1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cuộc đấu tranh của nhân dân miền nam (1961 –1965) chống chiến lược chiến tranh đặc biệt’’

46 844 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 72,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng là thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh Việt Nam trong thế kỷ XX, là một trong những tranh chói lọi trong lịch sử của nhân dân cách mạng thế giới chống chủ nghĩa đế quốc thời đại ngày nay. Các chiến lược chiến tranh “chống nổi dậy” với những âm mưu vô cùng thâm độc, hiểm ác mà chỉ có Mỹ mới nghĩ ra, kết hợp cùng những phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất, hiện đại nhất, vũ khí có khả năng hủy diệt nhất nhằm đè bẹp các lực lượng cách mạng ở Việt Nam. Nhưng với một quyết tâm sắt đá và khí thế cách mạng nóng bỏng: “ Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Để giành được thắng lợi, cả dân tộc ta đã phải trải qua những thử thách, gian truân có những lúc tưởng như khó vượt nổi, chịu những hy sinh, tổn thất lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc kháng chiến thần thánh đến toàn thắng. Đặc biệt là quân dân Miền Nam đã đem hết tinh thần và xương máu chiến đấu, hi sinh cao cả cho đến ngày giành chiến thắng. Những hy sinh to lớn của những người con ngã xuống vì quê hương đất nước mãi mãi là khúc anh hung ca tráng lệ nhất, nó thể hiện khúc anh hung ca chói lọi nhất nối tiếp truyền thống yêu nước quật cường của dân tộc Viêt Nam thân yêu. Đó là lí do tôi chọn “Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam (1961 –1965) chống chiến lược chiến tranh đặc biệt’’ làm đề tài cho bài tiểu luận này.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng là thiên anh hùng ca

vĩ đại của chiến tranh Việt Nam trong thế kỷ XX, là một trong những tranhchói lọi trong lịch sử của nhân dân cách mạng thế giới chống chủ nghĩa đếquốc thời đại ngày nay Các chiến lược chiến tranh “chống nổi dậy” vớinhững âm mưu vô cùng thâm độc, hiểm ác mà chỉ có Mỹ mới nghĩ ra, kết hợpcùng những phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất, hiện đại nhất, vũ khí cókhả năng hủy diệt nhất nhằm đè bẹp các lực lượng cách mạng ở Việt Nam.Nhưng với một quyết tâm sắt đá và khí thế cách mạng nóng bỏng: “ Thà hisinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất không chịu làm nô lệ”,

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Để giành được thắng lợi, cả dân tộc ta

đã phải trải qua những thử thách, gian truân có những lúc tưởng như khó vượtnổi, chịu những hy sinh, tổn thất lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử chiếntranh chống ngoại xâm của dân tộc kháng chiến thần thánh đến toàn thắng.Đặc biệt là quân dân Miền Nam đã đem hết tinh thần và xương máu chiếnđấu, hi sinh cao cả cho đến ngày giành chiến thắng Những hy sinh to lớn củanhững người con ngã xuống vì quê hương đất nước mãi mãi là khúc anh hung

ca tráng lệ nhất, nó thể hiện khúc anh hung ca chói lọi nhất nối tiếp truyềnthống yêu nước quật cường của dân tộc Viêt Nam thân yêu Đó là lí do tôi

chọn “Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam (1961 –1965) chống chiến lược chiến tranh đặc biệt’’ làm đề tài cho bài tiểu luận này.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu quá khứ hào hùng củadân tộc, ôn lại truyền thống đấu tranh giữ nước của ông cha ta, làm nổi bậtđược tầm quan trọng của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc lãnh đạo nhândân đấu tranh giành lại độc lập dân tộc và hơn thế nữa là sự hi sinh anh dũng

Trang 2

và khát khao giành độc của quân dân Miền Nam trong đấu tranh chống Mỹcứu nước

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Làm rõ âm mưu và thủ đoạn của mỹ khi thực hiện chiến lược chiếntranh đặc biệt ( 1961 – 1965 )

2 Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam(1961 -1965)chống chiến lược chiến tranh đặc biệt

3 Bài học kinh nghiệm

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp trò chuyện: trao đổi, tham khảo và ghi nhận ý kiến của

các bạn, thầy cô

- Phương pháp đọc sách và tài liệu: dựa vào một số bài tiểu luận để

biết được cấu trúc, cách hành văn của một bài nghiên cứu và còn dựa vào cáctài liệu liên quan trên sách, báo, tạp chí, internet…

- Sử dụng Phương pháp tổng hợp nhằm có cái nhìn xuyên suốt và toàndiện về quy luât chiến tranh nhân dân chống Mỹ của dân tộc Việt Nam

5 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì bài tiểu luận còn

3 chương: Cụ thể là;

Phần mở đầu gồm 7 mục

Phần nội dung gồm 3 chương:

Chương I: Lý luận về chiến tranh và chiến tranh đặc biệt

Chương II: Âm mưu và chính sách của mỹ đối với miền Nam Viêt Nam

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I

LÝ LUẬN VỀ CHIẾN TRANH VÀ CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT

I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-lênin về chiến tranh

1.1 Chiến tranh là một hiện tượng chính trị xã hội

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định chiến tranh là một hiện tượng xãhội mang tính lịch sử Đó là cuộc đấu tranh giữa các tổ chức, các giai cấpnhằm mục đích chính trị bởi chiến tranh bao giờ cũng gắn với chính trị, đảngphái Vì chiến tranh là kết quả của các mối quan hệ giữa con người với conngười trong xã hội giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác có lợi íchcăn bản trái ngược nhau

Chiến tranh là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấpđảng phái vì chiến tranh là hình thức vũ trang có tổ chức vũ khí và có trang

bị Đây là đặc trưng chiến tranh để phân biệt với các tổ chức chính trị khác

Chiến tranh bao giờ cũng nhằm mục đích chính trị gắn với mục đíchgiai cấp của nhà nước

Chiến tranh bao giờ cũng có tính lịch sử vì nó chỉ xuất hiện ở một giaiđoạn nhất định vì chủ nghĩa Mác -Lênin khẳng định trong một lịch sử pháttriển của loài người đã có một giai đoạn không có chiến tranh, đó là xã hộicông xã nguyên thủy kéo dài hang vạn năm con người chưa biết chiến tranh làgì

1.2 Nguồn gốc của chiến tranh

Thứ nhất, đó là nguồn gốc về kinh tế đó là sự xuất hiện chế độ tư nhân.Đây chính là nguồn gốc sâu xa của chiến tranh Đó là sự bóc lột về kinh tế

Thứ hai, là nguồn gốc xã hội khi chế độ công xã nguyên thủy tan rãhình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ thay thế Khi chế độ chiếm hữu nô lệ

Trang 4

xuất hiện kéo theo sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước Đó là nguyên nhânsâu xa gây nên sự bất bình đẳng trong xã hội.

Sự xuất hiện chế độ tư hữu giai cấp nhà nước là nguồn gốc sinh rachiến tranh

1.3 Bản chất của chiến tranh

Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định bản chất của chiến tranh là sự kế tụcgiữa các giai cấp bằng thủ đoạn chính trị, chính trị theo quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin là mối quan hệ giữa các giai cấp, thể hiện ý chí của một giaicấp nhất định Chính trị là biểu hiện tập tring của kinh tế phản ánh lợi ích kinh

tế của các giai cấp, đồng thời chiến tranh là một phương thức một thủ đoạnnhằm đạt tới mục đích chính trị, của giai cấp, nhà nước nhất định Giữa chiếntranh và chính trị có một mối quan hệ mât thieetts vowus nhau trong đó chínhtrị chi phối và quyết định toàn bộ tiến trình của chiến tranh Còn chiến tranh

là một bộ phận, một phương tiện của chính trị Nó tác đông lên chính trị theohai hướng: hướng tích cực và hướng tiêu cực

1.4 Tính chất của chiến tranh

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng có hai loại chiến tranh: chiến tranh tiến

bộ cách mạng chính nghĩa: Là cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc giải phóng dântộc của nhân dân lao động chống lại thực dân đế quốc xâm lược; Và chiếntranh phản động phản cách mang phi nghĩa: là chiến tranh đi xâm lược nôdịch đất đai dân tộc khác

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh

Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá

uy luât và ban chất của chiến tranh tác động đến đời sống xã hội

Hồ chí Minh chỏ rõ cuộc chiến tranh do thực dân Pháp thực hiện ởnước ta là cuộc chiến tranh xâm lược, ngược lại với cuộc chiến tranh của nhândaanm ta chống lại Pháp là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập và chủquyền thống nhất

Trang 5

Xác định tính chất của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị xã hộicủa cuộc chiến tranh xâm lược Hồ chí Minh khẳng định; ngày nay cuộc chiếntranh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc chiến tranhtoàn dân, trong đó phải có lực lượng vũ tranh nhân dân làm nòng cốt

II Khái niệm về chiến tranh và chiến tranh đặc biệt

1 Chiến tranh là gì?

Chiến tranh là một hiện tượng chính trị xã hội, có tính lịch sửu, sự tiếptục của chính trị bằng bạo lực giữa các tập đoàn người trong môt nước haygiữa các nước hay liên minh các nước

Đặc trưng cuuar chiến tranh là đấu tranh vũ trang có tổ chức, theonhững quy tắc nhất định và thường kết hợp với các hình thức đấu tranh khácnhư: Chính trị, kinh tế, ngoại giao

Nói tóm lại chiến tranh là sự xung đột do từ mâu thuẫn ý thức giữa cáchêt tư tưởng khác nhau

2 Chiến tranh đặc biệt là gì?

Chiến tranh đặc biệt'' là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mớicủa Mỹ, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống

cố vấn" quân sự và dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranhcủa Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta Âm mưu cơbản của "Chiến tranh đặc biệt" là "dùng người Việt đánh người Việt"

Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, Mỹ tăng nhanh viện trợ quân sựcho Diệm, đưa vào miền Nam số lượng ngày càng lớn "cố vấn" quân sự vàlực lượng hỗ trợ chiến đấu Số lượng đó tăng lên hàng năm: cuối năm 1960 có1.100 tên; cuối năm 1962 có 11.000 ; cuối năm 1964 có 26.000 Bộ chỉ huyquân sự Mỹ, được thành lập tại Sài Gòn ngày 8-2-1962 thay cho Đoàn cố vấnviện trợ quân sự, được thành lập năm 1950

Để phối hợp, chính quyền Sài Gòn ra sức bắt lính, tăng nhanh lựclượng quân ngụy, từ 170.000 (giữa 1961) lên 560.000 (cuối 1964) Quân ngụy

Trang 6

được trang bị hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới, như "trực thăngvận", "thiết xa vận"

Được sự hỗ trợ chiến đấu và chỉ huy của cố vấn Mỹ, quân ngụy liêntiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng,tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc, hoạt động kiểm soát, phong tỏabiên giới và vùng biển

Trang 7

CHƯƠNG II: ÂM MƯU VÀ CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI MIỀN

NAM VIỆT NAM

I ÂM MƯU VÀ CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI MIỀN NAM VIỆT NAM

1 Ý đồ của đối với Việt Nam.

Trong khoảng thời gian từ sau hiệp định Giơnevơ cho đến những năm

50 của thế kỷ XX, cuộc chiến tranh lạnh giữa hai phe đế quốc chủ nghĩa và xãhội chủ nghĩa diễn ra gay gắt trên quy mô toàn cầu

Sau chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945), Mỹ là cường quốc ít bịthiệt hại nhất không những thế Mỹ còn giàu lên nhanh chóng và trở thànhcường quốc kinh tế, quân sự hàng đầu trên thế giới Đặc biêt Mỹ sở hữu độcquyền về vũ khí hạt nhân cho đến năm 1949, Liên Xô thư thành công vũ khíhạt nhân của mình

Năm 1953, Aixenhao lên làm tổng thống Mỹ Ngay sau khi lên nắmquyền, Aixenhao đã thể hiện tham vọng bá quyền của Mỹ, “ Định mệnh đặtlên đất nước chúng ta trách nhiệm lãnh đạo thế giới tự do” Aixenhao phêphán chính sách ngăn chặn cộng sản của chính phủ Truman và đề ra chínhsách đẩy lùi cộng sản, và đòi giải phóng các nước xã hội chủ nghĩa

Đối với Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, Mỹ đã có ý đồ xâm lược Trongcuộc họp hội đồng an ninh quốc gia ngày 8 tháng 1 năm 1954, tổng thốngAixenhao nhấn mạnh “ Mỹ không được quên những lợi ích của mình ở khuvực này ( Đông Dương ) “…

“ Đông Dương như một con đe đang bị rò rĩ và giải pháp tốt nhất là vàohơn là để cả con đê ấy bị cuốn trôi”

Tuy từ chối ký vào tuyên bố chung của hiệp định Giơnevơ, nhưng Mỹcho rằng việc chia cắt Việt Nam là cơ hội tốt để xây dựng một đế chế phicộng sản ở miền Nam Việt Nam, ý đồ của Mỹ đối với Nam Viêt Nam là:

Trang 8

-Xây dựng Nam Việt Nam thành một thể chế quốc gia chống cộng, đốilập với miền Bắc Không có thỏa hiệp, hiệp thương, tổng tuyển cử trong cảnước theo tinh thần của hiệp định Giơnevơ

-Thiết lập một chính phủ chống cộng mạnh hoat động có hiệu quả và có

uy tín trong và ngoài nước

-Tập trung xây dựng một đội quân quốc gia mạnh bao gồm 10 sư đoàn

đủ sức

phá hoại hoặc xâm lăng miền Bắc tiến tới khống chế toàn Đông Dương.Thay chân Pháp Mỹ áp đặt chính sách thực dân kiểu mới làm cho xãhội miền Nam biến đổi sâu sắc, nhằm thực hiện ý đồ thống trị của mình

Trong gần 4 năm từ 1956 – 1960 Mỹ tăng cường đàn áp dã man phongtrào đấu tranh của nhân dân miền Nam, chúng xây dựng những trại tập trunglớn

Đảng bộ cách mạng ở miền Nam bị tổn thất nặng nề, nhiều chiến sĩcách mạng bị bắt và tù đày, số ít thì đầu hang.Tính đến cuối 1958, trên toànmiền Nam số đảng viên bị giết hại là 68.800 000 người, bắt giam 466 000người và tra tấn thành thương tật 680 000

2 Phong trào Đồng khởi

Từ cuối năm 1959 – 1960, Mỹ Diệm điên cuồng tàn sát cách mạngmiền Nam, đặc biệt là ban hành săc lệnh 10.1959 một sắc lệnh hết sức phát xít

và trắng trợn nhằm loại cộng sản ra khỏi vòng pháp luât và tuyên bố vô cớ bắtgiam quần chúng cách mạng

Đê máy chém đi khăp miền Nam nhằm uy hiếp tinh thần của quầnchúng cách mạng

Lực lượng cách mạng đứng trước tình thế hết sức cam go và quyết liệt.Địch đã sử dụng lực lượng và phương tiện chiến tranh hiện đaiị chống lại lựclượng yêu nước buộc nhân phải dung bạo lực để chống lại và bảo vệ mình

Giữa lúc đó tháng 1 – 1959 Ban chấp hành Trung ương họp Hội nghị

Trang 9

“ Nhiệm vụ là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị cuuar đế quốc vàphong kiến thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng và hoàn thành cuộccách mạng dân tộc, dân chủ và nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nướcViêt Nam hòa bình thống nhất và giàu mạnh”

Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam lúc này là dungbạo lực cách mạng “ dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếukết hợp với lực lượng vũ trang nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc vàphong kiến lập nên chính quyền cách mạng của nhân dân”

Khắp nơi trong miền Nam khí thế chuẩn bị âm thầm, bí mật và khẩntrương cho cách mạng đang diễn ra sôi nổi Ngày 9 tháng 11 năm 1959, Hộinghị xứ ủy Nam bộ mở rộng diễn ra tại chiến khu Dương Minh Châu ( TâyNinh ) bàn về việc thực hiện nghị quyết của hhooij nghị Ban chấp hành Trungương lần thứ 15 khóa II Đồng chí Nguyễn Văn Linh Bí thư xứ ủy chủ trì, Hộinghị đã phân tích tình hình những cuối năm 1959 và đi đến nhận định: “ Địch

đã bị động về toàn cục và không thể điều hành theo ý muốn của chúng Ở xã,

ấp địch yếu chứ không mạnh, bằng lực lượng chính trị của quần chúng bằngcác tổ đội vữ trang có thể tiêu diệt được địch…”

Ngay sau khi có chủ trương của xứ ủy phong trào đấu tranh của quầnchúng diễn ra vô cùng ác liệt nổi bật nhất như ở Tây Ninh ngay trong mộtđêm quần chúng đã trừng phạt 23 tên ác ôn và ghi rõ tội trạng do tòa án phánxét Chỉ sau một thời gian thực hiện chủ trương này đã gây hoang mang lớncho hệ thống chính quyền của Mỹ Diệm

Thực hiện chủ trương của Hội nghị Liên tỉnh uỷ Trung Nam Bộ, ngày17-1-1960, nhân dân Bến Tre nổi dậy khởi nghĩa, bắt đầu từ 3 xã điểm: ĐịnhThuỷ, Phước Hiệp và Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) Phong trào Đồng khởinhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh Bến Tre Chỉ trong một tuần lễ (từ 17 đến24-1-1960), nhân dân 47 xã thuộc các huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, ChâuThành, Ba Tri, Thạnh Phú nhất tề nổi dậy, giải phóng xã, ấp khỏi ách kìm kẹpcủa địch

Trang 10

Thắng lợi trong cuộc đồng khởi của nhân dân Bến Tre làm cho địchđiên đầu Ngô Đình Diệm lập tức đến Bến Tre để khảo sát tình hình, đồngthời lệnh cho quân đội đưa 10 nghìn lính về 3 xã trên để mở cuộc vây quét lựclượng cách mạng Quân địch đi đến đâu, chúng bắn giết, đốt phá, cướp bóc,hãm hiếp phụ nữ tới đó Chúng chôn sống 36 thanh niên và giết hại 80 đồngbào Nhằm ngăn chặn hành động bạo ngược đó, Tỉnh uỷ Bến Tre quyết địnhvận động, tổ chức quần chúng đấu tranh trực diện với địch; đồng thời, huyđộng tổ chức lực lượng phụ nữ kéo ra quận lỵ Mỏ Cày tố cáo tội ác của binhlính địch, đòi chúng rút quân Ngày 1-4-1960, hàng nghìn phụ nữ với hàngtrăm ghe, thuyền, đem theo lợn, gà, xoong, nồi, mùng, màn, kéo về quận

lỵ lánh nạn Cuộc tản cư ngược của phụ nữ 3 xã này nhanh chóng được bổ

sung thêm lực lượng Đến quận lỵ, chị em lớp đưa đơn, lớp nói miệng đòi

Quận trưởng cho nương nhờ để chờ quân “áo rằn” rút Trước lời lẽ có lý, có

tình của chị em, địch buộc phải thừa nhận tội ác và hứa rút quân Cuộc đấutranh chính trị của phụ nữ Bến Tre đã giành thắng lợi lớn và từ đây xuất hiện

cụm từ “Đội quân tóc dài” để chỉ cuộc đấu tranh chính trị của phụ nữ miền

Nam

Cùng với Bến Tre, nhân dân và lực lượng vũ trang ở miền Trung Nam

Bộ, Tây Nam Bộ đã vùng lên mạnh mẽ, giành được những thắng lợi to lớn.Phong trào Đồng khởi nhanh chóng lan rộng và phát triển đồng loạt vào tháng9-1960 trên khắp miền Nam: từ Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đến các tỉnhmiền Tây đồng bằng Khu 5 Cách mạng đã làm chủ được một vùng căn cứrộng lớn, có ý nghĩa chiến lược, nối từ Tây Nguyên xuống miền Đông, miềnTây Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng Khu 5; đồng thời, đã thúc đẩy quần chúng

ở các đô thị, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định, đứng lên đấu tranh mạnh mẽ4

Như vậy, dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, nhân dân miền Nam đãnhất tề nổi dậy bằng nhiều phương pháp khởi nghĩa cực kỳ phong phú, sángtạo, làm tan rã hàng loạt bộ máy kìm kẹp của địch ở xã, ấp, thôn, bản Phong

Trang 11

Nam được khôi phục, lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huyquân sự các cấp được thành lập; các căn cứ địa cách mạng được khôi phục,

mở rộng; tuyến đường huyết mạch Trường Sơn - Hồ Chí Minh và tuyếnđường biển được hình thành và phát triển5

Có thể nói, cách mạng Việt Nam ở miền Nam từ đồng khởi và bằngđồng khởi đã vượt qua thử thách nghiêm trọng nhất, từ thoái trào và thế giữgìn lực lượng, chuyển hẳn sang thế tiến công Trên ý nghĩa đó, đồng khởichính là bước thắng lợi đầu tiên, rất cơ bản trên chặng đường đấu tranh lâudài, gian khổ của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược Từ Nghị quyết 15đến Phong trào Đồng khởi, Đảng ta đã có thêm những điều kiện thực tiễnquan trọng để rút ra được nhiều bài học lớn về chỉ đạo cách mạng, như: đánhgiá đúng địch và ta, nắm vững quan điểm bạo lực, quán triệt tư tưởng chiếnlược tiến công Đặc biệt, Phong trào Đồng khởi ở miền Nam (1959 - 1960)chính là hình ảnh sinh động nhất của sự gặp gỡ giữa ý Đảng và lòng Dân.Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hơn bao giờ hết, sự gặp gỡ giữa

ý Đảng và lòng Dân là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện thành côngnhững mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết các Hội nghị, Đại hội Đảng đề ra

Để có sự gặp gỡ đó, cán bộ, đảng viên, các chi bộ, đảng bộ các cấp phải nêucao tinh thần trách nhiệm, tích cực phổ biến, tuyên truyền Nghị quyết củaĐảng đến mỗi người dân; khi đã thấu hiểu thì dù gặp bất cứ trở ngại nào, quầnchúng cũng gắng sức vượt qua, đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống và trở thànhhiện thực

Nghị quyết 15 là cột mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển củacách mạng miền Nam, mở ra một kỷ nguyên mới tạo cho nhân dân niềm tinvững vàng vào cuộc đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang chốnglại âm mưu của kẻ thù Nghị quyết 15 ra đời đáp ứng nguyện vọng của nhândân đáp ứng những trăn trở khúc mắc trong long của nhân dân miền Nam lâunay

Trang 12

II MỸ TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT (1961-1965)

1 Chiến lược chiến tranh đặc biệt và triển khai quốc sách ấp chiến lược

1.1 Mỹ triển khai chiến lược chiến tranh đặc biệt

Khi kennơdy lên làm tổng thống Mỹ ( 1961 ) tình hình của chính trị quân sự của Mỹ đồng khởi hình thái chiến tranh du kích cục bộ diễn ra mạnh

-mẽ ở khắp các vùng nông thôn và đang phát triển thành cao trào, Đảng chủtrương đảy mạnh đấu tranh vũ trang xong xong với đấu tranh chính trị, tiếncông địch trên cả hai mặt trận là chính trị và quân sự tạo mọi thời cơ thuận lơinhằm tranh thủ lật đổ Mỹ Diệm tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam

Chính sách tố cộng diệt cộng của Mỹ Diệm bị phong trào Đồng khởigiáng một đòn chí mạng ở nhiều vùng liên khu V, Nam bộ, Tây Nguyên, đồngthời cũng đẩy mạnh phong trào phá ấp chiến lược và tranh thủ mở rộng vùng

tự do giải phóng, đẩy địch vào tình thế khủng hoảng buộc phải sử dụng bạolực cách mạng để đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân miềnNam Việt Nam Ngày 11 tháng 5 năm 1961, tổng thống Kennơdy chuyển từchính sách tố cộng diệt cộng sang chiến tranh đặc biệt

Để thực hiện được chính sách này Mỹ Diệm chủ trương:

Trang 13

Đây là một kiểu chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới nhằm ngănchặn phong trào nổi dậy đấu tranh của quần chúng nhân dân và đàn áp phongtrào cách mạng.

Chiến lược chiến tranh đặc biêt đươc mở đầu bằng việc trieennr khaithực hiện kế hoạch Staley-taylo nhằm bình định miền Nam trong vòng 18tháng, gồm ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: Là giai đoạn cơ bản của kế hoạch nhằm bình định miềnNam trong vòng 18 tháng dung các biện pháp chủ yếu là dồn dân lập ấp nhằmtát nước bắt cá, đánh phá các cơ sở cách mạng của ta ở các vùng nông thôn.Đồng thời phối hợp với các lực lượng yểm trợ của Mỹ nhằm mở các chiếndịch hòng tiêu diet lực lượng vũ trang của ta, lập các hệ thống cứ điểm tại cácvùng biên giới, giới tuyến nhằm ngăn chặn sự xâm nhập từ miền Bắc vaomiền Nam Tăng cường hoạt động tình báo, gián điệp

Giai đoạn 2: Phục hồi kinh tế tăng cường quân đội ngụy quân, đánh phámiền Bắc

Giai đoạn 3: Phục hồi kinh tế

Ngày 18-10-1961, Chính phủ Mỹ cử Taylor và Rostaw, hai thành viênHội đồng an ninh quốc gia, dẫn đầu một phái đoàn gồm các chuyên gia vềquân sự, dân sự sang miền Nam Việt Nam để nghiên cứu, đánh giá lại tìnhhình cụ thể và kết luận tại chỗ, đề ra các phương án đối phó Phái đoàn này đề

ra ba phương án hành động của Mỹ như sau:

1 Đưa vào miền Nam Việt Nam ba sư đoàn quân Mỹ để "đánh bại Việtcộng"

2 Đưa tượng trưng một số quân chiến đấu Mỹ "cốt nhằm mục đích xáclập sự có mặt của Mỹ ở Nam Việt Nam" để nâng đỡ tinh thần quân đội vàchính quyền Sài Gòn đang sa sút mạnh và cũng để tạo điều kiện cho việc tăngviện quân Mỹ khi cần

3 Tăng thêm viện trợ, vũ khí, trang bị chiến tranh và đẩy mạnh công táchuấn luyện cho lực lượng vũ trang Sài Gòn để nâng cao sức chiến đấu của nó

Trang 14

Ngày 3-11-1961, phái đoàn Taylor gửi về Wasington bản báo cáo nóitrên, trong đó, kiến nghị một loạt các biện pháp cấp bách đề cứu vãn tìnhhình:

- Cử các cố vấn hành chính sang tham gia vào bộ máy chính quyền SàiGòn

- Cùng chính phủ Sài Gòn tiến hành các biện pháp cần thiết để cải thiệnmạng lưới tình báo quân sự, chính trị trong chính quyền và quân đội

- Mở cuộc điều tra rộng lớn ở các tỉnh trên khắp miền Nam để lượngđịnh các nhân tố xã hội, chính trị, kinh tế, tình báo, quân sự, tâm lý có liênquan tới "công tác chống nổi loạn" để có thêm cơ sở cho việc đề ra các biệnpháp hiệu quả hơn

- Tăng cường viện trợ, vũ khí, trang bị và huấn luyện cho lực lượng bảo

an, dân vệ để lực lượng này đủ sức thay thế các đơn vị chính quy làm nhiệm

vụ "diện địa" (giữ đất), tạo điều kiện cho các đơn vị chính quy đẩy mạnh cáccuộc hành quân cơ động, có tính tiến công

- Giúp đỡ chính phủ Sài Gòn giám sát và kiểm soát vùng biển và cácđường thuỷ nội địa bằng cách cung cấp cố vấn, nhân viên điều hành vàphương tiện cần thiết cho nhiệm vụ này

- Tổ chức lại và tăng biên chế phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ

- Đưa vào miền Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm gồm6.000 đến 8.000 quân hoạt động dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Mỹ để tạo ra sự

có mặt về quân sự, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự và khi cần, có thể mởcác cuộc hành quân mang tính chất tiến công Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệmnày còn đóng vai trò "như một bộ phận đi trước của lực lượng Mỹ sẽ đượcđưa vào nếu như dùng đến các kế hoạch khẩn cấp của Tổng tư lệnh Thái BìnhDương hoặc của khối SEATO"

- Tăng thêm viện trợ để hỗ trợ thích đáng chương trình "chống nổi loạn

mở rộng"

Trang 15

Ngoài những biện pháp chung trên đây, phái đoàn Taylor còn kiến nghịmột "Chương trình tham gia có giới hạn" của Mỹ trong lĩnh vực quân sự; cửsang Nam Việt Nam các cố vấn cấp cao tham gia vào các cơ quan chính phủ

và các bộ chủ chốt; thành lập ban thanh tra quân sự hỗn hợp từ trung ươngxuống quân khu và các tỉnh; tăng cường một cách cơ bản nhân viên huấnluyện Mỹ ở mọi cấp và trên mọi lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, vănhoá, xã hội; triển khai vào Nam Việt Nam các đơn vị công binh, hậu cần, máybay lên thẳng nằm trong khuôn khổ lực lượng quân sự đặc nhiệm Mỹ đã được

đề nghị trước đây; đưa thêm các đội lực lượng đặc biệt Mỹ để cùng lực lượngđặc biệt Sài Gòn tăng cường cho vùng biên giới; đẩy mạnh các hoạt động tiếncông bí mật ra miền Bắc Việt Nam và Lào, kể cả những hoạt động biệt kíchbằng không quân, nếu tình hình Nam Việt Nam tiếp tục xấu đi, Mỹ sẽ némbom miền Bắc để gây áp lực

Quân đội Việt Nam cộng hòa phát triển rất nhanh dưới kế hoạch này,trong vòng 18 tháng kể từ khi thực hiện:

 Quân đội có 354 000 quân trong đó 200 000 là quân chủ lực đượctrang bị hiện đại

 257 máy bay chiến đấu

 346 xe thiết giáp

 2.630 cố vấn Mỹ hoạt động trong quân đội Việt Nam cộng hòa và8.280 binh sĩ Mỹ thuộc các lực lượng đặc nhiệm Khi tham chiến, cố vấn Mỹtham gia chỉ huy tới từng đại đội bộ binh

Mục tiêu của chiến tranh đặc biêt là dung quân sự kết hợp với chính trịtâm lý, mỵ dân nhằm đàn áp, cô lập tiến tới tiêu diệt các lực lượng vũ trang và

tổ chức cơ sở Đảng.Tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân nhằm giành lạivùng nông thôn đông dân nhất là vùng đồng bằng song cửu long, nhất là vùngvành đai Sài Gòn,ra sức ngăn chặn biên giới, vùng biển nhằm cắt đứt nguồnviện trợ từ Bắc vào Nam

Trang 16

Trên cơ sở đó đánh bại cuộc chiến tranh du kích của quần chúng, bópchết cuộc đấu tranh của toàn Nam Viêt Nam nhằm giành thắng lợi trong thờigian ngắn.

Theo Thomson, chuyên gia chiến tranh du kích người Anh thì ý đồ của

Mỹ ở Nam Việt Nam từ 1960 về trước là giữ Nam Việt Nam kiềm chế TrungQuốc, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội vào Đông Nam Á và từ năm 1961 trở đi làrăn đe quân sự

Mỹ ngụy hy vọng với chiến lược chiến tranh đặc biệt mà nòng cốt là

kế hoạch Staley-taylor có thể đàn áp phong trào đồng khởi ở Nam Việt Nam.Thực chất kế hoạch Staley-taylor là bước can thiệp sâu hơn của mỹ vào chiếntranh Việt Nam nhằm đánh nhanh thắng nhanh và bình định miền Nam trongvòng 18 tháng

Chúng chủ quan cho rằng với kế hoạch đó hoàn toàn có thể giànhthắng lợi sau đó sẽ rút dần quân Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam và chiến tranhchống nổi dậy cuuar chúng sẽ kết thúc thắng lợi vào năm 1965

Tiến hành chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ đã đúc rút kinh nghiệm từcác cuộc đàn áp phong trào nổi dậy ở Malaysia, Philippin… Qua việc nghiêncứu đặc điểm của chiến tranh du kích ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa,chúng cho rằng phong trào du kích ở các nước nông nghiệp lạc hậu chủ yếuxuất phát từu nông dân, du kích nằm trong nhân dân chẳng khác gì như cá lộitrong nước Từ đó, chúng đi đến kết luận rằng muốn thắng được chiến tranh

du kích phải “ tát nước để bắt cá “

Chiến tranh đặc biệt theo kiểu Mỹ tiến hành ở Nam Việt Nam là chiếntranh phối hợp tác chiến giữa lực lượng vũ trang chính quy và không chínhquy, lực lượng biệt kích bao gồm lính người bản xứ với sựu chỉ huy trực tiếpcủa lực lượng cố vấn Mỹ Biện pháp chính của chiến tranh đặc biệt là hànhquân càn quét của quân đội kết hợp với bình định gom dân lập ấp chiến lượccủa lực lượng bảo an, dân vệ Chúng ra sức xây dựng hệ thống thông tin vô

Trang 17

tuyến điện và hệ thống trinh sát, gián điệp nhằm phục vụ cho chiến dịch tìmdiệt của chúng.

1.2 Mỹ triển khai quốc sách ấp chiến lược

Mỹ thực thi quốc sách ấp chiến lược Ngày 3-2-1962, Tổng thống NgôĐình Diệm ký Sắc luật 11/TTP, thiết lập Ủy ban Trung ương Đặc trách ấpchiến lược, Ủy Ấp chiến lược là quốc sách của chính quyền anh em nhà họNgô Với quốc sách ấp chiến lược Mỹ và Việt Nam cộng hòa lúc đó dự định

sẽ xây dựng 17.000 ấp, gom khỏang 10 triệu dân nông thôn, có thể bình địnhđược vùng nông thôn Miền Nam Việt Nam trong vòng 18 tháng

Ngày 23-3-1962, Sài Gòn phát động chính sách ấp chiến lược Thíđiểm đầu tiên là khu vực Bến Cát (Bình Dương) tức chiến dịch Mặt trời mọc(Sunrise) Người phụ trách chương trình ấp chiến lược nầy là Albert Phạ

Mỗi ấp chiến lược được bao quanh (thường gồm ba hào, hai thành càichông mìn, dây thép gai), có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, cóthiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập bí mật,ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại Việc quản lý Ấp do một Ban trị

sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng vệ dân sự phốihợp với các đơn vị Thanh niên, Thanh nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách

Ấp chiến lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng nhằm táchrời du kích của lực lượng Giải phóng miền Nam ra khỏi dân nông thôn, cô lập

du lích và cơ sở cách mạng để tiêu diệt hay kêu gọi chiêu hồi

“Quốc sách ấp chiến lược” là một mô hình bình định nông thôn do Anhquốc thực hiện thành công ở Malaixia Robert Thompson - chuyên gia quân

sự về chống du kích, được mời sang Nam Việt Nam làm cố vấn xây dựng ấpchiến lược Tháng 4-1962, quốc hội Việt Nam cộng hòa tuyên bố chươngtrình Âp chiến lược là một "quốc sách chống cộng"

Để có tiền thực hiện “Quốc sách ấp chiến lược”, ngày 21-8-1962, Hoa

Kỳ đã ký kết với Chính phủ Diệm sẽ mua 10 triệu Mỹ kim tiền Viêt Namcộng hòa theo hối suất tự do, để Viêt Nam có tiền tài trợ các

Trang 18

Từ khi thực hiện “Quốc sách ấp chiến lược”, hành quân càn quét lập ấpchiến lược trở thành hoạt động chủ yếu nhất của quân đội Việt Nam cộng hòa,sôi nổi nhất trong những năm 1962 - 1963 Tính đến cuối năm 1962 đã có gần4.000 cuộc hành quân càn quét phục vụ cho chương trình ấp chiến lược, trong

đó có nhiều cuộc càn quét quy mô lớn như "Chiến dịch mặt trời mọc", "Chiếndịch Bình Tây", "Chiến dịch Sao Mai", "chiến dịch Thu Đông" Đến cuốinăm 1962 đầu năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên bố đã xây dựngđược 9.095 ấp

Quốc sách ấp chiến lược biến những làng quê trở thành đốn bót quân sựsẵn sàng chiến đấu, những làng nào không thuận tiện biến thành làng chiếnđấu thì phải dọn đến những nơi thuận tiện, bỏ hết nhà thờ họ, đình chùa, miếumạo mang truyền thống văn hóa Việt ra đời từ thuở sinh cơ lập nghiệp và cóthể thay vào đó một ngôi nhà thờ Thiên chúa giáo Quốc sách ấp chiến lược làmột quốc sách phản dân

“Quốc sách ấp chiến lược” bị giải tán, giai đoạn 1 thực hiện từ giữanăm 1961, nội dung chủ yếu là bình định miền Nam bằng biện pháp “Ấpchiến lược” (Strategic Hamlets) của kế hoạch Staley - Taylor hòan tòan thấtbại Vì thế Mỹ và Việt Nam cộng hòa không thực hiện được giai đọan hai vàgiai đọan ba để giành chiến thắng, kết thúc chiến tranh ở miền Nam Việt Namvào năm 1965 như họ đã lập kế họach Sự thất bại của quốc sách ấp chiếnlược mở đầu cho những thất bại lớn hơn về sau không phải vì thiếu tiền, thiếu

kỹ thuật phòng thủ, thiếu phương tiện mà chính vì nó thiếu chính nghĩa, thiếucái tâm, đi ngược lại với truyền thống văn hóa của dân tộc Không chỉ các lựclượng giải phóng dân tộc phá các ấp chiến lược để cứu dân mà cả nhữngngười dù ở bên kia chiến tuyến mà còn một chút thương dân ở đáy lòng cũngphải hành động như thế Đó là trường hợp của tướng Dương Văn Minh đúng

45 năm trước

Trang 19

CHƯƠNG III CUỘC ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM CHỐNG CHIẾN

TRANH ĐẶC BIỆT (1961-1965)

I CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG UONG ĐẢNG VÀ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM CHỐNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT.

1 Những điều kiện mới, nhiệm vụ mới của cách mạng miền Nam sau phong trào Đồng khởi.

Với phong trào Đồng khởi cách mạng miền Nam chuyển từ thế gìn giữlực lượng sang thế tấn công Vùng giải phóng được mở rộng thành thế liênhoàn từ vùng rừng núi đến nông thôn, người dân đã được làm chủ và tích cựcchuẩn bị cho khởi nghĩa

Trên cơ sở thắng lợi của phong trào Đồng khởi tại Tây Ninh vào tháng

12 năm 1960, Mặt tận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời với tuyên ngôn:Mặt trận có chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các dân tộckhông phân biệt tôn giáo đảng phái cùng đưungs lên khang chiến chống Mỹnhằm tiến tới hòa bình, thống nhất

Chương trình 10 điểm của Mặt trận cũng nêu rõ mục tiêu và nhiệm vụcủa Mặt trận 1 Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chínhquyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, thành lập chính quyền liênminh dân tộc, dân chủ

2 Thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi và tiến bộ

3 Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, thực hiện cải thiện dân sinh

4 Thực hiện giảm tô, tiến tới giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân,làm cho người cày có ruộng

5 Xây dựng nền văn hóa, giáo dục dân tộc, dân chủ

6 Xây dựng một quân đội bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân

Trang 20

7 Thực hiện dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền, bảo hộ quyền lợichính đáng của ngoại kiều và kiều bào.

8 Thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, trung lập

9 Lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền, tiến tới hòa bình thốngnhất Tổ quốc

10 Chống chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình thế giới

Măt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời là một sự kiện có ý nghĩatrọng đại, là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miềnNam chống Mỹ Diệm, mà đỉnh cao là thắng lợi của phong trào Đồng khởi

Đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam, tháng

1-1961, Trung ương Cục miền Nam ra đời; tháng 2-1-1961, các lực lượng vũ trang thống nhất thành Quân giải phóng miền Nam

Dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận Dân tộc giải phóng doĐảng lãnh đạo, quân dân miền Nam đẩy mạnh đấu tranh chống Mĩ và chínhquyền Sài Gòn, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nổi dậytiến công địch trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và

đô thị), tiến công địch bằng cả ba mũi (chính trị, quân sựu, binh vận)

Do địch chuyển sang chiến tranh đặc biệt tiến hành một cuộc chiếntranh thật sự ở miền Nam nhằm tiêu diet lực lượng vũ trang và cơ sở cáchmạng của ta, gom dân làm ấp Vì vậy, Đảng ta đã quyết định tiến hành chiếntranh hy động sức mạnh của toàn dân, kết hợp đấu tranh chính trị với đấutranh vũ trang, sử dụng cả ba thứ quân nhằm tiêu diet sinh lực địch Đánh bạichiến tranh đặc biệt mà trọng tâm là chiến lược dồn dân lập ấp của địch

Quán triệt chỉ đạo của Trung ương việc chiến đấu chống chiến tranhđặc biệt mà trọng tâm là phá ấp chiến lược của đich là một nhiệm vụ trọngtâm và lâu dài Mặt khác Đảng ta chỉ thị sau phong trào Đồng khởi cách mạngmiền Nam phải chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh vũ trang nhằmđánh bại cuộc chiến tranh đặc biệt của Mỹ Diệm

Trang 21

Trong những năm 1961-1962, Quân giải phóng đã đẩy lùi nhiều cuộctiến công của địch, tiêu diệt nhiều đồn bốt lẻ của chúng.

Cuộc đấu tranh chống và phá “ấp chiến lược: diễn ra gay go, quyết liệtgiữa ta và địch; có hàn chục triệu người tham gia phá “ấp chiến lược” đi đôivới xây dựng làng chiến đấu Với quyết tâm “Một tấc không đi, một li khôngrời”, nhân dân miền Nam kiên quyết bám đất, giữ làng, phá thế kìm kẹp củađịch

Mĩ và chính quyền Sài Gòn dù tập trung sức dồn dân, lập “ấp chiếnlược” nhưng cũng chỉ thực hiện được một phần kế hoạch (non nửa số 16 000ấp)

Đến cuối năm 1962, trên nửa tổng số ấp với gần 70% nông dân ở miềnNam vẫn do cách mạng kiểm soát

II NHỮNG CHIẾN THẮNG QUÂN SỰ, CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM CHỐNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA MỸ.

1 Những chiến thắng quân sự lớn của nhân dân miền Nam chống chiến tranh đặc biệt.

và nước ngoài biết đến, chúng ta đã thống nhất với tên gọi này

Xã Tân Phú nằm về phía bắc lộ số 4 (nay là quốc lộ 1), cách thành phố

Mỹ Tho khoảng 17km đường chim bay Phía đông giáp các xã Nhị Bình, MỹPhước (huyện Châu Thành) và cách kinh Nguyễn Tấn Thành khoảng 3km

Trang 22

Phía tây giáp các xã Mỹ Hạnh Đông, Tân Hội (huyện Cai Lậy) và cách lộKinh 12 khoảng 7km Phía bắc giáp thị trấn Mỹ Phước và xã Phước Lập(huyện Tân Phước ngày nay) và cách kinh Nguyễn Văn Tiếp khoảng 2km.Phía nam giáp các xã Điềm Hy, Dưỡng Điềm (huyện Châu Thành) và cáchquốc lộ 1 khoảng 4km.

Khi diễn ra trận Ấp Bắc, Tân Phú là một xã nhỏ của huyện Cai Lậy,diện tích 7,6km2, dân số lúc bấy giờ có khoảng 4.000 người Kinh rạch hẹp,cạn, ghe lớn không đi được Đường bộ chủ yếu là đường mòn dành cho người

đi bộ Vườn cây, nhà cửa nằm theo kinh rạch, vườn chỗ rộng nhất khoảng250-300m, chỗ hẹp khoảng 15-20m, đôi chỗ bị đứt quảng chỉ có bờ kinhtrống trải

Riêng hai ấp Tân Bình và Tân Thới, chiều dài mỗi ấp hơn 1km, nằmtrên con rạch bề ngang khoảng 7m, hình thành một vòng cung từ ngã tư MiếuHội phía bắc đến cầu Ông Bồi phía Nam, cách nhau một quãng trống độ300m Đặc điểm địa hình riêng của hai ấp thì phía đông ấp Tân Bình và phíanam ấp Tân Thới là đồng bưng sình lầy Và xung quanh hai ấp là đồng trống,

từ hai ấp này muốn sang các ấp khác phải qua khoảng đồng trống từ 500 đến1.000m Địa hình này rất thuận lợi cho địch sử dụng máy bay trực thăng, xeM113 và phi pháo tiêu diệt lực lượng ta nếu ta “trốc công sự” rút lui

Xã Tân Phú không có đồn bót, nằm trong vùng giải phóng liên hoàn 8

xã thuộc huyện Cai Lậy và Châu Thành giáp ranh Đồng Tháp Mười Nhândân ở đây có truyền thống cách mạng lâu đời, là một trong những “ổ cộngsản” từ những năm 1930-1940 và 9 năm kháng chiến chống Pháp, 6 năm đấutranh chống ách kềm kẹp Mỹ - Diệm và phong trào nổi dậy đồng khởi 1960

Xã có chi bộ Đảng với 16 đảng viên, có chi đoàn, có đội du kích 21 taysúng và một số tổ chức khác Thế hợp pháp cách mạng của nhân dân vữngmạnh, địch càn vào không chạy mà ở lại đấu tranh, hoặc “tản cư ngược” cũngnhằm đấu tranh với địch

Trang 23

Đêm 31-12-1962, đại đội 1 tiểu đoàn 514 và đại đội 1 Tiểu đoàn 261

từ Cống Quế (xã Mỹ Hạnh Đông) chuyển về đóng quân tại Ấp Bắc, dự địnhđêm 1-1-1963 đi phá “ấp chiến lược” Giồng Dứa thuộc xã Tam Hiệp (huyệnChâu Thành) và hành quân về đóng ở kinh Năng thuộc xã Long Định (huyệnChâu Thành), chuẩn bị đón đánh địch càn vào đây sau khi “ấp chiến lược”Giồng Dứa bị phá Nhưng do có một đơn vị bạn từ miền Tây trên đường hànhquân về Trung ương Cục đã đóng quân ở kinh Năng nên hai đại đội của taquay lại đóng quân theo đội hình cũ tại Ấp Bắc

- 2 đại đội bộ binh (c1/d 514 địa phương quân tỉnh, c1/d 261 chủ lựcKhu), 1 trung đội trợ chiến của tiểu đoàn 261, 2 tiểu đội đặc công của đại đội

3 (tiểu đoàn 261), tổ chức thành tiểu đoàn ghép do đồng chí Hai Hoàng, tiểuđoàn trưởng tiểu đoàn 261 chỉ huy

- 1 trung đội bảo vệ căn cứ tỉnh và 2 tổ công binh thủy săn tàu bảo vệcăn cứ

- 1 trung đội địa phương quân huyện Châu Thành

- Du kích các xã Điềm Hy, Tân Phú, Tân Hội gồm khoảng 30 đồng chí.Đặc điểm của từng đơn vị:

- Đại đội 1 tiểu đoàn 261 được thành lập tháng 2-1961 do lực lượng cáctỉnh trong Khu đưa về Cán bộ, chiến sĩ có thành tích, có kinh nghiệm chiếnđấu từ kháng chiến chống Pháp, trước đồng khởi và trong đồng khởi 1960-1961

Đầu năm 1962 phục kích tiêu diệt gọn 3 đại đội lính bảo an ở Gò Công

là chiến công vang dội nhất của đơn vị này Đại đội được trang bị mạnh sautrận Gò Công Tất cả đều là súng lấy được của Mỹ nên có nhiều đạn Súngtrường cơ số 100 viên Mỗi tiểu đội có 1 trung liên, 2 ga-răng (súng trường tựđộng), 2 tôm-xông (tiểu liên), 1 mát 36, 3 trái đạn tôm bông, 2 súng trườnghoặc các-bin

Đơn vị có kinh nghiệm chiến đấu đánh phục kích, tập kích, kỳ tập,chưa có kinh nghiệm đánh càn lớn với chiến thuật mới của địch Sau trận Trại

Ngày đăng: 18/08/2017, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w