronbach’s alpha  60 là thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy, và một thang đo có độ tin cậy tốt khi nó biến thiên trong khoảng [.70-.80] Bên cạnh đó, ta cần phải xem xét sự tương quan giữa các biến đo lường thông qua

hệ số tương quan – tổng hiệu chỉnh, biến đạt yêu cầu khi hệ số tương quan – tổng hiệu chình  30

Kiểm định giá trị thang đo thông qua mô hình phân tố nhân tố khám phá EFA dùng để rút gọn các tập biến quan sát thành các tập với các nhân tố có ý nghĩa

hơn trong mô hình

Phân tích tương quan được thực hiện để kiểm tra mối quan hệ tuyến tính

giữa các biến với nhau, nhưng không phải lúc nào cũng thể hiện mối liên hệ nhân quả Trong đề tài này, hệ số tương quan Pearson (ký hiệu là r) được sử dụng để ước lượng mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tuyến tính giữa những biến tuyến tính (khoảng cách hay tỷ lệ) Giá trị tuyệt đối của r tiến gần đến 1 khi hai biến có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ

Phân tích hồi quy tuyến tính nhằm phân tích mức độ tác động của của từng

biến độc lập lên biến phụ thuộc Cụ thể, phương trình phân tích hồi quy cho các mô hình nghiên cứu như sau:

Mô hình phân tích mối tương quan giữa áp lực thời gian kiểm toán và một số cách thức phản ứng không đúng chức năng của kiểm toán viên:

- Hành vi làm giảm chất lượng kiểm toán:

Ngày đăng: 18/08/2017, 23:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình về sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến các hành - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Hình 2.1 Mô hình về sự tác động của áp lực thời gian kiểm toán đến các hành (Trang 31)
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu chung của luận văn có thể đƣợc tóm tắt nhƣ sơ - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu chung của luận văn có thể đƣợc tóm tắt nhƣ sơ (Trang 34)
Bảng 4.1: Cơ cấu về chức vụ của KTV - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.1 Cơ cấu về chức vụ của KTV (Trang 43)
Bảng 4.6: Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát của yếu tố “Hành vi không  báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế” - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.6 Kết quả thống kê mô tả các biến quan sát của yếu tố “Hành vi không báo cáo đầy đủ thời gian kiểm toán thực tế” (Trang 47)
Bảng 4.7: Kết quả Cronbach’s alpha của các nhóm biến quan sát - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.7 Kết quả Cronbach’s alpha của các nhóm biến quan sát (Trang 49)
Bảng  4.12:  Kết  quả  phân  tích  nhân  tố  khám  phá  (EFA)  của  biến  phụ  thuộc - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
ng 4.12: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) của biến phụ thuộc (Trang 52)
Bảng 4.14: Bảng hệ số tương quan giữa TBP và RAQP - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.14 Bảng hệ số tương quan giữa TBP và RAQP (Trang 54)
Bảng 4.15: Bảng hệ số tương quan giữa TBP và URT - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.15 Bảng hệ số tương quan giữa TBP và URT (Trang 54)
Bảng 4.18: Hệ số phương trình hồi quy - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.18 Hệ số phương trình hồi quy (Trang 56)
Bảng 4.21: Hệ số phương trình hồi quy - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.21 Hệ số phương trình hồi quy (Trang 59)
Bảng 4.27: Bảng thống kê nhóm sự khác biệt chức vụ về hành vi - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.27 Bảng thống kê nhóm sự khác biệt chức vụ về hành vi (Trang 63)
Bảng 4.30: Kiểm định sự khác biệt công ty kiểm toán đang làm việc về áp lực  thời gian kiểm toán - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.30 Kiểm định sự khác biệt công ty kiểm toán đang làm việc về áp lực thời gian kiểm toán (Trang 65)
Bảng 4.33: Bảng tổng hợp các kết quả nghiên cứu - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
Bảng 4.33 Bảng tổng hợp các kết quả nghiên cứu (Trang 67)
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
1 BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT (Trang 82)
PHỤ LỤC  4: BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT - Nghiên cứu thực nghiệm về áp lực thời gian kiểm toán với phản ứng của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán việt nam
4 BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w