1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Một số vấn đề cơ bản về khiếu nại, tố cáo và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố l ào cai

21 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 41,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. LỜI MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và nhiều văn bản pháp luật. Khiếu nại, tố cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọ ng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo mọ i điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình và tham gia giám sát hoạt đ ộng của cơ quan Nhà nước. Điều 74 Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời gian pháp luật quy định. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác. Mọi hành vi xuất phát lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh”. Để cụ thể hoá quyền khiếu nại, tố cáo được quy định tại Hiến pháp tháng 121998, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo. Luật Khiếu nại, tố cáo ra đ ời đã tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát huy dân chủ, b ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ q uan, tổ chức và cá nhân. Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tại phiên họp ngày 0162004, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo. Q ua tổng kết 5 năm thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo cho thấy nhìn chung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đã được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, ở một số địa phương vẫn còn xảy ra tình trạng khiếu tố đông người hoặc vượt cấp, có nơi còn hình thành “điểm nóng”. Một trong những nguyên nhân dẫn đến trung tâm trên là thuộc về chủ quan của các cơ quan có thẩm quyền khiếu nại, tố cáo. Vấn đề công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là hết sức quan trọng và sát thực với vai trò, vị trí hiện nay của mình. Do đó, em chọn đề t ài: “ Một số vấn đề cơ bản về khiếu nại, tố cáo và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn Thành phố L ào Cai” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân đượcghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và nhiều văn bản pháp luật Khiếu nại, tốcáo là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước,quản lý xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơquan, tổ chức và công dân Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọ ng côngtác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo mọ i điều kiện thuận lợi để nhân dân thựchiện đầy đủ quyền khiếu nại, tố cáo của mình và tham gia giám sát hoạt đ ộngcủa cơ quan Nhà nước Điều 74 Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Công dân

có quyền khiếu nại, quyền tố cáo của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếunại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời gianpháp luật quy định Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợidụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác Mọihành vi xuất phát lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể

và công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh” Để cụ thể hoá quyềnkhiếu nại, tố cáo được quy định tại Hiến pháp tháng 12/1998, tại kỳ họp thứ 4,Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo Luật Khiếu nại, tố cáo

ra đ ời đã tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, pháthuy dân chủ, b ảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ q uan, tổ chức và cánhân Nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo,tại phiên họp ngày 01/6/2004, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Q ua tổng kết 5 năm thực hiện LuậtKhiếu nại, tố cáo cho thấy nhìn chung quyền khiếu nại, tố cáo của công dân

đã được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh Tuy nhiên, ở một số địa phươngvẫn còn xảy ra tình trạng khiếu tố đông người hoặc vượt cấp, có nơi còn hình

Trang 2

thành “điểm nóng” Một trong những nguyên nhân dẫn đến trung tâm trên làthuộc về chủ quan của các cơ quan có thẩm quyền khiếu nại, tố cáo.

Vấn đề công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là hết sức quan trọng và sátthực với vai trò, vị trí hiện nay của mình Do đó, em chọn đề t ài: “ Một số

vấn đề cơ bản về khiếu nại, tố cáo và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn Thành phố L ào Cai” làm đề tài tiểu luận của mình

Trang 3

B NỘI DUNG Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 1.1 Khái niệm KN, TC và giải quyết KN, tố cáo

1.1.1 Khiếu nại và tố cáo

Về khiếu nại: Theo quy định của Luật Khiếu nại “Khiếu nại là việc

công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1 Điều

2) Trong đó, quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luậtcán bộ, công chức được định nghĩa như sau:

- Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước

hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành đểquyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nướcđược áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (Khoản 8Điều 2 Luật Khiếu nại);

- Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của

người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặckhông thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 9Điều 2 Luật Khiếu nại);

- Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ

quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, côngchức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ,công chức (Khoản 10 Điều 2 Luật Khiếu nại)

Về tố cáo: Theo quy định của Luật Tố cáo quy định: “Tố cáo là việc

công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá

Trang 4

nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” (Khoản 1

Điều 2) Tố cáo được chia làm 02 loại như sau:

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ

chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ,công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ (Khoản 2 Điều

1.1.2 Giải quyết KN, tố cáo

Giải quyết KN, TC là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giảiquyết của người giải quyết KN, TC (Luật KN, TC năm 1998)

Từ khái niệm nêu trên, ta có thể thấy được một số dấu hiệu, đặc điểmcủa cơ chế giải quyết KN, TC như sau:

- Các cơ quan có thẩm quyền trong việc thẩm tra, xác minh và ra quyết địnhgiải quyết KN, TC Đó là các cơ quan thanh tra, cơ quan hành chính nhà nước

- Mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra và cơ quan hành chính nhà nướctrong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Phương thức hoạt động của các cơ quan thanh tra trong việc thẩmtra, xác minh và ra quyết định giải quyết KN, TC

Và các cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm trong giải quyết KN, TCbao gồm:

- Cơ quan HCNN giữ vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc giải quyết

KN, TC bao gồm các cơ quan HCNN từ TW đến địa phương

Trang 5

- Cơ quan thanh tra giữ vai trò tham mưu cho thủ trưởng cơ quan hànhchính trong việc giải quyết KN, Tc có trách nhiệm xác định, thẩm tra, xácminh, kết luận và kiến nghị thủ trưởng ra quyết định giải quyết KN, TC.

Từ khái niệm trên chúng ta có thể hiểu rõ mqh giữa các cơ quan cóthẩm quyền, trách nhiệm trong giải quyết KN, TC Trên cơ sở kiến nghị củathanh tra mà thủ trưởng cơ quan hành chính ra quyết định giải quyết đúng đắn

- Đối với cơ quan có thẩm quyền giải quyết:

+ Trực tiếp làm việc với người KN, người bị KN

+ Tiến hành thẩm tra, xác minh

+ Tổ chức đối thoại với những người khiếu nại

+ Trưng cầu giám định nếu thấy cần thiết

+ Ra quyết định và công bố quyết định giải quyết KN

1.2.2 Trình tự giải quyết tố cáo

Bước 1: Cá nhân gửi đơn tố cáo đến cơ quan có thâm quyền

Bước 2: Trong thời giạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn tố cáothuộc thẩm quyền, người giải quyết phải thụ lý giải quyết và thông báo bằngvăn bản cho người tố cáo khi có yêu cầu

Bước 3: Ban hành quyết định thụ lý giải quyết đơn TC hoặc quyết địnhthành lập đoàn thanh tra để thẩm tra, xác minh

Bước 4: Tổ chức thẩm tra, xác minh vụ việc

Tiến hành thẩm tra, xác minh những nội dung TC Làm việc với người

TC, làm việc với cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan Thực hiện các biệnpháp xác minh

Trang 6

Xây dựng báo cáo kết quả xác minh, kết luận về nội dung TC Căn cứbáo cáo này, người giải quyết TC tiến hành xử lý Tc và ban hành quyết định

xử lý theo thẩm quyền

1.3 Phân biệt khiếu nại và tố cáo

Khiếu nại và tố cáo đều là các quyền chính trị cơ bản của công dân,thường được quy định trong cùng một điều luật hay trong cùng một văn bản.Tuy nhiên giữa khiếu nại và tố cáo có những đặc điểm khác nhau cả về nộidung và cách thức giải quyết Quá trình thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo đãchỉ ra không ít trường hợp còn chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào làkhiếu nại, thế nào là tố cáo nhất là khi đơn thư của công dân có nội dung chứađựng cả việc khiếu nại và việc tố cáo thì vấn đề thụ lý và giải quyết còn nhiềulúng túng Đây là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh những nhầmlẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xácminh, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân khiến người dân phải khiếunại nhiều lần hoặc tố cáo sai sự việc Do vậy, việc phân biệt khiếu nại và tốcáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếunại, tố cáo của mình đúng pháp luật và giúp cho cơ quan nhà nước có thẩmquyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đỡ mấtthời gian, công sức, tránh được nhầm lẫn, sai sót trong khi giải quyết khiếunại, tố cáo

- Trước hết, về chủ thể: Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo sửa

đổi, bổ sung năm 2005, chủ thể của hành vi khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổchức, công dân, cá nhân và tổ chức nước ngoài (hoặc đại diện hợp pháp củahọ) có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hànhchính của cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hànhchính Cán bộ, công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống có quyềnkhiếu nại quyết định kỷ luật đối với họ Nói rõ hơn, chủ thể của hành vi khiếunại phải là người bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vihành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc Trong khi đó, chủ thể của hành

Trang 7

vi tố cáo chỉ có thể là cá nhân, tức là chỉ bao gồm công dân và người nướcngoài Cá nhân thực hiện hành vi tố cáo có thể chịu tác động trực tiếp hoặckhông chịu tác động của hành vi vi phạm pháp luật Bởi vậy, khi tham gia vàoquá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụcủa chủ thể khiếu nại, tố cáo cũng khác nhau Nếu chủ thể khiếu nại thực hiệnkhông đúng pháp luật quyền khiếu nại của mình thì họ sẽ mất cơ hội được yêucầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Còn nếu chủ thể tốcáo thực hiện quyền của mình không đúng quy định của pháp luật như tố cáonặc danh, mạo danh thì tố cáo của họ không được giải quyết.

- Thứ hai, về đối tượng: Trong khi đối tượng của khiếu nại là quyết

định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, côngchức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, những quyết định và hành vinày phải có tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếunại Thì đối tượng của tố cáo rộng hơn rất nhiều, công dân có quyền tố cáonhững hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nàogây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Có nghĩa là hành vi vi phạmpháp luật là đối tượng của tố cáo có thể tác động trực tiếp đến quyền và lợiích hợp pháp của người tố cáo có thể không Chính sự khác nhau này đã dẫnđến sự khác nhau về thẩm quyền, thủ tục giải quyết, về quyền và nghĩa vụ củachủ thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo…Cụ thể:

+ Về thẩm quyền, khiếu nại được giải quyết lần đầu tại chính cơ quan

có thẩm quyền ra quyết định hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật là đối tượngcủa hành vi khiếu nại Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyếtđịnh giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại củamình lên cấp trên trực tiếp của cấp đã có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiệntại Tòa án Còn đối với giải quyết tố cáo thì tại Điều 59 Luật khiếu nại, tố cáo

có nêu rõ: “Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của ngườithuộc cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách

Trang 8

nhiệm giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ củangười đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp

trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết” Như vậy,

khác với thẩm quyền giải quyết khiếu nại, người đứng đầu cơ quan, tổ chứcnào đó là chủ thể giải quyết tố cáo không có thẩm quyền giải quyết đối với đơn

tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chính bản thân mình Họ chỉ có quyềngiải quyết những đơn tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ

của người thuộc cơ quan, tổ chức mà mình quản lý trực tiếp.

+ Về trình tự giải quyết, có thể chỉ ra một điểm khác nhau giữa khiếu

nại, tố cáo là vấn đề thời hiệu Đối với khiếu nại: “thời hiệu được tính là 90ngày kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi

hành chính” (Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo) Còn đối với khiếu nại quyết

định kỷ luật cán bộ công chức thì thời hiệu được tính là 15 ngày kể từ ngày

nhận được quyết định kỷ luật.“ Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai địch

họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác màngười khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thìthời gian có trở ngại đó không được tính vào thời hiệu khiếu nại” (Điều 31

Luật khiếu nại, tố cáo) Đối với tố cáo, pháp luật hiện hành không quy định về

thời hiệu tố cáo

- Thứ ba, về mục đích: Nếu như mục đích của khiếu nại là nhằm bảo

vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại bị xâm hại bởiquyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hoặc người có thẩmquyền Thì mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phụcquyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo mà cao hơn thế nữa là nhằm bảo

vệ lợi ích của Nhà nước

Tóm lại: “việc phân biệt hai khái niệm khiếu nại và tố cáo sẽ góp phần

quan trọng trong việc xây dựng cơ chế, thiết chế thực hiện quyền công dân và cũng là cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm, từ đó xác định thẩm quyền và xây dựng trình tự giải quyết khiếu nại và tố cáo ngày càng đơn giản, gọn nhẹ,

Trang 9

nhanh chóng, tiết kiệm và hợp lí hơn” (Giáo trình Thanh tra và giải quyết

khiếu nại, tố cáo – Trường Đại học Luật Hà Nội Nhà xuất bản Công an nhândân Hà Nội 2006)

1.4 Căn cứ pháp lý để giải quyết KN, TC

- Hiến pháp năm 2013

- Luạt khiếu nại luật tố cáo 2011

- Nghị định 136/2006/ND-CP ngày 14/11/2006 của CP quy định chitiết và hướng dẫn thi hành…

- Quyết định 1131/2008/QD – TTCP ngày 18/8/2008 của Thanh trachính phủ

- Điều 118 Pháp lệnh xử lý vi phạm HC 2002 (Sửa đổi, bổ sung năm 2007)

- Các văn bản pháp luật quy định về giải quyết KN, TC của các cơquan quản lý hành chính khác

Trang 10

Chương II TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI

Thành phố Lào Cai là trung tâm kinh tế , chính trị, văn hoá - xã hội củatỉnhLào Cai, là đầu mối giao thông, giao lưu buôn bán giữa nước ta với nướcbạn Trung Quốc Những năm qua được sự quan tâm của Tỉnh, sự nỗ lực cốgắng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc thành phố Lào Cainền kinh tế đã có những bước phát triển toàn diện: cơ sở hạ tầng của thành

phố ngày càng được đầu tư xây dựng và nâng cấp cải tạo, nhiều công trình và

dự án xây dựng cơ bản đã được triển khai, tốc độ phát triển kinh tế và đô thịhoá trên địa bàn tăng nhanh Cùng với sự phát triển kinh tế và phát triển đôthị, những năm qua công tác quản lý đô thị trên địa bàn Thành phố cũng cònbộc lộ một số bất cập như: Công tác xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất đã được triển khai nhưng tiến độ còn chậm; Công tác tuyên truyền, phổbiến giáo dục pháp luật chưa sâu rộng ý thức chấp hành pháp luật của bộ bộphận nhân dân chưa cao… từ đó dẫn đến lượng đ ơn thư khiếu nại, tố cáophát sinh tương đối nhiều Bên cạnh đó, cán bộ công chức các Phòng, Banliên quan đến công tác giải quyết đơn thư còn thiếu năng lực hạn chế nên đãảnh hưởng đến tiến độ giải quyết đơn thư của công dân trên địa bàn Thànhphố

2.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn

* Đối với lĩnh vực hành chính: Qua tổ ng hợp tình hình đơn thư trên địabàn Thành phố hàng năm cho thấy lượng đơn thư phát sinh tương đối nhiều,

số đơn thuộc thẩm quyền giải quyết, đơn không thuộc thẩm quyền hoặc trùnglặp tăng theo từng năm Đặc biệt, năm 2002 khi thị xã Lào Cai được côngnhận là đô thị loại III và có Quyết định của Chính phủ thành lập Thành phốtrực thuộc Tỉnh, nhiều dự án đồng loạt được triển khai, công tác bồi thườngthiệt hại GPMB được thực hiện đồng bộ trong khi nhân dân đến lượng đơnphát sinh là tương đối lớn (896 lượt đơn) Từ năm 2010 đến 2014 thành phố

Ngày đăng: 18/08/2017, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w