1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của nguyễn bỉnh khiêm luận văn thạc sĩ

104 325 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 603 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tư tưởng triết học là tinh hoa của tư tưởng nhân loại. Nghiên cứu tư tưởng triết học cho ta cái nhìn sâu sắc về sự hình thành phát triển của thế giới nói chung và của xã hội loài người nói riêng. Song ở mỗi giai đoạn, mỗi thời đại và mỗi dân tộc có cách xây dựng và nhìn nhận khác nhau về triết học. Ở Việt Nam khi bàn luận về lịch sử tư tưởng triết học có nhiều ý kiến khác nhau, theo hai khuynh hướng chủ yếu: Thứ nhất, nhiều người cho rằng Việt Nam không có triết học, Việt Nam chỉ bắt chước, Khổng Mạnh nói thế nào thì ta nói lại thế, thậm chí nói không đầy đủ, chỉ một phần nào đó thôi. Họ cho rằng giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam không có khả năng sáng tạo một hệ tư tưởng xứng đáng với nhân dân vĩ đại. Tóm lại, khuynh hướng này khẳng định: Không có sáng tạo chỉ vay mượn, chỉ có áp dụng, chỉ có thích nghi, đó là tư tưởng Đại Việt. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là nhà nghiên cứu Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quốc Vượng… Khuynh hướng thứ hai, nhiều người khẳng định Việt Nam có triết học, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sử triết học Việt Nam. Đại diện cho khuynh hướng quan niệm này là Giáo sư Vũ Khiêu, Giáo sư Lê Hữu Tầng… Khuynh hướng này ngày càng cho thấy tính thuyết phục của nó khi nghiên cứu kỹ càng, cặn kẽ những di sản tinh thần của dân tộc. Có thể thấy rằng, nếu như triết học phương Tây thường gắn liền với những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị, đạo đức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam hướng chủ yếu đến vấn đề nhân sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước. Nếu như triết học phương Tây có khuynh hướng trội là đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan (từ bản thể luận đến nhận thức luận, lô gíc học), thì triết học Việt Nam lại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan. Ở Việt Nam, vấn đề trung tâm, hàng đầu là vấn đề con người, đạo lý làm người (nhân sinh quan), sau đó các nhà tư tưởng mới đi tìm cách lý giải , đặt cơ sở cho những vấn đề trên (thế giới quan). Điều này bị qui định bởi phương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam. Tư tưởng triết học Việt Nam là sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc; nó phát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh, vũ trụ lên trình độ lý luận, song do khuynh hướng trội nêu trên nên nó thiếu tính hệ thống chặt chẽ và thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyết được du nhập từ bên ngoài nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước. Cũng chính vì khuynh hướng trội nêu trên mà vấn đề cơ bản của triết học, tức vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong triết học Việt Nam khá mờ nhạt, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không trải ra trên khắp mọi vấn đề, nhưng nhìn chung, khuynh hướng duy tâm tôn giáo có vẻ nổi trội hơn khuynh hướng duy vật vô thần. Khi nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam, không thể không kể đến những tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Lê Quý Đôn... Họ giống như những ngôi sao sáng trên bầu trời triết học nước nhà. Những tư tưởng của họ đã tạo nên tiền đề vững chắc cho nền triết học Việt Nam. Trong số đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem như cây đại thụ tư tưởng tỏa bóng mát cho triết học Việt Nam đâm chồi và phát triển. Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân đã nhận định “Trên trăm năm về trước, dưới trăm năm về sau không ai hơn được tiên sinh... khắp thiên hạ từ quân vương đến bậc hiền nhân kể cũng nhiều lắm. Nhưng đều vinh hiển lúc sống, chết đi là hết. Duy tiên sinh truyền đến nay 7, 8 đời rồi, mà sĩ thứ các nơi càng chiêm ngưỡng như núi Thái Sơn, sao Bắc đẩu, nghìn năm như một ngày vậy”. Không chỉ 7, 8 đời mà cho đến nay đã gần năm thế kỷ trôi qua những tư tưởng của ông vẫn còn chứa đựng nhiều giá trị cho các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, xưa nay khi nói về ông người ta thường bàn nhiều đến giá trị văn học nghệ thuật và triết lý nhân sinh. Trong khi đằng sau những tư tưởng ấy là cả một thế giới quan triết học và những tư tưởng biện chứng tiến bộ. Đó là tư tưởng triết học duy vật về vũ trụ, về mối liên hệ lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và sự vận động biến đổi của tự nhiên, xã hội và tư duy được diễn đạt thông qua những cặp phạm trù biện chứng. Khác với triết học Phương Tây chỉ chuyên sâu vào giải thích thế giới. Triết học Việt Nam nói chung, triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng là sự đan xen những tư tưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và được thể hiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ. Đây là nét đặc sắc của nền triết học Việt Nam mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển nó. Chính vì những lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tư tưởng triết học là tinh hoa của tư tưởng nhân loại Nghiên cứu tưtưởng triết học cho ta cái nhìn sâu sắc về sự hình thành phát triển của thếgiới nói chung và của xã hội loài người nói riêng Song ở mỗi giai đoạn, mỗithời đại và mỗi dân tộc có cách xây dựng và nhìn nhận khác nhau về triếthọc

Ở Việt Nam khi bàn luận về lịch sử tư tưởng triết học có nhiều ý kiếnkhác nhau, theo hai khuynh hướng chủ yếu: Thứ nhất, nhiều người cho rằngViệt Nam không có triết học, Việt Nam chỉ bắt chước, Khổng - Mạnh nóithế nào thì ta nói lại thế, thậm chí nói không đầy đủ, chỉ một phần nào đóthôi Họ cho rằng giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam không có khả năngsáng tạo một hệ tư tưởng xứng đáng với nhân dân vĩ đại Tóm lại, khuynhhướng này khẳng định: Không có sáng tạo chỉ vay mượn, chỉ có áp dụng,chỉ có thích nghi, đó là tư tưởng Đại Việt Tiêu biểu cho khuynh hướng này

là nhà nghiên cứu Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quốc Vượng…

Khuynh hướng thứ hai, nhiều người khẳng định Việt Nam có triếthọc, nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam thực chất là nghiên cứu lịch sửtriết học Việt Nam Đại diện cho khuynh hướng quan niệm này là Giáo sư

Vũ Khiêu, Giáo sư Lê Hữu Tầng… Khuynh hướng này ngày càng chothấy tính thuyết phục của nó khi nghiên cứu kỹ càng, cặn kẽ những di sảntinh thần của dân tộc

Có thể thấy rằng, nếu như triết học phương Tây thường gắn liền vớinhững thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, triết học Ấn

Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị, đạođức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đấtnước Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam hướng chủ yếu đến vấn

Trang 2

đề nhân sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước Nếu nhưtriết học phương Tây có khuynh hướng trội là đi từ thế giới quan đến nhânsinh quan (từ bản thể luận đến nhận thức luận, lô gíc học), thì triết học ViệtNam lại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan ỞViệt Nam, vấn đề trung tâm, hàng đầu là vấn đề con người, đạo lý làmngười (nhân sinh quan), sau đó các nhà tư tưởng mới đi tìm cách lý giải , đặt

cơ sở cho những vấn đề trên (thế giới quan) Điều này bị qui định bởiphương thức sản xuất châu Á ở Việt Nam Tư tưởng triết học Việt Nam là

sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc;

nó phát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh, vũ trụ lên trình

độ lý luận, song do khuynh hướng trội nêu trên nên nó thiếu tính hệ thốngchặt chẽ và thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyếtđược du nhập từ bên ngoài nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước.Cũng chính vì khuynh hướng trội nêu trên mà vấn đề cơ bản của triết học,tức vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong triết học Việt Nam khá mờnhạt, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không trải

ra trên khắp mọi vấn đề, nhưng nhìn chung, khuynh hướng duy tâm tôn giáo

có vẻ nổi trội hơn khuynh hướng duy vật vô thần

Khi nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam, không thể không kể đếnnhững tên tuổi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, LêQuý Đôn Họ giống như những ngôi sao sáng trên bầu trời triết học nướcnhà Những tư tưởng của họ đã tạo nên tiền đề vững chắc cho nền triết họcViệt Nam Trong số đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem như cây đại thụ tưtưởng tỏa bóng mát cho triết học Việt Nam đâm chồi và phát triển Ôn ĐìnhHầu Vũ Khâm Lân đã nhận định “Trên trăm năm về trước, dưới trăm năm

về sau không ai hơn được tiên sinh khắp thiên hạ từ quân vương đến bậchiền nhân kể cũng nhiều lắm Nhưng đều vinh hiển lúc sống, chết đi là hết.Duy tiên sinh truyền đến nay 7, 8 đời rồi, mà sĩ thứ các nơi càng chiêm

Trang 3

ngưỡng như núi Thái Sơn, sao Bắc đẩu, nghìn năm như một ngày vậy”.Không chỉ 7, 8 đời mà cho đến nay đã gần năm thế kỷ trôi qua những tưtưởng của ông vẫn còn chứa đựng nhiều giá trị cho các thế hệ mai sau

Tuy nhiên, xưa nay khi nói về ông người ta thường bàn nhiều đến giátrị văn học nghệ thuật và triết lý nhân sinh Trong khi đằng sau những tưtưởng ấy là cả một thế giới quan triết học và những tư tưởng biện chứng tiến

bộ Đó là tư tưởng triết học duy vật về vũ trụ, về mối liên hệ lẫn nhau giữacác sự vật, hiện tượng và sự vận động biến đổi của tự nhiên, xã hội và tưduy được diễn đạt thông qua những cặp phạm trù biện chứng Khác với triếthọc Phương Tây chỉ chuyên sâu vào giải thích thế giới Triết học Việt Namnói chung, triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng là sự đan xen những

tư tưởng triết học sâu sắc với những tư tưởng về nhân tình thế thái và đượcthể hiện một cách độc đáo thông qua các tác phẩm văn thơ Đây là nét đặcsắc của nền triết học Việt Nam mà chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu

hệ con người Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp trí thức Trong lịch sử đã từng

có những công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của ông một cáchcông phu và sâu sắc Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu vềNguyễn Bỉnh khiêm đều là sự tập hợp những tác phẩm thơ, văn hoặc sấm

mà ông đã viết và phân tích chúng dưới góc độ văn học nghệ thuật hoặc tưtưởng nhân sinh Còn những công trình nghiên cứu mang tính triết học thì íthơn Cho đến nay có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về NguyễnBỉnh Khiêm như sau:

Trang 4

Nhóm công trình nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp thơ văn củaNguyễn Bỉnh Khiêm:

- Cuốn sách Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký do Vũ

Khâm Lân biên soạn năm 1743 Cuốn sách được sưu tập với sự giúp đỡ củangười cháu trực hệ bảy đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nguyễn Thì Đương.Tuy đây là cuốn sách sớm nhất nhưng cũng được ghi chép sau khi ông mất

190 năm

- Đến thế kỷ XIX, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú

cũng ghi chép được một số tài liệu ít ỏi về Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng phầnlớn là dựa vào phả ký của Vũ Khâm Lân Hai công trình này giống như chiếcchìa khóa mở ra kho tàng tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, là nguồn tư liệu quýgiá cho các công trình nghiên cứu sau này

- Năm 1943, cuốn Tuyết Giang phu tử của Chu Thiên Hoàng Minh

Giám ra đời, đây là một công trình khá đặc sắc và công phu quy tụ những nétchính về thời đại và cuộc đời của danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm Cuốn sách

đã trở thành tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà khoa học sau này

Từ sau Cách mạng Tháng 8 đến nay, những công trình nghiên cứu về

Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện nhiều hơn, tiêu biểu như các tác phẩm: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm của Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Hồ Như Sơn,

Nxb Văn học, năm 1983 Cuốn sách này tập trung 161 bài thơ Nôm và gần

100 bài thơ văn Việt Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tập sách có lời giớithiệu chung của tác giả với những lời nhận xét thuyết phục về nội dung tưtưởng của thơ văn Trạng Trình

Sau hội thảo khoa học kỷ niệm 400 năm ngày mất Nguyễn Bỉnh

Khiêm tại Hải Phòng (1985) có thêm cuốn “Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, kỷ yếu hội thảo” với tập hợp nhiều bài viết sâu sắc về Nguyễn Bỉnh

Khiêm dưới nhiều góc độ khác nhau của các nhà khoa học

Năm 1991, Bộ Văn hóa thông tin và truyền thông cùng viện khoa học

xã hội công bố cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh nhân văn hóa” do

Trang 5

Nguyễn Huệ Chi chủ biên Đây cũng là công trình được đánh giá rất cao, lànguồn tư liệu vô cùng quý giá cho các công trình nghiên cứu sau này Tác

phẩm “Tâm sự Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân quốc ngữ thi tập”, Nguyễn Khuê, nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh (1997); “Trạng trình sấm và ký”, Nguyên Nghiệp, nhà xuất bản văn hóa thông tin (2004); “Tuyết giang phu tử”, Trần Tuấn Tiến, nhà xuất bản sân khấu (2011).

Gần đây nhất là công trình nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia

và tác phẩm của Trần Thị Băng Thanh và Vũ Thanh Huyền tuyển chọn và giớithiệu Công trình tập trung những bài viết từ trước đến nay của nhiều nhà khoahọc lớn về Nguyễn Bỉnh Khiêm được tập hợp một cách hệ thống và khoa học,

gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng phương diện: Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động; Triết nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm tư tưởng và nhân cách; Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ; Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa và nay Những bài viết này bao gồm những lời bình thú

vị và sâu sắc về con người, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nhóm công trình nghiên cứu về triết học có một số công trình nghiên

cứu như sau: Trước hết là cuốn sách Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý của

Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà xuất bản năm 1957 Cuốn sách là cái nhìnmới về tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Các tác giả đã chỉ ra được một sốvấn đề mang tính triết học trong tư tưởng của Trạng Trình mà đến nay nóvẫn mang nhiều giá trị Năm 1992 trung tâm Hán Nôm TP Hồ Chí Minh

xuất bản cuốn sách “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử triết học Việt Nam”

do Phan Văn Các biên soạn cũng là một cách nhìn mang tính triết học về tư

tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm; Trong các cuốn sách về Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1 của Nguyễn Tài Thư xuất bản năm 1993 và Lịch sử tư tưởng Việt Nam (văn tuyển) của Trần Nguyên Việt xuất bản năm 2004, đã đề cập

đến những tư tưởng triết học Việt Nam trong đó có tư tưởng của NguyễnBỉnh Khiêm

Trang 6

Ngoài ra còn nhiều bài viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính triết lý,

triết học của Trần Nguyên Việt như: Tư tưởng về triết học tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vấn đề con người trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và các bài viết của PGS TS Nguyễn Tài Thư về yếu tố Kinh dịch,

lý học trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm… được đăng trên các tạp chítriết học đáng để chúng ta đọc và suy ngẫm

Những công trình nghiên cứu kể trên đã phần nhiều nói đến con ngườichính trị, con người tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, góp phần phân tích lýgiải làm sâu sắc hơn tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm để những tư tưởngcủa ông ngày càng gần chúng ta hơn Tuy nhiên, tư tưởng của Nguyễn BỉnhKhiêm cũng giống cuộc đời, con người ông vẫn là một ẩn số mà chúng tacần nghiên cứu tìm tòi nhiều hơn nữa để đạt đến giá trị đích thực Vì vậy

việc nghiên cứu đề tài “Tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm” sẽ góp phần nào đó trong việc nâng cao hiểu biết về

tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn làm rõ những tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêmthông qua một số tác phẩm của ông và đánh giá những giá trị và hạn chế chủyếu của những tư tưởng đó

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn trình bày điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam thế

kỷ XVI, môi trường ra đời của tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm

- Giới thiệu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đặc biệtgiới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu của ông

- Phân tích nội dung tư tưởng biện chứng trong các tác phẩm đó vàđánh giá những giá trị và hạn chế chủ yếu của nó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 7

Đề tài hướng vào việc nghiên cứu những tư tưởng biện chứng củaNguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số tác phẩm của ông.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Những tác phẩm cũng như tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm khá đồ

sộ Do những giới hạn nhất định mà luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vinhững tư tưởng biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua một số sáng

tác chủ yếu nhất của ông (Bạch Vân am thi tập, Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Sấm Trạng Trình và một số bài văn bia).

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử

Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứngnhư logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh, kháiquát hóa, hệ thống nhằm sắp xếp, hệ thống, luận giải, phân tích một cáchđúng đắn và khoa học các tư tưởng biện chứng trong một số tác phẩm củaNguyễn Bỉnh Khiêm

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn không hướng vào nghiên cứu những giá trị mang tính nghệthuật, tính hiện thực hoặc hơn nữa là giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc trong

tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm mà hướng vào nghiên cứu tư tưởng biệnchứng trong một số tác phẩm của ông, từ đó góp thêm cách nhìn sâu sắc vềnền triết học Việt Nam

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người yêumến Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nói

Trang 8

chung và các sinh viên ngành khoa học xã hội, đặc biệt là sinh viên ngànhtriết học.

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm 2 chương, 6 tiết

Trang 9

NỘI DUNG

Chương 1

ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI TƯ TƯỞNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM

1.1 Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, tinh thần Việt Nam thế kỷ XVI

1.1.1 Điều kiện chính trị

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) được ví như cây đại thụ của thế kỷXVI, là một trong những nhà trí thức có uy tín nhất thế kỷ Ông sống gầntrọn cuộc đời với những thăng trầm biến đổi của thế kỷ này Vì vậy tưtưởng, thái độ của ông đều mang dấu ấn sâu đậm của thời cuộc Do đó muốnhiểu một cách sâu sắc những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng takhông thể không tìm hiểu đôi nét về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội ViệtNam đương thời

Nếu như thời Lê Thánh Tông là thời kì hoàng kim của nhà Lê thì cuốithế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, nhà Lê bắt đầu bước vào thời kì suy thoái, kéotheo sự rối ren của tình hình kinh tế, chính trị xã hội với sự tranh chấp quyềnlực của các thế lực phong kiến khác nhau Trong vòng 24 năm (1503 - 1527)nhà Lê thay đổi đến sáu ông vua, có người (Quang Trị) ở ngôi đúng được 3ngày Trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị, mâu thuẫn ngày càng trầmtrọng, các cuộc chiến tranh tranh giành quyền lực và địa vị diễn ra liên miên.Bản thân những người đứng đầu vương triều - các hoàng đế nhà Lê lại đều

là những kẻ bất tài vô hạnh Xã hội Việt Nam đương thời vô cùng rối ren vàphức tạp “Lê mạt, Trịnh - Nguyễn phân tranh” Chính điều này đã có sự tácđộng sâu sắc đến quá trình nhận thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đặc biệt,giai đoạn ông bắt đầu trưởng thành và miệt mài kinh sử Nho giáo với nhữngđạo lí vua tôi tốt đẹp và mong ước:

“Hà phần phụ cập cộng tòng si (sư)Khí nghiệp tương tương viễn đại kỳ”

Trang 10

(Ký hữu nhân)

Dịch:

“Cắp cặp sách cùng theo học ở đất Hà PhầnHẹn ước con đường công danh sự nghiệp xa rộng”

(Gửi bạn)

Song đây lại chính là thời kì trị vì của hai ông vua thối nát nhất tronglịch sử phong kiến nước ta mà các sử gia sau này gọi là nỗi kinh hoàng củalịch sử Việt Nam, đó là Lê Uy Mục và Lê Tương Dực Và cũng chính sự vôdụng của hai ông vua này dẫn đến hàng loạt những rối ren binh biến sau đócủa đất nước

Lê Uy Mục được Thái Hậu Nguyễn Thị và hoạn quan Nguyễn Nhưđưa lên làm vua sau khi Lê Thuần (Túc tôn) qua đời không có con nối ngôi.Thời gian này, triều chính hoàn toàn lọt vào tay bọn ngoại thích, đồng bọncủa Thái Hậu Nguyễn Thị và Hoàng Hậu Trần Thị kết cấu với bọn hoạnquan Chúng chuyên quyền, lũng đoạn, tìm mọi cách hãm hại những ngườikhông về phe chúng Ngay cả bà nội, chú ruột và các anh em của Lê UyMục cũng bị sát hại Mặt khác sau khi lên ngôi, Lê Uy Mục ăn chơi sa đọa,chỉ chú trọng đến rượi chè, đàn hát, mặc việc triều chính, không đúng ý làsẵn sàng chém giết Trước tình hình đó Kinh Vương Kiến là con út của vuaThánh Tông sợ hãi phải trốn biệt tích Giản tu công Lê Oanh là anh em thúc

bá với Lê Uy Mục cũng bị chúng nhốt lại Chúng còn sai Lê Uy Mục đuổitất cả tôn thất và công thần vào Thanh Hóa cho chúng tiện bề thao túng triềuchính

Trước sự bê bối của triều chính và sự ngu dốt, độc ác của Lê Uy Mục,cuối năm 1509 Nguyễn Văn Lang cùng những quý tộc bị trục xuất khỏi triềuđình nổi quân ở Thanh Hóa và rước Lê Oanh mới trốn ngục lên làm minhchủ Sau đó tiến ra Đông đô bắt giết Lê Uy Mục lập Lê Oanh lên làm vuatức Tương Dực Đế (1509 - 1516) Tuy nhiên, Lê Tương Dực cũng khônghơn gì Uy Mục, giết hại anh em, hoang dâm vô độ Thậm chí trong thời Lê

Trang 11

Tương Dực, còn có những việc xa xỉ chưa từng có: “Lê Tương Dực bắt VũNhư Tô đốc thúc nhân dân phải xây một ngôi điện một trăm nóc và xây mộtngôi đài gọi là Cửu Trùng Đài Để xây dựng được công trình này nhân dânphục dịch hàng mấy năm không xong Theo sử sách cũ: việc xây dựng điệntrăm nóc và Cửu Trùng Đài đã làm chết rất nhiều dân Không những thếnhân dân còn phải đóng rất nhiều thuyền đẹp cho vua để nhà vua bắt những

mỹ nữ chèo thuyền cho hắn đi dong chơi trên Hồ Tây” [15, 11] Ngoài rachúng còn cho xây dựng nhiều công trình khác như chùa, điện và bao quanhbởi hàng ngàn trượng tường càng làm cho nhân dân khốn khổ mọi bề Một số lớn của cải và nhân công chỉ để phục dịch cho sự xa xỉ của vua chúaphong kiến… Tất cả những điều này làm cho triều chính nhiễu nhương,nhân dân căm hận, đất nước suy yếu về mọi mặt Sự xa xỉ vô lối này đãđược Nguyễn Bỉnh Khiêm phác họa:

“Thói tà ích hoang dâm lưu lêSang thì quen thói kiêu căng,Giầu thì xa xỉ há rằng một ai

Sửa sang những tường dài nhà rộng,Nào kẻ hoa trạm bóng vẽ vời

Đường đem chát chõa đồ xôiSáp đem làm củi đủ mùi xa hoa

Ăn uống phí tiêu pha lại quá,Nào khinh cừu, phi mã rủi rong”

(Bài văn bia quán Trung Tân)

Có lẽ chính do lối trị vì thối nát của những ông “vua quỷ”, “vua lợn”của triều Lê mà Nguyễn Bỉnh Khiêm mặc dù đã mang trong mình “một bồkinh sách” và tấm lòng “ưu đời ái quốc” sâu sắc, nhưng ông không ra thi thố

và làm quan mà chấp nhận ở quê nhà dạy học, trong những áng thơ của ôngthể hiện nỗi niềm mơ ước về một thời đại “Ước một tôi hiền chúa thánhminh” nhưng điều đó thật khó trước bối cảnh thời đại bấy giờ

Trang 12

Cho đến năm 1558, trải qua nhiều lần bạo loạn, lật đổ, truất ngôi, giếtchóc…, đất nước Việt Nam rơi vào cuộc nội chiến giữa Nam triều tức Lê -Trịnh và Bắc triều tức nhà Mạc kéo dài hơn năm thập kỷ Trước cảnh triềuchính đất nước suy tàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau xót:

“Thái hòa vũ trụ bất Ngu, Chu

Hỗ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù

Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu,Uyên ngư tùng tước vị thùy khu

Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,Hậu hoạn tu phòng nhập thất khu

Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước,Túy ngôn trạch bạn nhậm nhàn du”

Chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến diễn ra liên miên, đâu đâucũng cảnh “núi xương sông máu thảm đầy nơi”, đất nước chia lìa, tan tác.Nguyễn Bỉnh Khiêm càng đau đời bao nhiêu chứng tỏ ông càng yêu đời bấynhiêu, thực tại đau thương của đất nước chính là chất xúc tác cho những tưtưởng nhân nghĩa mang tính biện chứng của ông

Trang 13

Bọn quan lại phong kiến tìm mọi cách bóc lột nhân dân, chiếm đoạtruộng đất của nông dân, làm cho đời sống nhân dân ngày càng khốn đốn:

“Cư ốc triết vi tânCanh ngưu đồ nhi thực

Nhượng đoạt phi kỉ hóa,Hiếp dụ phi kỉ sắc”

(Thương loạn)

Dịch:

“Nhà ở đem bẻ làm củiTrâu cày đem mổ thịt ăn

Cướp đoạt tài sản không phải là của mìnhHiếp dỗ người không phải là vợ mình”

Chính vì vậy phong trào đấu tranh của các tầng lớp nông dân diễn rakhắp nơi Thợ thủ công và nhà buôn nhỏ cũng bị ảnh hưởng nhiều vì chínhsách chiếm đoạt đó Những người thợ thủ công bị bắt làm công tượng,không còn được làm công việc của mình mà phải phục dịch cho bọn quanlại Còn lại những người thợ thủ công không bị bắt đi làm công tượng thìquay ra làm ruộng nhưng “đồng ruộng chỉ còn mạ khô”, mà thuế khóa lạinặng nề Những người buôn bán không thể kinh doanh vì nhân dân nghèođói, không đủ tiền để trao đổi mua bán Đồng thời việc buôn bán lớn tậptrung chủ yếu vào tay bọn quan lại có quyền lực Triều chính bê tha, giaicấp thống trị đua nhau tranh giành quyền lực, xung đột diễn ra liên miên,mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độ phong kiến ngày càng trở nên gay gắt.Dưới ách thống trị thối nát ấy và sự bóc lột cùng kiệt của bọn vua quanphong kiến, phong trào nông dân nhanh chóng lan ra khắp nơi Chiến tranhgiữa các tập đoàn phong kiến, đấu tranh của nhân dân chống phong kiếnthống trị, những tranh đoạt, chiếm đoạt, xung đột thường xuyên làm xã hộirối loạn Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn mà chua chát:

“Chiến tranh hỗ tương tầm

Trang 14

“Giáo và mộc tua tủa bay ra trào nước mắtNhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toànKhốn đốn dắt dìu nhau, thở than không có đất”

(Cảm hứng, bài 4)

Trước cảnh tình đất nước Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn đau đớn, xót xa.Ông nhìn thấy hai mâu thuẫn nổi cộm trong xã hội đương thời là mâu thuẫngiữa bọn thống trị phong kiến với nhau và mâu thuẫn giữa chúng với nhândân đang bị bóc lột, ông cũng thấy rõ rằng những mâu thuẫn đó không dễdàng giải quyết được Vì vậy, xuyên suốt những áng thơ văn của ông chấtchứa nỗi niềm đau đáu với nước với dân và sự khinh rẻ lũ vua quan ngốcnghếch, hung tàn, sự chán ghét chiến tranh đến cùng cực và sự thương cảmsâu sắc trước nhân dân vô tội Dường như bất mãn trước thời cuộc tươngtàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhất quyết không ra làm quan mà chọn cuộc sống

“bên đầm say hát nhởn nhơ chơi” Nhưng thực ra cái nhởn nhơ đó chỉ là cái

vỏ bọc bên ngoài bởi trong sâu thẳm ông vẫn chất chứa một nỗi niềm ưu dân

ái quốc Khi chưa thể lao ra mà giúp đời, giúp người, ông đứng sau để quansát, để cảm thông, chiêm nghiệm rồi khái quát lên thành những tư tưởng,quy luật của cuộc sống Chính việc tận mắt chứng kiến sự xoay vần của xãhội, sự thay đổi thoán đoạt nhanh chóng của các triều đại, nỗi khổ đau bi đátcủa nhân dân trước nạn binh đao đã tác động không nhỏ tạo nên những tư

Trang 15

tưởng triết học biện chứng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bởi thực tiễn là cơ sở,động lực, là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức Chính thực tiễn xã hộiđương thời đã tác động đến những tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm vànhững tư tưởng đó được ông thể hiện qua những áng văn thơ sâu sắc.

1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Cùng với sự bất ổn của tình hình chính trị, đời sống kinh tế của ngườidân vô cùng khốn đốn, nền sản suất nông nghiệp bị giảm sút nhiều Tầng lớpvua quan phong kiến không chăm lo đến sự phát triển nông nghiệp như thờivua Thái Tổ, Thái Tông Đê điều không được quan tâm, tu sửa, đất đai hoặcbọn quan lại chiếm đoạt phục vụ cho mục đích riêng hoặc bị bỏ hoang Ngườinông dân không có đất cày cấy “khốn đốn dìu dắt nhau, thở than không cóđất” [31, 89], còn nếu canh tác được chút ít thì thuế má các loại quá nặng nề.Nạn đói kém, thất bát, mất mùa triền miên, nền nông nghiệp nhìn chung làsuy kém, cảnh chết đói bần cùng xảy ra khắp nơi:

“Đồng ruộng chỉ còn mạ khô,Kho đụn không hạt thóc thừaVất vả nghèo khổ, người nông phu than vãnĐói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc”

(Tăng thử)

Hình ảnh “đói và gầy trên ruộng đồng kêu khóc” là hình ảnh có sức tốcáo mãnh liệt hậu quả của những cuộc chém giết lẫn nhau, của sự bóc lộtdân chúng đến tận cùng trong giai đoạn này đồng thời cũng là điều ám ảnhlớn với bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông đã tái hiện một cách sâu sắc tìnhcảnh đất nước thế kỷ XVI vào trong thơ, văn của mình, qua đó thể hiện rõthế giới quan và nhân sinh quan của tác giả

Về tình hình công thương có một số điểm đặc biệt làm cho tình hìnhcông thương không đến nỗi suy yếu như nông nghiệp do sự ảnh hưởng củaviệc buôn bán với người Phương Tây và nhu cầu của xã hội

Trang 16

Triều Lê đã phát triển nghề khai mỏ để đúc đồng, đúc tiền, một phầnphục vụ cho cuộc sống xa xỉ của vua chúa, mặt khác để lưu thông buônbán.Việc buôn bán với nước ngoài trong thời gian này đã đem đến một sốkhởi sắc cho nền thương nghiệp Tiền tệ lưu thông được dễ dàng, những đôthị cũng mọc lên và hình thành một số phú thương mới Tuy nhiên nhữngmối lợi lớn về ngoại thương là do nhà nước nắm giữ, mặt khác những mạibản Trung Quốc và Nhật Bản đóng vai trò chủ đạo trong buoon bán với bênngoài, còn thương nhân Việt Nam chỉ đóng vai trò là trung gian bậc dưới, đểmua hàng của nhân dân sản xuất ra mà thôi Tầng lớp phú thương này chưa

có một tác dụng gì đáng kể trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên Nó không trởthành một lực lượng mới có tính chất cách mạng như ở các nước tư bản thờibấy giờ, tuy thế họ cũng đóng vai trò nhất định trong quá trình lưu thông,buôn bán Mặc dù có những thay đổi nhất định, nhưng sự phát triển cũngkhông đáng là bao bởi còn chịu sự chèn ép của các thế lực phong kiến vớithuế má nặng nề đã làm mất hứng thú của sự sản xuất, chế độ thuế thổ sảnlại càng phá hoại lực lượng sản suất Đời sống nhân dân khổ cực trăm bề

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú viết rằng: “thuế thổ

sản trung thu hà lạm khiến người ta cùng kiệt không nộp nổi, khốn đốn đếnphải bỏ nghề Có người vì thuế sơn mà phải chặt cây sơn, có người vì thuếlụa mà phải hủy khung cửi, thúc thuế gỗ mà người ta bỏ rìu búa, thu thuế cá

mà người ta bỏ lưới chài, thu thuế mật thì bỏ mía, thu thuế bông chè thìvườn tược bỏ hoang”[15, 14] Trong giai đoạn này, chính sự trao đổi buônbán đã tạo nên một diện mạo mới cho xã hội, đồng tiền đã mang một sứcmạnh vô hình, nó làm đảo lộn mọi trật tự xã hội Sự ảnh hưởng của đồngtiền đã làm thay đổi nhận thức, đạo đức của con người, những tôn ti trật tự,cương thường đạo lí dần mai một, thay vào đó là lối sống vụ lợi chạy theođồng tiền:

“Giàu sang người trọng khó ai nhìnMấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn

Trang 17

Thuở khó dẫu chào, chào cũng lặngKhi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen.

Quen hiềm dan díu điều bè bạn,Lặng kẻo lân la nỗi bạ menĐạo nọ, nghĩa này trăm tiếng bướmNghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền”

(Thơ Nôm, bài 5)

Hay:

“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười

Có của thời hơn hết mọi nhờiTrước đến tay không nào thốt hỏiSau vào nặng gánh lại vui cười”

(Thơ Nôm, bài 80)

“Còn bạc, còn tiền còn đệ tửHết cơm hết gạo, hết ông tôi”

(Thơ Nôm, bài 77)

Trước tình cảnh chiến tranh loạn lạc liên miên, đời sống vất vả cựcnhọc, sống chết lúc nào không hay dường như con người ta trở nên ích kỉhơn, vụ lợi hơn Đây cũng chính là kết quả của một xã hội mà triều chínhđảo điên, chiến tranh xâu xé, tranh giành quyền lực lẫn nhau Nền kinh tế xãhội đương thời đã tác động và chi phối sâu sắc cục diện chính trị của đấtnước C Mác và Ph Ănghen từng khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảngcộng sản: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội (cơcấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế sinh ra) là hai yếu tố cấu thành cơ sởlịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy” [28, 11] Chính nền kinh

tế trì trệ đương thời là cơ sở hình thành những tư tưởng triết học Những tưtưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không nằm ngoài quy luật đó, nó chịu ảnhhưởng sâu sắc của tình hình kinh tế xã hội của thế kỷ XVI đầy biến động

Trang 18

Trên cơ sở tình hình chính trị - xã hội rối ren và phức tạp của thế kỷXVI, ý thức hệ, tư tưởng của thời đại cũng có sự biến chuyển mạnh mẽ.Quyền lợi, địa vị; sức mạnh của đồng tiền; chiến tranh tương hỗ tương tàn,chém giết, tàn khốc, vô nhân đạo… tất cả những cái đó đã phá vỡ cươngthường đạo lí Nho giáo mà thế kỷ XV - thế kỷ toàn thịnh của phong kiến tậptrung đã cố gắng xây dựng Những người còn giữ được kỉ cương phép tắc,đạo vua tôi còn rất ít Nhìn chung, đại bộ phận đã xu thời, a phụ những kẻ cóthế lực nhất để thời mưu quyền lợi, đục khoét nhân dân Cùng với thời thếđảo điên, thế lực đồng tiền cũng góp phần làm giảm giá trị thiêng liêng củađạo đức, lễ nghĩa và trật tự xã hội Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khái quát:

“Gió mưa gặp lúc u ám tối tămCương thường ngày một suy sụp lỏng lẻo

Lễ nghĩa than ôi ngang trái,

Mũ lọng theo đó đảo ngượcThờ vua tôi chẳng ra tôi,Thờ cha con chẳng ra con”

Trang 19

Trong bối cảnh suy đồi, suy thoái đến mức cùng cực của nhà Lê, khắpnơi dân tình ai oán, sự ra đời của nhà Mạc trên cơ sở thoán đoạt nhà Lê, dùkhông danh chính ngôn thuận nhưng với cái nhìn khách quan, so với sự suytàn, thối nát của những “vua lợn”, “vua quỷ” đương thời và lũ lâu la nịnhthần, triều Mạc là một vương triều mới, có nhiều mặt tiến bộ, nhất là tronggiai đoạn trị vì của Mạc Đăng Doanh và Mạc Đăng Dung Hơn nữa sự ra đờicủa nhà Mạc cũng xuất phát từ chính cái nền tảng đổ nát của nhà Lê, đúngnhư quy luật thịnh suy mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nhắc đến trongnhiều tác phẩm của mình Sau những biến động, hỗn loạn của triều Lê, vàonhững năm 30 của thế kỷ XVI, triều Mạc đã tạo ra được một thời kì ổn định

và phát triển của xã hội Ngay sử chính thống của triều Lê trên lập trườngđối địch với triều Mạc cũng phải ghi nhận những thành quả mà vương triềuMạc tạo ra từ năm 1532: “Từ đấy, người buôn bán và người đi đường đều đitay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem

về, chỉ mỗi tháng kiểm soát một lần, hoặc có sinh đẻ cũng không thể biết làvật của mình Trong khoảng vài năm đường xá không nhặt của rơi, cổngngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi tạm yên” [20, 126] Trongbối cảnh xã hội đương thời, thậm chí ngay cả trong xã hội hiện đại, nhà Mạc

có thể làm được một điều đáng ghi nhận và trân trọng Bởi với mỗi vươngtriều, cái cốt yếu là tạo ra và đảm bảo cho nhân dân có cuộc sống ấm no,thanh bình

Trong các chính sách đối nội, nhà Mạc có nhiều thay đổi có ý nghĩatiến bộ Năm 1553, nhà Mạc ban hành chính sách mới quy đinh: ruộng quan

và ruộng chùa của các làng xã, ngoài phần cấp cho binh sĩ, “còn bao nhiêuruộng sẽ theo số người trong xã mà chia đồng đều” [10, 280] Đây là chínhsách rất tiến bộ đặc biệt là so với chế độ quân điền của nhà Lê, nó tôn trọngtruyền thống cộng đồng làng xã hơn và có lợi cho dân chúng hơn Các hoạtđộng công thương nghiệp cũng có phần khởi sắc, nhiều chính sách thôngthoáng, thương nhân được đi lại buôn bán thuận lợi, tiền đúc nhiều, chợ mở

Trang 20

nhiều nhất là các thị trấn ở miền giáp ranh Nhiều ngành nghề truyền thốngđược khôi phục, nhất là nghề gốm sứ phát triển, lò gồm được mở nhiều đápứng nhu cầu trong nước và còn phục vụ cho việc giao lưu buôn bán vớinước ngoài

Triều Mạc cũng đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực văn hóa Tuy tronghoàn cảnh đất nước khó khăn, chiến tranh liên miên, nhưng triều đình vẫn

mở đều các kì thi hội Trong hơn 60 năm cầm quyền (1527 - 1592), triều

Mạc, theo Đại Việt lục triều đăng khoa lục, đã mở 22 kỳ thi hội, lấy đỗ 483

tiến sĩ (100 năm trị vì của triều Lê (1428 - 1527) mở được 31 kỳ thi hội, lấyđược 647 tiến sĩ) Điều đó chứng tỏ sự quan tâm và chủ trương tiến bộ cho

sự phát triển của đất nước Có thể nói sau một thời gian ổn định lại tình hìnhnhà Mạc đã có những thành tựu đáng kể góp phần làm cho quốc thái dân an.Những chính sách tiến bộ của nhà Mạc đã có tác động sâu sắc đến nhận thứccủa các Nho sĩ bấy giờ trong đó có Nguyễn Bỉnh Khiêm Vì vậy, năm 1535,khi đã 44 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định đi thi, ông đỗ đầu các kì thi

và trở thành Trạng nguyên ở tuổi ngoài 40 Sau khi đỗ Trạng nguyên, ônghăng hái ra làm quan với nhà Mạc với mong muốn đem hết khả năng trí tuệcủa mình để góp phần xây dựng một đất nước đẹp giàu, thỏa ước nguyệnxây dựng một xã hội “thái bình thiên tử thái bình dân”

Do yêu cầu tất yếu của lịch sử cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, tìnhhình thế giới có những bước chuyển biến có ý nghĩa bản lề trong mối quan

hệ giữa phương Đông và phương Tây có ảnh hưởng to lớn đến xu thế pháttriển của các nước phương Đông Ở phương Tây, cuối thế kỷ XIV đầu thế

kỷ XV, mầm mống tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở một số nước Sau quátrình tích lũy nguyên thủy, đầu thế kỷ XVI chủ nghĩa tư bản đã ra đời ởnhững nước tiên tiến của Châu Âu, tiếp đó sang thế kỷ XVI, XVII, XVIIIchủ nghĩa tư bản lần lượt thắng lợi ở nhiều nước tạo nên một cục diện mớitrên phạm vi thế giới

Trang 21

Sau những phát kiến địa lí cuối thế kỷ XV, từ đầu đầu thế kỷ XVI, chủnghĩa tư bản phương Tây đã tràn sang phương Đông Từ thế kỷ XVI, nước tabắt đầu tiếp xúc với các thuyền buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan ngoài sự tiếp xúc về kinh tế, nhiều tư tưởng văn hóa cũng bắt đầu du nhập vàoViệt Nam.

Trong khi đó như ta đã biết từ thế kỷ XVI, chế độ phong kiến ViệtNam với cơ cấu kinh tế - xã hội, thiết chế chính trị xã hội và hệ tư tưởngNho giáo của nó đã bộc lộ sự trì trệ và bất cập so với xu thế chung của thờiđại Xã hội Việt Nam ở trạng thái cái mới chưa xuất hiện, cái cũ thì chưamất đi, mọi thứ trở nên xáo trộn, không còn cái tôn ti trật tự vốn có củaKhổng Giáo, cương thường đạo lí sụp đổ, nền kinh tế hàng hóa bắt đầumanh nha, đồng tiền trở thành nguồn sức mạnh to lớn có thể điểu khiểnđược cả xã hội Những bậc nho sĩ bấy giờ như Nguyễn Bỉnh Khiêm bất lựctrước thời cuộc đảo điên

Mặc dù có nhiều cố gắng, có nhiều tiến bộ trong buổi đầu khởinghiệp, tuy nhiên nhà Mạc cũng không tìm ra một mô hình mới cho chế độphong kiến Việt Nam Những mâu thuẫn nội tại của chế độ quân chủ theo

mô hình Nho giáo tiếp tục phát triển dẫn đến nạn chia cắt đất nước và nộichiến phong kiến kéo dài làm cho quốc gia thống nhất bị phá vỡ và đời sốngnhân dân cực khổ Thiết chế truyền thống dựa trên quan hệ cộng đồng nhà -làng - nước bị suy yếu, còn một thiết chế mới xây dựng trên cơ sở phát triểnmạnh mẽ của kinh tế hàng hóa, gắn liền độc lập dân tộc và thống nhất quốcgia lại chưa có điều kiện được hình thành

Chính những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội trên ảnh hưởng rấtsâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Sinh ra và lớn lêntrong thời thế này, ông đã chứng kiến cái hiện thực rối ren của xã hội Trongcuộc đời dài ngót một thế kỷ, ông đã trải qua bao nhiêu thay đổi, hưng vongcủa các triều đại, của xã hội Cũng như nhiều người chân chính thời đó, ôngkhông thể dùng tài năng của mình xây dựng lại kỷ cương, thời thế Con

Trang 22

đường xuất thế của ông là con đường tất yếu của những bậc sĩ phu ưu thờimẫn thế trong thời buổi nổi loạn bấy giờ Sau 8 năm làm quan, trở về vớicuộc đời thanh bạch chốn ruộng vườn, tuy nhiên đằng sau sự ẩn dật tưởngchừng như lánh đời đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn dõi theo thời cuộc, vẫn đicùng cuộc đời, thấu được những nhân tình thế thái để rồi chiêm nghiệm, đúckết và đưa lên trình độ triết học, đặc biệt ông đã khái quát thành những tưtưởng triết học biện chứng rất tiến bộ Những tư tưởng đó được thể hiện quathơ văn của ông, là sự trải lòng của một trí sĩ nhưng chứa đựng một kho tàngtri thức, gồm những quan niệm vũ trụ, nhân sinh đúng đắn, sự vận động biếnđổi của đất trời, thời thế Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân trong bài Phả kí cóviết: “Còn như tiên sinh: sẵn có tư chất thông tuệ, thêm vào đạo học thánhhiền, ví thử đắc thời để mà thi thố sở học chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình,thay đổi phong tục phù bạc thành ra lễ nghĩa văn minh Thế mà trái lại: mộtngười có đức đủ phò tá nghiệp vương lại sinh ra giữa thời bá giả, thành ra sởhọc trở nên vô dụng, thực đáng tiếc thay” [44, 634]

Nguyễn Bỉnh Khiêm không có cơ hội để cống hiến hết tài năng cho sựnghiệp phò vua giúp nước, nhưng bằng tài năng và trí tuệ uyên thâm ông đã

để lại cho đời những áng văn thơ bất hủ, những cấu sấm kí nổi tiếng và hơnnữa là hệ tư tưởng triết học biện chứng có giá trị sâu sắc Cho đến nay nhiều

tư tưởng của ông vẫn còn nguyên giá trị và đóng góp một phần to lớn vàodòng chảy lịch sử tư tưởng nước nhà

1.1.3 Điều kiện tinh thần xã hội

Trong bài Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhà Mạc,

Trần Khuê có đưa ra lời bình sắc sảo về sự có mặt của cả ba hệ tưtưởng Nho, Phật, Đạo trong thơ của Nguyễn BỉnhKhiêm: “Điều thú vị

là Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân từ cửa Khổng, ông đi ngang qua sânnhà Lão Tử, rồi dừng lại trước cửa Thiền, suy ngẫm về giáo lý và đạolý; cuối cùng ông đã trở về với ruộng đồng và lũy tre xanh của làng

Trang 23

quê Việt Nam, hay nói khác đi, ông đã trở về với dân tộc Suốt đờiông, ông đã sống như mình cần sống và đã hành động như mình cầnhành động” Xét cho cùng, đối với các nhà nho Việt Nam từ NguyễnTrãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du cho đến Nguyễn Đình Chiểuđều chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho, Phật, Lão Có điều là mức độ ảnhhưởng ít hay nhiều, đậm hay nhạt có khác nhau tùy theo quan niệmcủa từng cá nhân và thời đại.

Ngay từ thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành, Nguyễn BỉnhKhiêm nhận được sự giáo huấn trong một gia đình và môi trường Nhohọc Tinh thần Khổng giáo thấm nhuần trong ông khi ông được tiếpnhận những bài học từ danh nho Lương Đắc Bằng Và kết quả củabao năm khổ luyện từ “cửa Khổng sân Trình” là nho sĩ đã chiếm bảngvàng trong ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình Giải nguyên, Hộinguyên, Trạng nguyên không chỉ là sự thỏa chí công danh nơi ông màcòn minh chứng rằng ông đã thành đạt từ một nền giáodục của Nhogiáo

Nho giáo từ lúc thâm nhập vào Việt Nam cho đến nay đã trởthành một phần truyền thống văn hoá Việt Những tư tưởng quý báucủa Nho giáo đi vào tâm hồn, tình cảm người Việt và trở thành tưtưởng chính thống của các nhà Nho Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từngbước vào cửa Nho nên việc tiếp nhận có sáng tạo học thuyết Nho giáo

là một điều tự nhiên

Xét về bản thể luận, tư tưởng của Khổng Tử là triết lý địnhmệnh, Khổng Tử đã từng nói : “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnhtrời, sợ vương công đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân” Cái sợ đầutiên của con người khi sống trên cõi đời là “mệnh trời” Bản thânKhổng Tử cũng từng khẳng định: “Học thuyết của ta có thực hiệnđược hay không là do số mệnh, học thuyết của ta không thể thực hiệnđược cũng là do số mệnh…” Mọi việc đều do ý trời Họa hay phúc,

Trang 24

may hay rủi, vui hay buồn, giàu hay nghèo… tất cả đều do thiên mệnhtiền định Ảnh hưởng tư tưởng đó của Khổng Tử, Nguyễn BỉnhKhiêm cũng cho rằng “ông trời” là chúa tể của muôn loài Muôn loàisinh sinh hóa hóa đều do trời Trời điều hòa sự vận hành của vũ trụ.

Vũ trụ lạnh lẽo hay ấm áp, hạn hán hay lũ lụt đều do bàn tay của ôngtrời sắp đặt, san sẻ, bù đắp:

“Công nhờ trời đất ơn còn rộng,Che chở điều hòa kẻo chiếu chăn.”

(Thơ Nôm, bài 20)Ngoài ra, quan niệm về thiên mệnh của Nguyễn Bỉnh Khiêmcòn được đặt căn bản trên triết lý Kinh Dịch Dịch là triết lý “động”.Theo Dịch thì mọi vật đều biến đổi không ngừng, vận hành liên tụctheo qui luật tự nhiên như hoa nở rồi hoa tàn, ngày đi đêm lại, xuânsinh hạ trưởng, thu liễm đông tàn….Qui luật tự nhiên điều khiển chặtchẽ vũ trụ, xã hội, con người cho nên con người phải hiểu lẽ biếnđộng đó mà thuận theo tự nhiên, tùy thời mà hành xử, tránh đôi co,

tránh “ chen lấn làm chi cho nhọc nhằn?”(Thơ Nôm, bài 87), tránh bi

quan chán nản:

“Chẵn lẻ đầy vơi ấy sự thường,Thừa trừ tiêu trưởng khí âm dương…”

(Cảm tưởng khi đọc Chu dịch - Nguyễn Khuê dịch)

Xét về chính trị-xã hội, triết lý của Khổng Tử với tam cương ngũ thường đã buộc chặt con người vào gia đình và xã hội Đạo Khổng

xem gia đình là một trong ba khâu không thể thiếu của hoạt động conngười: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Đạo quân thần, phụ tử,phu phụ, huynh đệ, bằng hữu là gốc của đạo đức Nho gia Cũng nhưNguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến và nhiều nhà nho khác, Nguyễn BỉnhKhiêm luôn mang nặng trong lòng hai chữ “trung quân”, lúc nào cũngcanh cánh một điều: “Lộc nặng ơn nhờ đức thánh minh”(Thơ Nôm,

Trang 25

bài 125), lúc nào cũng khăng khăng một niềm: “Lui tới thìn cho phảiđạo trung”(Thơ Nôm, bài 119), và vì trung quân nên lúc nào cũngmuốn thực hiện lý tưởng “trị quốc, bình thiên hạ”:

“Xã tắc nguy ngập nghiêng đổ, ra sức phù trì,Tuổi già chẳng ngại, gắng gỏi ruổi rong…”

(Thơ cảm hứng-bài 5)

Các sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều đề cập tới thuyết tam cương, ngũ thường Ông đã từng khẳng định: “Tôi lúc nhỏ chịu sự

dạy dỗ của gia đình….”(Bài tựa tập thơ am Bạch Vân) cho nên khi

viết về những tình cảm gia đình, ông viết bằng một tình

cảm chân thật, giản dị và trong sáng Đạo làm con, đạo vợ chồng, tìnhanh em, nghĩa bằng hữu chẳng những là đạo đức Nho gia mà còn là truyền thống văn hoá tốt đẹp của con người Việt Nam, là bài học giáo dục cho con người ở mọi thời đại

Bên cạnh học thuyết của Khổng Tử, học thuyết tính thiện của Mạnh Tử cũng thấm sâu trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Theo Mạnh Tử, đã là con người thì ai cũng có tính thiện, tính thiện nằm sẵn trong con người Lòng thương xót đó là tiền đề của tính thiện Cái tâm là biểu hiện của tính thiện

“Ở có đức lành hơn ở dữ,Yêu nhau chăng đã một luân thường”

(Thơ Nôm, bài 77)

Nguyễn Bỉnh Khiêm thấm nhuần tư tưởng Nho giáo Do đó, dù sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, ông vẫn tin tưởng “Người ta tính vốn thiện” ; dù chứng kiến bao cảnh đau lòng đang diễn ra trước mắt, người thầy đạo cao đức trọng vẫn khám phá ra một điều “May làtrong lòng người điều thiện chưa hề mất hết”(Bài bia ký quán Trung Tân) Chỉ khi nào tính thiện bị vật dục che lấp thì tính thiện mới

Trang 26

không giữ được toàn vẹn như thuở ban đầu Lúc đó, con người sẽ làm điều trái với đạo lý Vì vậy, con người cần tu dưỡng tâm tính, tránh

“vô nhai”, cương quyết “diệt dục” và luôn “tri túc” để giữ gìn đạo đức

Bên cạnh tư tưởng Nho giáo, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm từ tư tưởng Phật giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận tự hiệu là Bạch vân cư sĩ Từ cư sĩ là ngôn ngữ nhà Phật Trong Kinh Duy Ma, cư sĩ là những người có trí tuệ lớn, tuy không xuất gia, nhưng hành đạo Bồ Tát, để cứu nhân độ thế Chính vì tinh thần Phật giáo thấm sâu vào trong tư tưởng nên ông mới tự xưng mình là cư sĩ

Và lúc về trí sĩ ông cùng với các cụ già làng “làm chùa, làm quán,

chốn chốn đều được tu sửa”(Bài bia ký quán Trung Tân).

Nhìn chung, tư tưởng Phật tuy không phải là tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng những triết lý Phật pháp cũng ảnh hưởng đến quan niệm xuất xử và nhẹ nhàng đi vào trong thơ văn của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm vận dụng linh hoạt triết lý Phật giáo và biến

nó thành quan niệm nhân sinh của riêng ông đồng thời là lời khuyên chân thành cho hậu thế về cách sống đẹp

Có thể nói hầu hết các nhà nho Việt Nam đều chịu ảnh hưởng tư tưởng của Lão- Trang Sinh bất phùng thời như Nguyễn Công Trứ; không tìm được minh quân, tuổi già sức yếu, chán ngán thế sự hay gặp chuyện bất bình trong chốn quan trường như Nguyễn Trãi,

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến….thường lui về làm bạn cùng nước biếc, non xanh, nguyệt bạc, rượu nồng, túi thơ, bàn cờ Cho nên,

tư tưởng Lão Trang tự nhiên đi vào trong thơ của các nhà nho là một

lẽ đương nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng những chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo mà tinh thần Lão - Trang cũng có mặt xuyên suốt trong thơ của ông

Trang 27

Sống trong cuộc đời đầy rẫy đua chen, con người luôn giữ cái tâm cho thanh tĩnh, gạt bỏ mọi chuyện trần tục, sống an nhiên tự tại

Đó là lúc đạt đến thuyết vô vi của Đạo giáo Có thể nói, trên con đường tìm kiếm hướng đi cho riêng mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thực hiện được tôn chỉ của Đạo Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống một quãng đời nhàn dật, từ bỏ mọi vinh sang phú quí xem nó như một giấc chiêm bao, để tìm lấy sự thanh tĩnh vô

vi của Lão Trang Ông nghĩ rằng: “Miễn là tiêu sái qua ngày tháng Lộc có bao nhiêu ăn bấy nhiêu” “Lộc” ở đây mang đầy ý nghĩa Có thể là lợi danh, cũng có thể là cái có sẵn trong tự nhiên Nghĩ thế, nên ông tìm vui trong cỏ cây, làm bạn cùng muông thú, lấy mây trắng - trăng

Thanh - bóng hoa làm nguồn cảm hứng, sống tự tại trong cái thú yên hà:

“Cày mây, cuốc nguyệt, gánh yên hà,Nào của nào chăng phải của ta?

Đêm, đợi trăng cài bóng trúc,Ngày, chờ gió thổi tin hoa…”

(Thơ Nôm, bài 17)

Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn lối sống tự do phóng khoáng,sống không bận lòng đến chuyện thế gian nhưng trái tim nhà thơ sẽnhói đau nếu “thế gian” rơi vào cảnh loạn ly Tấm lòng của NguyễnBỉnh Khiêm cũng là nỗi lòng của Lão Tử Lão Tử từng nói: “ Ta có

ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận: một là lòng từ ái, hai là tính kiệmước, ba là không dám đứng trước thiên hạ Vì từ ái nên tận lực chechở dân mà sinh ra dũng cảm; vì kiệm ước nên hóa ra sung túc, rộngrãi; vì không dám đứng trước thiên hạ nên mới được làm chủ thiên hạ

Nếu

Trang 28

không từ ái mà mong được dũng cảm; không kiệm ước mà mongđược sung túc, rộng rãi; không chịu đứng sau người mà tranh đứng

trước người, thì tất phải chết!”(Đạo Đức kinh, chương 67) Rõ ràng,

Nguyễn Bỉnh Khiêm đang ôm giữ và trân trọng ba vật báu đó Vậtbáu thứ nhất là lòng nhân từ Trong cuộc đời hay trong văn thơ, ôngmuôn dân Khi có chiến tranh, ông đau với nỗi đau chia lìa tan tác củanhân dân Thông cảm, xót xa khi thấy dân lành đói khổ, cực nhọc

trăm bề: “Lưu ly khốn đốn không đường dung thân”(Thơ cảm bài 7) Chính vì lòng từ ái mà Nguyễn Bỉnh Khiêm cương quyết dâng

hứng-sớ chém đầu bọn nịnh thần, phơi thân nơi sa trường trừ loài nghịchtặc Thái độ dũng cảm kiên cường đó mấy ai sánh kịp? Vật báu thứhai là chọn lối sống lao động giản dị chân chất nhưng thanh cao Tưtưởng nhàn vô sự đã dẫn đến tư tưởng vô tranh Đó chính là vật báuthứ ba mà hiền sĩ đã thực hiện trong cuộc đời Sống trong xã hội đầybon chen, ông muốn giáo dục người đời đức tính khiêm nhường,khuyên người đời không nên tranh đua, không nên để lộ tài năng củamình mà nên che giấu ưu thế mới dễ dàng bảo toàn tính mạng Bởi vìtước lộc đầy đủ sẽ khó lòng giữ được thân danh, ví như cái bát chứa

đầy nước quá sẽ khó giữ cho nước khỏi tràn

Nói chung, khi giải quyết những vấn đề về tự nhiên và xã hội nhiềuphức tạp đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có một cách ứng xử linhhoạt để hòa hợp giữa ba dòng tư tưởng Khổng Tử, Lão Tử và Thích

Ca của Phật giáo Sự dung hợp “Tam giáo đồng nguyên” tạo nên một

truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

1.2 Thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.2.1 Thân thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm tên húy là Văn Đạt, tên chữ là Hanh Phủ, hiệu làBạch Vân Cư Sĩ Ông sinh năm Tân Hợi niên hiệu Hồng Đức thứ 22 (1491),(Theo Đại Việt Sử loại tiệp lục của Vũ Khâm Lân) Ông sinh ra ở làng

Trang 29

Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Vĩnh Bảo, tỉnhHải Phòng).

Ông nội của Nguyễn Bỉnh Khiêm húy là Văn Tĩnh, được truy tặngThái Bảo Tư quận công Bà nội được truy phong là Chính Phu nhân Cha làVăn Đinh, ấm phong tước Thái Bảo Anh quận công, sung chức Thái họcsinh (học sinh Quốc tử giám) Ông ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là NhữVăn Lan, người làng Yên Tử, huyện Tiên Minh, tỉnh Hải Dương vốn nổitiếng thông minh, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tới chức Thượng thư Bộ hộ, làmột vị quan cương chính và hết lòng yêu dân Vì vậy người đời sau có câu:

Họ Nhữ khai hoa tự Nhữ LanTiếng lừng hai nước động Hoa, NamDanh thơm bút sử nào hay biết

Vua ban mỹ tự bút lừng thơm

Con người tài hoa, đỗ đạt này đã sinh ra người con gái mang tên NhữThị Thục, chính là mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Có lẽ khi tìm hiểu về tưtưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ là thiếu nếu không nói về người

mẹ tài ba của ông Chính bà là bước đệm cho những tư tưởng hoài bảo củaNguyễn Bỉnh Khiêm sau này Đó là một người phụ nữ thông minh, tài giỏi,thông kinh sử, giỏi văn chương lại tinh thông tướng số Bà là người phụ nữđặc biệt giữa thế kỷ XVI với những ước vọng lớn và tư duy khác biệt Bàquyết chí muốn tạo lấy một người con hơn người, nên ngoài hai mươi tuổivẫn không tìm được người ưng ý Đến lúc gần 30 tuổi, gặp ông Văn Định,cho là có tướng sinh quý tử mới chịu lấy Ngay từ khi sinh ra Nguyễn BỉnhKhiêm đã là cậu bé khôi ngô tuấn tú, nhanh nhẹn hơn người, cùng với sự

giáo dục rất nghiêm khắc của cha mẹ, đặc biệt là mẹ ông Trong sách “Đại Việt sử loại tiệp lục” của Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân, ghi rằng Nguyễn

Bỉnh Khiêm lúc nhỏ rất thông minh, lại nhờ sự giáo dục của mẹ, nên lúc bốntuổi đã thuộc và hiểu các chính văn kinh truyện Sự tinh anh của NguyễnBỉnh Khiêm đã được bộc lộ từ rất sớm, chưa đầy năm ông đã biết nói Theo

Trang 30

Phả kí của Vũ Khâm Lân: “một hôm, vào buổi sáng sớm Văn Định đang bếcon trên tay, bỗng thấy cậu nói rằng: “mặt trời mọc ở đằng đông”, ông lấylàm lạ Rồi năm lên bốn tuổi phu nhân dạy cậu học kinh truyện, hễ dạy đếnđâu cậu học thuộc lòng đến đấy, riêng thơ quốc âm đã nhớ được mấy chụcbài Lại một hôm bà đi vắng, ông ở nhà bày trò kéo dây đùa với lũ trẻ, nhânđọc bỡn một câu rằng: “Nguyệt leo cung, nguyệt leo cung”, rồi muốn đọctiếp câu nữa nhưng chưa nghĩ kịp thì cậu đứng bên đọc luôn:’Vén tay tiênnhẫn nhẫn rung” Ông thấy cậu mẫn tiệp như vậy có ý mừng thầm, đợi khi

bà về thuật lại cho nghe Bà lấy làm bất mãn nói với ông rằng: “Nguyệt làtượng bề tôi cớ sao ông lại dạy con như thế”, ông cả thẹn xin lỗi, thế nhưng

bà vẫn không nguôi giận rồi bỏ đi” [44, 625] Trong cách giáo dục của mình

bà luôn hướng ông trở thành “vị thiên tử” dựng nên nghiệp lớn mặc dù bà ởbên ông không được bao lâu nhưng kho kiến thức mà bà vun đắp cho ông từkhi mới lọt lòng không phải là ít và nó theo ông trong suốt cuộc đời Vì vậy

có thể nói mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự ảnh hưởng không nhỏ trong tưtưởng cũng như sự nghiệp của ông sau này, đặc biệt là trong những vần thơthấm đượm tình quê hương mộc mạc lại ẩn chứa tư tưởng triết học sâu sắc

Khi lớn lên, vốn thông minh và giàu chí hướng Nguyễn Bỉnh Khiêmtìm đến người thầy nổi tiếng Lương Đắc Bằng để xin học Lương Đắc Bằng

là con cháu của Lương Như Hộc, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa,tỉnh Thanh Hóa, đỗ Hội nguyên Bảng nhãn, làm đến Thượng thư Bộ lại.Lương Đắc Bằng vốn là người nổi tiếng văn chương lại am hiểu lý số, khi đi

sứ sang Trung Quốc, ông được một người tặng cho bộ Thái Ất thần kinh.Ông đã giữ gìn và đem sách đó truyền lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bởi tinrằng chỉ Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có thể lĩnh hội được những điều trongsách Sau này, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại trở thành thầy của con trai LươngĐắc Bằng là Lương Hữu Khánh, nuôi dạy Lương Hữu Khánh như con và trởthành bậc hiền tài

Trang 31

Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng là học giỏi tài cao, nhưng ông khôngchịu ra thi làm quan trước thời thế bấy giờ mà ở ẩn dạy học Bởi ông sinh ra

và lớn lên trong khi triều chính nhà Lê bắt đầu đổ nát, rối loạn kỷ cương,phép tắc đảo lộn Các phe phái tranh giành quyền lực lẫn nhau, vua thầnchém giết lẫn nhau, ăn chơi xa đọa dường như ngai vàng là để thỏa mãn dụcvọng và sự ăn chơi sa đọa chứ không phải để lãnh đạo đất nước Xã hội rốiloạn, triều chính chỉ toàn bọn nịnh thần, gian dối, vua không ra vua, tôichẳng ra tôi Con người ngay thẳng trong tình huống đó nếu không muốn xuphụ kẻ quyền thế, thì tất có thể chuốc vạ vào thân một cách vô ích Vì vậynhững con người am hiểu thời thế như Nguyễn Bỉnh Khiêm, ẩn dật là điềutốt nhất Là ẩn dật nhưng ông vẫn dõi theo cuộc đời, vẫn buồn vui với nhữngthăng trầm biến đổi của thời cuộc xã tắc, vẫn cánh cánh một nỗi niềm vớidân với nước Trong sâu thẳm tâm trí mình ông vẫn mong muốn:

Dịch thơ:

“Giúp vua phò nước dấn gian nguyGắng gỏi xông pha há quản gì

Quặn xót dân con vòng đói rét,

Ai đương nghĩa lớn diệt gian phi

Bao năm chinh phạt quân vua rạc,Mấy độ trưng thu của nước suy

Nhân giả nào ai người chẳng nỡ,Xót thương khoan giảm bớt phân ly”

Trang 32

thương cho sự suy đồi của xã hội và không ngừng mơ ước tới một xã hội tốtđẹp để đất nước được thái bình nhân dân được no ấm.

Sau khi nhà Mạc lên nắm quyền, tình hình đất nước ở đằng ngoài bắtđầu đi vào ổn định, Mạc Đăng Dung có nhiều chính sách tiến bộ về kinh tếcũng như văn hóa, đặc biệt rất chú trọng đến tìm kiếm nhân tài Thế nhưngNguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ở ẩn dạy học cho đến năm 1534 khi Mạc ĐăngDoanh lên ngôi Hoàng đế và Mạc Đăng Dung rút về làm Thái ThượngHoàng ông mới chủ trương nhập thế Ông ra thi đỗ Trạng nguyên và làmquan với triều Mạc lúc này ông đã 45 tuổi Vậy tại sao lúc này ông mới chịu

ra làm quan? Có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng theo tôi có thể hiểutheo hai cách sau Thứ nhất bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là người tàitrí hơn người, tinh thông kinh sử và đặc biệt lại giàu lòng yêu nước thươngdân Ông luôn canh cánh một nỗi niềm được giúp dân, giúp nước, vẫn ướcmuốn về một xã tắc tốt đẹp nhưng chưa tìm thấy cơ hội trong bối cảnh triều

Lê lũng loạn đương thời Triều chính đương thời là một bầu trời đen kịt, cácvua Lê đương thời vẫn tổ chức nhiều khoa thi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêmvẫn không màng tới bởi ông biết rõ hơn ai hết cái viễn cảnh trước mắt Vìvậy, ông chỉ có thể ôm ấp một nỗi lòng ưu ái quốc chứ không thể ra giúpđời Thứ hai, lúc này Mạc Đăng Doanh đã lên ngôi - một ông vua hiền tài vìnước vì dân, ông có nhiều chính sách tiến bộ đem lại cuộc sống tốt đẹp chonhân dân phù hợp với lòng mong mỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm còn MạcĐăng Dung một con người tài giỏi nhưng vẫn là bề tôi giết vua mà với mộtbậc Nho học như ông thì điều đó là không cho phép nên khi Mạc ĐăngDoanh lên ngôi, triều Mạc đã có những bước tiến mới, những áng mây mù

đã không còn che khuất, đó có thể là chỗ dựa để ông thi thố tài năng, thỏaước nguyện “vua sáng tôi hiền” và mong ước xây dựng được một đất nước

“thái bình thiên tử thái bình dân” của ông Do đó ông đã quyết định ra thithố và làm quan Ngoài ra có thể nói nguyên nhân trực tiếp khiến NguyễnBỉnh Khiêm ra làm quan chính là nguy cơ ngoại xâm đe dọa đất nước Bởi

Trang 33

lúc này những tàn tích của nhà Lê vẫn cố tìm mọi cách để lật đổ nhà Mạc vàgiành lại ngôi vị, trong đó không trừ thủ đoạn cầu cứu nhà Minh Nhà Minhthì luôn lăm le rình rập cướp nước ta bất kì lúc nào Vì vậy lúc này họa mấtnước vào tay ngoại xâm đang lăm le từng ngày, triều đình, sĩ thứ nhân dândồn dập lo bảo vệ tổ quốc, do đó một người sâu sắc như ông không thểhưởng mãi cuộc sống an nhàn mà quên đi nghĩa vụ với dân với nước được.

Năm 1534, đời Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thi và đỗgiải nguyên Năm sau thi hội bốn kì đều nhất, đỗ hội nguyên vào thi đìnhông đỗ Trạng nguyên Vua nhà Mạc rất vui mừng, đặc cách cử ông làmĐông các hiệu thư, sau được cử làm Hình bộ Tả thị lang, và ít lâu sauchuyển sang Lại bộ Tả thị lang kiêm Đông Các Đại học sĩ

Ở triều được ít lâu, Nguyễn Bỉnh Khiêm thấy mọi việc đều không nhưông mong muốn, không cải thiện được cuộc sống cho nhân dân, bọn gianthần vẫn ngang nhiên hoành hành, xu nịnh Bậc “chúa thánh minh” trongmong mỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không còn trị vì nữa Trước tìnhcảnh triều chính không yên Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ đàn hặc 18 tênlộng thần xin chém cả để làm gương và tránh sự nhiễu nhương của triềuchính Thế nhưng sớ tâu không được xem xét, lại nhân việc con rể là PhạmGiao cùng với cha là Phạm Quỳnh cũng thuộc vào bọn quyền thần ấy,Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên bảo không được, bèn cáo bệnh về trí sĩ Ônglàm quan được 8 năm vua Phúc Hải không giữ lại được đành phải chuẩn y

và gia phong làm Trình Tuyền hầu Vì thế người đời thường quen gọi ông làTrạng Trình

Nguyễn Bỉnh khiêm tưởng đối với nhà Mạc, có thể thực hiện được lýtưởng của mình Nhưng ông đi vào thực tế lại khác, ông đã thấy sự phântranh quyền lợi của bọn phong kiến không thể giải quyết một cách dễ dàngđược, ông thấy được những mâu thuẫn đang diễn ra trong xã hội, hiểu đượcthế vận xoay vần nhưng mình bản thân ông không thể làm gì được, ông xincáo lui để bảo toàn lấy danh tiết và chí khí Với tư duy sắc sảo kết hợp với

Trang 34

những năm tháng chốn quan trường là những bài học kinh nghiệm quý giácho kho tàng tri thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm Chính sự kết hợp nhuầnnhuyễn giữa lí luận và thực tiễn trên đã tạo nên Nguyễn Bỉnh Khiêm vớinhững tư tưởng biện chứng vượt trội.

Sau khi từ quan (giữa năm Quảng Hòa thứ 2 (1542)) Nguyễn BỉnhKhiêm lúc này mới 52 tuổi trở về quê xây Am Bạch Vân, ở làng Trung Am,dựng hai cây cầu là Nghinh Phong và Trường Xuân để làm nơi nghỉ mát vàxây một cái quán ở bên sông Tuyết giang gọi là quán “Trung Tân” (BếnThiện), ông soạn bài văn khắc vào bia đá nói lên lòng nhân đạo của mình vàkhuyên răn người đời làm điều thiện

Từ đây Nguyễn Bỉnh Khiêm sống một cuộc đời phóng khoáng Ôngsửa sang lại các đình chùa trong làng, trồng cây hai bên vệ đường đê, mởmột chợ ngày hai mươi tết cho người làng và xung quanh đến buôn bán.Ông lại hay chơi với các nhà sư, có khi cùng nhau thả thuyền ra bể, hoặc rachơi cửa Kim Hải, cửa Úc môn xem đánh cá, hoặc lên chơi núi Đồ Sơn,Ngọa Vân, Kính chủ, Yên Tử ngắm cảnh ngâm vịnh Như vậy, đằng sau sự

ẩn dật tưởng trừng như quên đời đó vẫn là tấm lòng “tha thiết với đời, vớingười” vẫn sẵn sàng phò vua giúp nước nếu cần Mặt khác, ông vẫn đi bêncạnh cuộc đời để quan sát, để chiêm nghiệm về cuộc đời và thể hiện quanhững áng thơ văn để qua đó nói lên nhân tình thế thái Có lẽ phải yêu đời

và hiểu đời lắm ông mới chắt lọc tất cả để nâng lên thành quy luật của xãhội Có thể nói đây cũng là giai đoạn mà tư tưởng của ông đã đạt đến độ

“chín” và được thể hiện một cách sâu sắc nhất đặc biệt là những tư tưởngbiện mang tính biện chứng của ông

Sau khi về trí sĩ, Nguyễn Bỉnh Khiêm mở trường dạy học với rấtnhiều học trò Gần xa hâm mộ tài đức của ông, kéo về học rất đông có đếnhàng ngàn người Có nhiều người trở thành những nho sĩ nổi tiếng, và chịuảnh hưởng rất nhiều của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Nguyễn Dữ, NguyễnQuyện, Giáp Hải, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh Nguyễn Dữ là

Trang 35

tác giả “truyền kì mạn lục”, bộ sách này có được Nguyễn Bỉnh Khiêm bổchính và được Nguyễn Khâm Lân phê là “thiên cổ kỳ bút” Nguyễn Quyện

là con của Nguyễn Thiến trước đã theo cha bỏ nhà Mạc theo Lê sau lại quay

về nhà Mạc làm đến chức Thừa tướng Thượng tể Tước Thường quốc công.Giáp Hải đỗ Trạng nguyên làm quan với nhà Mạc đến Lại bộ Thượng thư,sau được phong sách quốc công Phùng Khắc Khoan đỗ Trạng nguyên thờihậu Lê, cũng như Nguyễn Bỉnh Khiêm không chịu ra làm quan với nhà Mạcsau nghe lời khuyên của thầy vào Thanh Hóa giúp vua Lê Lương HữuKhánh thi hội đỗ Trạng nguyên, nhưng đến thi đình thì bỏ về bảo rằng: “tađâu phải là cầu danh, thi để thử xem học của ta thế nào đấy thôi” Triều đìnhnhà Mạc tìm đủ mọi cách mời ông ra làm quan, lúc đầu Lương Hữu Khánh

từ chối chấp nhận nghèo túng, đi chu du khắp nơi, sau nghe theo NguyễnBỉnh Khiêm, về giúp vua Lê, có nhiều quân công được phong Trung Hưngcông thần, làm quan đến Binh Bộ Thượng Thư Trong số học trò của ôngcòn nhiều người cũng đỗ đạt và làm quan to như Trương Thời Cử, ĐinhThời Trung đều đỗ tiến sĩ Đó là cống hiến rất to lớn của Nguyễn BỉnhKhiêm cho đất nước

Tuy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã về trí sĩ, nhưng vua tôi nhà Mạc vẫn rấttôn thờ ông như một vị quân sư và thường sai sứ đến thăm viếng và đembiếu những vật phẩm quý giá như ngọc ngà, gấm vóc Cũng có khi vua nhàMạc ngự giá về chơi nhà Mỗi khi trong triều có việc gì quan trọng nhà Mạcđều sai sứ đến hỏi hoặc mời Nguyễn Bỉnh Khiêm về kinh đô bàn bạc Vuanhà Mạc đã nhiều lần mời Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan trở lại nhưngông đều từ chối nhất định không chịu ra làm quan, không màng chốn quantrường Chẳng những thế ông còn tỏ thái độ không thích sự chăm sóc ân cần

đó Trong bài thơ chữ Hán số 5 của mình, ông viết:

Dịch:

“Chẳng tài ơn đội được thân vinhSăn sóc làm chi luống bận mình

Trang 36

Thực học đủ đâu cho kẻ trọng

Hư danh càng tổ khiến người khinhNgười vui trăm hốt đua bè bạn

Ta thích tùng, quân dưỡng tính tình

Phải trái mặc đời thôi chẳng nói,

Ai rằng mây trắng kém mây xanh”

Vẫn tha thiết với cuộc đời nhưng ông không màng danh lợi khôngmuốn xu nịnh ai mà cũng chẳng muốn ai chăm sóc mình Ông hết lòng vớinhà Mạc nhưng vẫn giữ những khoảng cách nhất định Đây có lẽ là do tưtưởng kinh dịch đã ăn sâu vào ngay cách xử sự của ông, bởi cái gì quá sẽ dễtan, đó là quy luận vận động biến đổi mà được ông trình bày rất sâu sắctrong những vần thơ của mình

Năm 1552 vua Mạc Phúc Nguyên nghe theo lời bọn nịnh thần PhạmQuỳnh, Phạm Giao vu khống Nguyễn Chiểu và thông gia là Lê Bá Huy có

âm mưu làm phản Nguyễn Thiến và con là Nguyện Quyện, cùng vớiNguyễn Thận, Nguyễn Mãi, Lê Bá Huy bỏ nhà Mạc vào Thanh Hóa giúpvua Lê Trang Tôn Được tin ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm bèn gửi vào cho ôngmột bài thơ chữ Hán:

Dịch:

Ta giữ kẻ côi vì chút nghĩaBan đương khi biến, há cam lòngKhí vận một vòng ly lại hợpSông dài há có hạn Nam Đông

Năm 1557 Nguyễn Quyện đem quân đánh nhà Mạc ở vùng Sơn Nam,vua Mạc Phúc Nguyên lo sợ, lại biết Nguyễn Bỉnh Khiêm với NguyễnQuyện có tình nghĩa thầy trò và Nguyễn Quyện rất mến phục Nguyễn BỉnhKhiêm nên bèn sai sứ đến hỏi kế Nguyễn Bỉnh Khiêm hiểu rõ thời cuộc vàlại vốn có tư tưởng không tán thành chiến tranh tàn sát lẫn nhau, nên gửi choNguyễn Quyện một bức thư với nội dung như sau:

Trang 37

“Đạo ở mình ta có khó gì?

Phương chi chí khí đã tương kỳ,Nghìn năm quân phụ cương thường đóTrung hiếu một lòng chớ đổi đi”

Sau đó, ông phân giải rõ sự nguy hại của chiến tranh và thuyết phụcNguyễn Quyện đem quân trở về với triều Mạc

Khi nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm ta không thể không nhắc đếnnhững câu sấm truyền bất hủ của ông Có thể nói sở trường của ông là lýhọc Trong “Đại Việt sử loại tiệp lục” của Vũ Khâm Lân có chép nhiềutruyện: Sứ nhà Thanh là Chu Sán có nói: “Nhân vật ở Lĩnh Nam, về Lý học

có Trình Tuyền, truyền đến Trung Quốc ” [44, 635] Ông thừa hưởng từtài năng lý học, tướng số của mẹ và trau dồi sách Thái ất Thần kinh từ ngườithầy Lương Đắc Bằng và bằng chính cuộc đời thực tiễn, bằng những hoạtđộng thực tiễn của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có tư duy rất biện chứngkhi nhìn nhận về tự nhiên, xã hội và tư duy Trên cơ sở tư duy biện chứng,Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để nhiều tiên đoán có giá trị cho đến sau này Theotục truyền rằng, năm 1556 khi vua Trung Tông mất, không có con, TrịnhKiểm muốn thừa cơ chiếm ngôi vua, song còn ngại lòng dân, nên còn chưadám bèn đem lễ vật đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông không trả lời thẳng

mà bảo gia đồng rằng: “Năm nay không được mùa vì tại lúa giống khôngtốt, các ngươi nên tìm giống cũ mà trồng” Sau đó ông lại sai người ra chùaquét dọn, thắp hương, tất đồ lễ cúng và nói “thờ Phật thì ăn oản” [44, 641].Chúa Trịnh hiểu ý bèn từ bỏ ý định làm vua và đưa người cháu năm đời của

Lê Trừ (tức anh ruột của vua Lê Thái Tổ) là Duy Bang lập lên làm vua tứcvua Lê Anh Tông

Sau này, khi thấy tình thế khó khăn Nguyễn Hoàng cũng cho ngườiđến hỏi ý kiến về việc lánh nạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm thủng thỉnh đi ra sau

vườn ngắm hòn non bộ và nói: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

Trang 38

[62, 20] Nguyễn Hoàng hiểu ý và nhờ chị gái xin với Trịnh Tùng vào trấnQuảng Thuận.

Năm Ất Dậu, Nguyễn Bỉnh Khiêm ốm nặng biết không còn sống lâunữa, bèn thảo sớ cho vua Mạc trong đó có đoạn: Thần suy tính độ số thấyvận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đã đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức ngườikhó theo Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân tíchđức lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoàichuyên cần võ công, may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũngthỏa được lòng

Vua Mạc Mậu Hợp sai người về thăm bệnh, hỏi việc nước, ông chỉnói: “Ngày sau có biến cố gì, đất Cao Bằng dầu nhỏ cũng có thể hưởng phúcđược mấy đời” [44, 629] Xoay quanh những nhận định trên còn nhiều vấn

đề bàn cãi, song ta có thể hiểu rằng bằng chính cái nhìn biện chứng nênNguyễn Bỉnh Khiêm luôn có sự phân tích mọi vấn đề mọi vấn đề một cáchtổng quát và phù hợp để đưa ra những nhận định đúng đắn, do đó cũngkhông có gì khó với những đoán định có phần khó hiểu của ông Những kếsách tham mưu này của ông không chỉ có gián trị triết học mà nó còn mang

ý nghĩa chính trị giúp bình ổn tạm thời giữa các phe phái Chỉ có điều trongdân gian thường li kì hóa những nhận định của ông làm cho nó thêm phần kì

bí và khó hiểu, hoặc bất kì một sự tiên đoán nào đó đều gán cho tên tuổiTrạng Trình

Ngày 28 tháng 11 năm 1585 Nguyễn Bỉnh Khiêm mất, thọ 95 tuổi.Ông ra đi để lại niềm tiếc thương vô vàn đối với người thân, bạn bè sĩ thứcũng như tất thảy học trò của ông và nhân dân Vua Mạc sai Khiêm vươngMạc Kính Điển làm khâm sai cùng với các quan ở triều về tế lễ, truy phongNguyễn Bỉnh Khiêm làm Lại bộ Thượng Thư, thái phó Trình quốc công.Hai đời tổ khảo tỉ đều được phong ấm Vua Mạc lại phát cho sở tại ba nghìnquan tiền để lập bàn thờ và cấp một trăm mẫu ruộng tự điền Đền được làm

Trang 39

ngay trước cửa dinh Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua thân viết mấy chữ đề là:

“Mạc triều Trạng Nguyên, Tể tướng từ”

Về gia thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo “Bạch Vân cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả kí” [44, 632] do Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân ghi lại,

Nguyễn Bỉnh Khiêm có ba vợ: Chính phu nhân là Dương Thị, hiệu là Từ Ýquê Hải Dương, thứ phu nhân họ Nguyễn hiệu là Nhu Tĩnh và á phu nhân họNguyễn hiệu Vi Tĩnh Con cái ông có cả thảy 12 người, 7 trai và 5 gái Con

cả hiệu Hàn Giang cư sĩ được ấm phong Trung Trinh đại phu, làm quan đếnchức Hiến phó Con thứ hai hiệu Tùy Am tiên sinh, phong hàm Triều Liệtđại phu, tước Quang Nghĩa hầu Con thứ ba ấm phong Hiển cung đại phu,tước Nghĩa Xuyên bá Con thứ tư Thuần Phu phong hàm Hoàng Nghị đạiphu, tước Quảng Đô hầu Con thứ năm là Thuần Đức tước Bá Thứ hầu Conthứ sáu là Thuần Chính tước Thắng Nghĩa hầu tất cả các con của ông đềuđược triều đình trọng dụng

Như vậy qua tiểu sử trên đây của Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta thấycuộc đời của ông, trừ một thời gian ngắn ra làm quan khoảng 8 năm, còn thìsống ẩn dật ở thôn dã ruộng vườn không màng danh lợi Song trong cuộcsống ẩn dật đó ông không quên đời, lánh đời mà ông vẫn gần gũi với nhândân, vẫn dõi theo sự xoay vần, biến đổi của cuộc sống “tuy ở nhà 44 năm màlòng không lúc nào quên đời, lòng ưu thời mãn cuộc đều lộ trong thơ” [44,642] Chính vì vậy mà những tư tưởng của ông luôn mang giá trị hiện thực,triết lí nhân sinh sâu sắc trong đó có những tư tưởng có giá trị biện chứng

Uy thế tinh thần của ông rất lớn và có ảnh hưởng sâu xa đến sĩ phu, dânchúng Cả vua chúa các phe phái đều coi ông như một bậc cố vấn quân sự.Ảnh hưởng đó lan rộng cho đến thời nay đặc biệt là những tư tưởng triết họcbiện chứng ẩn chứa trong các tác phẩm văn thơ của ông cho đến thời nay khi

ta nhìn lại mới thấy hết những giá trị tiềm ẩn mà suốt chiều dài của lịch sửvới đầy những biến cố thăng trầm không thể vùi lấp được

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trang 40

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận

là một trong những nhà văn hóa lớn của dân tộc Ông là một chính khách có

uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên tri… Nhưng ông cũng đồng thời là một tác gialớn có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc.Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú và đa dạng gồm cả chữ Hán vàchữ Nôm, cả văn lẫn thơ và sấm kí

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI.Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sốngtinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn

học dân tộc Về thơ chữ Hán, ông có Bạch Vân am thi tập mà theo ông là có

khoảng gần một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài Trong lời tựa tập thơchữ Hán của mình ông viết “Tuy cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưachữa được khỏi vậy Mỗi khi rảnh rỗi lại dậy hứng mà ngâm vịnh hoặc là cangợi vẻ đẹp của cảnh sơn thủy, hoặc là tô vẽ cảnh thanh tú của hoa trúc hoặctức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thànhthơ nói về chí, được tất cả nghìn bài biên tập thành sách, tự đặt tên là tập thơ

am Bạch Vân [44, 400] Tập thơ không chỉ là nỗi lòng, là tâm huyết của tácgiả mà còn thể hiện trong đó những tư tưởng triết học sâu sắc về vũ trụ, về

sự vận động, biến đổi của tự nhiên và xã hội

Về thơ chữ Nôm, ông có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình

quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập), được ông sáng tác trong thời giannghỉ ở nhà, nhưng không biết được có bao nhiêu bài, hiện tại còn khoảng

180 bài Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm thường làm theo thể Đường luật vàĐường luật xen lẫn lục ngôn nhưng ông thường không đặt tiêu đề cụ thể chotừng bài mà việc đó được thực hiện bởi những nhà biên soạn sau này Theo

Phả ký (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký) của Vũ Khâm

Lân, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có nhiều bài phú bằng quốc âm nhưng nay đã

bị thất lạc Cũng theo Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong bài Bạch Vân am cư

sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả kí soạn năm 1743, có những nhận định về thơ

Ngày đăng: 18/08/2017, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w