1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam: Các yếu tố tác động và vai trò đối với tăng trưởng kinh tế

170 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 13,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáng chú ý có thể kể đến một số nghiên cứu của: Nguyễn Thị Tuệ Anh 2007 về đóng góp của các ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991-2006; Phạ

Trang 1

!" #

H Néi 2017

Trang 2

!" # !" #$%&'&'&

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:

H Néi 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam

kết bằng danh dự cá nhân rằng: luận án "Chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam:

Các yếu tố tác động và vai trò đối với tăng trưởng kinh tế" do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày 14 tháng 8 năm 2017

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS NGUYỄN THỊ MINH

Tác giả luận án

VŨ THỊ THU HƯƠNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo - PGS.TS Nguyễn Thị Minh, Người đã luôn đồng hành, định hướng khoa học, chỉ dẫn nhiệt tình, động viên

và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu luận án

Tác giả xin chân thành cảm ơn các ý kiến góp ý của các Nhà khoa học, các Thầy giáo, Cô giáo công tác trong và ngoài khoa Toán kinh tế - Trường Đại học Kinh

tế Quốc dân, các ý kiến quý báu đó đã giúp tác giả bổ sung và hoàn thiện luận án

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo và cán bộ Viện Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã nhiệt tình giúp đỡ nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập Đồng thời, tác giả xin chân thành cảm ơn các Cán bộ quản lý, bạn bè và đồng nghiệp trường Đại học Thương mại đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện để tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu này

Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình đã luôn chia sẻ, động viên và là nguồn động lực giúp tác giả hoàn thành luận án

Tác giả luận án

VŨ THỊ THU HƯƠNG

Trang 5

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7

1.1 Một số khái niệm 7

1.1.1 Cơ cấu lao động 7

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động 7

1.2 Tổng quan nghiên cứu 9

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế 9

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động 18

1.2.3 Nhận xét 22

1.3 Tóm tắt chương 1 23

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động 24

2.2 Phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng 26

2.3 Phương pháp hạch toán tăng trưởng 28

2.3.1 Phân tách tăng trưởng theo mức tổng thể 29

2.3.2 Phân tách tăng trưởng theo ngành 29

2.4 Một số mô hình kinh tế lượng 32

2.4.1 Mô hình số liệu mảng 32

2.4.2 Mô hình số liệu mảng đa bậc 35

2.4.3 Mô hình số liệu mảng không gian 40

2.5 Tóm tắt chương 2 45

Trang 6

Chương 3 THỰC TRẠNG VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2014 47

3.1 Bối cảnh quốc tế 47

3.2 Thực trạng tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam 49

3.3 Một số chính sách có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu lao động 51

3.3.1 Nhóm chính sách định hướng chuyển dịch cơ cấu lao động 52

3.3.2 Nhóm chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu lao động 54

3.4 Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu lao động và các yếu tố liên quan tại Việt Nam 58

3.4.1 Cơ cấu lao động và năng suất lao động theo ngành của Việt Nam 58

3.4.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành và các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến sản lượng 60

3.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành 63

3.4.4 Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành trong các tỉnh /thành phố 67

3.5 Tóm tắt chương 3 67

Chương 4 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ TĂNG TRƯỞNG TẠI VIỆT NAM 70

4.1 Các mô hình đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam 70

4.1.1 Mô hình hồi qui theo số liệu mảng đa bậc 70

4.1.2 Mô hình phân tích chuyển dịch tỷ trọng 78

4.1.3 Mô hình hạch toán tăng trưởng 83

4.2 Mô hình đánh giá tác động của các yếu tố đến chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành tại Việt Nam 87

4.2.1 Mô hình hồi qui số liệu mảng đa bậc đánh giá tác động của các yếu tố đến chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành 87

4.2.2 Mô hình hồi qui số liệu mảng đa bậc đánh giá tác động của các yếu tố đến chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành của ngành công nghiệp chế biến chế tạo97 4.3 Mô hình hồi qui số liệu mảng không gian đánh giá tác động của các yếu tố đến chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành 104

4.3.1 Quy trình nghiên cứu, số liệu và các biến số 104

4.3.2 Mô hình nghiên cứu 106

Trang 7

4.3.3 Kết quả ước lượng 107

4.4 Tóm tắt chương 4 110

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114

5.1 Kết luận 114

5.2 Đề xuất các khuyến nghị về chính sách 117

5.2.1 Định hướng chuyển dịch cơ cấu lao động 117

5.2.2 Một số khuyến nghị về chính sách 117

5.3 Những phát hiện mới của luận án 119

5.3.1 Đóng góp về mặt lý luận, học thuật 119

5.3.2 Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ các kết quả nghiên cứu 120

5.4 Hạn chế của luận án 120

5.5 Đề xuất một số hướng nghiên cứu mở rộng 121

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN LUẬN ÁN 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC i

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Giải thích tiếng Anh Giải thích tiếng Việt

Asean Nations

Hiệp hội các nước Đông nam Á

hợp tác Á -Âu BRIC Brasil, Russia, India, China Các nền kinh tế lớn mới nổi

Management

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương

Organization

Tổ chức lao động quốc tế

TFP Total Factors Productivity Năng suất nhân tố tổng hợp

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Qui trình lựa chọn mô hình 34

Bảng 3.1 Tỉ trọng lao động, tỉ trọng GDP và tốc độ tăng NSLĐ trung bình hàng năm theo 9 ngành kinh tế chủ yếu của Việt Nam 59

Bảng 3.2 Giá trị trung bình của CDCCLĐ nội ngành 61

Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 72

Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 72

Bảng 4.3 Kết quả ước lượng phần tác động cố định trong mô hình (4.1) 74

Bảng 4.4 Kết quả ước lượng sai số chuẩn theo nhóm của phần ngẫu nhiên trong mô hình (4.1) 75

Bảng 4.5 Kết quả ước lượng giá trị trung bình của phần ngẫu nhiên trong hệ số chặn và hệ số góc của biến CDCCLĐ theo nhóm ngành 76

Bảng 4.6 Kết quả ước lượng phần tác động cố định trong mô hình (4.1a) giai đoạn 2006-2014 77

Bảng 4.7 Đóng góp trung bình hàng năm của chuyển dịch cơ cấu lao động vào tăng trưởng NSLĐ tổng thể giai đoạn 1995-2013 79

Bảng 4.8 Đóng góp trung bình hàng năm của chuyển dịch cơ cấu lao động vào tăng trưởng NSLĐ tổng thể: Phân tách theo tác động “tĩnh” và “động” 81

Bảng 4.9 Các thành phần đóng góp vào tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 1995-2013 83

Bảng 4.10 Đóng góp của mỗi ngành vào tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Việt Nam 85

Bảng 4.11 Giải thích các biến trong mô hình hồi quy 88

Bảng 4.12 Thống kê mô tả một số biến trong mô hình nghiên cứu 89

Bảng 4.13 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 89

Bảng 4.14 Kết quả ước lượng tham số trong phần tác động cố định của mô hình (4.2a) giai đoạn 2000-2014 91

Bảng 4.15 Kết quả ước lượng giá trị trung bình của phần ngẫu nhiên trong hệ số chặn và hệ số góc của biến KBTN theo nhóm ngành 93

Bảng 4.16 Kết quả ước lượng tham số trong phần tác động cố định của mô hình (4.2) giai đoạn 2010 - 2014 94

Bảng 4.17 Giá trị trung bình trong phần tác động ngẫu nhiên của hệ số chặn và hệ số góc của các biến trong mô hình (4.2) giai đoạn 2010-2014 theo nhóm ngành 96

Bảng 4.18 Giải thích các biến trong mô hình hồi quy 98

Trang 10

Bảng 4.19 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 99

Bảng 4.20 Kết quả ước lượng hệ số của các biến độc lập trong phần tác động cố định của mô hình (4.3) theo các nhóm ngành 100

Bảng 4.21 Kết quả ước lượng sai số chuẩn theo nhóm của phần ngẫu nhiêntrong mô hình (4.3) 102

Bảng 4.22 Kết quả ước lượng giá trị trung bình của phần ngẫu nhiên trong hệ số chặn và hệ số góc của biến KBTN theo các phân ngành thuộc ngành CNCBCT 103

Bảng 4.23 Giải thích các biến số trong mô hình nghiên cứu 104

Bảng 4.24 Thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu 105

Bảng 4.25 Kết quả ước lượng các mô hình số liệu mảng không gian 109

Trang 11

ngành giai đoạn 2000-2014 64Hình 3.5 Biểu đồ phân tán về quan hệ giữa các cặp biến số 64Hình 3.6 Giá trị trung bình của đào tạo lao động theo tỉnh, giai đoạn 2006-2014 65Hình 3.7 Chỉ số Lilien trung bình theo các phân ngành cấp 2 trong ngành CNCBCT

giai đoạn 2007-2014 66Hình 3.8 Chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành cấp 2 trong ngành công nghiệp chế

biến chế tạo theo 63 tỉnh, giai đoạn 2007-2014 66Hình 3.9 Giá trị trung bình của chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành trong mỗi

tỉnh/ thành phố giai đoạn 2000-2014 67

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu

Chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế là những vấn đề quan trọng của kinh tế học, nó nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách ở các cấp khác nhau Từ thế kỷ 18, Adam Smith (1723-1790), người sáng lập ra khoa kinh tế học, là nhà phát minh đầu tiên về lý thuyết tăng trưởng

đã cho rằng sự gia tăng tư bản đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng suất lao động thông qua thúc đẩy phân công lao động xã hội Đến thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu ngày càng nhận thấy vai trò quan trọng của chuyển dịch cơ cấu nói chung và chuyển dịch cơ cấu lao động nói riêng đối với tăng trưởng kinh tế Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là sự xuất hiện cũng như biến mất của nhiều loại hình công việc/ nghề nghiệp Do vậy, quá trình tăng trưởng luôn gắn với quá trình tái phân

bổ sức lao động Nếu đầu tư, tiến bộ công nghệ và những thay đổi về thể chế là động

cơ của tăng trưởng kinh tế thì chuyển dịch lao động là dầu bôi trơn để động cơ đó luôn hoạt động Không có dầu này, tăng trưởng không được duy trì liên tục

Chuyển dịch cơ cấu lao động đã được đề cập đến khá nhiều trong các nghiên cứu kinh tế tại Việt Nam Đáng chú ý có thể kể đến một số nghiên cứu của: Nguyễn Thị Tuệ Anh (2007) về đóng góp của các ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991-2006; Phạm Quý Thọ (2006) về chuyển dịch cơ cấu lao động trong xu hướng hội nhập quốc tế; Nguyễn Thị Cẩm Vân (2015)

về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLĐ) tại Việt Nam đã

cố gắng phân tích theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, gắn với bối cảnh xã hội trong từng giai đoạn cụ thể

Tuy nhiên, cho đến nay, các nghiên cứu trong nước phần lớn tiếp cận giải quyết từng vấn đề đơn lẻ Tác giả chưa tìm thấy một nghiên cứu tổng hợp nào về chủ đề này, trong đó, tiếp cận các phương pháp định lượng khác nhau để nghiên cứu đồng thời hai vấn đề: (i) về đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế và (ii) các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động Luận án này hy vọng sẽ bổ sung và làm sáng tỏ một số nhận định trong các nghiên cứu trước đó bằng cách sử dụng

đa dạng các phương pháp nghiên cứu định lượng, bao gồm: phương pháp hạch toán truyền thống và phương pháp kinh tế lượng, với các mô hình kinh tế lượng hiện đại như:

mô hình số liệu mảng, mô hình số liệu mảng đa bậc, mô hình số liệu mảng không gian Tác giả hy vọng rằng các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là thông tin quan trọng trong

Trang 13

việc định hướng và xây dựng các chính sách, các quyết định liên quan đến chuyển dịch lao động theo hướng tích cực, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Nội dung luận án gồm 5 chương, được bố cục như sau: sau phần mở đầu giới thiệu chung về luận án, chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế; chương 2 giới thiệu nền tảng của các phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng trong phân tích định lượng ở các chương sau; chương 3 phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam, giai đoạn 1995-2014; chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm nhằm giải quyết hai vấn đề chính của luận án, bao gồm: (i) các mô hình đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng kinh tế; và (ii) các mô hình đánh giá tác động của các yếu tố đến chuyển dịch cơ cấu lao động, gồm mô hình hồi quy theo số liệu mảng; số liệu mảng đa bậc và số liệu mảng không gian Chương cuối của luận án dành để trình bày các kết luận và đề xuất các khuyến nghị, giải pháp về chính sách được rút ra từ kết quả nghiên cứu

2 Lý do chọn đề tài

Chuyển dịch cơ cấu lao động luôn là chủ đề được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội quan tâm Về mặt lý luận, vấn đề đã được bàn bạc trên khía cạnh phân công lao động xã hội trong các tác phẩm kinh điển về lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Adam Smith (1776), của Karl Marx (1867) Đến thế kỷ

XX, chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn được nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng quan tâm, đặc biệt là các nghiên cứu của Arthur Lewis (1954); Ranis, Fei (1961), Kuznets (1976) Về mặt thực tiễn, một số nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian gần đây đã chỉ ra bằng chứng cho thấy: chuyển dịch cơ cấu lao động đóng góp tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại nhiều quốc gia, khu vực với các mức độ khác nhau Tuy nhiên, xu hướng này không phải đúng cho tất cả các quốc gia và/ hoặc tất cả các giai đoạn nghiên cứu (Rodik, 2013; Marcel P.Timmer, Gaaizen J.de Vries, 2008) Chính vì lẽ đó

mà các vấn đề về chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn được các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý quan tâm tại nhiều quốc gia, khu vực, đặc biệt là tại các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam đang là nền kinh tế chuyển đổi và đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều năm Gắn liền với quá trình tăng trưởng và phát triển là những thay đổi trong cơ cấu kinh tế, kéo theo là những thay đổi trong cơ cấu lao động Với xu thế, Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu, rộng với nền kinh tế thế giới, chính quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã kéo theo những thay đổi trong công

Trang 14

nghệ, trong cầu hàng hóa của Việt Nam Từ đó dẫn đến những thay đổi về lợi thế cạnh tranh, về cơ cấu hàng tiêu dùng, và dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu lao động Nhận thức rõ vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong bối cảnh mới, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng mục tiêu: chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động

Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động hình thành nhiều xu hướng mới và có ảnh hưởng đa chiều đến tăng trưởng kinh tế Những thành công trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt về lĩnh vực công nghệ thông tin đã làm thay đổi qui trình sản xuất và phân phối sản phẩm trên phạm vi toàn cầu Các công đoạn sản xuất cũng như các mắt xích của chuỗi giá trị trở nên mong manh về mặt địa lý Trong bối cảnh như vậy, việc chuyển dịch lao động trong nội bộ một ngành hoặc một phân ngành là xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành quan trọng cần được nghiên cứu sâu hơn Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu lao động không phải là một quá trình diễn ra một cách tự động mà nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố Đặc biệt, tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, với nền kinh tế chuyển đổi và thị trường lao động chưa phát triển thì quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động không thể tự diễn ra một cách tối ưu Do đó, việc nghiên cứu những yếu tố nào giúp thúc đẩy tốt hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động là một vấn đề cần được quan tâm

Đến nay, đã có một số nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam Có thể kể đến nghiên cứu của Phạm Quý Thọ (2006); Nguyễn Thị Tuệ Anh (2007); Đinh Phi Hổ (2014); Rodik (2013) Các nghiên cứu này đã cố gắng phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Các tác giả chủ yếu

sử dụng bộ số liệu ngành và xem xét tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành và các nghiên cứu định lượng xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động còn hạn chế về số lượng và tính đa dạng trong cách tiếp cận và giải quyết vấn đề

Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, lao động là một yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Nguồn lực lao động của Việt Nam với số lượng dồi dào

và đang có sự di chuyển mạnh mẽ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp

và dịch vụ Cùng với sự chuyển dịch lao động giữa các ngành chính thì chuyển dịch cơ cấu lao động bên trong một ngành cũng là xu hướng chuyển dịch lao động quan trọng tại Việt Nam Cơ chế nào lý giải cho sự dịch chuyển trong cơ cấu lao động và sự dịch chuyển này tác động như thế nào đến sản lượng của nền kinh tế là những vấn đề mà các nhà nghiên cứu; các nhà quản lý và hoạch định chính sách luôn quan tâm Chính vì

Trang 15

vậy, cần có những nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với tình hình mới của Việt Nam, trong đó sử dụng đồng thời các cách tiếp cận khác nhau, các phương pháp nghiên cứu hiện đại, có độ tin cậy cao, nhằm đưa ra bức tranh đầy đủ hơn về cả hai khía cạnh: vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động

Do vậy, đề tài:“Chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam: Các yếu tố tác động

và vai trò đối với tăng trưởng kinh tế” là một vấn đề quan trọng và cần được nghiên cứu sâu hơn trong bối cảnh Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là: Phân tích các yếu tố tác động đến chuyển dịch

cơ cấu lao động và vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế nhằm đưa ra các khuyến nghị chính sách giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động được hiệu quả hơn, đóng góp tốt hơn cho tăng trưởng kinh tế

Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

(1) Phân tích và đánh giá thực trạng quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động tại Việt Nam, giai đoạn 1995-2014

(2) Đánh giá đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995-2014

(3) Xây dựng mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành lên sản lượng của nền kinh tế

(4) Xây dựng mô hình kinh tế lượng đánh giá các yếu tố tác động đến chuyển dịch

cơ cấu lao động nội ngành và giữa các ngành tại Việt Nam

(5) Đề xuất các khuyến nghị chính sách giúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động được hiệu quả hơn, đóng góp tốt hơn cho tăng trưởng kinh tế

Các mục tiêu nghiên cứu nêu trên nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây: (1) Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành tại Việt Nam diễn ra như thế nào trong giai đoạn 1995-2014?

(2) Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành tại Việt Nam có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế xét trong không gian tổng thể và không gian các tỉnh thành phố?

(3) Các yếu tố nào ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành tại Việt Nam trong thời gian qua?

Trang 16

(4) Các đề xuất/ khuyến nghị nào về chính sách để có thể thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý hơn, đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế; Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động

Phạm vi nghiên cứu:

Trong các nghiên cứu về kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu lao động được xem xét theo nhiều chỉ tiêu như: theo ngành, theo vùng, theo thành phần kinh tế, theo trình độ chuyên môn, theo độ tuổi, theo giới tính Trong luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, bao gồm chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành tại Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế được phân tích theo cấp độ ngành, cấp độ tỉnh và quốc gia Các chỉ tiêu phân tích bao gồm GDP, NSLĐ và giá trị sản xuất

Không gian nghiên cứu: Các tỉnh/ thành phố trong cả nước Việt Nam

Thời gian nghiên cứu: Với cấp độ ngành, thời gian nghiên cứu 1995-2014 Với cấp độ doanh nghiệp, thời gian nghiên cứu 2000-2014

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê mô tả để đánh giá thực trạng về chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng trưởng năng suất, tăng trưởng kinh tế, và mô tả các biến số sử dụng trong các mô hình định lượng

- Phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng (SSA) để xác định đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng năng suất lao động theo 9 ngành và theo toàn bộ nền kinh tế

- Phương pháp hạch toán tăng trưởng với công cụ phân tách của Shapley để xác định đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế theo 9 ngành và theo toàn bộ nền kinh tế

- Phương pháp kinh tế lượng: Bao gồm các mô hình số liệu mảng, mô hình số liệu mảng không gian, mô hình số liệu mảng đa bậc, để đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng kinh tế và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam

Trang 17

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án sử dụng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng, với các mô hình kinh tế lượng hiện đại, có độ tin cậy cao để giải quyết một số vấn đề khoa học có

ý nghĩa quan trọng về lý thuyết và thực tiễn như sau:

(1) Đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam bằng chỉ số Lilien, sử dụng các bộ số liệu vĩ mô và số liệu Điều tra doanh nghiệp

Đây là một phương pháp mới được tiếp cận tại Việt Nam

(2) Đánh giá được đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam theo các ngành và theo tổng thể nền kinh

tế thông qua các mô hình hạch toán tăng trưởng và mô hình số liệu mảng đa bậc

(3) Đánh giá tác động của một số yếu tố chính đến chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam thông qua các mô hình kinh tế lượng như: mô hình số liệu mảng; mô hình số liệu mảng đa bậc; mô hình số liệu mảng không gian

(4) Đóng góp về phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng đồng thời một số phương pháp nghiên cứu định lượng hiện đại còn ít được sử dụng trong các nghiên cứu

về chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế trên thế giới và tại Việt Nam

Hy vọng nghiên cứu này là tiền đề cho nhiều nghiên cứu tiếp sau với phương pháp tiếp cận của kinh tế lượng hiện đại như các mô hình số liệu mảng đa bậc, mô hình số liệu mảng không gian, Các mô hình này cho phép phân tích sâu hơn cơ chế ảnh hưởng của các nhân tố đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo thời gian, theo không gian, theo các nhóm ngành và địa phương

(5) Các kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở để đề xuất một số khuyến nghị

về chính sách liên quan đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 1 giới thiệu một số khái niệm quan trọng về chuyển dịch cơ cấu lao động và tổng quan các nghiên cứu về hai chủ đề: (i) tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng kinh tế; và (ii) các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Cơ cấu lao động

Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế tổng hợp thể hiện tỷ lệ của một bộ phận lao động nào đó trong tổng số lao động do các bộ phận đó hợp thành (Phạm Quý Thọ, 2006; Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ, 1999; )

Các nhà thống kê và các nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội đã thống nhất một số tiêu chí phân loại cơ cấu lao động, bao gồm cách phân loại: theo ngành kinh tế; theo thành phần kinh tế; theo vùng kinh tế; theo khu vực nông thôn và thành thị; theo trình

độ chuyên môn, kỹ thuật; Hoặc theo các tiêu chí phân loại khác phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động

Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi trong cơ cấu lao động theo một không gian và một khoảng thời gian nào đó Sự chuyển dịch này có thể là kết quả của

sự di chuyển lao động từ bộ phận này sang bộ phận khác, hoặc do sự thay đổi trong lựa chọn của lực lượng mới gia nhập thị trường lao động Theo tác giả Phạm Quý Thọ (2006), thực chất của chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình tổ chức, phân công lại lực lượng lao động, còn được gọi là tái phân bổ lao động, qua đó làm thay đổi quan hệ

tỷ trọng giữa các bộ phận của tổng thể

Trong luận án, tác giả tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, bao gồm chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành

Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành được hiểu là quá trình thay đổi cơ cấu lao động của các ngành con chứa bên trong một ngành lớn hay quá trình tái phân bổ lao động giữa các phân ngành chứa trong một ngành lớn theo một không gian

và thời gian xác định

Trang 19

Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành là quá trình thay đổi cơ cấu lao động giữa các ngành hay quá trình tái phân bổ lao động giữa các ngành trong một không gian và thời gian xác định

1.1.3 Đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động

Đo lường sự thay đổi trong tỉ trọng lao động

Phổ biến nhất trong các nghiên cứu, chuyển dịch cơ cấu lao động theo thời gian được tính bằng cách so sánh tỷ trọng lao động của từng bộ phận trong tổng thể kỳ này với kỳ trước đó, còn chuyển dịch cơ cấu lao động theo không gian được tính bằng cách

so sánh tỉ trọng lao động giữa các bộ phận trong tổng thể với nhau để thấy được đã tăng lên (hay giảm đi) bao nhiêu phần trăm

Wacziarg (2002) đã sử dụng công thức đo chuyển dịch cơ cấu lao động bằng giá trị tuyệt đối của sai khác giữa tỷ trọng lao động ngành i so với tổng số lao động của quốc gia/ khu vực qua năm

( ) = | − |

Trong đó: là tỉ trọng lao động của ngành i trong tổng số lao động của một quốc gia/ vùng, tại năm t

Phương pháp vecto (hệ số Cosin)

Phương pháp vecto (hay hệ số Cos) do các chuyên gia của Ngân hàng thế giới

đề xuất, được dùng để đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các thời kỳ Nguyễn Quốc tế, Nguyễn Thị Đông (2013) đã sử dụng phương pháp vecto và bộ số liệu vĩ mô của ba ngành cấp một để tính độ chuyển dịch cơ cấu ngành và chuyển dịch

cơ cấu lao động theo ngành, từ đó xác định tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành tới chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo việc làm theo ngành Ở đó, hệ số chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành được tính theo công thức sau:

Trang 20

Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động của ngành sẽ là: = ∗ 100 (%)

Chỉ số Lilien

Lilien(1982) đã giới thiệu một cách đo độ tái phân bổ lao động giữa các ngành và/hoặc các vùng Trong đó, đo bình phương sai số có trọng số của tốc độ tăng lao động trong ngành i với tốc độ tăng lao động chung

! = "# ($ − $ )

Trong đó: các chỉ số i và t theo thứ tự là chỉ số chỉ ngành và thời gian; là tỷ trọng lao động của ngành i; $ là tốc độ tăng lao động của ngành i; $ là tốc độ tăng lao động chung

Luận án sẽ tiếp cận chỉ số Lilien mở rộng để đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành Phương pháp này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong chương 2

1.2 Tổng quan nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan nghiên cứu về vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế

Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu lao động

Các nhà nghiên cứu về lý thuyết thay đổi cơ cấu đưa ra giả thuyết: tình trạng kém phát triển là hậu quả của việc không sử dụng hết các nguồn lực do các yếu tố về cấu trúc, thể chế ở cả trong và ngoài nước gây ra Nguồn lực lao động là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất Sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động sẽ góp phần nâng cao sản lượng của nền kinh tế, qua đó thúc đẩy tăng trưởng

và phát triển kinh tế

Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động, cụ thể về nội dung phân công lao động xã hội được thảo luận trong một số lý thuyết kinh điển của Adam Smith (1776) và Karl Marx (1867) Adam Smith đã nhìn thấy sự phân chia lao động như một nguồn tích cực của năng suất ngày càng tăng của thị trường tư bản công nghiệp Trong tác phẩm "Bàn về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia", Adam Smith cho rằng: nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội là do sử dụng lao động một cách hiệu quả Ông coi sự gia tăng tư bản đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng suất lao động, bởi vì lượng tư bản tăng sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội cùng với các kĩ

Trang 21

năng riêng biệt sẽ giúp tăng năng suất Cái nhìn sâu sắc của Adam Smith về nguồn gốc gia tăng năng suất có thể đến từ công nghệ hoặc tiến bộ công nghệ là do nguồn nhân lực và nguồn vốn vật chất, công nghệ được kết hợp một cách hiệu quả Karl Marx đồng ý với Adam Smith về quan điểm cho rằng sự phân chia lao động là một phần trung tâm của chủ nghĩa tư bản, nhưng ông cho rằng nâng cao năng suất lao động bằng tiến bộ công nghệ, cải tiến máy móc hay phân công lao động xã hội không phải là cách thúc đẩy tăng trưởng hoàn toàn có lợi Bởi vì, Marx cho rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản sẽ dẫn đến máy móc thay thế lao động, kéo theo tình trạng thất nghiệp do tốc độ sa thải lao động lớn hơn tốc độ tái sử dụng lao động bị sa thải Ngoài ra, theo Marx, sự phân chia lao động ngày càng tăng dẫn đến người lao động có tay nghề không cao và thiếu nhiệt tình với công việc, do họ chỉ làm một công đoạn cụ thể, một công việc lặp đi lặp lại của qui trình sản xuất mà không nắm được toàn bộ qui trình làm ra sản phẩm Điều đó cũng dẫn đến người lao động ít sáng tạo và bị phụ thuộc nhiều hơn vào người sử dụng lao động

Lý thuyết nhị nguyên còn được biết đến với tên gọi là mô hình chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế hai khu vực của Lewis (1954) đã lý giải quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ chế ảnh hưởng của quá trình này đến tăng trưởng kinh tế ở các nước nghèo và chậm phát triển Mô hình có những đặc điểm sau:

Về cơ cấu kinh tế: nền kinh tế gồm hai khu vực: (1) ngành nông nghiệp truyền thống, (2) ngành công nghiệp hiện đại Hai ngành này không đồng nhất về cấu trúc và không thể gộp làm một Về cung lao động: không giới hạn về cung lao động giản đơn Ngành nông nghiệp truyền thống luôn dư thừa lao động do không đáp ứng hết nhu cầu việc làm Số lao động này chuyển sang làm việc cho ngành công nghiệp hiện đại mà không làm giảm giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp Về cầu lao động và mức tiền công: ngành công nghiệp hiện đại có mức tiền công cao hơn, năng suất cao hơn, có lợi nhuận cao hơn và tái đầu tư mở rộng sản xuất dẫn đến tăng cầu về lao động Những lao động nông nghiệp có mức thu nhập và năng suất thấp hơn sẵn sàng chuyển sang làm việc trong ngành công nghiệp hiện đại Điều đó lý giải cho dòng dịch chuyển lao động từ ngành nông nghiệp có năng suất thấp sang ngành công nghiệp có năng suất cao hơn Quá trình này dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng năng suất và góp phần tăng trưởng kinh tế

Rainis – Fei (1961) đã chỉ ra hai khiếm khuyết cơ cản của mô hình Lewis là: (i) Quá trình chuyển dịch cơ cấu có điểm dừng khi không còn lao động dư thừa trong ngành nông nghiệp, (ii) Bỏ qua thị trường hàng hóa và phát triển chỉ số giá hàng hóa

Trang 22

giữa các ngành Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, các tác giả đã xây dựng mô hình phát triển ba giai đoạn ở các nước nghèo

Giai đoạn thứ nhất: Có sự di chuyển lao động và chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng năng suất do dư thừa lao động trong ngành nông nghiệp

Giai đoạn thứ hai: trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, thị trường hàng hóa thay đổi, giá nông sản tăng tương đối so với giá hàng công nghiệp, lao động nông nghiệp dư thừa cạn dần, khả năng duy trì mức chênh lệch về tiền lương ngày một khó, ngành công nghiệp muốn tuyển thêm lao động thì phải tăng lương, do vậy phải giảm tích lũy, đầu tư, dẫn đến giảm năng suất

Giai đoạn thứ ba: sự di chuyển lao động dư thừa sẽ dừng lại khi nào tiền công của lao động nông nghiệp tăng lên

Có thể thấy, học thuyết của Lewis và Rainis – Fei đã giải thích một phần cơ chế chuyển dịch lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp Trong đó đề cập đến những khác biệt giữa các ngành, bao gồm: khác biệt về thu nhập của người lao động, khác biệt về năng suất và giá cả sản phẩm

Baumol (1967) cũng nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong mô hình hai ngành Một ngành có công nghệ tiến bộ được giả định có tốc độ tăng NSLĐ không đổi và một ngành công nghệ lạc hậu, có NSLĐ không thay đổi Mô hình giả định: lao động là một yếu tố đầu vào duy nhất của quá trình sản xuất Theo ông, ngành tiến bộ được xem như ngành công nghiệp còn ngành lạc hậu gần với ngành dịch vụ

Khi đó, đầu ra của ngành lạc hậu được tính theo công thức Ys = aLs và đầu ra của ngành tiến bộ được tính theo công thức Yp = bLp egt

Trong đó: Tổng số lao động đầu vào (L) bằng tổng số lao động của ngành lạc hậu (Ls) và ngành tiến bộ (Lp), tức là: L = Ls + Lp;

a, b là các hàng số dương; g là tốc độ tăng NSLĐ trong ngành tiến bộ

Nếu giả định tỉ lệ đầu ra của hai ngành không đổi, ta có:

Ys/ Yp = (a/b) Ls/(Lpegt) hay (b/a) Ys/ Yp = Ls/(Lpegt) = k không đổi

Từ đó ta có: Ls = k Lpegt = k (L - Ls) egt hay Ls = kLegt/(1+kegt) (1.1)

Lp= L - Ls = L - kLegt/(1+kegt) = L/(1+kegt) (1.2)

Từ (1.1), ta có tỷ trọng lao động ngành lạc hậu là: Ls/L = kegt/(1+kegt)

Từ (1.2), ta tính được tỷ trọng lao động ngành tiến bộ là: Lp/L = 1/(1+kegt)

Trang 23

Trong dài hạn, nếu tỷ lệ đầu ra của hai ngành không đổi, khi t tiến đến vô cùng thì tỷ trọng lao động ngành lạc hậu tiến đến 1 còn tỷ trọng lao động ngành tiến bộ dần đến 0 Khi đó, tốc độ tăng trưởng đầu ra của toàn bộ nền kinh tế cũng tiến đến 0 Các trạng thái giới hạn này ít tính phù hợp với thực tế, tuy nhiên chúng có ưu điểm là giải thích được tính xu hướng trong chuyển dịch cơ cấu lao động bởi các mô hình

Nhiều nghiên cứu sau đó chỉ ra bằng chứng chống lại những dự báo trong mô hình Baumol (1967) Chính nghiên cứu của Baumol và cộng sự (1985) cho rằng, không phải tất cả các ngành dịch vụ đều lạc hậu, ví dụ như dịch vụ điện toán và truyền hình Các ngành dịch vụ tiến bộ này có tốc độ tăng NSLĐ tương tự như các ngành công nghiệp tiến bộ, thậm chí còn cao hơn Những tồn tại trong nhận định của Baumol

có thể xuất phát từ giả thiết về NSLĐ và giả thiết ngành lạc hậu chỉ sản xuất nhu cầu cuối cùng Các kết luận không còn đúng khi trong thực tế, ngành này cung cấp đầu vào trung gian cho quá trình sản xuất

Để giải thích cơ chế mà chuyển dịch cơ cấu lao động ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, Fabricant (1942) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa lao động và đầu ra trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Mỹ giai đoạn 1899-1939 Ông đã giải thích rằng: "Sự xuất hiện các ngành/lĩnh vực mới hay cải tiến công nghệ của doanh nghiệp sẽ tạo việc làm mới và hấp thụ một phần số lao động bị giảm đi trong các ngành/ lĩnh vực cũ Sự di chuyển lao động là một tác nhân của chuyển dịch cơ cấu và làm thay đổi năng suất lao động của ngành cũng như của tổng thể nền kinh tế"

Các kết quả nghiên cứu của Kuznets (1930, 1966) thì cho rằng chuyển dịch cơ cấu lao động không chỉ diễn ra giữa các ngành mà còn diễn ra trong nội bộ mỗi ngành,

mà nguyên nhân chính được đề cập đến là do sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng năng suất trong các phân ngành Thêm nữa, lao động có xu hướng dịch chuyển từ những ngành có năng suất lao động thấp sang những ngành có năng suất lao động cao hơn

Do đó, chuyển dịch lao động trong nội bộ các ngành, các phân ngành cũng sẽ làm năng suất của toàn nền kinh tế tăng lên Bên cạnh đó, do tác động tràn của dòng lao động dịch chuyển và quá trình tự học tập để đáp ứng nhu cầu công việc và nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp (learning by doing) mà trình độ và kĩ năng của người lao động được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao năng suất lao động Theo Kuznets, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra như sau: (i)Tỷ trọng lao động nông nghiệp

sẽ giảm dần theo quá trình phát triển; (ii) tỷ trọng lao động công nghiệp sẽ không đổi trong quá trình phát triển; (iii) tỷ trọng lao động ngành dịch vụ sẽ tăng lên trong quá trình phát triển

Trang 24

Thực tế phát triển tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới cho thấy luận điểm: tỷ trọng lao động công nghiệp sẽ không đổi trong quá trình phát triển của Kuznets còn gây nhiều tranh cãi Đây chính là khởi nguồn cho nhiều nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này Điển hình là nghiên cứu của Fourastie (1969) về CDCCLĐ giữa các ngành trong một thời gian dài từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX cũng đưa ra một số nhận định khá tương đồng với Kuznets Đó là, trong quá trình phát triển, tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp giảm dần; tỷ trọng ngành dịch vụ tăng dần Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của ông khác với Kuznets ở chỗ: tỷ trọng lao động công nghiệp sẽ tăng lên trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển và sẽ giảm đi ở giai đoạn sau đó Các nghiên cứu của Maddison (1980); Ngai, Pissarides(2007) cũng rút ra kết luận tương tự như Fourastie, đó là: tỷ trọng lao động ngành công nghiệp phát triển theo “hình bướu lạc đà”

Một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Hấp dẫn bởi các kết quả nghiên cứu lý thuyết về CDCCLĐ, nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp cận theo hướng nghiên cứu thực nghiệm nhằm lượng hóa đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng kinh tế, trong đó hai cách tiếp cận được

sử dụng chủ yếu bao gồm: phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng (Shilf Share Analysis - SSA); và phương pháp kinh tế lượng

Phân tích chuyển dịch tỷ trọng là một phương pháp khá đơn giản nhưng hiệu quả trong việc đánh giá đóng góp trực tiếp của chuyển dịch cơ cấu lên tăng trưởng Do vậy, phương pháp SSA được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu về chủ đề này Đáng chú ý, có thể kể đến nghiên cứu của McMillan, Margaret and Dani Rodrik (2011) Các tác giả đã sử dụng số liệu chéo của 38 quốc gia thuộc các châu lục khác nhau (gồm 29 nước đang phát triển và 9 nước có thu nhập cao) trong giai đoạn 1990-

2005 Kết quả nghiên cứu đã phân tách tăng trưởng năng suất lao động của các quốc gia theo 9 ngành kinh tế chủ yếu thành hai bộ phận: đóng góp do tăng năng suất trong nội bộ ngành (ảnh hưởng bên trong) và đóng góp do chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành (ảnh hưởng giữa các ngành) Các tác giả đã đưa ra một số kết luận: (i) Có khoảng cách lớn giữa năng suất lao động trong ngành truyền thống và ngành hiện đại Dòng lao động dịch chuyển từ ngành có năng suất thấp đến ngành có năng suất cao hơn là chìa khóa điều khiển tăng trưởng; (ii) Chuyển dịch cơ cấu có tác động khác nhau đến sự gia tăng năng suất của các vùng khác nhau Ở châu Á, lao động chuyển từ ngành có năng suất thấp đến ngành có năng suất cao hơn làm tăng năng suất chung, còn ở châu Phi và châu Mỹ La tinh thì xuất hiện sự dịch chuyển lao động từ ngành có năng suất cao đến ngành năng suất thấp hơn do không đáp ứng được yêu cầu chuyên

Trang 25

môn; (iii) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không phải là một quá trình tự động, do vậy cần

có những tác động, điều khiển có định hướng của các nhà quản lý và hoạch định chính sách để nó đi đúng hướng nhằm tăng năng suất chung, đóng góp cho tăng trưởng và phát triển cho kinh tế

Cũng tiếp cận phương pháp SSA, Vatthanamixay Chansomphou, Masaru Ichihashi (2013) đã xác định được đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng năng suất lao động của các nền kinh tế mới nổi (BRIC), bao gồm các quốc gia Brazil, Russian, India, China tương ứng trong các giai đoạn 1980-2008; 1995-2008; 1980-2008; 1987-2008 Trong đó, tăng trưởng năng suất lao động được phân tách thành ba nguồn: tác động bên trong (ảnh hưởng bên trong), tác động dịch chuyển tĩnh, tác động dịch chuyển động Kết quả nghiên cứu cụ thể cho thấy: Trung Quốc có mức tăng trưởng NSLĐ cao nhất trong giai đoạn nghiên cứu và đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng NSLĐ của Trung Quốc là do tác động bên trong, đóng góp do chuyển dịch cơ cấu lao động chủ yếu đến từ tác động "tĩnh", còn tác động "động" kéo lùi tăng trưởng năng suất Kết quả tương tự cho Nga và Ấn Độ Riêng Brazil có tốc độ tăng trưởng NSLĐ trong giai đoạn nghiên cứu thấp nhất, và đóng góp chủ yếu đến từ tác động

"tĩnh" của chuyển dịch cơ cấu lao động

Timmer và Szirmai (2000) đã giải thích vai trò của chuyển dịch cơ cấu các nguồn lực (vốn và lao động) đối với tăng trưởng năng suất của ngành CNCBCT tại 4 quốc gia/ vùng lãnh thổ thuộc châu Á bao gồm: Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan trong giai đoạn 1963-1993 Kết quả phân tích SSA cho thấy, chuyển dịch cơ cấu các nguồn lực không đóng góp vào tăng trưởng NSLĐ và tăng trưởng năng suất nhân

tố tổng hợp Thay vào đó, tăng trưởng năng suất trong ngành CNCBCT được điều khiển bởi sự cải tiến năng suất bên trong các phân ngành Cùng ý tưởng sử dụng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng để xác định đóng góp do tái phân bổ các nguồn lực vốn và lao động đến tăng trưởng năng suất ngành CNCBCT, Lakhwinder Singh (2004) đã phân tích trên số liệu cấp doanh nghiệp ngành CNCBCT của Hàn Quốc giai đoạn 1970-2000 Tác giả đã chỉ ra bằng chứng, dịch chuyển cơ cấu có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng năng suất ngành CNCBCT những năm 1970 Ngoài ra, các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ năng động hơn trong tái phân bổ các nguồn lực vốn và lao động Tuy nhiên, đóng góp do tái phân bổ lại đến từ các doanh nghiệp lớn trong ngành CNCBCT

Sử dụng phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng, Anders Isaksson (2009)

đã nghiên cứu so sánh về đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động vào tăng trưởng năng suất tại các nước công nghiệp hóa; các nước có nền kinh tế chuyển đổi và các

Trang 26

nước đang phát triển nhằm đưa ra bằng chứng về vai trò quan trọng của chuyển dịch

cơ cấu hay tái phân bổ các nguồn lực giữa các ngành đối với tăng trưởng năng suất chung theo nhóm các quốc gia Qua đó, tác giả đã đưa ra một số kết luận và hàm ý về chính sách cho các nước đang phát triển như sau: (i) đóng góp do chuyển dịch cơ cấu hay tái phân bổ vào tăng trưởng năng suất ở các giai đoạn phát triển khác nhau tại các các nước đang phát triển và các nước công nghiệp hóa là rất khác nhau, do vậy các hàm ý chính sách đối với các nước cũng khác nhau; (ii) tái phân bổ các nguồn lực trong một ngành thường dễ dàng hơn so với tái phân bổ nguồn lực giữa các ngành, bởi

vì, trong một ngành ít có khác biệt về công nghệ cũng như trình độ, kĩ năng của người lao động Ví dụ, công nghệ trong ngành dệt khá gần với công nghệ ngành sản xuất trang phục, trong khi nó khác xa so với công nghệ sử dụng cho ngành sản xuất máy móc, do vậy các hãng thường quyết định di chuyển nguồn lực bên trong ngành dệt may hơn là di chuyển sang các ngành khác; (iii) Phương pháp SSA thường ước lượng chệch đóng góp do tái phân bổ các nguồn lực bên trong các ngành Để phân tích ảnh hưởng do tái phân bổ nội ngành đòi hỏi có dữ liệu chi tiết hơn, và đòi hỏi phương pháp nghiên cứu nâng cao hơn với kỹ thuật xử lý dữ liệu tinh xảo hơn

Tại Việt Nam, ngoài một số nghiên cứu theo phương pháp phân tích thống kê

mô tả còn có một số nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá tác động của chuyển dịch

cơ cấu kinh tế đến tăng năng suất lao động Đáng chú ý là kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuệ Anh (2007), sử dụng phương pháp phân tích dịch chuyển tỷ trọng để đánh giá đóng góp của chuyển dịch cơ cấu vào tăng trưởng năng suất lao động của 20 ngành cấp 1 với bộ số liệu của Tổng cục Thống kê giai đoạn 1991-2006 Kết quả nghiên cứu cho thấy, tác động của chuyển dịch cơ cấu trong giai đoạn 1991-2006 tại Việt Nam chủ yếu do tác động "tĩnh", do lao động di chuyển từ ngành có NSLĐ thấp sang các ngành có NSLĐ cao hơn Cũng giống như các nước BRIC, tác động "động" của chuyển dịch cơ cấu là bất lợi cho tăng trưởng năng suất Tuy nhiên, các phân tích SSA theo ngành, cho thấy có nhiều ngành năng động, tức là có cả ba cấu phần đóng góp vào tăng trưởng NSLĐ đều tích cực, điển hình là ngành CNCBCT

Nghiên cứu gần đây của Giang Thanh Long và cộng sự (2015) đã tính được đóng góp của mỗi ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động vào tăng trưởng NSLĐ mỗi ngành bằng phương pháp SSA với số liệu thống kê theo 9 ngành kinh tế chủ yếu của Việt Nam, giai đoạn 2001-2012 Kết quả phân tích đã chỉ rõ, trong giai đoạn nghiên cứu, tác động tĩnh của chuyển dịch cơ cấu lao động có đóng góp tích cực vào tăng trưởng NSLĐ chủ yếu do lao động dịch chuyển từ ngành có năng suất thấp sang ngành

có năng suất cao hơn Trong đó, tác động tĩnh do CDCCLĐ trong các ngành CNCBCT

Trang 27

và Xây dựng có đóng góp nhiều hơn cả Ngoài ra, tác động "động" do CDCCLĐ ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng NSLĐ trong ngành Nông, lâm, thủy sản và ngành Tài chính, tín dụng Kết luận này khá phù hợp với bối cảnh của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2012, đó là dòng lao động chuyển đến ngành Tài chính tín dụng quá nhanh trong khi tăng trưởng NSLĐ của ngành này có xu hướng giảm, còn đối với ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản có tốc độ tăng NSLĐ cải thiện dần thì lao động có xu hướng giảm Kết quả này cũng phù hợp với các kết luận tìm được trong nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và Nguyễn Thị Minh (2016)

Phương pháp SSA thường ước lượng quá đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng năng suất, do phương pháp này chỉ tách tăng trưởng thành các cấu phần một cách cơ học mà chưa tính đến tác động của nhiều yếu tố khác đến tăng trưởng năng suất và tăng trưởng kinh tế Để hạn chế các nhược điểm nói trên, sử dụng các mô hình kinh tế lượng là phương pháp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đặc biệt với sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ phần mềm nên ngày càng

có nhiều phần mềm trợ giúp cho quá trình phân tích, xử lý dữ liệu và hiện thực hóa ý tưởng của các nhà nghiên cứu, do vậy phương pháp kinh tế lượng có xu hướng được

sử dụng nhiều trong những nghiên cứu gần đây

Sử dụng các mô hình kinh tế lượng, Helene Poirson (2000) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tái phân bổ lao động lên tăng trưởng GDP bình quân đầu người dựa trên số liệu mảng của 75 quốc gia, giai đoạn 1960-1990 Sau khi thực hiện các kiểm định, lựa chọn mô hình hồi quy số liệu mảng với tác động cố định, kết quả thực nghiệm cho thấy, ngoài các yếu tố có ảnh hưởng đến tăng trưởng như: Vốn bình quân lao động; tăng trưởng trong giáo dục đào tạo; trình độ giáo dục phổ cập; thu nhập trung bình của người lao động; biến giả các khu vực và giai đoạn, thì tái phân bổ lao động có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng trong mẫu nghiên cứu

Nirvikar Singh (2015) nghiên cứu mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động

và tăng trưởng ở Ấn Độ Tác giả đã đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động theo hai cách Cách thứ nhất đo theo giá trị tuyệt đối của thay đổi trong tỷ trọng lao động giữa hai thời kỳ và cách thứ hai đo bằng chỉ số Lilien Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy theo số liệu của 16 tiểu bang lớn của Ấn Độ, giai đoạn 2000-2006 cung cấp bằng chứng về tác động tích cực của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở quốc gia này Thêm nữa, trễ của chuyển dịch cơ cấu lao động

có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng Kết quả này hàm ý rằng, chuyển dịch cơ cấu lao động tác động trực tiếp đến tăng trưởng hiện tại và cả trong tương lai

Trang 28

Các mô hình tăng trưởng nội sinh của Romer (1993) và Lucas (1988) đề cập đến vai trò của nguồn vốn vật chất, vốn con người, các chính sách quản lý điều hành của Chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác được Kuznet (1973) đề cập đến là chuyển dịch cơ cấu Theo ông, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu lao động nói riêng là một trong những nhân tố chính của tăng trưởng kinh tế hiện đại, và không thể bỏ qua phần đóng góp đó trong các mô hình tăng trưởng

Tại Việt Nam, tác giả tìm được rất ít nghiên cứu tiếp cận theo phương pháp kinh tế lượng để xem xét ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng

Có một số nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng nhằm đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng kinh tế Trong đó, biến phụ thuộc thường được sử dụng là GDP hoặc tốc độ tăng trưởng của GDP, hoặc logarit tự nhiên của chúng Các biến độc lập đại diện cho cơ cấu ngành thường được đề cập đến trong các nghiên cứu gồm: tỉ trọng ngành nông nghiệp, tỉ trọng ngành công nghiệp, tỉ trọng ngành dịch vụ hoặc tỉ trọng ngành phi nông nghiệp Một vài mô hình nghiên cứu điển hình với số liệu ngành của Việt Nam được kể đến như:

Mô hình của M.Peneder (2002) được đề xuất áp dụng cho 61 tỉnh, thành phố của Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1999-2003 như sau:

&'(), = + + + &(- (, + + (//'(), + +1 &.(/, + +2//33, + 4,

Trong đó: Biến phụ thuộc &'(), là logarit tự nhiên của GDP tỉnh i, trong năm t; các biến độc lập: &(- (, là logarit tự nhiên của tăng trưởng tổng dân số trong độ tuổi lao động; (//'(), là tỷ lệ đầu tư/GDP năm trước; &.(/, là logarit tự nhiên của tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư; //33, là tỷ trong GDP ngành nông nghiệp trong tổng GDP năm trước; 4, là sai số ngẫu nhiên

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh (2009) đã ước lượng mô hình hồi qui theo số liệu mảng gồm các tỉnh/thành phố của Việt Nam giai đoạn 2000-2007 Mô hình như sau: '(), = + + + + + 5$6, + +1 $6, + +2(., + +7 3, + + 4,

Trong đó: Kgr và Lgr là tốc độ tăng trưởng của vốn và lao động; DV và CN lần lượt là tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, ci là tham số đặc trưng cho sự không đồng nhất về các điều kiện kinh tế, quản lý của các tỉnh

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cẩm Vân (2015) đề xuất mô hình hồi qui theo số liệu mảng gồm các các quan sát của các tỉnh/ thành phố Việt Nam, thời kì 1998-2011

Mô hình hồi qui như sau:

Trang 29

&'(), = + &5, + + & , + +18 &, + +289:, + +7 _ &, + +< _9:, + + 4,

Trong đó: lnK và lnL lần lượt là logarit tự nhiên của vốn và lao động; kcn, kdv thứ tự là tỉ trọng vốn của ngành công nghiệp và dịch vụ; l_cn và l_dv thứ tự là tỉ trọng lao động ngành công nghiệp và dịch vụ

Tóm lại: Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên mức độ đóng góp là khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và các giai đoạn khác nhau Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam còn chưa phong phú về phương pháp tiếp cận và phương pháp đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động

Số liệu sử dụng trong các nghiên cứu còn chưa cập nhật với tình hình mới của nền kinh tế Trong luận án này, tác giả sẽ đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bằng các cách tiếp cận khác nhau Bên cạnh phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng truyền thống, tác giả còn sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng và mô hình hồi quy số liệu mảng đa bậc Theo hiểu biết của tác giả, đây đều là các phương pháp tiếp cận mới, còn ít được sử dụng tại Việt Nam

1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động

Chuyển dịch cơ cấu lao động từ ngành nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp là dấu hiệu phổ biến trong quá trình phát triển kinh tế (đã được chỉ ra trong các nghiên cứu của Kuznets (1966, 1973); Lewis (1954); Chenery và Syrquin (1975, 1989); Timmer và De Vries (2009), ) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa có sự đồng thuận trong việc luận giải các nhân tố điều khiển quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động Hiểu biết sâu sắc hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động là rất cần thiết, bởi vì tỷ trọng lao động trong các ngành dọc theo các quốc gia có mối liên hệ mật thiết với sự khác nhau trong thu nhập của các quốc gia đó (Restuccia và cộng sự, 2008; Syrquin, 1986)

Một hướng tiếp cận để giải thích cơ chế chuyển dịch cơ cấu lao động trong các nghiên cứu trước đây là dựa trên các giả thuyết "kéo" và "đẩy" lao động Giả thuyết về lực đẩy lao động nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng trưởng năng suất trong ngành nông nghiệp như là khởi đầu cho chuyển dịch cơ cấu lao động (Rostow, 1960; Matsuyama, 1991; Ngai và Pissarides, 2007) Mặt khác, giả thuyết về lực kéo lao động lại nhấn mạnh rằng: tăng trưởng năng suất trong các ngành phi nông nghiệp đã kéo lao

Trang 30

động di chuyển khỏi ngành nông nghiệp (Lewis, 1954; Vollrath, 2009) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu còn tranh luận rằng: chi phí tái phân bổ cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động (Hayachi và Presott, 2008; Shu-Shiuan Lu và Chang-Ching Lin, 2013)

Một hướng tiếp cận khác nhằm tìm ra các nhân tố điều khiển quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và luận giải cơ chế tác động của chúng đến quá trình này tập trung vào các nguyên nhân từ khía cạnh cung, khía cạnh cầu và từ cả hai phía Các nguyên nhân từ phía cầu xuất phát từ các giả thiết về tính không đồng nhất trong thị hiếu của người tiêu dùng và cấu trúc cầu bị ảnh hưởng bởi thu nhập Các nguyên nhân

từ phía cung dựa trên giả thiết có sự khác nhau trong tốc độ tăng năng suất của các ngành hoặc khác nhau trong tỷ lệ các yếu tố đầu vào của mỗi ngành

Nghiên cứu mô hình phát triển kinh tế với ba ngành của Fourastie (1949) dựa trên giả thiết rằng: có sự khác nhau trong tốc độ tăng trưởng năng suất, đồng thời có sự cạnh tranh, dẫn tới xu hướng về giá là khác nhau giữa ba ngành Bên cạnh đó, trong dài hạn, tiến bộ công nghệ làm giảm giá thuê và lợi nhuận của tất cả các ngành Theo quan điểm của Fourastie, sự phát triển của giá cho thuê và lợi nhuận sẽ thúc đẩy quá trình tái phân bổ các yếu tố sản xuất dọc theo các ngành, kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động và đầu ra Xét trên khía cạnh cung, các ngành có tốc độ tăng năng suất và tiến

bộ công nghệ cao sẽ thu hút nhiều lao động hơn các ngành có tốc độ tăng năng suất và tiến bộ công nghệ thấp Theo lý thuyết của Fourastie, chính tiến bộ công nghệ cùng các ảnh hưởng của nó tác động trực tiếp đến những yêu cầu về người lao động và thu nhập thực tế bình quân đầu người, dẫn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu theo khía cạnh cầu Thay đổi trong giá tương đối và đổi mới quy trình làm tăng năng suất lao động không ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc cầu (tham khảo qua Jens J Kruger, 2008)

Kuznets (1973) cũng cho rằng: sự thay đổi nhanh về cơ cấu sản xuất là điều không thể tránh khỏi, do tác động khác nhau của đổi mới công nghệ đối với một số ngành sản xuất, sự khác nhau trong độ co giãn theo thu nhập của cầu trong nước đối với hàng tiêu dùng khác nhau và những lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế đang thay đổi

Nghiên cứu dựa trên các mô hình lý thuyết của Tomasz Swiecki (2013), Denis Stijepic (2010), đã chỉ ra một số kênh tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động gồm: (i) Sự khác biệt trong hành vi của người tiêu dùng đối với các loại hàng hóa khác nhau khi thu nhập gia tăng Một cách cụ thể hơn, độ co giãn của cầu theo thu nhập của các hàng hóa cao cấp như dịch vụ là khá cao, trong khi độ co giãn này với các mặt hàng nông sản thì khá thấp (Luật Engel), do đó cùng với sự cải thiện trong thu nhập

Trang 31

của người dân thì cầu về các loại hàng hóa khác nhau sẽ thay đổi, theo đó cầu về lao động cũng sẽ thay đổi (ii) Sự khác nhau trong tăng trưởng năng suất dẫn đến sự khác nhau trong tăng trưởng TFP của các ngành (iii) Thương mại quốc tế (iv) Sự khác nhau trong độ co giãn của các yếu tố đầu vào theo đầu ra giữa các ngành

Củng cố và bổ sung thêm cho các nhận định trên, Berthold Herrendorf, Richard Rogerson, Askos Valentinyi (2013) đã chỉ ra các lực lượng kinh tế thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu gồm: (i) Sự khác nhau về công nghệ của các ngành thể hiện bởi: sự khác nhau trong tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP); sự khác nhau trong tỷ trọng vốn và độ co giãn của thay thế; (ii) Những thay đổi trong thu nhập và giá tương đối; (iii) Một số yếu tố mở rộng gồm: Thương mại quốc tế giúp thúc đẩy di chuyển các nguồn lực, tái phân bổ các nguồn lực theo hướng thúc đẩy lợi thế tương đối của các ngành; sự di chuyển lao động; sự di chuyển hàng hóa

Vai trò của thương mại quốc tế trong quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động cũng đã có nhiều nghiên cứu, và kết quả cho thấy rằng vai trò này là không thuần nhất, tùy thuộc vào đặc điểm phát triển của mỗi quốc gia cũng như vào cấp độ phân chia ngành nghề Chẳng hạn nghiên cứu của Freeman và Katz (1991) hay Revenga (1992) cho thấy thương mại quốc tế có tác động thúc đẩy đáng kể cho sự thay đổi cơ cấu lao động theo ngành tại Mỹ hay Canada Trong khi đó, nghiên cứu của Papageorgiou và cộng sự (1991) cho một nhóm các nước kém phát triển hơn thì lại không tìm thấy bằng chứng về vai trò của thương mại quốc tế trong quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động giữa các ngành sản xuất Kết luận tương tự cũng tìm thấy trong nghiên cứu của Naércio và Muendler (2011) khi nghiên cứu cho một quốc gia như Brazin vào những năm 1990 cho thấy rằng: tự do hóa thương mại tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế của quốc gia này về mặt sản lượng, tuy nhiên do những ngành có sản lượng gia tăng này

có năng suất lao động gia tăng khá nhanh (nhanh hơn khả năng gia tăng cầu) nên không tạo ra được sự gia tăng trong cầu lao động

Tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ di chuyển lao động, Lee và Wolpin (2006) ước lượng mô hình với dữ liệu vi mô và tìm ra: (i) Các nhân tố cầu lao động là lực lượng chính điều khiển quá trình tái phân bổ lao động giữa các ngành, các nhân tố cung lao động không giữ vai trò quan trọng trong quá trình này; (ii) Chi phí di chuyển lao động chéo giữa các ngành là khá lớn, chi phí thay đổi nghề nghiệp trong một ngành thấp hơn chi phí thay đổi ngành nhưng vẫn giữ nghề cũ; chi phí di chuyển lao động có ảnh hưởng đến quá trình tái phân bổ lao động

Nghiên cứu với dữ liệu cấp tỉnh, giai đoạn 1992-2010 của Trung Quốc, Malhar Nabar và Kai Yan (2013) đã chỉ ra một số yếu tố tác động đến tỷ trọng lao động ngành

Trang 32

dịch vụ gồm: (i) vốn con người; (ii) các chính sách vĩ mô (bao gồm: chi tiêu ngân sách; tính cạnh tranh của thị trường; Chiến lược kinh tế quốc gia; Cơ sở hạ tầng…) Các yếu tố liên quan đến nguồn vốn con người như trình độ giáo dục, tăng trưởng về giáo dục cũng được cho là có ảnh hưởng đến sự tái phân bổ lao động giữa các ngành (Helene Poirson, 2000)

Thu nhập của người lao động cũng được nhiều nghiên cứu đề cập đến như là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chuyển dịch lao động Để minh chứng cho điều này, Syrquin (1986) đã sử dụng mô hình hồi qui theo số liệu chéo của 97 nước trong giai đoạn 1950-1983 Kết quả nghiên cứu chỉ ra bằng chứng: tỉ trọng lao động nông nghiệp giảm khi thu nhập tăng lên và tỉ trọng lao động công nghiệp tăng khi thu nhập tăng Kết quả này phù hợp ở hầu khắp các nhóm nước có mức thu nhập từ thấp đến cao Điều này có thể lý giải do cầu đối với hàng hóa nông nghiệp có độ co giãn theo thu nhập thấp hơn độ co giãn của cầu theo thu nhập đối với hàng công nghiệp, khi năng suất lao động trong ngành nông nghiệp tăng lên nhanh hơn so với nhu cầu về hàng nông nghiệp, sẽ xuất hiện một bộ phận lao động dư thừa, có xu hướng chuyển sang ngành phi nông nghiệp Không chỉ có sự gia tăng năng suất ngành nông nghiệp làm giảm số lao động nông nghiệp và tăng số lao động phi nông nghiệp mà khi năng suất lao động trong ngành phi nông nghiệp tăng cũng là động lực thu hút người lao động nông nghiệp chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp Bởi vì, một mặt ngành phi nông nghiệp khi đó tích lũy nhiều vốn, có xu hướng mở rộng sản xuất và phát sinh nhu cầu thuê thêm lao động, mặt khác do chênh lệch về thu nhập, dẫn đến chênh lệch

về mức sống là lực hút người lao động từ lĩnh vực nông nghiệp chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp

Các yếu tố kể trên sẽ có tác động nên “tiềm năng” dịch chuyển cơ cấu lao động,

và việc các tiềm năng này được thực hiện thế nào thì còn tùy thuộc vào hai yếu tố quan trọng, đó là yếu tố về thể chế, về hoạt động của chính quyền đối với thị trường lao động và yếu tố về năng lực và bản thân người lao động Một thể chế tốt giúp cho thị trường lao động minh bạch và giàu thông tin cho người lao động, và người lao động có thể dễ dàng dịch chuyển việc làm tùy thuộc vào năng lực của họ mà không gặp trở ngại gì Một chính quyền tốt sẽ cung cấp các dịch vụ nhằm tạo ra cơ hội cho mọi người lao động, chẳng hạn cung cấp các dịch vụ thông tin việc làm, về định hướng đào tạo nghề, hoặc các dịch vụ tín dụng để người lao động có thể trông cậy vào trong công cuộc dịch chuyển nghề nghiệp v.v

Tại Việt Nam, các nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động chủ yếu tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu định tính, rất ít

Trang 33

nghiên cứu định lượng về vấn đề này Một số nghiên cứu điển hình gần đây của các tác giả được kể đến như: Phí Thị Hằng (2014) nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, trên địa bàn tỉnh Thái Bình, giai đoạn 2001-2013; Phạm Quý Thọ (2006) nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động trong xu hướng hội nhập quốc tế Các tác giả đã dựa trên các phân tích thực trạng và nghiên cứu tổng quan để đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động bao gồm: (i) Tốc độ tăng trưởng kinh tế; (2) Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (3) Năng suất lao động ngành nông nghiệp; (4) Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động; (5) Sự phát triển, phân bố dân

số và nguồn lao động; (6) Nhận thức của người lao động về chuyển dịch cơ cấu lao động; (7) Hội nhập kinh tế quốc tế

Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về chuyển dịch cơ cấu lao động và tăng trưởng kinh tế đa dạng và phong phú, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và kiểm định trên các bộ số liệu khác nhau, các kết quả nghiên cứu nhiều khi trái ngược nhau và khó để tổng quát hóa cho các ngành, các quốc gia và khu vực, Các hàm ý chính sách đối với mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển là không giống nhau Chính vì vậy, cần có những nghiên cứu thận trọng, thấu đáo về quá trình chuyển dịch

cơ cấu lao động trong bối cảnh của Việt Nam

1.2.3 Nhận xét

Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động thường tiếp cận các khía cạnh một cách độc lập, sử dụng các phương pháp nghiên cứu đơn lẻ Nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động còn hạn chế về

số lượng và mức độ sâu rộng Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động bên trong một ngành hoặc phân ngành chưa được đề cập nhiều Đây là chỉ báo thúc đẩy tác giả định hướng nghiên cứu sâu hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành Luận án sẽ tập trung nghiên cứu đồng thời hai vấn đề: (i) vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế; và (ii) các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án tiếp cận nhiều phương pháp nghiên cứu định lượng, bao gồm các phương pháp truyền thống và hiện đại như: Phương pháp hạch toán tăng trưởng, phương pháp kinh tế lượng với các mô hình hồi quy theo số liệu mảng đa bậc,

số liệu mảng không gian Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng kết hợp cả bộ số liệu vĩ

mô, theo cấp ngành, cấp tỉnh và bộ số liệu vi mô, theo cấp doanh nghiệp Đây là những phương pháp tiếp cận mới, hy vọng sẽ mang đến những khám phá thú vị về chuyển dịch cơ cấu lao động tại Việt Nam

Trang 34

1.3 Tóm tắt chương 1

Chương 1, tác giả đã giới thiệu cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động theo hai khía cạnh: (i) Vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế; và (ii) Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động Đối với vấn đề thứ nhất, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã chỉ ra rằng, chuyển dịch cơ cấu lao động có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên mức độ đóng góp là khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và các giai đoạn khác nhau Về vấn đề thứ hai, tùy theo cách tiếp cận và đơn

vị phân tích mà các nghiên cứu đã chỉ ra nhóm các nhân tố khác nhau bao gồm: (i) Nhóm nhân tố bên trong các ngành như: cường độ vốn, tỉ trọng vốn, công nghệ sản xuất, các yếu tố đầu vào ; (ii) Nhóm nhân tố liên quan đến người lao động như: thu nhập của người lao động, trình độ chuyên môn, kĩ năng của người lao động, cầu của người lao động với tư cách là người tiêu dùng đối với các mặt hàng ; (iii) Nhóm nhân

tố bên ngoài như: thương mại quốc tế, hội nhập kinh tế, môi trường và thể chế, chính sách của Nhà nước như: chính sách phát triển ngành, chính sách công nghiệp hóa, chính sách đô thị hóa

Thông qua tổng quan nghiên cứu, tác giả đã xác định được khoảng trống và thiết kế nghiên cứu cho luận án Hy vọng luận án sẽ phần nào bù đắp những khoảng trống trong các nghiên cứu trước đó và mang đến một góc nhìn đầy đủ hơn theo cả hai khía cạnh: đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động lên tăng trưởng kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong các nghiên cứu về chủ đề này bao gồm: Phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng; phương pháp hạch toán tăng trưởng, và các mô hình kinh tế lượng sẽ được giới thiệu chi tiết trong chương 2

Trang 35

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày khái quát về các phương pháp sẽ được sử dụng trong luận

án, bao gồm: (1) Phương pháp đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động theo chỉ số Lilien; (2) Phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng; (3) Phương pháp hạch toán tăng trưởng theo công cụ phân tách của Shapley; (4) Một số mô hình kinh tế lượng, bao gồm: mô hình số liệu mảng; mô hình số liệu mảng đa bậc; mô hình số liệu mảng không gian

2.1 Đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động

Chỉ số Lilien do David M Lilien (1982) xây dựng để đo lường độ tái phân bổ lao động giữa các ngành và/ hoặc các vùng Trong đó, đo bình phương sai số có trọng

số của tốc độ tăng lao động trong ngành i với tốc độ tăng lao động chung Trọng số sử dụng là tỷ trọng lao động của ngành i

! = ∑ ($ − $ ) (2.1) Trong đó: i là chỉ số ngành và t là thời gian;

là tỷ trọng lao động của ngành i;

$ là tốc độ tăng lao động của ngành i;

$ là tốc độ tăng lao động chung

Ta thấy, chỉ số Lilien bằng 0 khi tốc độ tăng lao động của mỗi ngành trong nền kinh tế bằng tốc độ tăng lao động của cả nền kinh tế Chỉ số này càng cao khi có sự biến động lớn trong tốc độ tăng lao động của các ngành so với tốc độ tăng lao động tổng thể

Trong toán học chúng ta đã có công thức tính gần đúng bằng vi phân, áp dụng đối với hàm logarit trong trường hợp biến độc lập nhận giá trị rời rạc như sau:

Trong đó, biểu thức ở vế trái được viết lại là: ln(? ) − ln(? ) = ln ( AB

ABCD) biểu thức ở vế phải là tốc độ tăng trưởng của biến x

1

? (? − ? ) =

? − ?

Trang 36

Do đó, trong thực hành, chúng ta có thể thay thế tốc độ tăng trưởng $ và

$ trong công thức (2.1) lần lượt bởi các hàm ln ( AEB

M là tỷ trọng lao động của ngành con i trong tổng lao động của ngành lớn j thuộc tỉnh k;

?M là tổng số lao động ngành con i, thuộc ngành lớn j, trong tỉnh k;

LM là tổng số lao động ngành lớn j, trong tỉnh k

Chỉ số Lilien được sử dụng trong nhiều nghiên cứu sau đó nhằm đo lường ảnh hưởng của tái phân bổ lao động chéo giữa các ngành hoặc giữa các doanh nghiệp trong ngành (Shutao Cao và Danny Leung, 2010; Muhammad Rashid Ansari và cộng sự, 2013) Ngoài ra, các nghiên cứu trong và ngoài nước còn sử dụng một số phương pháp khác để đo lường mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động, tùy theo mục đích nghiên cứu

và yêu cầu đo lường ở cấp quốc gia, cấp ngành hay cấp doanh nghiệp Các phương pháp được biết đến như: đo lường tỷ lệ lao động được tái phân bổ trong các ngành; đo lường tỷ lệ lao động tăng thêm hoặc giảm đi so với tổng số lao động; đo lường sự thay đổi trong tỷ trọng lao động ngành (Wacziarg, 2004); đo tỷ lệ tái phân bổ lao động

Trang 37

(Davis và Haltiwanger, 1992); phương pháp véc tơ đo lường góc dịch chuyển (Nguyễn Quốc tế và Nguyễn Thị Đông, 2013)

Tuy nhiên, chỉ số Lilien mở rộng có ưu điểm hơn so với các chỉ số khác theo nghĩa: chỉ số này đại diện cho mức độ CDCCLĐ giữa các ngành trong một vùng hoặc mức độ CDCCLĐ trong nội bộ một ngành Do sự phức tạp trong cách đo lường (ví dụ như yêu cầu về dữ liệu và kỹ thuật tính toán) nên chỉ số Lilien còn ít được sử dụng trong các nghiên cứu trên thế giới và chưa được sử dụng trong các nghiên cứu về

CDCCLĐ tại Việt Nam

2.2 Phương pháp phân tích chuyển dịch tỷ trọng

Phương pháp hạch toán tăng trưởng phổ biến được sử dụng để đánh giá đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động vào tăng trưởng năng suất và tăng trưởng kinh tế

là phân tích chuyển dịch tỷ trọng - SSA (Shift-Share Analysis) Ưu điểm của phương pháp này là tách được tăng trưởng năng suất tổng thể nền kinh tế thành hai thành phần gồm: (i) Tăng trưởng năng suất trong nội bộ ngành, (ii) đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành Ban đầu, phương pháp SSA chỉ áp dụng cho nền kinh tế hai khu vực trong mô hình Lewis, sau đó được biến đổi để sử dụng cho nền kinh tế nhiều ngành hoặc chỉ sử dụng cho một ngành

Phương pháp SSA do Fabrican (1942) khởi xướng Ưu điểm của phương pháp này là tách được tăng trưởng năng suất tổng thể nền kinh tế thành ba thành phần gồm: Thành phần thứ nhất là tốc độ tăng năng suất trong nội bộ ngành, nó cho thấy sự tăng trưởng NSLĐ có thể xảy ra ngay cả khi không có sự chuyển dịch cơ cấu lao động mà việc tăng năng suất chung do những cải tiến năng suất trong nội bộ của từng ngành (intra), thành phần thứ hai là tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành gọi là tác động dịch chuyển “tĩnh” (static shift effect), thành phần thứ ba là tác động

“động” (dynamic shift effect) Tác động “động” của mỗi ngành là dương khi lao động chuyển đến ngành có NSLĐ tăng hoặc lao động rời khỏi ngành có NSLĐ giảm, tác động này âm nếu lao động chuyển đến ngành có NSLĐ giảm hoặc chuyển đi khỏi ngành có NSLĐ tăng

Giả sử nền kinh tế được chia thành n ngành Gọi Pt là năng suất chung của nền kinh tế tại thời kỳ t, đo bằng tổng giá trị đầu ra tại thời kỳ t (Yt) trên tổng số lao động trong thời kỳ đó (Lt)

Trang 38

∆) = ) − ) N = ∑ -, NV), + ∑ ), V-, (2.4) Trong đó, W là năng suất chung của nền kinh tế tại thời kỳ t, ), là năng suất lao động của ngành i tại thời kỳ t, -, là tỷ trọng lao động của ngành i Toán tử ∆ chỉ

sự thay đổi trong năng suất hoặc tỷ trọng lao động từ thời kỳ t – k đến thời kỳ t

Số hạng thứ nhất là tổng có trọng số của tăng năng suất bên trong các ngành quan sát, trong đó trọng số là tỷ trọng lao động của mỗi ngành tại thời điểm bắt đầu của mỗi giai đoạn thời gian, gọi là đóng góp tăng trưởng năng suất nội bộ ngành

Số hạng thứ hai trong công thức (2.4) biểu diễn ảnh hưởng của sự dịch chuyển lao động giữa các ngành lên tăng trưởng năng suất, được tính bằng tích vô hướng giữa mức năng suất tại cuối mỗi giai đoạn với thay đổi trong tỷ trọng lao động giữa các ngành và được gọi là đóng góp do chuyển dịch cơ cấu Khi thay đổi trong tỷ trọng lao động có quan hệ tích cực với năng suất thì chuyển dịch cơ cấu sẽ làm tăng năng suất chung của toàn bộ nền kinh tế

Gọi ') là tốc độ tăng năng suất của thời kỳ t so với thời kỳ t – k, ta có công thức xác định ') như sau:

') =XB XBCY

X BCY =∑ ZX]E^D E,B X E,BCY [.\ E,BCY

∑]E^D\ E,BCY X E,BCY +∑]E^DXE,B (\ E,B \ E,BCY )

∑]E^D\ E,BCY X E,BCY (2.5) Công thức (2.5) cho biết tốc độ tăng trưởng năng suất chung là tổng của hai cấu thành Cấu thành thứ nhất là tốc độ tăng năng suất của nội bộ ngành, cấu thành thứ hai

là tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động ngành CDCC xuất hiện khi có sự di chuyển lao động giữa các ngành kinh tế Nếu sự di chuyển lao động có đóng góp vào tăng trưởng năng suất chung thì tác động này là tích cực và có dấu dương Ngược lại,

sự dịch chuyển lao động làm giảm tốc độ tăng năng suất chung thì đó là tác động tiêu cực, có dấu âm

Cấu phần thứ hai trong công thức (2.5) có thể tách thành hai thành phần và công thức (2.5) được viết lại thành công thức (2.6) như sau:

') =∑ ZX]E^D E,B XE,BCY[.\ E,BCY

∑]E^D\E,BCY XE,BCY +∑]E^DXE,BCY (\E,B \E,BCY)

∑]E^D\E,BCY XE,BCY +∑ ZX]E^D E,B XE,BCY[.(\ E,B \E,BCY)

∑]E^D\E,BCY XE,BCY (2.6) Trong công thức (2.6): thành phần thứ nhất là tốc độ tăng năng suất trong nội

bộ ngành (intra), còn gọi là "tăng trưởng NSLĐ nội sinh", nó cho thấy tăng trưởng NSLĐ có thể xảy ra ngay cả khi không có sự chuyển dịch cơ cấu lao động, mà việc tăng năng suất chung do những ứng dụng tiến bộ công nghệ, cải tiến hiệu quả kĩ thuật thông qua cải tiến phương pháp quản trị, đào tạo, nâng cao tay nghề cho

Trang 39

người lao động, Thành phần thứ hai thể hiện ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu lao động được phân rã thành tổng thay đổi tương đối trong phân phối lao động giữa các ngành trong thời kỳ nghiên cứu, sử dụng trọng số là giá trị NSLĐ của ngành ở năm đầu tiên hay còn gọi là năm cơ sở Thành phần này được gọi là "tác động dịch chuyển tĩnh" (static shift effect) Nó có giá trị dương nếu lao động chuyển dịch từ ngành có NSLĐ thấp sang ngành có NSLĐ cao, và mang lại "phần thưởng" cơ cấu cho nền kinh tế Ngược lại, "tác động dịch chuyển tĩnh" có giá trị âm nếu lao động chuyển dịch theo hướng ngược lại Thành phần thứ ba là "tác động chuyển dịch động" (dynamic shift effect), được đo bằng tổng của các tương tác về thay đổi cơ cấu lao động và NSLĐ của ngành Nếu lao động chuyển dịch sang ngành có NSLĐ

và tốc độ tăng trưởng NSLĐ cao thì sẽ làm tốc độ tăng trưởng NSLĐ của nền kinh

tế tăng Ngược lại, "tác động chuyển dịch động" sẽ mang tính tiêu cực nếu ngành

có NSLĐ tăng trưởng nhanh nhưng không duy trì tỷ trọng lao động, khi đó nó sẽ mang lại "gánh nặng cơ cấu", tức là chuyển dịch cơ cấu lao động có thể kéo lùi tăng trưởng kinh tế khi lao động chuyển dịch từ ngành phát triển năng động, với tốc độ tăng trưởng NSLĐ cao sang các ngành truyền thống, có tốc độ tăng trưởng NSLĐ thấp hơn

2.3 Phương pháp hạch toán tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế có thể nói là mục tiêu của mọi quốc gia và cũng là vấn

đề thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả trên khắp thế giới Nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng đã xây dựng các mô hình nhằm xác định nguồn gốc và cách thức tăng trưởng Trong đó, các mô hình tăng trưởng ngoại sinh (Solow, 1956; Swan, 1956) đã giải thích mức tăng trưởng trong dài hạn phụ thuộc vào tốc độ tăng dân số hay tăng quy mô lao động; quá trình tích lũy vốn và lao động; sự gia tăng năng suất thường được gọi là tiến bộ công nghệ Các mô hình tăng trưởng nội sinh (Romer, 1986; Lucas, 1988) đề cập đến vai trò của nguồn vốn vật chất, vốn con người và các chính sách của Chính phủ trong quản lý điều hành đều có ảnh hưởng dài hạn đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác được Kuznet (1973) đề cập đến là chuyển dịch cơ cấu (CDCC) Theo ông, CDCC là một trong những nhân tố chính của tăng trưởng kinh tế hiện đại và không thể bỏ qua đóng góp của nó trong các mô hình tăng trưởng

Phương pháp hạch toán tăng trưởng với công cụ phân tách của Shapley được World Bank (2012) đề xuất, nhằm phân tách các thành phần đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia theo mức tổng thể và theo từng ngành kinh tế

Trang 40

2.3.1 Phân tách tăng trưởng theo mức tổng thể

Ta có GDP bình quân đầu người được viết theo ba thành phần như sau:

W

3 =3 ∗_ `_ ∗`WTrong đó: Y là tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh; N là tổng dân số; A

là tổng dân số trong độ tuổi lao động hay lực lượng lao động; E là số lao động đang làm việc

Kí hiệu: a =bS, c =bd, e =fd, g =Sf lần lượt là GDP bình quân đầu người; tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động (tỉ lệ phần trăm số người trong độ tuổi lao động so với tổng dân số); tỉ lệ lao động có việc làm (tỉ lệ phần trăm lao động có việc làm trên lực lượng lao động); năng suất lao động (GDP bình quân theo lao động)

Ta có: ∆a = gj ∗ ∆a + e̅ ∗ ∆a + cp ∗ ∆a

Trong đó: thay đổi trong GDP bình quân đầu người được đóng góp từ ba cấu phần: (i) gj là đóng góp do thay đổi trong NSLĐ chung của nền kinh tế; (ii) e̅ là đóng góp do thay đổi trong tỉ lệ lao động có việc làm; (iii) cp là đóng góp do thay đổi tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động (tác động do thay đổi trong nhân khẩu học, không phân

rã được theo ngành)

2.3.2 Phân tách tăng trưởng theo ngành

Giả sử nền kinh tế gồm n ngành: 1, 2, , n

Bằng cách phân tách đóng góp của từng thành phần (i), (ii) theo ngành, chúng

ta tính được đóng góp của từng ngành đến tăng trưởng kinh tế

Ngày đăng: 18/08/2017, 14:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w