Nội dung 2: Nghiên cứu khả năng thích ứng của các giống lúa mới được xác định tại một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng 54... Đánh giá khả năng thích ứng của 2 giống lúa BH9 và ĐS3 trên d
Trang 1TRẦN THANH NHẠN
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG LÚA CHẤT LƢỢNG, NGẮN NGÀY VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH PHÙ HỢP PHỤC VỤ SẢN XUẤT
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2- -
TRẦN THANH NHẠN
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH GIỐNG LÚA CHẤT LƢỢNG, NGẮN NGÀY VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT THÂM CANH PHÙ HỢP PHỤC VỤ SẢN XUẤT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm!
Tác giả luận án
Trần Thanh Nhạn
Trang 4
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, Ban đào tạo Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn đến lãnh đạo và các công chức, viên chức thuộc Trạm Khảo nghiệm giống cây trồng Văn Lâm, Hưng Yên - Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia; Trung tâm Chuyển giao khoa học công nghệ và Khuyến nông - Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam; các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện, động viên và có nhiều ý kiến đóng góp cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận án
Sau cùng là gia đình đã luôn động viên khích lệ, tạo điều kiện về thời gian, công sức và kinh tế để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Tác giả luận án
Trần Thanh Nhạn
Trang 51.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
Trang 61.3.1 Nguồn gốc phân loại cây lúa 6
1.3.3 Yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa 10 1.3.4 Quan hệ giữa năng suất lúa và các yếu tố liên quan 13 1.3.5 Các chỉ tiêu về chất lượng và các yếu tố ảnh hưởng 15 1.3.6 Đánh giá hiện trạng sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của Việt Nam 21 1.3.7 Định hướng mục tiêu cho ngành hàng lúa gạo chất lượng 24
1.3.9 Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng Japonica 28 1.3.10 Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng Indica 31 1.3.11 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa chất lượng ở Việt Nam 34 1.3.12 Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa chất lượng vùng ĐBSH 37 1.3.13 Nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh tăng năng suất lúa 37
1.3.15 Nghiên cứu về thời vụ gieo, cấy đối với cây lúa 48
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1.1 Đánh giá giá trị canh tác, giá trị sử dụng của giống lúa được
2.2.1 Nội dung 1: Nghiên cứu xác định giống lúa mới ngắn ngày, chất
lượng, triển vọng cho vùng Đồng bằng sông Hồng 53 2.2.2 Nội dung 2: Nghiên cứu khả năng thích ứng của các giống lúa
mới được xác định tại một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng 54
Trang 72.2.3 Nội dung 3: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh
của các giống lúa được xác định tại vùng Đồng bằng sông Hồng 54 2.2.4 Nội dung 4: Xây dựng mô hình thâm canh và đánh giá hiệu quả
kinh tế của giống lúa được tuyển chọn trên đất phù sa sông Hồng 54
2.3.1 Nghiên cứu xác định giống lúa mới ngắn ngày, chất lượng, triển
2.3.2 Đánh giá khả năng thích ứng của các giống lúa mới triển vọng tại
2.3.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cho giống lúa đã
được tuyển chọn trên đất phù sa vùng Đồng bằng sông Hồng 58 2.3.4 Xây dựng mô hình thâm canh, đánh giá hiệu quả kinh tế của
giống lúa triển vọng tại vùng đồng bằng sông Hồng 59
cấu thành năng suất của các giống lúa tham gia thí nghiệm 62
2.4.6 Đánh giá một số chỉ tiêu về chất lượng gạo, cơm 66
3.1 Kết quả nghiên cứu xác định giống lúa mới ngắn ngày, chất
Trang 83.1.1 Kết quả đánh giá đặc điểm nông học, khả năng sinh trưởng, phát
3.1.2 Kết quả đánh giá phản ứng của các giống với một số sâu bệnh
chính và khả năng chống chịu điều kiện bất thuận của ngoại cảnh 71 3.1.3 Kết quả đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của
3.1.4 Kết quả đánh giá chất lượng gạo của các giống lúa tham gia thí
3.2 Kết quả đánh giá khả năng thích ứng của 2 giống lúa ĐS3 và BH
3.2.1 Kết quả đánh giá đặc điểm nông học, khả năng sinh trưởng, phát
triển và các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 2 giống
3.2.2 Kết quả đánh giá chỉ số diện tích lá và hàm lượng chất khô của 2
3.2.3 Kết quả đánh giá độ thuần đồng ruộng và các yếu tố cấu thành
3.2.4 Kết quả đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa ĐS3
3.2.5 Kết quả đánh giá năng suất của giống BH9 và ĐS3 tại các điểm 89 3.2.6 Kết quả đánh giá chỉ tiêu chất lượng gạo của 2 giống lúa BH9 và ĐS3 91 3.2.7 Kết quả đánh giá chất lượng cơm của giống ĐS3 và BH9 92 3.2.8 Kết quả đánh giá độ ổn định năng suất của 2 giống lúa ĐS3 và
3.3 Đánh giá khả năng thích ứng của 2 giống lúa BH9 và ĐS3 trên
diện rộng trong điều kiện sản xuất tại một số tỉnh vùng Đồng
Trang 93.3.1 Kết quả đánh giá khả năng thích ứng của giống lúa ĐS3 trong vụ
3.4.3 Ảnh hưởng của các mức bón đạm và mật độ cấy đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa ĐS3 và Bắc
3.5 Kết quả xây dựng mô hình thâm canh, đánh giá hiệu quả kinh tế
3.5.1 Kết quả xây dựng mô hình và đánh giá hiệu quả kinh tế của
Các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án 120
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Danh sách các giống lúa nghiên cứu nhóm Indica 522.2 Danh sách các giống lúa mới nhóm Japonica 533.1 Đặc điểm hình thái các giống lúa thí nghiệm thuộc nhóm Indica 673.2 Một số đặc điểm hình thái các giống lúa thí nghiệm thuộc nhóm
3.3 Một số đặc điểm nông sinh học và khả năng sinh trưởng phát
triển của các giống lúa thí nghiệm vụ Xuân 2013 693.4 Một số đặc điểm nông sinh học và khả năng sinh trưởng phát
triển của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2013 703.5 Tình hình nhiễm sâu, bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm
3.6 Tình hình sâu, bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm nhóm
3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa thí
3.8 a Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng gạo của các giốnglúa
3.8b Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng gạo của các giống lúa
3.9a Các chỉ tiêu chọn lọc với nhóm giống Indica 79
3.9b Các chỉ tiêu chọn lọc với nhóm giống Japonica 80
3.10 Mục tiêu và hệ số chọn lọc đối với các giống lúa Indica và Japonica 803.11 So sánh giá trị chọn lọc với giá trị thực tế của giống BH 9 và ĐS3 823.12 Một số đặc điểm nông sinh học của giống lúa BH 9 và ĐS3 83
Trang 113.13 Kết quả đánh giá diện tích lá của giống BH9 và ĐS3 853.14 Đánh giá khả năng tích lũy chất khô của giống BH 9 và ĐS3 853.15 Độ thuần đồng ruộng và các yếu tố cấu thành năng suất của
3.16 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống đổ của 2 giống ĐS3
3.17 Phản ứng của giống lúa BH9 đối với rầy nâu 893.18 Phản ứng của giống lúa BH9 đối với bệnh đạo ôn 893.19 Phản ứng của giống lúa BH9 đối với bệnh bạc lá 89
3.20 Năng suất của 2 giống ĐS3 và BH9 tại các điểm (tấn/ha) 903.21 Một số chỉ tiêu chất lượng gạo của giống ĐS3 và BH9 913.22 Chất lượng cơm của 2 giống ĐS3 và BH9 vụ Xuân 2014 923.23 Độ ổn định năng suất của các giống tại vùng ĐBSH trong vụ
3.30 Một số đặc điểm nông học của giống ĐS3 1013.31 Độ thuần đồng ruộng và yếu tố cấu thành năng suất của giống ĐS3 1013.32 Mức độ nhiễm sâu bệnh của giống lúa ĐS3 (điểm) 102
Trang 123.33 Các yếu tố cấu thành năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh
3.35 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến thời gian sinh
trưởng và chiều cao cây của giống lúa ĐS3 1053.36 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và mật độ cấy đến thời gian sinh
trưởng và chiều cao cây của giống lúa BH9 1053.37 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến mức độ nhiễm
3.38 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến mức độ nhiễm
3.39 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của giống ĐS3 1083.40 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến năng suất thực
3.41 Ảnh hưởng của mật độ và nền phân bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống BH9 (tấn/ha) 1113.42 Ảnh hưởng của mật độ cấy và mức đạm bón đến năng suất thực
3.43 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình giống ĐS3 so với giống
Khang dân 18 tại Hưng Yên trong vụ Xuân 2016 1153.44 Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình giống ĐS3 so với giống
3.45 Đánh giá hiệu quả kinh tế của giống BH9 tại Vụ Bản-Nam Định,
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Gge biplot của 5 giống tại 3 địa điểm vụ Xuân 2014 94 3.2 Gge biplot của 5 giống tại 3 địa điểm vụ Mùa 2014 96 3.3 Gge biplot của 5 giống tại 3 địa điểm vụ Xuân 2015 97 3.4 Gge biplot của 5 giống tại 3 địa điểm vụ Xuân 2014 và 2015 98
Trang 14
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Ý nghĩa
FAO Food and Agricultural Organization
(Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc)
IRRI International Rice Research Institute
(Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế)
UNDP United Nationns Development Programme
(Chương trình phát triển của Liên hợp quốc) VCK
Hệ số diện tích lá Marker Assisted Selection Marker Assisted Backrossing Năng suất lý thuyết
Năng suất thực thu Nhiễm sắc thể Thời gian sinh trưởng Giống Bắc hương 9 Hiệp hội Lương thực Việt Nam Quản lý cây trồng tổng hợp
3 giảm 3 tăng trên cây lúa Tính trạng chống chịu khô hạn trên cây lúa
Trang 15MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm đổi mới, một trong những thành tựu lớn nhất của nông nghiệp Việt Nam là sự phát triển của ngành lúa gạo Từ một nước thiếu lương thực trong thập niên bảy mươi và nửa đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo vào năm 1989, chỉ bốn năm sau khi đổi mới và sau đó đến nay liên tiếp giữ vị trí là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Sự phát triển của ngành lúa gạo đã đóng góp to lớn cho đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xoá đói giảm nghèo Chúng ta không những có đủ lương thực tiêu dùng trong nước mà còn dư một lượng lớn để phục vụ xuất khẩu “Phạm Thị Thanh Bình, Viện - Kinh tế và Chính trị Thế giới,Phát triển nông nghiệp Việt Nam, Thành tựu và hạn chế 2017”
Góp phần vào thành tích to lớn trên trước hết phải kể đến sự đóng góp quan trọng của các giống lúa mới cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp Mặc
dù đã đạt được thành tựu to lớn nhưng ngành lúa gạo Việt Nam trong quá trình phát triển đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế Giá trị gia tăng của ngành lúa gạo giảm dần do sản xuất và kinh doanh hiệu quả thấp, thu nhập của nông dân trồng lúa giảm sút và không tương xứng với các tác nhân khác tham gia kinh doanh lúa gạo
Vùng Đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên là 2,06 triệu ha và gần 20 triệu dân, diện tích lúa gieo cấy hàng năm khoảng hơn 1 triệu ha, chiếm 88% diện tích cây lương thực của vùng và chiếm khoảng 14% diện tích gieo trồng lúa của cả nước Tuy đất không rộng nhưng đây là vùng sản xuất lúa có trình độ thâm canh cao Sản xuất lúa ở ĐBSH hướng đến thị trường nội địa, bao gồm thị trường lớn là thủ đô Hà Nội và các đô thị trong vùng, với xu thế tiêu dùng gạo
Trang 16chất lượng cao gia tăng Vì vậy, vùng ĐBSH sẽ chuyển hướng mạnh sang sản xuất lúa chất lượng cao và quy hoạch các vùng sản xuất lúa đặc sản địa phương,
lúa nếp, lúa Japonica Tuy nhiên vùng này còn thiếu bộ giống lúa chất lượng
cao, có giá trị hàng hóa, số lượng giống chất lượng cao phát triển rộng rãi trong sản xuất còn ít Một số giống lúa chất lượng là giống chủ lực trong sản xuất nhưng bị nhiễm nặng sâu bệnh hại, nhiều vụ gây thiệt hại lớn cho sản xuất Một giải pháp quan trọng góp phần tái cấu trúc ngành lúa gạo nước ta nhằm nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững là nghiên cứu đưa vào sản xuất các giống lúa chất lượng và có giá trị hàng hóa cao trên thị trường lúa gạo thế giới và trong nước (Theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Đồng_bằng_sông_Hồng)
Ðể nâng cao chất lượng lúa gạo thì khâu cơ bản là nghiên cứu chọn tạo, cải tiến giống để có những giống lúa có chất lượng giá trị hàng hóa cao hơn, kết hợp với việc xác định các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp phát huy được tiềm năng của giống; thực tế chứng minh rằng đây là con đường nhanh
và tiết kiệm để nâng cao chất lượng lúa gạo Trên cơ sở đó, chúng tôi thực
hiện đề tài “Nghiên cứu xác định giống lúa chất lượng, ngắn ngày và một
số biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp phục vụ sản xuất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Trang 17trong vụ Xuân và 5,5-6,0 tấn/ha trong vụ Mùa, chất lượng cơm ngon, hàm lượng Amylose thấp (dưới 20%), nhiệt độ hóa hồ ở mức trung bình, giống sinh trưởng phát triển tốt, ít nhiễm sâu bệnh hại, có tính thích nghi và độ ổn định cao, phù hợp với sản xuất lúa tại các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Các kết quả thu được của Luận án cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu chọn tạo, tuyển chọn giống lúa ngắn ngày chất lượng cho vùng Đồng bằng sông Hồng
- Bổ sung một số biện pháp kỹ thuật canh tác để tăng hiệu quả sản xuất lúa chất lượng cao cho vùng Đồng bằng sông Hồng
- Cung cấp nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa ngắn ngày, chất lượng
- Kết quả của Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chọn tạo và sản xuất lúa
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đã tuyển chọn được 1 giống lúa Japonica (ĐS3) và 1 giống lúa Indica
(BH9), có thời gian sinh trưởng ngắn, sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng cao bổ sung vào cơ cấu giống lúa chất lượng, góp phần tăng thêm hiệu quả sản xuất lúa cho vùng Đồng bằng sông Hồng
- Khuyến cáo cho người sản xuất lúa ở vùng Đồng bằng sông Hồng thực hiện theo quy trình kỹ thuật canh tác giống lúa mới chất lượng, ngắn ngày đạt hiệu quả cao
1.4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các giống lúa ngắn ngày, năng suất, chất lượng được chọn tạo và nhập nội từ các nguồn trong và ngoài nước
Trang 181.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Về giống lúa: Nghiên cứu về đặc điểm nông học, tiềm năng năng suất,
chất lượng, tính chống chịu sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận; khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái vùng Đồng bằng sông Hồng của 16 giống lúa làm vật liệu nghiên cứu
1.5 Đóng góp mới của luận án
- Đã xác định được 2 giống lúa có nhiều đặc điểm tốt triển vọng nhằm bổ sung vào cơ cấu giống lúa chất lượng cho vùng Đồng bằng sông Hồng gồm: Giống BH 9 (Bắc hương 9) có thời gian sinh trưởng (130-135 ngày trong vụ Xuân, 105-110 ngày trong vụ Mùa), ít nhiễm sâu bệnh hại, giống sinh trưởng phát triển tốt, dạng hình đẹp, cây gọn, thân cứng, lá đứng, bền lá, đẻ nhánh khá, năng suất cao và ổn định (vụ Xuân đạt từ 5,50- 6,35 tấn/ha, vụ Mùa đạt 5,4-5,8 tấn/ha); Giống lúa ĐS3 có thời gian sinh trưởng vụ Xuân 130-135 ngày, vụ Mùa 105-110 ngày, năng suất đạt từ 6,0-7,5 tấn/ha trong vụ Xuân và 5,5-6,0 tấn/ha trong vụ Mùa, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, chống đổ và chịu rét tốt
- Đã đề xuất được biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp đối với 2 giống lúa ĐS3 và BH9 trên đất phù sa vùng Đồng bằng sông Hồng Ở vụ Xuân, giống ĐS3 cấy mật độ 55 khóm/m2, bón 8 tấn phân chuồng +100 kg N + 90 kg P2O5 +
90 kg K2O; Giống BH 9 cấy mật độ 45 khóm/m2, bón 8 tấn phân chuồng + 100
kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O) Ở vụ Mùa, giống ĐS3 cấy mật độ 50 khóm/m2
và bón 8 tấn phân chuồng + 90 kg N+ 90 kg P2O5 + 90 kg K2O/ha; Giống BH 9 cấy mật độ 45 khóm/m2
và bón 90kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O /ha
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu và đất trồng lúa vùng Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng (hay châu thổ sông Hồng) là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 11 tỉnh và thành phố Vị trí địa lý của Đồng bằng sông Hồng trải rộng từ vĩ độ 21°34´B (huyện Lập Thạch) tới vùng bãi bồi khoảng 19°5´B (huyện Kim Sơn), từ 105°17´Đ (huyện Ba Vì) đến 107°7´Đ (trên đảo Cát Bà) Phía bắc và đông bắc là Vùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây và tây nam là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung Bộ Toàn vùng có diện tích: 23.336 km², chiếm 7,1 % diện tích của cả nước Địa hình tương đối bằng phẳng, hướng thấp dần từ Tây Bắc-Đông Nam, trong vùng có nhiều ô trũng (Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình) Đất đai chủ yếu là đất phù sa màu mỡ
Đặc trưng khí hậu của vùng là mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau là mùa khô Mùa Xuân có tiết mưa phùn tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt Đất đai của vùng rất thích hợp cho thâm canh lúa nước, trồng màu và các cây công nghiệp hàng năm Vùng có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong cả nước với diện tích đạt 1.242,9 nghìn ha
Về sản xuất nông nghiệp: Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tích và sản lượng Năm 2010, so với cả nước, diện tích gieo trồng lúa của Đồng bằng sông Hồng có 1.150,1 nghìn ha; chiếm 15,3% diện tích gieo trồng lúa của cả nước; năng suất đạt 5,92 tấn/ha/vụ, cao hơn 12%; sản lượng lúa đạt 6,83 triệu tấn bằng 17,5% Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình Thái Bình trở thành tỉnh
Trang 20dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (6,16 tấn/ha) Nhiều huyện, hợp tác xã đạt năng suất 8 - 10 tấn/năm
1.2 Các yếu tố hạn chế đến năng suất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng
Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên thường xuyên xảy ra bão lũ, hạn hán, sương muối Bên cạnh đó vùng cũng thường xuyên xảy ra tình trạng thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô
Sử dụng quá mức phân bón hóa học, thuốc phòng trừ sâu bệnh làm cho đất bị cứng (xi măng hóa) và huỷ diệt đa dạng sinh học; áp dụng chế độ canh tác không hợp lý làm xói mòn đất đai
Biện pháp khắc phục các yếu tố hạn chế gồm quản lý cây trồng tổng hợp, quản lý dinh dưỡng, bón phân cân đối, áp dụng bón phân cho vùng chuyên biệt; các biện pháp trong canh tác trên các vùng đất đặc thù; các biện pháp mới về kỹ thuật canh tác; sử dụng hạt giống cấp xác nhận, thích hợp cho các vùng đất đặc thù; sử dụng các dạng phân bón mới, phân bón chất lượng cao
1.3 Cơ sở khoa học về nghiên cứu, tuyển chọn giống lúa chất lượng, ngắn ngày
1.3.1 Nguồn gốc phân loại cây lúa
Cây lúa châu Á đã trải qua quá trình tiến hóa lâu dài để thích ứng với
môi trường khác nhau và được phân chia thành 3 nhóm chính: Indica,
Japonica (Sinica) và Javanica (Japonica nhiệt đới), giữa chúng có một số đặc
trưng cơ bản để phân loại; ba loại lúa này được nhận biết qua sự khác nhau về hình thái như thân, lá, hạt và thành phần cấu tạo hạt, đặc biệt là hàm lượng
amylose, amylopectin, khả năng chịu hạn, chịu lạnh, v.v (Huang X et al., (2015); Civsavn P et al., (2015)
Lúa Japonica có khả năng chịu lạnh, ngưỡng nhiệt độ thấp cho sinh
trưởng là xung quanh 15oC, thường được trồng ở các vùng ôn đới; chịu phân, khả năng thâm canh cao, chống đổ tốt nên có tiềm năng năng suất cao , cơm
Trang 21dẻo, ít nở (Nguyễn Đình Giao và cs, 2001; Ranawake AL et al (2011)
Lúa Indica: Thường trồng ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, cơm
khô; chịu phân kém, dễ đổ ngã, chống chịu được nhiều loại sâu bệnh nhiệt đới
Lúa Javanica (Japonica nhiệt đới): Có tính chất trung gian giữa lúa
Japonica và lúa Indica Lúa Javanica; hạt to, thường có râu, vỏ trấu có lông
dài, ít gié, gié dài; cây cao, thân cây dày thẳng đứng, chịu hạn nhưng không chịu lạnh; hàm lượng amylose cao
1.3.2 Đặc điểm nông sinh học của cây lúa
Lúa là cây trồng đa dạng kiểu hình, mỗi giống có những đặc điểm riêng
có thể dựa vào đó để nhận biết được tính khác biệt của chúng Do vậy, việc nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc điểm nông học, khả năng chống chịu của các giống lúa mới có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy các đặc điểm tốt
và hạn chế các nhược điểm của giống, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu của giống
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ lúc nảy mầm cho đến khi chín, thường thay đổi từ 90 - 180 ngày tùy theo giống và điều kiện ngoại cảnh Đây là đặc điểm có liên quan việc bố trí thời vụ, cơ cấu luân canh của cây lúa Trong những năn gần đây nhiều nhà khoa học của các nước tiên tiến
đã xác định được gene quy định thời gian sinh trưởng của cây lúa (Gao H et
al (2014); Linh LH et al (2009); Chen J et al (2014) Một số QTLs gen rất
có ý nghĩa trong việc nghiên cứu chọn tạo giống lúa, điển hình gen Hd1, Hd3,
đây là locus gen điều chỉnh thời gian sinh trưởng của cây lúa trong các điều kiện trồng tại các vùng sinh thái khác nhau nhưng thời gian sinh trưởng dao
động khoảng 100 ngày (Mao Q et al (2015)
Theo Yosida (1985) Linh LH et al (2009) cho rằng, những giống lúa
có thời gian sinh trưởng quá ngắn thì không thể cho năng suất cao do sinh trưởng sinh dưỡng bị hạn chế và ngược lại những giống lúa có thời gian sinh
Trang 22trưởng quá dài thì thường cho năng suất thấp vì dễ bị lốp đổ và chịu nhiều tác động của điều kiện ngoại cảnh bất lợi Thời gian sinh trưởng của cây lúa còn phụ thuộc tính cảm quang hay cảm ôn của giống Khi gieo cấy vào thời vụ khác nhau với điều kiện ngoại cảnh khác nhau tùy theo giống sẽ có thời gian sinh trưởng dài ngắn khác nhau
Hiện nay xu hướng sản xuất lúa được khuyến cáo là sử dụng các giống lúa ngắn ngày, chất lượng, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận, phù hợp với cơ cấu Xuân muộn-Mùa sớm
Chiều cao cây lúa là một chỉ tiêu hình thái có liên quan đến nhiều chỉ
tiêu khác, đặc biệt là tính chống đổ; cây lúa có thân ngắn và cứng có khả năng chống đổ tốt hơn; chiều cao cây của một giống lúa là nhân tố quan trọng hình thành nên cấu trúc kiểu cây, phần lớn do đặc tính di truyền của giống quyết định Ngoài ra, nó còn chịu tác động bởi các yếu tố khác như thời tiết, đất đai, mật độ, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc Theo các nhà nghiên cứu của Viện lúa IRRI (1996), chiều cao cây được đánh giá theo thang điểm như sau:
- Điểm 1: bán lùn (vùng trũng < 110 cm; vùng cao < 90 cm);
- Điểm 5: trung bình (vùng trũng 110-130 cm; vùng cao 90-125 cm);
- Điểm 9: cao (vùng trũng > 110 cm; vùng cao > 125 cm)
Bahmaniar M.A and Ranjbar G.A (2007) cho rằng c
-100 cm, có thể cao đến 120 cm, trong một số điều kiện nào đó được coi là lý tưởng về năng suất Theo Clarkson D.T and Hanson J.B (1980), thân cây lúa dày hơn thì khả năng tích lũy chất khô tốt hơn, t
Trang 23ngã, tán lá che khuất lẫn nhau làm gia tăng một số bệnh hại dẫn đến năng suất giảm
Đẻ nhánh là một đặc điểm nông học quan trọng của cây lúa, có liên quan chặt chẽ đến quần thể ruộng lúa, quá trình hình thành số bông và ảnh hưởng đến năng suất lúa Trong quá trình sinh trưởng, nhánh lúa là những nhánh mọc lên từ nách lá của mỗi đốt trên thân chính hoặc trên các nhánh khác trong thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, cây lúa đẻ nhánh theo quy luật chung Tuy nhiên, các giống lúa khác nhau thì thời gian đẻ nhánh khác nhau
Nguyễn Văn Hiển (2000) nghiên cứu các tổ hợp lai có nhận xét rằng kiểu đẻ nhánh chụm và đứng thẳng là lặn, kiểu đẻ nhánh xòe là trội Các kết quả nghiên cứu cho rằng tính đẻ nhánh khỏe là tính trạng di truyền số lượng,
có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các điều kiện ngoại cảnh Như vậy, các giống lúa có khả năng đẻ nhánh khỏe, tập trung sẽ rất cần thiết để đạt được năng suất cao vì giảm đáng kể nhánh vô hiệu
và thuận lợi cho quá trình thu hoạch Số nhánh man
Nghiên cứu về bộ lá lúa là một đặc trưng hình thái giúp phân biệt các giống khác nhau, đồng thời lá lúa còn là cơ quan quang hợp Vì vậy, màu sắc, kích thước, độ dày lá, góc độ lá có ảnh hưởng đến năng suất sinh vật học và năng suất kinh tế
Yosida S (1985) cho rằng các giống lúa chín sớm và chín trung bình có từ
10 - 18 lá trên thân chính, các giống mẫn cảm với chu kỳ quang có số lá ổn định trong hầu hết các điều kiện Thông thường sự phát triển của 1 lá lúa cần khoảng
Trang 241000C ngày ở thời kỳ trước khi phân hóa đòng và cần 1700
C ngày sau khi phân hóa đòng Thời gian sống của từng lá cũng rất khác nhau, các lá phía trên có thời gian sống lâu hơn các lá phía dưới Như vậy, lá đòng có thời gian sống lâu nhất Trong một phạm vi nhất định, diện tích lá có mối tương quan thuận với lượng quang hợp, vượt quá giới hạn này lượng chất khô thực tế giảm vì quá trình hô hấp cũng có tương quan thuận với chỉ số diện tích lá Chỉ số diện tích lá phụ thuộc vào giống, mật độ cấy, lượng phân bón Diện tích lá tăng dần trong quá trình sinh trưởng, tăng mạnh nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ và đạt tối đa trước lúc trổ bông Các giống lúa thấp cây, lá đứng có thể tăng mật độ cấy để nâng cao hệ
số diện tích lá Các giống lúa cao cây, xoè nên hạn chế khả năng tăng mật độ vì
dễ dẫn tới hiện tượng các lá che khuất lẫn nhau, khi đó không những không tăng được lượng quang hợp mà còn tạo điều kiện cho sâu bệnh gây hại nặng
1.3.3 Yếu tố cấu thành năng suất của cây lúa
Năng suất lúa được tạo thành bởi 3 yếu tố: số bông/đơn vị diện tích, số chắc hạt/bông và khối lượng 1000 hạt Số bông trên một đơn vị diện tích bị tác động bởi 3 yếu tố: số nhánh hữu hiệu, điều kiện ngoại cảnh và biện pháp kỹ thuật (mật độ cấy, tưới nước, bón phân) Số bông có tính quyết định đến năng suất và hình thành sớm nhất, yếu tố này phụ thuộc nhiều vào mật độ gieo cấy, khả năng đẻ nhánh, khả năng chịu đạm Các yếu tố này được hình thành trong thời gian khác nhau với những quy luật khác nhau song chúng lại có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau Do đó, để đạt năng suất cao cần có cơ cấu các yếu tố cấu thành năng suất hợp lý Theo Nguyễn Đình Giao
và cs (2001), các giống lúa mới thấp cây, lá đứng, đẻ khỏe, chịu đạm có thể gieo cấy dày để tăng số bông trên đơn vị diện tích Số bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi đó số hạt và khối lượng hạt đóng góp 26%
Trên ruộng lúa cấy, số bông/m2
phụ thuộc nhiều vào năng lực đẻ nhánh, chỉ tiêu này xác định chủ yếu vào khoảng 10 ngày sau khi đẻ nhánh tối
Trang 25đa Ở ruộng lúa gieo thẳng số bông/m2
phụ thuộc nhiều vào lượng hạt gieo và
tỷ lệ mọc mầm, Suichi Yoshida (1985)
Theo Nguyễn Văn Hoan (2006) Sự tương quan giữa năng suất và số bông/khóm ở mỗi giống lúa là khác nhau, ở những giống thuộc nhóm bán lùn có tương quan chặt (r = 0,85), nhóm lùn có tương quan vừa (r = 0,62) và nhóm cao cây có tương quan vừa (r = 0,54) Sự tương quan giữa năng suất và số hạt trên bông thì ngược lại, nhóm cao cây có tương quan rất chặt (r = 0,96), nhóm bán lùn
và lùn có tương quan vừa (r = 0,62 - 0,66) Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất thực thu thực chất là mối quan hệ giữa cá thể và quần thể Mối quan hệ này có hai mặt: khi mật độ hay số bông/m2
tăng trong phạm vi nào
đó thì khối lượng bông giảm ít nên năng suất cuối cùng tăng, đó là quan hệ thống nhất Nhưng số bông/m2
tăng cao quá sẽ làm khối lượng bông giảm nhiều, lúc đó năng suất sẽ giảm, đó là quan hệ mâu thuẫn Vì vậy cần phải điều tiết mối quan hệ này sao cho hợp lý để năng suất cuối cùng là cao nhất
Số hạt trên bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hoá, số hoa thoái hoá Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực (từ làm đòng đến trỗ) Điều kiện nhiệt độ và cường độ ánh sáng quá thấp ở giai
đoạn này sẽ làm tăng số hạt lép và làm giảm năng suất hạt (Benito S, et al
(1979)
sóc (Nguyễn Văn Hoan, 2006) Số gié cấp 1, đặc biệt là số gié cấp 2 nhiều thì
số hoa trên bông cũng nhiều Số hoa trên bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho tổng số hạt trên bông lớn Việc tổng hợp carbohydrate ở thân lá cũng như việc vận chuyển tổng hợp những chất khô vào hạt đòi hỏi ưu tiên trước hết trong việc làm chắc hạt Muốn có sự vận chuyển tổng hợp tốt hơn thì bộ lá có cấu tạo dày, xanh đậm hơn, tuổi thọ lá kéo dài là một đặc tính rất quan trọng và cần thiết Bộ lá thẳng đứng thì cây lúa sử dụng ánh sáng hữu hiệu tốt hơn
Trang 26Trong nghiên cứu xác định chỉ thị phân tử và lập bản đồ QTL/gen điều khiển một tính trạng năng suất hay yếu tố cấu thành năng suất Đây là một việc làm khó vì năng suất hay yếu tố cấu thành năng suất là tính trạng di truyền số lượng, nó là tổ hợp tính trạng như: số hạt chắc trên bông, số bống trên khóm, khối lượng nghìn hạt Những nằm gần đây, nhiều QTL/gene quy định tính trạng cấu thành năng suất đã được xác định trên rất nhiều các quần thể từ các tổ hợp lai giữa các giống hay loài phụ QTL/gen năng suất và yếu tố cấu thành
năng suất được xác định trên tất cả các nhiễm sắc thể của lúa Ashikari et al (2013) đã xác định được gen Gn1a, gen tăng số hạt trên bông trên nhiễm sắc thể 1 Linh et al (2008) đã lập bản đồ QTL yd7 liên kết tính trạng tăng năng suất từ lúa hoang O minuta trên nhiễm sắc thể số 7 Sự có mặt của yd7 trên giống lúa trồng đại trà Hwaseongbyeo làm tăng 15 đến 20% năng suất Ghd7 nằm gần tâm động, trên nhiễm sắc thể số 7 Ghd7 làm tăng 86 (65.8%) số hoa trên bông trên giống Zhenshan97 (Xue W et al 2008)
Tỷ lệ hạt chắc trên bông được quyết định ở thời kỳ sau trỗ, nếu gặp điều kiện bất lợi ở thời kỳ này tỷ lệ hạt lép sẽ rất cao Tỷ lệ hạt chắc có ảnh hưởng đến năng suất lúa rõ rệt, ngoài ra tỷ lệ hạt chắc còn phụ thuộc vào lượng tinh bột được tích luỹ trên cây và đặc điểm giải phẫu của cây Trước khi trỗ bông, nếu cây lúa sinh trưởng tốt, quang hợp thuận lợi thì hàm lượng tinh bột được tích lũy và vận chuyển lên hạt nhiều, làm cho tỷ lệ hạt chắc cao Mạch dẫn vận chuyển tốt thì quá trình vận chuyển tinh bột tích luỹ trong cây đến hạt được tốt làm tỷ lệ hạt chắc sẽ cao Tỷ lệ hạt chắc còn chịu ảnh hưởng của quá trình quang hợp sau khi trỗ bông Sau khi trỗ bông, quang hợp ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tích lũy tinh bột trong nội nhũ Ở giai đoạn này, nếu điều kiện khí hậu không thuận lợi cho quá trình quang hợp thì tỷ lệ hạt chắc giảm rõ rệt, Nguyễn Văn Hoan (2006) Những điều kiện thời tiết không thuận lợi như nhiệt độ thấp hoặc cao vào giai đoạn phân bào giảm nhiễm và lúa trỗ, có thể gây ra bất thụ Các điều kiện thời tiết không thuận lợi lúc chín
Trang 27có thể ức chế sự sinh trưởng tiếp của vài gié hoa cho ra những gié hoa lép
(Pingali, M et al., (1997) Vì vậy, để có tỷ lệ hạt chắc cao phải bố trí thời vụ
gieo cấy hợp lý, sao cho khi lúa làm đòng, trỗ bông và chín gặp được điều kiện ngoại cảnh thuận lợi và cây lúa phải được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng
Khối lượng 1.000 hạt là yếu tố cuối cùng tạo năng suất lúa, yếu tố này
ít biến động so với các yếu tố khác, ít chịu tác động của điều kiện môi trường
và nó phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm di truyền của giống Nếu áp dụng kỹ thuật canh tác không hợp lý, bón phân thiếu cân đối sẽ làm cho cây yếu, dễ
đổ, hạt lép lửng, năng suất hạt giảm rõ rệt (Luo et al (2013; Liu T et al
(2010; Wilson E (1963)
Để tăng khối lượng hạt, trước lúc trỗ bông, cần bón nuôi đòng để làm tăng kích thước vỏ trấu Sau khi trổ bông, cần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt để quang hợp được tiến hành mạnh mẽ, tích luỹ được nhiều tinh bột thì khối lượng hạt sẽ cao
Chiều dài bông là một đặc điểm di truyền của giống, nó được tính từ đốt cổ bông đến đầu mút bông không kể râu Chiều dài bông là một tính trạng liên quan trực tiếp đến số hạt/bông, nó quyết định một phần năng suất của
giống Chiều dài bông do cả gen trội và gen lặn quy định Chiều dài cổ bông
có ý nghĩa gián tiếp đến năng suất của giống Chiều dài cổ bông do các gen trội điều khiển và có độ biến động rất lớn, có liên quan đến chiều dài lóng đốt cuối cùng và biểu hiện ở tính trỗ thoát của bông
1.3.4 Quan hệ giữa năng suất lúa và các yếu tố liên quan
1.3.4.1 Chất khô tích lũy và năng suất lúa
Quang hợp là quá trình chuyển hóa năng lượng mặt trời thành năng lượng hóa học và được tích lũy dưới dạng hydratcacbon cung cấp cho mọi hoạt động sống của cây Hoạt động quang hợp mang lại 80 - 90% lượng chất khô cho cây, số còn lại là chất khoáng do cây hút từ đất (Suichi Yoshida (1985) Hoạt động quang hợp quyết định đến sinh trưởng và năng suất lúa Vì
Trang 28thế, muốn tăng năng suất cần phải xúc tiến, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp Lượng quang hợp của quần thể (P) phụ thuộc vào:
- Hiệu suất quang hợp thuần (NAR)
1.3.4.2 Cấu trúc dạng cây và mô hình cây lúa năng suất cao
Nhiều giống cây trồng có những nhược điểm như: Thời gian sinh trưởng dài, khả năng chịu hạn, chịu lạnh, chịu úng kém, cao cây, dễ đổ, chống chịu sâu bệnh kém… nên khả năng gieo trồng bị hạn chế Trên cơ sở những thành tựu đạt được ở lúa mì, vận dụng lý thuyết về dãy biến dị tương đồng của Vavilop (1951) (Chang T.T và Somrith B (1979) đã tìm kiếm gen lùn ở cây lúa nước Các giống mới như De-geo-woo-gen và Taichung native 1 của Đài Loan hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu đề ra Năm 1966, giống lúa thấp cây IR8 ra đời cùng nhiều giống khác đã được phát triển nhanh ở nhiều nước và được mệnh danh là “người khổng lồ của châu Á nhiệt đới” Các giống lúa lùn xứng đáng tạo nên cuộc cách mạng xanh lần thứ 2 trên thế giới
Dựa trên cơ sở những kết quả đã đạt được Khush (1994); Nashir Uddin
et al (2016) đã tổng kết mô hình kiểu cấu trúc cây lúa mới (New Rice Plant
Type) có năng suất cao như sau:
Trang 291) Số dảnh/khóm từ 3 - 4 dảnh;
2) Thời gian sinh trưởng từ 100 - 130 ngày;
3) Không có bông vô hiệu;
4) Thân cứng, chống đổ tốt;
5) Lá thẳng, dày và xanh đậm;
6) Số hạt chắc trên bông từ 200 - 250 hạt;
7) Hệ thống rễ khỏe;
8) Chống chịu được nhiều loại sâu bệnh;
9) Chiều cao cây từ 90 - 100cm;
10) Tiềm năng năng suất 10 - 13 tấn/ha
Việc chọn tạo ra các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, năng suất cao đã góp phần tích cực nâng cao năng suất và tổng sản lượng lúa ở nhiều nước trong khu
vực châu Á và trên thế giới (Nashir Uddin et al 2016; Khush G.S and
Comparator (1994)
1.3.5 Các chỉ tiêu về chất lượng và các yếu tố ảnh hưởng
Chất lượng lúa gạo là một trong những mục tiêu mà công tác cải tạo giống đặt ra Chất lượng gạo chịu tác động mạnh mẽ của 4 yếu tố: bản chất của giống, điều kiện sinh thái, kỹ thuật canh tác và các vấn đề sau thu hoạch Tại cuộc hội thảo của các nhà di truyền chọn giống, các nhà hóa sinh học đến từ tất
cả các nước trồng lúa trên thế giới tại viện lúa Quốc tế IRRI đã chia chất lượng lúa gạo thành bốn nhóm: 1) Chất lượng xay xát (Milling quality); 2) Chất lượng thương phẩm (Market quality); 3) Chất lượng nấu nướng và ăn uống (Cooking
and Eating quality); 4) Chất lượng dinh dưỡng (Murata, K et al 2014)
1.3.5.1 Chất lượng xay xát (Milling quality):
Chất lượng xay xát của lúa gạo thể hiện ở 3 chỉ tiêu chính: tỷ lệ gạo lật,
tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên Trong đó, tỷ lệ gạo nguyên là chỉ tiêu quan trọng nhất và cũng là yếu tố chịu ảnh hưởng của môi trường nhiều nhất; tỷ lệ
Trang 30gạo lật và gạo xát chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi bản chất của giống
Xay xát thực chất là quá trình loại bỏ vỏ trấu, phôi và vỏ cám Khi loại
bỏ các thành phần này thì hàm lượng của cellulose và lipid bị giảm xuống rõ rệt Khi giảm hàm lượng cellulose ở ngoài sẽ giúp tăng khả năng tiêu hoá, còn khi giảm hàm lượng lipid sẽ làm tăng khả năng bảo quản Việc loại bỏ phôi và
vỏ cám cũng sẽ làm giảm hàm lượng protein, có thể làm giảm được sự mất mát nhiều dinh dưỡng do xay xát bằng kỹ thuật xử lý thuỷ nhiệt, ngâm vớt thóc, hấp phơi khô rồi mới xát Tỷ lệ vỏ trấu trung bình từ 20- 22% và có thể thay đổi từ 16- 26% Cám và phôi hạt chiếm khoảng 10% Do đó tỷ lệ gạo
trắng thường ở khoảng 70% (Edzesi WM et al (2016); Khush et al., 1979)
Tỷ lệ gạo nguyên tính theo % khối lượng gạo xát Thóc có chất lượng xay xát tốt là thóc sau khi xát cho tỷ lệ gạo tổng số và gạo nguyên cao Tỷ lệ gạo nguyên biến động rất lớn Đây là một tính trạng di truyền và chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường, đặc biệt là nhiệt độ và độ ẩm trong thời gian chín
và sau thu hoạch (Khush et al 1979)
Tỷ lệ gạo nguyên còn phụ thuộc vào thời điểm tuốt lúa sau khi gặt Nghiên cứu trên giống Khao dawk mali 105 cho thấy thời điểm tuốt lúa sau thu hoạch 5 - 10 ngày không ảnh hưởng đến tỷ lệ gạo nguyên nhưng nếu để sau 10 - 15 ngày tỷ lệ gạo nguyên giảm rõ rệt Phân bón cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ gạo nguyên trong đó ảnh hưởng rõ rệt nhất là lân (Edzesi
WM et al (2016); Khush G.S and Comparator (1994) Tỷ lệ gạo trắng
thường ít biến động và nó cũng ít phụ thuộc vào môi trường (Bùi Chí Bửu và
Trang 31khác nhau mà hạt gạo có hình dáng khác nhau, tính trạng chiều dài hạt rất ổn định và rất ít bị ảnh hưởng bởi môi trường
Khi nghiên cứu về hình dạng và kích thước hạt gạo các nhà nghiên cứu cho rằng kích thước hạt gạo là tính trạng di truyền số lượng được kiểm soát bởi đa gen Ở lúa lai, kích thước hạt có sự phân ly vượt trội đặc biệt là chiều
dài hạt (Qiu, X et al 2012; Zhao and Yang (1993)
Thị hiếu về chiều dài và hình dạng hạt gạo thay đổi theo từng thị trường Có thị trường thích gạo hạt tròn, có thị trừng thích gạo dài trung bình, nhưng hạt gạo thon dài có xu hướng được ưa chuộng nhiều nhất trên thị trường quốc tế Các nước châu Âu, Trung Đông, vùng Caribee, Singapo, malaysia ưa chuộng hạt gạo dài có phẩm chất cao
Kích thước hạt có thể được biểu hiện bởi các chỉ tiêu về khối lượng, thể tích hoặc chiều dài hạt, chiều dài và chiều rộng hạt là hai chỉ số được sử dụng phổ biến
Độ bạc bụng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng gạo của
một giống, nó không ảnh hưởng đến chất lượng cơm nhưng ảnh hưởng lớn đến thị hiếu của người tiêu dùng Vết bạc thường xuất hiện ở bụng, trên lưng hoặc ở trung tâm hạt gạo và các vết gãy của hạt gạo cũng xuất phát từ những điểm bạc này Chính vì thế mà tỷ lệ bạc bụng có tỷ lệ nghịch với tỷ lệ gạo nguyên (Lê Doãn Diên (1995)
Độ bạc bụng chịu ảnh hưởng của môi trường nhiều hơn là do bản chất giống Nhiệt độ thấp dần vào thời kỳ sau trỗ đến chín làm giảm tỷ lệ hạt bạc, sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm có tác dụng giúp các hạt tinh bột trong hạt gạo sắp xếp chặt hơn, giảm tỷ lệ hạt bạc Trái lại khi hạt vào chắc gặp nhiệt độ cao làm các hạt tinh bột sắp xếp lỏng lẻo hơn dẫn tới tỷ lệ hạt bạc bụng cao Nhiệt độ ảnh hưởng tới độ bạc của hạt lúa rõ nhất là trong thời kỳ trỗ Lúa cấy ở ruộng có mực
nước quá cao hay bị hạn cũng làm tăng độ bạc của hạt gạo (Gao et al (2016); Bian JM et al (2014); Bangwaek, C et al (1994)
Trang 32Bian JM et al (2014); Shen et al (1990), cho rằng hàm lượng amylose
do một gen kiểm soát, gen kiểm soát hàm lượng amylose cao trội hoàn toàn
với gen kiểm soát hàm lượng amylose thấp khi lai giữa nhóm Indica có hàm lượng amylose cao và lúa nếp Tuy nhiên, trong tổ hợp lai giữa lúa Indica
bởi gen số lượng (Cheng A et al (2012); Shen Y.Z et al (1990) Theo Lin (1989), độ dẻo được kiểm soát bởi một gen lặn wx, nên nội nhũ của gạo nếp chỉ chứa amylopectin với kiểu gen 3n=wxwxwx, ngược lại ở gạo tẻ bao gồm
cả amylose và amylopectin được kiểm soát bởi gen trội Wx Hoạt động tính trội của alen Wx không bị ảnh hưởng do thay đổi hàm lượng amylose của cây
bố, nhưng số lượng alen trội Wx ảnh hưởng đến hàm lượng amylose trong nội
nhũ (Lin T.F (1989), (M.H and Park S.Z (1976)
1.3.5.4 Hàm lượng Protein
Hàm lượng Protein là một chỉ tiêu quan trọng đối với chất lượng dinh dưỡng của hạt gạo Protein có tr
Phẩm chất của gạo tuỳ thuộc vào lượng protein trong hạt Khi lượ
cũng giảm, chứng tỏ phần lớn protein tăng thêm không phải ở trong cám Như
Trang 33vậy, về mặt dinh dưỡng, gạo có protein cao tốt hơn gạo có lượng protein bình
thường (Mahender A (2016); Jennings et al 1979
1.3.5.5 Chất lượng cơm
Ngoài tính trạng thon dài, độ trong hạt gạo, tỷ lệ gạo nguyên cao thì chất lượng nấu nướng và ăn uống cũng rất cần thiết trên thương trường Chất lượng nấu nướng và ăn uống được đánh giá qua các chỉ tiêu về nhiệt độ hoá
hồ, hàm lượng amylose, mùi thơm và các phẩm chất của cơm như độ nở, độ hút nước, độ bóng, độ rời, độ chín… Chất lượng nấu nướng và ăn uống phản ánh thị hiếu người tiêu dùng ở các khu vực
Mùi thơm là một trong những tính trạng quan trọng nhất quyết định đến giá trị thương phẩm và chất lượng gạo, có thể đánh giá tại ba thời điểm: trên
lá, trên hạt gạo lật và trên cơm khi nấu
Mùi thơm được hình thành là nhờ ảnh hưởng của hợp chất 2- 1pyroline gây ra Gen điều khiển hương thơm của hạt gạo đã được nghiên cứu
acetyl-và đưa ra nhiều kết luận khác nhau Yang and zhao (1993) cho rằng hương thơm ở gạo có được là nhờ sự tương tác của nhiều gen, vì vậy khi phân tích con lai F2 thu được các tỷ lệ phân ly khác nhau: 9:7; 15:1; 13:3
Theo Nguyễn Xuân Hiển và cs (1976) quan sát thấy tính thơm do cặp gen lặn điều khiển hoạt động ở cả lá và hạt
Tính trạng mùi thơm rất dễ bị thay đổi bởi điều kiện môi trường Mùi thơm của Basmati (Ấn độ) cần nhiệt độ lạnh của môi trường gieo trồng Mùi thơm của Khao dawkmali và các giống lúa thơm cổ truyền Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện đất đai như Nàng thơm chợ đào chỉ duy trì mùi thơm khi trồng ở chợ Đào (Long An), Tám thơm chỉ thích hợp trồng ở đồng bằng sông Hồng và sẽ mất mùi khi trồng ở đồng bằng sông Cửu Long Khai thác tính trạng thơm của các giống lúa cổ truyền vẫn là hướng ưu tiên trước mắt Cảitiến dạng hình cây lúa bằng phương pháp chọn dòng thuần đã được áp
Trang 34dụng thành công \r Việt Nam đối với một số giống lúa như Nàng hương, Tám xoan (Bùi Chí Bửu, Nguyễn Thị Lang và cs 2007)
1.3.5.6 Nhiệt độ hóa hồ
Nhiệt độ hóa hồ do gen alk và qASS-6 điều khiển Một vài nghiên cứu cho thấy nhiệt độ hóa hồ có liên quan đến hàm lượng amylose Gen alk và qASS-6 có sự liên kết với gen wx Phan Thị Lan Khanh (2014) cho rằng: Nhiệt
độ hóa hồ hay độ trở hồ (BEPT) là nhiệt độ, mà ở đó 90% hạt tinh bột bị hóa
hồ hoặc phồng lên trong nước nóng không thể trở lại dạng cũ được Độ trở hồ xác định thời gian cần thiết để nấu gạo thành cơm Điều kiện môi trường như nhiệt độ trong giai đoạn chín có ảnh hưởng đến độ trở hồ Nhiệt độ cao trong giai đoạn tạo hạt sẽ làm cho tinh bột có độ trở hồ cao Theo Vũ Hiếu Đông và
cs, (2005), khi hạt tinh bột được tác động bởi nhiệt độ hoặc hóa chất thì các phân tử tinh bột bị phá vỡ thông qua sự nóng chảy hay còn gọi là nhiệt hóa hồ Nhiệt hóa hồ có thể liên quan một phần với lượng amylose của tinh bột Nhiệt hóa hồ thấp không liên hệ chặt với lượng amylose cao, thấp hay trung bình
Gạo có nhiệt hóa hồ cao có phẩm chất kém (Jenning PR, et al 1979)
1.3.5.7 Độ bền thể gel
Trong cùng một nhóm có hàm lượng amylose cao giống nhau (>25%), giống lúa nào có độ bền thể gel mềm hơn, giống lúa đó được ưa chuộng nhiều
hơn (Tang S.X et al., 1989) Cơm nấu có độ bền thể gel cứng sẽ khô cứng
nhanh hơn cơm nấu có độ bền thể gel mềm
Tang S.X et al (1989) cho rằng: độ bền thể gel được điều khiển bởi
đơn gen và nhiều gen phụ bổ sung Ðộ bền thể gel biến động rất lớn giữa hai
vụ Ðông Xuân và Hè Thu, giữa các điểm canh tác khác nhau (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2002) Độ bền thể gel cứng trội hơn độ bền thể gel cấp
trung bình và mềm (Kiani et al, 2008)
Tang S.X et al (1989) khảo sát độ bền thể gel và nhiệt hóa hồ của 45
Trang 35giống lúa có hàm lượng amylose thấp cho thấy, về độ bền thể gel có 34 giống thuộc nhóm mềm, 9 giống thuộc nhóm trung bình và 2 giống thuộc nhóm cứng; về nhiệt hóa hồ có 35 giống thuộc nhóm thấp, 1 giống thuộc nhóm trung bình và 4 giống thuộc nhóm cao Kết quả này cho thấy các giống lúa có hàm lượng amylose thấp thường có độ bền thể gel mềm và nhiệt hóa hồ thấp; tuy nhiên cũng có một số trường hợp không có tương quan thuận, lúa có hàm lượng amylose thấp vẫn có độ bền thể gel trung bình hoặc cứng và nhiệt hóa
hồ trung bình hoặc cao
1.3.6 Đánh giá hiện trạng sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của Việt Nam
Trong những năm gần đây, Việt Nam là nước luôn giữ vị trí thứ hai về xuất khẩu gạo trên thế giới và trong khu vực
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, dự báo trong giai đoạn 2007-2017, các nước sản xuất gạo ở Châu Á sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới: bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới (USDA, 2013)
Năm 2012 diện tích sản xuất lúa của cả nước đạt khoảng 7,76 triệu ha, tăng 117.000 ha so với năm 2011 Tổng sản lượng ước đạt khoảng 43,96 triệu tấn, tăng 1,64 triệu tấn so với năm 2011 Đặc biệt, xuất khẩu gạo đạt sản lượng cao nhất từ trước đến nay với hơn 7,7 triệu tấn gạo, tăng hơn 630.000 tấn so với năm 2011 Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2013) việc sản xuất lúa của các địa phương đã tập trung và có bước đột phá mạnh
mẽ trong khâu tổ chức sản xuất, nhất là chú trọng việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn Lợi nhụân bình quân chung của bà con nông dân vẫn đạt được 30%
Nền kinh tế Việt Nam đến năm 2007 đã chính thức hội nhập vào nền kinh
tế toàn cầu, nhưng người nông dân sản xuất gạo Việt Nam đã tham gia vào thị trường toàn cầu trước đó hai thập niên Từ năm 1989, Việt Nam đã trở thành một
Trang 36nhà cung cấp gạo quan trọng trên thị trường gạo thế giới, hiện nay đứng thứ hai thế giới (Phạm Văn Bính, 2007) Giai đoạn 1989-1995, Việt Nam xuất khẩu bình quân hàng năm trên 3 triệu tấn gạo sang 128 quốc gia, đạt mức đỉnh 5.2 triệu tấn vào năm 2005 và năm 2006- nay đã có một kỷ lục mới trên 7.0 triệu tấn gạo xuất khẩu Năm 1989, kinh ngạch xuất khẩu trên 300 triệu USD, sau 10 năm phá mốc
1 tỉ USD và đạt mức kỷ lục 2.9 tỉ USD vào năm 2008, và đến 2012 đã đạt 3,8 tỉ (chưa tính gạo xuất tiểu ngạch khoảng gần 1 triệu tấn) Ngành hàng lúa gạo không chỉ tạo an ninh lương thực vững chắc để Việt Nam yên tâm đẩy mạnh công nghiệp hoá mà còn trực tiếp đóng góp vào tiến trình này thông qua tạo ra một lượng ngoại
tệ thặng dư cho đất nước nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại hoá cho nhiều ngành công nghiệp Tổ chức FAO đánh giá thương mại gạo năm 2012/2013 tăng lên 37,5 triệu tấn, chủ yếu khoảng 60-70% là gạo trắng, hạt dài, chất lượng cao; thị phần gạo thơm chiếm khoảng 2-3 triệu tấn chiếm khoảng 10%, trong đó gạo thơm Thái Lan chiếm khoảng 1,6-1,8 triệu tấn, gạo Basmati Ấn độ chiếm khoảng 300 ngàn tấn (FAO, 2013)
Đánh giá của Bộ Nông nghiệp và PTNT Năm 2011, Việt Nam thắng lợi trong xuất khẩu gạo, đạt kỷ lục hơn 7 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu hơn 3,7 tỷ USD Số lượng xuất khẩu tăng, nhưng giá trị lại thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh Làm sao để nâng cao chất lượng và giá trị gạo xuất khẩu? là câu hỏi và là thách thức trong những mùa vụ mới
Năm 2012 được nhiều chuyên gia dự báo, thị trường lúa gạo sẽ cạnh tranh khốc liệt về giá và chất lượng do có một số quốc gia tham gia xuất khẩu lúa gạo trở lại như Ấn Độ, Mi-an-ma, Pa-ki-xtan Tuy nhiên, Việt Nam có rất nhiều cơ hội xuất khẩu gạo chất lượng cao Các thị trường mới là Trung Quốc và ở châu Phi như: Bờ Biển Ngà, Xê-nê-gan, Gha-na… đang mở rộng cửa cho gạo chất lượng cao của Việt Nam Điều quan trọng là Việt Nam cần chú trọng nâng cao chất lượng để có thể nâng cao giá trị gạo xuất khẩu Mới
Trang 37đây, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã đưa ra dự báo, năm 2012 nhu cầu sử dụng gạo chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu sẽ tăng vọt Việt Nam
có thể xuất khẩu được khoảng 600 nghìn tấn sang các thị trường Hồng Công (Trung Quốc) và một số thị trường khó tính khác
Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết năm 2013 cả nước đã xuất khẩu được khoảng 4,2 triệu tấn gạo, trị giá 1,9 tỉ USD, bình quân đạt 445 USD/tấn, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2012 Xuất khẩu gạo tăng trưởng mạnh, đạt 1,135 triệu tấn với trị giá đạt xấp xỉ 472,4 triệu USD, tăng 27,8% về khối lượng
và tăng 24,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái (VFA, 2013)
Cục Trồng trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm
2014 đã đánh giá sản lượng lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đạt 25,2 triệu tấn, tăng 708.000 tấn so năm 2013, chiếm 56% sản lượng lúa cả nước Các tỉnh đạt sản lượng lúa cao nhất vùng là Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp với 11,7 triệu tấn Đạt được kết quả này nhờ các tỉnh đã đưa diện tích trồng lúa lên gần 4,3 triệu lượt ha, trong đó vụ Đông Xuân và Hè Thu gieo sạ 3,3 triệu ha, vụ Thu Đông và vụ mùa gieo sạ 1 triệu ha Các tỉnh đã sử dụng giống mới, kháng sâu bệnh mạnh, thích nghi với từng vùng sinh thái, cho năng suất cao, chất lượng gạo ổn định Bên cạnh đó, các tỉnh cũng nâng cấp hệ thống thủy lợi trục và thủy lợi nội đồng bảo đảm đủ nước tưới cho các
vụ lúa trong năm Đồng thời sắp xếp thời vụ sản xuất hợp lý, xuống giống đồng loạt, tránh rầy và bố trí thời gian xuống giống một vụ lúa không kéo dài hơn 60 ngày để không làm ảnh hưởng đến vụ lúa kế tiếp, hạn chế sâu rầy lây lan Đặc biệt, do tình hình hạn, mặn xâm nhập sâu trong vụ Hè Thu, các tỉnh chuyển vụ lúa Xuân Hè vào vụ Hè Thu chính vụ và giãn cách thời gian giữa hai vụ 3 tuần nhằm cách ly sâu bệnh
Hiện nay cơ hội cho xuất khẩu gạo của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc, Hongkong là rất lớn: xuất khẩu gạo, đặc biệt là gạo thơm của Việt Nam
Trang 38vào thị trường Hồng Kông trong 2 năm 2011-2012 đã có một cuộc bứt phá ngoạn mục Số liệu của Hiệp hội nhập khẩu gạo Hồng Kông cho biêt: từ chỗ chỉ chiếm khoảng 1% lượng nhập khẩu vào Hồng Kông trong năm 2008, đến hết năm 2011, Việt Nam đã chiếm một thị phần tương đương 30%, khoảng 100.000 tấn gạo Nhập khẩu gạo Việt Nam vào thị trường này chủ yếu dành cho tiêu thụ nội địa Người tiêu dùng Hồng Kông ưa chuộng gạo thơm, và gạo thơm Thái đã chiếm lĩnh thị trường trong suốt một thời gian dài Tuy nhiên tình hình đã thay đổi trong 3 năm trở lại So với gạo Thái thì chất lượng của gạo Việt Nam còn thấp hơn gạo thơm Thái nhưng vấn đề quan trọng là giá cả thì giá gạo Việt Nam đang ngày càng trở nên hấp dẫn so với gạo Thái Ưu thế này đang ngày càng trở nên đáng kể trong bối cảnh chính phủ Thái tuyên bố duy trì chính sách trợ giá lúa, khiến giá gạo không có khả năng giảm giá (VFA, 2013)
Với thị trường Trung Quốc trong 3 năm gần đây gạo Việt Nam đã chiếm thị phần đáng kể và phát triển ổn định: thị trường xuất khẩu gạo thời gian qua có nhiều thay đổi, trong đó thị trường Trung Quốc tăng gấp 5,2 lần
về lượng và 4,4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm trước và trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam (VFA, 2014)
1.3.7 Định hướng mục tiêu cho ngành hàng lúa gạo chất lượng
Cho dù Việt Nam có nhiều cơ hội để nâng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới nhưng dự báo trong vòng năm năm nữa lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt trong khoảng 6,5-7 triệu tấn/năm Trong đó, khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là gạo 25% tấm (loại phẩm cấp thấp) trong khi gạo 5% tấm của Việt Nam cũng chưa sánh được với gạo Thái Lan, trong khi gạo cấp thấp thì đang mất dần thị trường do gạo Ấn Độ và Myanmar cạnh tranh Trong dài hạn, gạo Việt Nam khó có thể vượt qua Thái Lan dù dự báo xuất khẩu gạo của Thái Lan giảm hoặc xuống dưới mức 7 triệu tấn/năm
Trang 39Thị trường gạo thế giới còn chịu tác động của những yếu tố khác như: lượng tồn kho của thế giới, thiên tai mất mùa làm mất cân đối cục bộ; biến động tiền
tệ và lạm phát giá lương thực; tác động của chính sách lương thực ở các nước xuất và nhập khẩu lớn, nhất là chính sách nâng giá lúa và tự túc lương thực (VFA, 2013) Mặt khác Nguyễn Văn Bộ (2016) cho rằng theo dự thảo
cố gắng chọn tạo bộ giống lúa đa dạng theo hướng chất lượng tốt, ngắn ngày, kháng sâu bệnh và thích ứng rộng
Gạo chất lượng trên thị trường được xem xét theo 5 tiêu chuẩn là chất lượng nấu nướng (cooking quality) như cơm mềm, dễ nấu; chất lượng xay xát (milling quality) như tỉ lệ gạo nguyên, tỉ lệ gạo/lúa; chất lượng dinh dưỡng như mùi thơm, cơm đậm; chất lượng thương mại (trading quality) như gạo đẹp, không bạc bụng, hạt dài và chất lượng sản xuất theo công nghệ an toàn, như VietGAP, 3G3T, ICM (Juliano, 2003)
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013), nước ta hiện chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu giống lúa chất lượng tốt, điều đó cho thấy công tác chọn tạo giống lúa vẫn là thách thức đối với các nhà khoa học, kinh doanh
và người nông dân
Trang 40Thách thức lớn Việt Nam là nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứ hai trên thế giới với khoảng 4-5 triệu tấn/năm và có mức tăng kỷ lục vào năm 2009 (6 triệu tấn) Tuy nhiên, tại hệ thống chợ đầu mối, siêu thị ở Việt Nam, sản phẩm của quốc gia xuất khẩu gạo số 1 thế giới là Thái Lan, vẫn xuất hiện với số lượng lớn Mặt khác, giá xuất khẩu gạo của Việt Nam thường thấp hơn so với gạo Thái Lan Lý giải tình trạng này ta thấy có nhiều nguyên nhân để gạo Việt Nam có giá bán thấp hơn so với gạo Thái Lan, trong đó có nguyên nhân từ việc chọn giống chưa tốt Thống kê nhập khẩu gạo chính ngạch cho thấy, năm 2011 tổng lượng gạo nhập khẩu vào Việt Nam là 5.800 tấn, năm 2012 là 27.600 tấn, 6 tháng đầu năm 2013 mới nhập gần 13.000 tấn Nếu so với mức tiêu thụ gạo trong nước khoảng 19- 20 triệu tấn/năm, thì lượng gạo nhập khẩu không đáng kể Từ những con số này cũng có thể nhận ra lượng gạo lớn được gắn mác ngoại trên thị trường là sự nhập nhèm biến hóa gạo nội thành gạo ngoại để lừa người tiêu dùng Điều này cũng phản ánh tâm lý tiêu dùng hướng ngoại của một bộ phận người tiêu dùng, nhưng xét cho cùng thì nguyên nhân sâu xa là do chất lượng gạo của Việt Nam chưa cao (VFA, 2014)
1.3.8 Phương hướng chọn tạo giống lúa
Gu M H, X B Pan (1986) đã thay đổi phương hướng chọn tạo giống lúa cạn thay đổi tuỳ theo vùng sinh thái nhưng phương hướng chung có thể thay đổi như sau:
- Năng suất cao, ổn định
- Có nhiều dạng hình phong phú, thích nghi với từng điều kiện sinh thái