Do đó, sự tăng giảm phát triển ngành tài chính có khả năng tạo cơ hội tác động tới giá cho việc sản xuất trong khu vực kinh tế ngầm, bằng cách giảm mức rào cản để các chủ thể nền kinh tế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ KIM HUỆ
PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ QUI MÔ KINH
TẾ NGẦM Ở CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan đây bài nghiên cứu “Phát triển tài chính và quy mô kinh tế ngầm ở các quốc gia Đông Nam Á”, là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
TP.HCM, Ngày 31 Tháng 10 Năm 2016
Học viên thực hiện luận văn
Phạm Thị Kim Huệ
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đóng góp và tình mới của đề tài 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Ý nghĩa của đề tài 6
1.7 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHI N C U 7
2.1 Cơ sở lý thuyết về phát triển tài chính và kinh tế ngầm 7
2.1.1 Lý thuyết về phát triển tài chính 7
2.1.2 Lý thuyết về kinh tế ngầm 9
2.1.3 Cở sơ lý thuyết mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính và kinh tế ngầm 17
Trang 5và phát triển tài chính 25
2.2.1 Bằng chứng thực nghiệm về phát triển tài chính làm giảm kinh tế ngầm 25
2.2.1 Bằng chứng thực nghiệm về kinh tế ngầm kìm hãm phát triển tài chính 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHI N C U 30
3.1 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết được đề xuất: 30
3.2 Biến đo lường, chọn mẫu: 30
3.3 Mô hình thực nghiệm 35
3.4 Phương pháp nghiên cứu mô hình PVAR 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHI N C U 39
4.1 Kiểm định tính dừng: 39
4.2 Độ trễ tối ưu và kiểm định tính ổn định của mô hình: 41
4.3 Hàm phản ứng xung và phân rã phương sai 44
4.3.1 Mô hình chính: lgdp, m2gdp, shadow 44
4.3.2 Robustness check: Phương pháp đo lường khác của phát triển tài chình: lgdp, creditprivate (creditfinancial) và shadow 49
4.3.3 Thay đổi sắp xếp thứ tự các biến trong mô hình cơ sở: lgdp, shadow, m2gdp 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 58
5.1 Kết luận: 58
5.2 Gợi ý chính sách 59
5.3 Hạn chế của đề tài: 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADF : Kiểm định Augmented Dickey – Fuller
AR : tự hồi qui đơn chiều
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Creditprivate : Tín dụng trong nước được cung cấp bởi các công ty tài chính cho
khu vực tư nhân trên GDP, đơn vị phần trăm %
Creditfinancial: Tín dụng trong nước từ khu vực tài chính bao gồm tổng tín dụng
cho lĩnh vực khác nhau và tín dụng ròng với chính quyền trung
ương trên GDP, đơn vị phần trăm %
EU : Liên minh châu Âu
GDP : Tổng sản phẩm trong nước
Lgdp : logarit tự nhiên của GDP bính quân đầu người
MIMIC : Multiple Indicators and Multiple Causes
m2gdp : cung tiền M2 trên GDP
M2 : cung tiền M2
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
OLS : Phương pháp bính phương nhỏ nhất
PVAR : Mô hình vector tự hồi qui trong dữ liệu bảng
Shadow : Quy mô kinh tế ngầm (phần trăm trong GDP)
VAR : Mô hình vector tự hồi qui
Trang 7Bảng 3.1 Tóm tắt các biến chình được sử dụng trong mô hính 31
Bảng 4.2 Kết quả mô hính PVAR với các biến: d_lgdp, d_m2gdp
Trang 8Hình 4.4 Kiểm tra giá trị Roots trong mô hính 4 42
Hình 4.5 Kết quả hàm phản ứng xung với các biến: d_lgdp,
Trang 9Bài nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa qui mô kinh tế ngầm và phát triển tài chính sử dụng dữ liệu của 6 quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn 1997-2014 Tác giả sử dụng phương pháp phân tìch mô hính VAR trên dữ liệu bảng để tìm hiểu phản ứng của các biến tài chình đối với cú sốc kinh tế ngầm và ngược lại Tác giả tìm thấy sau một cú sốc trực giao m2gdp, quy mô kinh tế ngầm lập tức tăng đột biến, tuy nhiên sau 1 năm thí quy
mô kinh tế ngầm lập tức co lại và ổn định từ năm thứ 5 Mối quan hệ này ngược lại khi sử dụng biến creditprivate và creditfinancial đại diện cho phát triển tài chính, ngay trong năm đầu tiên cú sốc creditprivate và creditfinancial làm giảm mạnh quy mô kinh tế ngầm, sau một chu kì quy mô kinh tế ngầm tăng lên và ổn định theo thời gian bắt đầu từ năm thứ 5 Đồng thời có một số bằng chứng và mối quan hệ ngược lại giữa phát triển tài chính
và quy mô kinh tế ngầm, cụ thể một cú sốc quy mô kinh tế ngầm cản trợ sự phát triển tài chình sau năm đầu tiên Tác giả tìm thấy bằng chứng điều này với các biến creditfinacial
và creditprivate Cuối cùng tác giả thấy rằng phát triển kinh tế và quy mô kinh tế ngầm có mối quan hệ không đáng kể
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Lý do chọn đề tài
Quá trình chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường làm bùng phát mạnh mẽ nhiều mối quan hệ phức tạp trên cơ sở nền kinh tế đa thành phần, đa sơ hữu, với hệ thống hành chính và luật pháp còn đang phát triển Tất cả đã tạo điều kiện hình thành một khu vực kinh tế không nhỏ, nằm ngoài quản lý nhà nước, đó là kinh tế ngầm Kinh tế ngầm được hiểu là các hoạt động sản xuất kinh doanh chưa đăng ký hoặc bất hợp pháp, các hoạt động phi kinh doanh liên quan đến chiếm dụng tài sản hay tạo thu nhập bất thường thông qua: gian lận thương mại, tham nhũng, trốn thuế, cố ý làm thất thoát ngân sách nhà nước Kinh tế ngầm được chứng minh là trở ngại chính của nhiều chính phủ, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển với 75% sản phẩm quốc gia thuộc khu vực ngầm này, so sánh với chỉ 10% trong các quốc gia đang phát triển, theo Schneider và Enste (2000)
Theo các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu về thị trường ngầm, như Blackburn và cộng sự., 2012; Bose và cộng sự., 2012; Capasso và Jappelli, 2013; Straub, 2005; Dabla-Norris và cộng sự., 2008 đều cho rằng ngành tài chính là một trong những khu vực có tác động tới sự mở rộng của kinh tế ngầm Đặc biệt là khi ngành tài chính phục
vụ nhiều chức năng quan trọng của nền kinh tế như cung cấp vốn cho các chủ thể cần vốn, giám sát và định đoạt các chứng từ thương mại liên quan tới thuế quan Do đó, sự tăng giảm phát triển ngành tài chính có khả năng tạo cơ hội tác động tới giá cho việc sản xuất trong khu vực kinh tế ngầm, bằng cách giảm mức rào cản để các chủ thể nền kinh tế ngầm tiếp cận các nguồn vốn, và làm hợp pháp hóa các giao dịch cho các chủ thể không chính thức trong thị trường này – theo Blackburn và cộng sự., 2012; Capasso
và Jappelli, 2013 Hơn nữa, sự phát triển khu vực tài chính cao sẽ tăng khả năng giám sát và tăng sự hiệu quả của các chứng từ thuế, trong khi sự phát triển thấp của khu vực
Trang 11tài chính kéo theo hành vi trốn thuế, và do đó làm giảm sự phát triển của thị trường ngầm, Blackburn et al., 2012; Capasso và Jappelli, 2013
Sự tồn tại của kinh tế ngầm có thể cản trở sự phát triển của khu vực tài chính Gobbi và Zizza, 2007; Elgin và Uras, 2013 Và do đó, tác động tới phát triển kinh tế Sự cạnh tranh không công bằng từ các khu vực không chính thống này dẫn tới sự phân bổ không đều tài nguyên, trong có nguồn lực mà ngành tài chình đóng vai trò kiểm soát định hướng Việc mở rộng chính phủ phụ thuộc vào lĩnh vực tài chính truy thu thuế, sự
mở rộng của nền kinh tế ngầm sẽ làm suy yếu khả năng truy thu thuế của chính phủ, suy yếu khả năng cung cấp các hàng hóa công cộng (quy định, pháp luật, cơ sở hạ tầng) và suy yếu đầu tư cho phát triển khu vực tài chính Sự phát triển của kinh tế ngầm tăng tỷ lệ trốn thuế, dẫn tới làm suy yếu sự phát triển khu vực tài chính, Elgin and Uras (2013) Tác động này là hai chiều do đó cần thiết khi bài nghiên cứu đo lường tác động hai chiều giữa phát triển tài chính và tỷ lệ của kinh tế ngầm trong nền kinh tế
Thực trạng cho thấy các quốc gia có mức độ phát triển tài chính thấp trải qua một giai đoạn thiếu vốn vay, thiếu tính cạnh tranh, với sự đàn áp bất công về tài chính ở mức độ cao Các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ kinh tế ngầm lên đến 75% sản phẩm quốc gia theo Schneider và Enste (2000) Trong khi nghiên cứu Gobbi và Zizza, 2007; Elgin và Uras, 2013), Gobbi và Zizza (2007) chỉ ra rằng khi nền kinh tế ngầm chiếm ở quá cao dẫn tới cầu cho vay không chính thức phát triển mạnh, có thể dẫn tới biến dạng về cấu hình thị trường tài chính trong nền kinh tế chính thức Đây là lý do tác giả tập trung nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung kiểm định mối quan hệ hai chiều giữa kinh tế ngầm và phát triển tài chính Vì tỷ lệ cao của nền kinh tế ngầm trong kinh tế quốc gia, với mục tiêu tập trung nghiên cứu vào thị trường ngầm nhằm xác định các hoạt động của thị trường ngầm này sẽ giúp các nhà làm chính sách phát triển các công cụ hiệu quả nhằm chống lại các hành vi bất hợp pháp và thúc đẩy phát triển kinh tế
Trang 121.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu của tác giả phân tích mối quan hệ động (tác động theo thời gian) giữa kinh
tế ngầm và mức độ phát triển tài chính ở các quốc gia đang phát triển Đông Nam Á trong giai đoạn 1997-2014, tập trung trả lời các câu hỏi sau:
Mức độ phát triển tài chính có làm giảm sự mở rộng của quy mô kinh tế ngầm ngầm trong phân tích hàm phản ứng xung của phương pháp PVAR hay không ?
Có hay không sự tồn tại của tác động ngược chiều giữa kinh tế ngầm tác động cản trở sự phát triển của khu vực tài chính?
1.3 Đóng góp và tính mới của đề tài
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung kiểm định mối quan hệ giữa kinh ngầm và phát triển tài chính ở các quốc gia Đông Nam Á Những đóng góp của tác giả như sau: Đầu tiên, vấn đề mang tính bản chất giữa thị trường tài chính và kinh tế bóng đen là tác động qua lại đồng thời Tiếp cận xử lý tác động đồng thời được giới thiệu bởi Holtz-Eakin và cộng sự., 1988; Love và Zicchino, 2006 sử dụng phương pháp hệ phương trính đồng thời trên dữ liệu bảng (PVAR) Cách tiếp cận hệ phương trính đồng thời này kiểm soát được sự nội sinh tồn tại giữa các biến đại diện phát triển tài chính và kinh tế ngầm Như đã thảo luận ở trên, sự phát triển của thị trường tài chính có thể làm giảm
sự mở rộng của kinh tế ngầm, trong khi sự mở rộng của tỷ lệ kinh tế ngầm có thể làm suy yếu sự phát triển của khu vực tài chính Quan hệ nội sinh này có thể bóp méo về cơ bản mối quan hệ giữa phát triển tài chính và kinh tế ngầm, và do đó cần quan tâm tới tính chắc chắn của kết quả mối quan hệ giữa các yếu tố này, tác giả sẻ tiếp cận mối quân hệ giữa phát triển tài chính và kinh tế ngầm với nhiều kiểm định chéo Do đó, tác
Trang 13giả sử dụng hệ thống phương trính đồng thời trên dữ liệu bảng (PVAR) để đo lường tác động hai chiều nhân quả giữa phát triển tài chính và phát triển thị trường ngầm
Đóng góp thứ hai, tác giả tiếp cận mối quan hệ giữa phát triển tài chính và thị trường ngầm là quan hệ động (dynamic) Rõ hơn, mối quan hệ phát triển tài chính và thị trường ngầm diễn ra theo thời gian, do đó tiếp cận quan hệ động (dynamic) là cần thiết hơn tiếp cận trên các khung hồi quy thống kê đơn biến (static framework) Kết quả là, bất cứ nghiên cứu nào tập trung vào trạng thái ổn định và quan hệ dài hạn giữa hai biến
số này có khả năng chỉ đo lường được một phần hiểu biết về sự phức tạp của mối quan
hệ này Ngược lại, phân tích quan hệ động (dynamic) giúp cho tác giả có thể nắm bắt đươc sự điều chỉnh của phát triển tài chính và kinh tế ngầm diễn ra theo thời gian Cụ thể, đối với kết quả đầu ra của mô hình hệ phương trính đồng thời trên dữ liệu bảng cho phép tác giả phân tích hàm phản ứng đẩy mô phỏng sự biến động của một nhân tố theo thời gian nhận phản hồi từ cú sốc trong một biến vĩ mô khác Và do đó, tác giả quan sát được toàn bộ quá trính động theo thời gian từ khi cú sốc bắt đầu đến dài hạn
và ổn định trong dài hạn giữa các biến
Bởi vì sự đa dạng của các khía cạnh phát triển kinh tế, tác giả dự theo theo Elgin và Uras (2013) sử dụng nhiều phương pháp đo lường sự khác biệt thay đổi trong phát triển tài chình Để đảm bảo việc kiểm tra chéo (robustness) của các kết quả thực nghiệm nhằm đảm bảo kết quả định lượng tin cậy, tác giả sử dụng phương pháp phân tìch thành phần chính (principal component analysis) gộp sự biến động của ba chỉ tiêu đo lường phát triển tài chính thành một biến dữ liệu đại diện sự phát triển tài chính Ngoài
ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp đo lường mới về kinh tế ngầm được đo lường bởi nghiên cứu của Elgin, C., Öztunali, O., 2012 và được áp dụng bởi Võ Hồng Đức trong nghiên cứu “Kinh tế ngầm của các nước Đông Nam Á: quy mô, khuynh hướng và chính sách kinh tế vĩ mô” (2014) cung cấp dữ liệu chuỗi thời gian chi tiết từ 1995 đến
2014 theo năm, đây là thuận lợi của bài nghiên cứu khi nghiên cứu về chủ đề kinh tế
Trang 14ngầm so với các nghiên cứu trước đây chưa có phương pháp đo lường kinh tế bóng tối hiệu quả Việc sử dụng nghiên cứu mới cập nhật trong đo lường nhân tố kinh tế ngầm cũng là tình mới của bằng chứng thực nghiệm so với các nghiên cứu trước đây
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và phát triển thị trường ngầm tác giả tập trung vào quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á trong giai đoạn từ 1997 –
2014
Lý do lựa chọn các quốc gia đang phát triển nhằm tránh sự không đồng nhất đặc điểm môi trường kinh tế ảnh hưởng tới mối quan hệ phát triển tài chình đến kinh tế ngầm Kết quả nghiên cứu của Schneider và Enste (2000) cho thấy ở các quốc gia đang phát triển thị trường ngầm có thể chiếm đến 75% sản phẩm quốc gia thuộc khu vực ngầm này, trong khi các quốc gia phát triển chỉ là 10%
Cụ thể hơn khi các quốc gia đang phát triển có mức quá cao về kinh tế ngầm trong nền kinh tế, sẽ có khả năng tác động khác trong mối quan hệ nghiên cứu đối với các quốc gia đã phát triển Theo nghiên cứu của Gobbi và Zizza, 2007; Elgin và Uras, 2013) Gobbi và Zizza (2007), cho rằng có ba cơ chế kinh tế ngầm tác động ngược tới phát triển tài chính sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2 Trong đó cơ chế thứ ba cho rằng khi nền kinh tế ngầm chiếm ở mức cao (các quốc gia đang phát triển chiếm mức 75%), dẫn tới việc vay không chính thức phát triển mạnh, điều này làm giảm cầu cho vay ở khu vực kinh tế chính thức dẫn tới các biến dạng về cấu hình thị trường tài chính trong nền kinh tế chính thức
Thực trạng cho thấy các quốc gia có mức độ phát triển tài chính thấp trải qua một giai đoạn thiếu vốn vay, thiếu tính cạnh tranh, với sự đàn áp bất công về tài chính ở mức độ cao và khả năng hạn chế thu thập thông tin để cho vay của người cho vay, theo Bose và cộng sự (2012: 621)
Trang 151.5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên dữ liệu bảng, sử dụng dữ liệu vĩ mô từ các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á Tác giả lần lượt thực hiện các kiểm định tính dừng, kiểm định lựa chọn độ trễ mô hình PVAR nhằm tránh bỏ sót biến, kiểm định độ ổn định mô hình VAR nhằm xem xét độ tin cậy của mô hình nghiên cứu, thực hiện phân tích hàm phản ứng đẩy cho phép xem xét chiều hướng mối quan hệ giữa phát triển khu vực ngầm và khu vực tài chính theo thời gian
1.6 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài hệ thống hóa các nghiên cứu về phát triển tài chính, kinh tế ngầm và mối quan hệ tác động qua lại giữa phát triển tài chính và kinh tế ngầm, chỉ
ra cơ chế tác động tương quan qua lại giữa các biến số nghiên cứu
Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng một mô hính định lượng để xác định các tác động của phát triển tài chính và kinh tế ngầm ở nhóm các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á Từ đó cung cấp những cơ sở để củng cố lý thuyết và đưa ra các chình sách điều hành phù hợp góp phần quản lý thị trường ngầm và tăng trưởng phát triển tài chính
1.7 Bố cục đề tài
Để đánh giá mối quan hệ giữa phát triển tài chính và phát triển kinh tế ngầm tại các quốc gia đang phát triển, bài luận văn được bố cục gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để nghiên cứu
Chương 4: Kết quả thực nghiệm
Chương 5: Kết luận
Trang 16CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHI N C U
Trong chương này, tác giả tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và kinh tế ngầm để làm rõ các cơ chế tác động Tiếp theo, tác giả tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm về các nghiên cứu trước đã nghiên cứu mối quan hệ này Tuy nhiên mối quan hệ này tương đối mới trong nghiên cứu thực nghiệm
do đo lường phát triển tài chính và đặc biệt kinh tế ngầm mới đây mới được chú trọng
và có phương pháp ước tính Ở khía cạnh bài nghiên cứu, tác giả cố gắng tổng hợp đầy đủ các nghiên cứu thảo luận trực tiếp về mối quan hệ phát triển tài chính làm giảm kinh tế ngầm và sự tăng lên tỷ lệ kinh tế ngầm cản trở sự phát triển tài chính
2.1.1 Phát triển tài chính
Phát triển tài chính là một nhập lượng quan trọng cho mục tiêu chung phát triển của mỗi quốc gia Định nghĩa phát triển kinh tế như là một quá trình tổng hợp mà bao gồm những cải thiện trong tất cả mọi lĩnh vực của xã hội và phúc lợi của toàn bộ dân số được duy trì để giảm thiểu sự nghèo đói cùng cực và sự tước đoạt kinh tế đối vớ mộti
bộ phận nào đó trong xã hội Khái niệm tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng kinh tế, bao gồm cả sự đóng góp của việc tìch lũy vốn trong sản lượng này Tăng trưởng vẫn là một điều kiện cần nhưng chưa đủ của phát triển kinh tế Trong số các nhập lượng thì quan trọng nhất cho phát triển kinh tế là các nguồn lực tài chính và khả năng tiếp cận đến những nguồn lực này trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế Việc cung cấp vốn cho các mục tiêu phát triển khác nhau không chắc là khả thi, nếu sự phân bổ nguồn lực hoàn toàn để cho thị trường tài chính
tự thực hiện
Trang 17Chính phủ cần can thiệp trong thiết kế chính sách và phát triển tài chính thì mới đạt mục tiêu phát triển nền kinh tế Vai trò của các thể chế tài chính và chính sách của chúng trong việc quản trị phát triển kinh tế được đề cập trong Stiglitz (2000, trang 1085), cho thấy việc thiết kế chính sách và thể chế tài chính đóng vai trò quan trọng tới khía cạnh tăng trưởng kinh tế
Thị trường tài chình là khu vực trung gian trong nền kinh tế, góp phần vào quá trính tìch lũy vốn và đổi mới công nghệ, có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế Các lý thuyết nhấn mạnh rằng sự phát triển hệ thống tài chình là một yếu tố quan trọng trong nền kinh tế trong dài hạn, hệ thống tài chình phát triển và tiến bộ có thể tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh Theo Drake, 1980; Fritz, 1984; Garcia & Liu, 1999; Levine, 2005 những kênh này bao gồm:
(i) Cung cấp thông tin về các khoản đầu tư khả thi, để điều hòa vốn có
hiệu quả;
(ii) Giám sát các doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp nhà nước;
(iii) Đa dạng hóa rủi ro;
(iv) Huy động và tổng hợp tiết kiệm;
(v) Thuận tiện hóa sự trao đổi hàng hoá dịch vụ; và chuyển giao công
nghệ
Ngành tài chình phục vụ nhiều chức năng quan trọng của nền kinh tế, khi các quốc gia có mức độ phát triển tài chình thấp, sẽ đối diện với các vấn đề về thiếu vốn vay, thiếu tình cạnh tranh, với bất công về tài chình ở mức độ cao và khả năng hạn chế thu thập thông tin để cho vay của người cho vay, Bose và cộng sự (2012: 621)
Trang 18Love và Zicchino (2006) khi nghiên cứu về phát triển tài chính cho rằng kinh nghiệm của các doanh nghiệp về các giới hạn tài chính là chỉ tiêu phân biệt mức độ phát triển tài chính quốc gia có mức phát triển tài chính thấp so với các quốc gia có mức độ phát triển tài chính cao Các quốc gia có phát triển tài chình cao là nơi có các doanh nghiệp
có kinh nghiệm cao hơn về các giới hạn tài chính của doanh nghiệp cũng như các sản
phẩm thị trường tài chính
2.1.2 Kinh tế ngầm
Trong nghiên cứu của Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1997) về “Khu vực kinh tế phi chính quy: một số kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế”, tổng hợp định nghĩa kinh tế ngầm từ các quan niệm của các quốc gia như Cộng hòa Liên Bang Đức, Liên minh châu âu EU, của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và của ngân hàng thế giới Tất cả khái niệm chung quy là phản ánh các hoạt động kinh tế ở một khu vực trái với khu vực kinh tế chính thống và khu vực này rất quan trọng trong kinh tế quốc dân Là các hoạt động kinh tế trốn thoát khỏi mạng lưới thống kê và không định lượng được (Liên minh châu Âu EU), hoạt động mà sản xuất hàng hóa dịch vụ hợp pháp mà không khai báo hoặc sản xuất hàng hóa dịch vụ bất hợp pháp và thu nhập vô hình (OECD)
Có nhiều nghiên cứu về sự tồn tại của kinh tế ngầm như Carter, Kaufmann D, Kaliberda và nhiều tác giả khác Có thể chia các nghiên cứu này thành hai nhóm lớn: các nghiên cứu về kinh tế ngầm tại các nước phát triển và các nghiên cứu tại các nước đang và kém phát triển Điểm khác biệt cơ bản trong cách tiếp cận của hai nhóm này xuất phát từ bản chất khác nhau của các hoạt động ngầm Với các nước phát triển, khu vực kinh tế ngầm được xem như là một phần còn bỏ sót, cần tính thêm của nền kinh tế quốc dân Còn đối với các nước đang và chưa phát triển, khu vực này được xem như là một bộ phân không thể thiếu, không thể tách rời của nền kinh tế quốc dân Đây cũng là
Trang 19lý do tác giả lựa chọn các quốc gia đang phát triển để phân tích nhằm tránh các sai lầm
về bản chất của kinh tế ngầm trong các mức phát triển quốc gia khác nhau
Ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế ngầm đối với nền kinh tế đó là: không tình thuế ảnh hưởng đến nguồn thu chính phủ, không tính vào GDP ảnh hưởng đến số liệu thống kê, ngoài ra đây là nơi diễn ra các hoạt động bất hợp pháp ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa,
xã hội quốc gia do nhà nước không kiểm soát được Kinh tế ngầm không cung cấp thông tin đầy đủ và chình xác để hoạch định các chình sách vĩ mô hợp lý, hiệu lực của các chính sách, hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực luật pháp cũng hết sức hạn chế, thậm chí bị chệch hướng, vô hiệu hóa Kinh tế ngầm cũng làm cho doanh nghiệp và các sản phẩm của chúng giảm năng lực cạnh tranh ở cả tầm quốc gia, khó có thể hội nhập được với các hoạt động thương mại quốc tế để tận dụng hết được các cơ hội có được nhờ hội nhập, và dễ bị ra khỏi vòng vận động của kinh tế quốc tế, trở thành ngoại
vi của hợp tác phát triển Một nền kinh tế như vậy có nguy cơ đẩy một quốc gia càng tụt hậu về kinh tế so với các quốc gia khác, kể cả trong khu vực Kinh tế ngầm còn tạo
ra môi trường kinh doanh không bính đẳng, không đáng tin cậy, bất lợi cho người kinh doanh trung thực, bất lợi cho khu vực chính quy Tạo nên những yếu tố bất ổn, không lường được rủi ro khi quyết định đầu tư Kinh tế ngầm còn không khuyến khích và thúc đẩy tính sáng tạo, không khuyến khìch đầu tư dài hạn, quy mô lớn hoặc đầu tư phát triển nguồn nhân lực Kinh tế ngầm còn hạn chế cơ hội và quy mô kinh doanh do mối quan hệ góp vốn chủ yếu dựa trên quan hệ gia đính, họ hàng thân quen, không phát huy được ưu thế quy mô Tạo ra dư địa lớn cho công chức nhà nước sách nhiễu, đòi hối lộ
và lạm dụng quyền lực phục vụ ý đồ lợi ìch các nhân Người làm việc ở khu vực kinh
tế ngầm không được bảo hiểm an sinh xã hội đầy đủ khác Tuy nhiên có đến hàng triệu người trên thế giới sống nhờ vào những công việc lặt vặt mà các nhà Kinh tế học vẫn thường xếp vào dạng Kinh tế ngầm, hay còn gọi là phi chính thức Tại nhiều nước đang phát triển, khu vực ngầm nay đang phát triển mạnh Tại Chợ Giời ở Hà Nội hay ở chỗ
Trang 20nào đó, chỉ cần bày ra vài sản phẩm hoặc dịch vụ sửa chữa nào đó là có thể kiếm sống qua ngày Hinh ảnh này rất phổ biến ở nhiều địa phương của Việt Nam Nếu tính theo tiêu chuẩn chung, những người buôn bán lặt vặt này có thu nhập rất bè nhưng nếu không có nó, họ sẽ chẳng có cái gì cả Khu vực Kinh tế ngầm sẽ thu nhận nhiều người
và giúp họ có nguồn thu nhập Kinh tế ngầm cho phép một Quốc gia tồn tại trong giai đoạn kinh tế suy thoái
Diện mạo kinh tế ngầm:
Những hộ kinh doanh nhỏ, thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật
Các hộ kinh doanh cá thể không đăng ký kinh doanh Ở Việt Nam, số này chiếm khá lớn, có ước tình đến hơn một nửa số hộ kinh doanh cá thể hiện nay không đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật Taxi "dú", xe khách "dú", xe
"ôm" là trường hợp điển hình của loại này
Có đăng ký kinh doanh, nhưng hoạt động kinh doanh không đúng theo qui định của pháp luật Loại này cũng có nhiều dạng như:
- Kinh doanh các ngành, nghề ngoài ngành, nghề đăng ký kinh doanh;
- Không ghi chép và báo cáo tất cả các hoạt động kinh doanh, giấu doanh thu, lợi tức;
- Có thuê lao động nhưng không hợp đồng lao động, không đăng ký lao động;
- Kinh doanh các ngành, nghề phải có giấy phép mà không xin phép;
- V.v…
Kinh doanh các nganh, nghề tư nhân không được quyền kinh doanh
Nguyên nhân của kinh tế ngầm:
Tâm lý xã hội nhìn chung vẫn chưa thiện cảm với người giàu Vì vậy thói quen che giấu sự giàu có, che giấu thu nhập con khá phổ biến;
Sự giàu lên một cách nhanh chóng đều bị đanh giá chính thức hay không chính thức là phi pháp, hoặc là do chiếm đoạt của công, hoặc do buôn lậu, trốn thuế;
Trang 21 Ở Việt Nam, vấn đề là tại sao doanh nghiệp vẫn có xu hướng phi chính thức, ngay cả những doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế và mã số hải quan Nói cách khác, cả các doanh nghiệp "chinh thức" cũng cố giấu một phần không nhỏ doanh thu va lợi nhuận Các điều tra nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy luật lệ quá nhiều, quá phức tạp, không rã ràng, được lý giải không thống nhất và nhất quán của các cơ quan nhà nước đó là nguyên nhân trước hết của tình trạng ngầm khá phổ biến và ở qui mô lớn trong hoạt động kinh doanh;
Sự ngầm còn do thuế Thuế suất các loại ở Việt Nam không cao hơn nhiều so với nhiều nước khác, nhưng mức thuế thực tế phải nộp thí thường rất cao, và người nộp thuế không dự tình được số thuế thực tế phải nộp Trên thực tế, cơ quan thuế quyết định các khoản chi, mức chi hợp lý, hợp lệ và cả giá tính thuế
để khấu trừ mức thu nhập chịu thuế Trong không ít các trường hợp cơ quan thuế ấn định mức thuế các loại phải nộp ngay từ đầu kỳ và cuối kỳ chỉ làm các thủ tục giấy tờ "hợp thức hóa" số thuế đã nộp mà thôi
Về nguyên nhân và tác động của phát triển kinh tế ngầm, đã có nhiều cuộc thảo luận và nghiên cứu, có thể kể đến đó là Gërxhani, 2004; Johnson và cộng sự., 1997; Schneider, 2011; Schneider and Enste, 2000; Schneider, 2005; Tanzi, 1982 Cụ thể như sau:
Đầu tiên, Johnson và cộng sự., 1997 phát triển một khung đơn giản để hiểu mối quan
hệ giữa thuế và cung cấp hàng hoá công cộng trong một nền kinh tế, và đưa ra một số kiến nghị về thuế và chình sách điều tiết ảnh hưởng đến kìch thước tương đối của nền kinh tế không chính thức và hiệu quả của các chính sách như thế nào Theo tác giả: có
ba loại của các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu và Liên Xô cũ Đầu tiên, đó là nền kinh tế bị kìm nén bởi chính trị với các loại thuế bị bóp méo, cung cấp hàng hóa công cộng thấp, nhưng vẫn là một ngành không chính thức nhỏ - Belarus và Uzbekistan là những ví dụ nổi bật trong nghiên cứu của chúng tôi Thứ hai, có nền kinh tế với các
Trang 22loại thuế tương đối công bằng, quy định tương đối nhẹ, doanh thu thuế cao, và cung cấp tương đối tốt của hàng hóa công cộng trong khu vực chính thức; những tập trung ở Đông Âu Thứ ba, có nền kinh tế với các loại thuế tương đối công bằng, quy định tương đối nặng nề, thu thuế thấp, và hàng hóa công cộng tương đối nghèo; những tập trung ở các nước thuộc Liên Xô
Schneider and Enste, 2000 đã chỉ ra rằng mặc dù rất khó để ước tình kìch thước của các nền kinh tế ngầm, nó không phải là không thể Tác giả đã chứng minh rằng với các phương pháp khác nhau, không có biến pháp nào là "tốt nhất" Mỗi phương pháp đều
có điểm mạnh và điểm yếu riêng của nó và có thể cung cấp những hiểu biết và kết quả
cụ thể Ấn tượng chung từ kết quả của những ước tình này là, đối với tất cả các nước trong mẫu của tác giả thì các nền kinh tế ngầm đã đạt đến một kìch thước đáng kể lớn Mặc dù các phương pháp khác nhau cung cấp một phạm vi khá rộng của các ước tính,
có một phát hiện phổ biến là các nền kinh tế ngầm của hầu hết các quá trình chuyển đổi
và tất cả các nước OECD điều tra đã được phát triển trong thập kỷ qua Cũng có thể nói các thị trường lao động trong nền kinh tế ngầm thu hút sự chú ý ngày càng tăng do tỷ
lệ thất nghiệp cao ở các nước OECD châu Âu Các phân tích nguyên nhân cho thấy một gánh nặng ngày càng tăng của thuế và chi phí an sinh xã hội, kết hợp với hoạt động quản lý nhà nước tăng cao và hạn chế thị trường lao động (ví dụ buộc giảm giờ làm việc), là những động lực chình cho kìch thước và tăng trưởng của nền kinh tế ngầm Các kết quả về các tác động của nền kinh tế ngầm đến nền kinh tế chính thức (ví
dụ tỷ lệ tăng trưởng chính thức và doanh thu thuế) là không rõ ràng Theo một số nghiên cứu, một nền kinh tế ngầm phát triển có tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP chính thức Nhưng các nghiên cứu khác cho thấy tác dụng ngược lại Do đó, điều quan trọng là thực hiện nghiên cứu hơn nữa để đạt được kiến thức chình xác hơn nghiên cứu đầu tiên về sự tương tác giữa các nền kinh tế ngầm và tham nhũng tím thấy một tác động tích cực đến mức độ tham nhũng Hầu hết các nghiên cứu về các nền kinh tế
Trang 23ngầm tập trung vào ảnh hưởng tới việc phân bổ nguồn lực và thất thu cho nhà nước Những tác động đến tổ chức chính thức, chuẩn mực và quy định thậm chí còn quan trọng hơn Nền kinh tế ngầm có thể được xem như là một chỉ số về mức thâm hụt của tính hợp pháp trật tự xã hội hiện nay và các quy định hiện hành của các hoạt động kinh
tế chính thức
Schneider, 2005 trình bày phương pháp ước tính quy mô nền kinh tế ngầm cho 110 quốc gia, bao gồm cả các nước phát triển, các nước đang phát triển và nền kinh tế OECD Quy mô trung bình của các nền kinh tế ngầm là một phần của GDP chính thức năm 1999-2000 ở các nước đang phát triển là 41%, ở các nước đang phát triển 38%, và
ở các nước OECD là 17% Một gánh nặng ngày càng tăng của thuế và các khoản đóng góp an sinh xã hội là nguyên nhân của nền kinh tế ngầm Nếu nền kinh tế ngầm tăng 1%, tỷ lệ tăng trưởng GDP "chính thức" của các nước đang phát triển giảm 0,6%, trong khi ở các nền kinh tế phát triển và đang phát triển nền kinh tế ngầm lần lượt tăng 0,8%
và 1,0%
Nhìn chung các tài liệu nghiên cứu này cho rằng sự nặng nề của thủ tục hành chính và thuế là yếu tố tác động chình đến sự phát triển của thị trường ngầm, Gërxhani, 2004; Schneider, 2005; Schneider và Enste, 2000 Nguyên nhân thêm nữa, kinh tế ngầm còn
là sự cho phép các cá nhân và công ty hoạt động dưới sự quan sát “fly under the rada” của các cơ quan nhà nước do sự suy yếu của nội bộ tổ chức và khả năng quản lý yếu kém của các chính phủ trong việc cung cấp các cơ chế để minh bạch lượng hàng hóa và dịch vụ (Schneider và Enste, 2000; Gërxhani, 2004)
Các nghiên cứu Dreher et al., 2009; Friedman và cộng sự., 2000; Johnson và cộng sự., 1997; Teobaldelli, 2011; Torgler và Schneider, 2009 tìm thấy rằng ở các quốc gia có mức thuế cao và nặng nề về chính sách làm tăng sự nhạy cảm của việc vận hành các khu vực không chính thức Một số tổ chức hành chình nhà nước lợi dụng sự e ngại mức
Trang 24thuế cao và quyền hành lớn trong thủ tục hành chình, đảm bảo ngầm cho sự phát triển thị trường ngầm Cụ thể như sau:
Teobaldelli, 2011 phân tích các mối quan hệ giữa liên bang và các nền kinh tế ngầm Các phân tích lý thuyết dẫn đến kết luận rằng nền kinh tế ngầm nhỏ hơn ở các nước liên bang so với các tiểu bang thống nhất Tính linh động của các cá nhân trong khu vực pháp lý cạnh tranh khiến các nhà hoạch định chính sách áp dụng chính sách có hiệu quả hơn về thuế và cung cấp hàng hóa công cộng Điều này làm tăng lợi nhuận cho các hoạt động trong lĩnh vực chính thức so với khu vực không chính thức, do đó làm giảm hoạt động trong nền kinh tế ngầm Một phân tích thực nghiệm của một mẫu của 73 quốc gia xác nhận dự đoán lý thuyết này
Friedman và cộng sự nghiên cứu dữ liệu 63 quốc gia, kết quả cho thấy mức thuế suất cao hơn có liên quan đến tỉ lệ hoạt động phi chính thức như một phần trăm của GDP, nhưng tham nhũng có liên quan đến hoạt động không chính thức hơn Các doanh nghiệp hoạt động ngầm không thể tránh thuế chính thức nhưng để giảm bớt gánh nặng quan liêu và tham nhũng Việc né tránh theo cách này làm giảm doanh thu thuế như một phần trăm của cả GDP chính thức và GDP tổng số Kết quả là, các chính phủ tham nhũng trở thành chính phủ nhỏ và chỉ có các chính phủ tương đối không tham nhũng mới có thể duy trì mức thuế cao
Torgler và Schneider, 2009 phân tích làm thế nào để thuế và chất lượng thể chế quốc gia ảnh hưởng đến nền kinh tế ngầm, kiểm soát trong một phân tìch đa biến cho một loạt các yếu tố tiềm năng Các nghiên cứu trước đây nhấn mạnh tầm quan trọng về số lượng của các yếu tố để hiểu được mức độ và những thay đổi của nền kinh tế ngầm Các nguồn dữ liệu mới cung cấp cơ hội duy nhất để làm sáng tỏ hơn nữa trong sự hiểu biết về một chủ đề này Tác giả tìm thấy rằng một mức thuế cao hơn và một chất lượng thể chế cao hơn làm giảm quy mô kinh tế ngầm
Trang 25Hình 2.1 Mô hình xác định quy mô kinh tế ngầm – MIMIC
Nguồn: Nghiên cứu “Xác định kinh tế ngầm ở các quốc gia Đông Nam Á: quy mô, khuynh hướng và chính sách vĩ mô” – Võ Hồng Đức, Lê Hưng Thịnh 2014
Ở Việt Nam có một số nghiên cứu về kinh tế ngầm, trong đó nổi bật nhất là nghiên cứu của Võ Hồng Đức, Lê Hưng Thịnh (2014) Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định quy mô và xu hướng tăng/giảm của kinh tế ngầm ở các quốc gia có mức thu nhập trung bình và thấp khu vực Đông Nam Á (ngoại trừ Singapore và Brunei), từ năm 1995 đến
& Schneider, 2012)
Quy mô kinh tế ngầm
Thị trường lao động (Schneider, Buehn & Montenegro, 2010; Buehn
& Schneider, 2012)
Trang 26năm 2014 Trong nghiên cứu này, mô hình MIMIC được sử dụng để xác định quy mô nền kinh tế ngầm (biến số không quan sát được) dựa vào các nhân tố quan sát được trong nền kinh tế
Kết quả của nghiên cứu cho thấy trong khi quy mô nền kinh tế ngầm của Thái Lan và Myanmar là lớn nhất về giá trị tương đối so với quy mô nền kinh tế chính thức, Việt Nam và Philippines có mức gia tăng về quy mô nền kinh tế ngầm cao nhất trong giai đoạn nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cũng thể hiện mức thuế suất, sự tự do lao động
và tự do kinh doanh tác động rất lớn đến quy mô của nền kinh tế ngầm của các quốc
gia Đông Nam Á
chính và kinh tế ngầm
Về lý thuyết, nghiên cứu mối quan hệ giữa sự phát triển tài chính và kinh tế ngầm được đặt nền móng bởi nghiên cứu của Becker’s (1968), nội dung của nghiên cứu là ảnh hưởng kinh tế của các hành vi phạm tội Becker’s (1968) lập luận rằng các doanh nghiệp trong thị trường sẽ đối diện với việc lựa chọn lợi ích từ một bên là ích lợi từ các hoạt động trong kinh tế ngầm so với việc phải trả khi bị phát hiện và bị phạt Trong đường dây khu vực kinh tế ngầm này, cụ thể các doanh nhân sẽ đo lường lợi ích từ việc hoạt động khu vực không chính thức, ví dụ như là trốn được những khoản thuế nặng hoặc tránh được chi phí của việc tuân theo các thủ tục kinh doanh, so sánh phần chi phí khi hoạt động công khai hợp pháp và các chi phì cơ hội khác, ví dụ các tiện ích hỗ trợ dành cho các đối tượng chính thức trong các chính sách chính phủ Khi lợi ích từ việc hoạt động trong hệ thống kinh tế ngầm không chính thức này cho lợi ích nhiều hơn chi phí phải trả khi bị phát do bị pháp luật phát hiện thì các doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn khu vực kinh tế ngầm hoạt động
Trang 27Những lý thuyết thảo luận về hệ thống tài chính là một trong các cơ quan đặc biệt có ảnh hưởng tới các chi phí và lợi ích của khu vực ngầm, từ đó tác động tới tỷ lệ kinh tế ngầm trong tổng quan nền kinh tế, Straub, 2005; Dabla-Norris và cộng sự., 2008; Blackburn và cộng sự., 2012; Bose và cộng sự., 2012; Capasso và Jappelli, 2013 Ví
dụ, tác động của phát triển khu vực tài chình làm tăng lên của chi phì cơ hội của việc điều hành nên kinh tế ngầm, do đó là giảm đi các hàng rào để đạt được về vốn ở chi phí thấp hơn, các chình sách khuyến khìch, tăng cường đầu tư của chính phủ thúc đẩy các công ty phát triển di chuyển vào khu vực kinh tế chính thức, Capasso and Jappelli,
mô hính này đề nghị các doanh nghiệp phải cung cấp mức tài sản ban đầu nhỏ nhất và song song với đó là tham gia vào khu vực kinh tế chính thức kèm theo yêu cầu về nguồn vốn cần được hỗ trợ để đầu tư sản xuất Tuy nhiên, những nhà doanh nghiệp này không có khả năng thế chấp lượng vốn ban đầu ở mức thấp này bởi ví chi phì đăng ký tạo lập và cả những giới hạn tín dụng đối với doanh nghiệp vốn thấp, đo đó chúng tiếp tục hoạt động trong khu vực kinh tế ngầm, Straub, 2005 trang 310 Những người làm
Trang 28doanh nghiệp sẽ vay vốn từ kinh tế ngầm mặc dù giá của các khoản vốn này là cao hơn Cuối cùng, Straub, 2005: 315 kết luận rằng mức vốn thấp nhất ban đầu của các doanh nghiệp chính là lợi ích của việc điều hành trong nền kinh tế chính thức đạt được
từ việc các gói hỗ trợ từ các tổ chức tài chính chính phủ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, lãi suất tín dụng thấp khi so sánh giữa khu vực chính thức và không chính thức, giảm các nghĩa vụ pháp lý ràng buộc đối trong quyền của chủ nợ, làm giảm mơ hồ hóa những mức và điều khoản thuế nghĩa vụ Trong khi những nhược điểm khi tham gia thị trường kinh tế chính thức đó là sự tăng lên về chi phì tham gia, trong đó có thể kể đến các chi phí tạo lập, các khoản phí và các khoản thuế
Dabla-Norris và cộng sự., 2008 cho thấy ở nhiều nước đang phát triển, một phần quan trọng trong hoạt động kinh tế diễn ra trong khu vực phi chính thức Các nghiên cứu trước đây đã xem xét các yếu tố quyết định quy mô của khu vực phi chính thức, tập trung riêng vào các yếu tố như thuế và gánh nặng các quy định, phát triển thị trường tài chính, và chất lượng của hệ thống pháp luật Tác giả xem xét lại vấn đề này bằng cách
sử dụng một tập dữ liệu tích hợp, trong đó có thông tin phong phú về tất cả các khía cạnh Kiểm tra các kênh ảnh hưởng đến quy mô hoạt động chính thức, tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy tất cả các yếu tố xác định trước đó thực sự đóng một vai trò trong việc hoạt động của khu vực phi chính thức Đặc biệt, và phù hợp với các mô hình lý thuyết đề nghị, tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy tầm quan trọng của chất lượng của hệ thống pháp luật
Blackburn và cộng sự., 2012; tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền kinh tế ngầm và phát triển tài chính trong một mô hình trốn thuế và trung gian ngân hàng Các chủ thể cần vốn có kỹ năng không đồng nhất để tìm kiếm các khoản vay nhằm thực hiện dự án đầu tư mạo hiểm Thông tin không cân xứng giữa người đi vay và người cho vay ngụ ý một danh sách các hợp đồng vay – điều này tạo ra tự lựa chọn trong một trạng thái cân bằng Đối mặt với những hợp đồng, các chủ thể lựa chọn bao nhiêu thu
Trang 29nhập của họ để khai báo bằng cách giao dịch ưu đãi của họ để cung cấp tài sản thế chấp – điều này ngược lại với việc không khuyến khích họ tuân thủ nghĩa vụ thuế Ý nghĩa quan trọng của việc phân tích là các lợi nhuận biên ròng người công bố thu nhập tăng lên với mức độ nào của phát triển tài chình Như vậy, theo quan sát thực nghiệm, tác giả thấy rằng việc công bố thu nhập cao hơn nếu phát triển tài chính cao, đồng thời tỷ
lệ vi trốn thuế và quy mô kinh tế ngầm lớn hơ nếu phát triển tài chính thấp
Bảng 2.1: Tóm tắt ƣu nhƣợc điểm của khu vực kinh tế chính thức dựa vào lập
luận “nguồn vốn đăng ký ban đầu thấp của các doanh nghiệp”
Khu vực kinh tế chính thức so với kinh tế ngầm Straub (2005)
Lập luận dựa vào “nguồn vốn đăng ký ban đầu thấp của các doanh nghiệp”
Lãi suất thấp hơn, các ưu đãi trong
các gói khuyến khích chính phủ khi
đăng ký nguồn vốn ban đầu thấp
Giảm nghĩa vụ pháp lý đối với
quyền của các chủ nợ khi vốn tạo
Nguồn: “Informal sector: the credit market channel” - Straub (2005)
Tiếp theo, Capasso và Jappelli (2013) xây dựng mô hình lý thuyết nơi mà doanh nghiệp lựa chọn giữa việc nhận được hỗ trợ cao khi đòi hỏi tài sản thế chấp cho khoản
Trang 30tín dụng từ các tổ chức tài chính hay là nhận được hỗ trợ thấp từ việc sản xuất sử dụng các nguồn vốn nội bộ Mô hình này cho rằng các nhà doanh nghiệp có thể nhận mức thấp hơn về chi phí vốn bằng cách cung cấp tài sản thế chấp cho các tổ chức tài chính, khi tài sản thế chấp càng đảm bảo, rủi ro càng thấp thì doanh nghiệp thương lượng mức lãi suất càng thấp Tuy nhiên, việc cung cấp tài sản thế chấp này song song với đó là phải chỉ ra cho tổ chức chính các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, các khoản thu nhập, dẫn tới những mức thuế nghĩa vụ cao hơn Sự hiểu quả này đến mức mà các đại diện của nhà nước có thể sử dụng các tổ chức trung gian tài chính này giám sát hoạt động của các doanh nghiệp vay nợ, hệ thống tài chính giảm rào cản đối với việc tiếp cận các khoản tín dụng thông qua đó ngăn chặn các hành vi trốn thuế, từ đó làm giảm
sự lây lan của khu vực kinh tế bóng tối Capasso and Jappelli (2013: 167) tiếp tục thảo luận đưa ra quan điểm về việc lựa chọn giữa tham gia vào hai hỗ trợ cao hoặc thấp này,
là sự lựa chọn giữa lợi ích giảm chi phí tài chính khi tham gia khu vực nhận được hỗ trợ cao về vốn của khu vực chính thức và lợi ích giữa che dấu được doanh thu khi sử dụng nguồn vốn nội bộ Tóm lại, quyết định doanh nghiệp về có nhận nguồn vốn chi phí thấp từ tổ chức tài chính trung gian hay sử dụng nguồn vốn nội bộ; đi kèm song song với đó là phải chứng minh tài sản thế chấp nguồn thu nhập và các hoạt động kinh
tế và chịu nguồn phì cũng như thuế cao hơn, hay là che dấu các hoạt động và doanh thu
để ít bị đóng phì và thuế ìt hơn Capasso và Jappelli (2013: 171) cũng cho rằng sự phát triển khu vực tài chính sẽ làm tăng chi phì cơ hội của việc trốn thuế, hay hoạt động trong khu vực ngầm, chi phì cơ hội của giảm hạn mức tính dụng và chi phì cơ hội của việc không được nhận đầu tư công nghệ mới
Trang 31Bảng 2.2 Tóm tắt ƣu nhƣợc điểm của khu vực kinh tế chính thức dựa vào lập
luận “lựa chọn công nghệ tín dụng của doanh nghiệp”
Khu vực kinh tế chính thức so với kinh tế ngầm Capasso và Jappelli (2013)
Lập luận dựa vào “lựa chọn công nghệ tín dụng của doanh nghiệp”
Lãi suất thấp hơn, các ưu đãi trong
các gói khuyến khích chính phủ
Giới hạn tín dụng cao hơn do
doanh nghiệp đưa ra tài sản đảm
bảo và các nguồn doanh thu công
khai
Được tiếp cận các công nghệ mới
Công khai các nguồn tài sản thế chấp, các hoạt động kinh doanh, các nguồn doanh thu
Không trốn các khoản phí và thuế với các hoạt động đã công khai
Nguồn: Financial development and the underground economy - Capasso và Jappelli
Trang 32khác nhau có hệ thống, mặc dù thị trường lao động cạnh tranh hoàn hảo Khu vực phi chính thức với các đặc điểm lao động kỹ năng thấp hơn, bởi vì doanh nghiệp trong khu vực không chính thức được tiếp cận với nguồn tài chình ìt hơn so với khu vực chính thức, và do đó các doanh nghiệp ở khu vực không chính thức chọn các lao động kỹ năng thấp nhằm giảm mức sử dụng vốn
Berdiev và Saunoris 2016 sử dụng dữ liệu bảng trên 161 quốc gia trong giai đoạn 1960-2009, nghiên cứu này xem xét mối quan hệ động giữa mức độ phát triển tài chính
và quy mô của nền kinh tế ngầm Phân tích biến động của tác giả cho phép giải quyết tất cả các biến nội sinh như trong hệ thống và nắm bắt những thay đổi trong mối quan
hệ giữa phát triển tài chính và nền kinh tế ngầm theo thời gian Phân tích tác giả cung cấp một cái nhìn mới trong việc tìm hiểu mối quan hệ phức tạp này Đầu tiên, kết quả cho thấy rằng mối quan hệ giữa phát triển tài chính và nền kinh tế ngầm thay đổi theo thời gian Đó là, sau một cú sốc trực giao với m2gdp, kìch thước của các nền kinh tế ngầm co lại cho một khoảng thời gian Tuy nhiên, hiệu ứng này biến mất đáng kể trong năm thứ tám Mối quan hệ quan sát này là mạnh mẽ khi dùng các thước đo khác của phát triển tài chính; trong khi một cú sốc đối với creditprivate và creditfinancial làm giảm các hoạt động ngầm, những hiệu ứng biến mất không đáng kể sau năm thứ năm trong mô hình creditprivate và sau năm thứ hai trong mô hình creditfinancial Thứ hai,
có một số bằng chứng về quan hệ nhân quả ngược giữa phát triển tài chính và nền kinh
tế ngầm Cụ thể, một cú sốc của quy mô kinh tế ngầm cản trở sự phát triển của ngành tài chính Tác giả tìm thấy bằng chứng của việc này cho creditprivate (tuy nhiên các hiệu ứng biến mất sau năm Tám) và creditfinancial Thứ ba, tác giả thấy rằng phát triển kinh tế làm giảm các hoạt động bóng, trong khi hiệu ứng ngược lại là không đáng kể Thứ tư, có một mối quan hệ nhân quả hai chiều tích cực giữa phát triển kinh tế và phát triển tài chính (chỉ dành cho m2gdp) Thứ năm, phản ứng tiêu cực từ nền kinh tế ngầm với một cú sốc trong phát triển tài chính là bằng chứng duy nhất trong số các quốc gia
Trang 33có sự phát triển tài chính thấp (cú sốc này hóa không đáng kể trong năm thứ chín) Cuối cùng, các đáp ứng xung cho thấy rằng nền kinh tế ngầm, cùng với các biến khác trong hệ thống, hiển thị sự ổn định trong dài hạn Nhìn chung, kết quả vẫn có ý nghĩa khi sử dụng các biện pháp thay thế của phát triển tài chính, đại diện chất lượng thể chế
và trật tự nhân quả luân phiên của các biến trong hệ thống Tóm lại, kết quả của tác giả cung cấp hiểu biết mới về mối quan hệ cơ bản giữa phát triển kinh tế ngầm và phát triển của khu vực tài chính giúp các nhà hoạch định chính sách chống lại hoạt động ngầm và thúc đẩy phát triển tài chình Do đó tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng một khung biến động phân tích mối quan hệ giữa phát triển tài chính và nền kinh tế ngầm
Berdiev và Saunoris 2016 cho rằng, một lĩnh vực tài chính kém phát triển có khả năng
bị lạm dụng bởi các đối tượng chủ thể trong kinh tế ngầm (đảm bảo các khoản vay hay che dấu các quỹ), trong khi đó một khu vực tài chính phát triến tốt hơn được đổi mới
và cung cấp các dịch vụ tài chính tối ưu hơn (vì dụ sự xuất hiện các dịch vụ tối ưu hơn
từ quỹ tương hỗ - mutual funds và các chứng khoán nghĩa vụ nợ thế chấp - collateralized debt obligations), do đó chi phì cơ hội để sản xuất khu vực kinh tế ngầm cao hơn Ngoài ra, những tiến bộ trong thị trường phát triển tài chính chính thức mang tới nhiều lựa chọn thay thế vượt trội hơn so với dịch vụ khu vực kinh tế ngầm, ví dụ như phương thức hợp pháp hóa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Berdiev và Saunoris 2016 cũng chỉ ra rằng sự lành mạnh của các các cơ quan nhà nước cung cấp sự bảo vệ chống lại sự tham nhũng và lũng đoạn tài sản công thành tài sản cá nhân, cũng như là không công bằng trong tiếp cận các nguồn vốn và thực thi hợp đồng, như các hợp đồng kinh tế hay đấu thầu Tuy nhiên, sự tồn tại của kinh tế ngầm cũng góp phần tha hóa suy yếu các cơ quan nhà nước, suy giảm lượng ngân sách không đủ cho hoạt động của chính phủ dẫn tới sự yếu kém về cả số lượng và chất lượng của hàng
Trang 34hóa công nếu không có sự can thiệp hiệu qủa của chính phủ, có thể bằng các quy định pháp luật
ngầm và phát triển tài chính
2.2.1 Bằng chứng thực nghiệm về phát triển tài chính làm giảm kinh tế ngầm
Những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển khu vực tài chính và thị trường ngầm đó là Capasso và Jappelli (2013) sử dụng dữ liệu vi mô tại Italia, Beck
và Hoseini (2014) dùng dữ liệu công ty tại Ấn Độ, Dabla-Norris và cộng sự (2008); Ellul và cộng sự (2015) dùng dữ liệu khảo sát các công ty, Bose và cộng sự (2012) dùng dữ liệu 137 quốc gia Tất cả nghiên cứu này đều chỉ ra rằng sự phát triển của khu
vực tài chình có tác động đến nền kinh tế ngầm Cụ thể:
Capasso và Jappelli (2013) xây dựng dữ liệu vi mô dựa trên chỉ số của kinh tế ngầm tại
dữ liệu vĩ mô Italia, nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và quy mô của nền kinh tế ngầm Tác giả tìm thấy khi phát triển tài chình tăng lên sẽ làm giảm tỷ lệ kinh tế ngầm, và tác giả cũng tím thấy quan hệ nội sinh tác động qua lại giữa phát triển tài chính và thị trường kinh tế ngầm
Beck và Hoseini (2014) đo lường ảnh hưởng của độ sâu tài chính và tiếp cận ngân hàng không chính thức với việc sử dụng dữ liệu vi mô từ khu vực sản xuất tại Ấn Độ, và đo lường sự thay đổi giữa các ngành công nghiệp khác nhau với nguồn vốn tài chính bên ngoài Tác giả phân biệt hai kênh chình trong công đoạn tiếp cận nguồn vốn có thể làm giảm khu vực không chính thức: làm giảm rào cản ra nhập khu vực chính thức và tăng năng suất của các doanh nghiệp chính thức Tác giả thấy rằng tiếp cận nguồn vốn thông qua ngân hàng có tác động mạnh mẽ đến việc giảm tỷ lệ khu vực kinh tế ngầm bằng việc cắt giảm bớt rào cản ra nhập khu vực kinh tế chính thức, đặc biệt là các công ty
Trang 35nhỏ và do đó giảm bớt cơ hội thị trường ngầm phát triển Trong khi đó, độ sâu của tài chình làm tăng năng suất của các doanh nghiệp khu vực chính thức, trong độ sâu tài chình này không tác động đáng kể đến các doanh nghiệp khu vực kinh tế ngầm
Dabla-Norris và cộng sự (2008) dựa trên số lượng dữ liệu lớn công ty trong các nền kinh tế chuyển đổi nhằm kiểm tra vai trò của kinh tế ngầm quan trọng thế nào trong cản trở sự phát triển các công ty qua các thủ tục và chính sách Nghiên cúu này chỉ ra rẳng các công ty giảm các hoạt động chính thức của chúng khi đối mặt với mức thuế cao hơn và các gánh nặng pháp lý, nhưng các công ty cũng tăng chất lượng thực thi các hoạt động tốt hơn Về sự phát triển bền vững, tác giả tìm thấy sự ảnh hưởng khác nhau giữa các gánh nặng pháp lý và chất lượng thực thi trong khu vực kinh tế chính thức và kinh tế ngầm Cụ thể tác giả tìm thấy tăng trưởng trong các công ty hoạt động chính thức ảnh hưởng ngược chiều với cả thuế và các rào cản tài chính, trong khi các rào cản tài chính ảnh hưởng không đang kể đến tăng trưởng các doanh nghiệp không chính thức Hơn nữa, sự phát triển công ty chính thức cải thiện việc thực thi tốt hơn nữa, thì
sự phát triển các công ty kinh tê ngầm bị hạn chế bởi tội phạm có tổ chức, nghiên cúu này chỉ ra rằng các công ty khu vực ngầm không có khả năng tận dụng đầy đủ hệ thống
tư pháp và luật pháp Cuối cùng, nghiên cứu chỉ ra rằng tương tác giữa hệ thống luật pháp diện rộng và hoạt động khu vực chính thức là cùng chiều, tức là chính sách luật pháp quy định tốt hơn sẽ làm tăng trưởng các hoạt động các công ty khu vực chính thức
Ellul và cộng sự (2015) nghiên cứu về sự minh bạch, áp lực thuế và khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính tìm thấy các công ty minh bạch hơn thường tiếp cận tốt hơn với nguồn tài chình, và cũng cho phép giám sát chặt chẽ hơn của các cơ quan thuế quan và
do đó phải đối mặt với gánh nặng trả thuế cao hơn, bởi chừng nào họ còn được yêu cầu báo cáo các dữ liệu tương tự cho cơ quan thuế và các nhà đầu tư theo luật thì họ còn bị ràng buộc Tác giả nghiên cứu sự trao đổi trong mô hình với các loại thuế gây biến
Trang 36dạng - các loại thuế làm thay đổi hành vi kinh tế của cá nhân hoặc doanh nghiệp (tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng) và các giới hạn tài chính Tác giả phân tích mô hình này với
dữ liệu quốc tế từ nhiều quốc gia, kết quả đúng như các kỳ vọng tác giả, các công ty phải đối mặt với mức thuế suất doanh nghiệp thấp chọn minh bạch cao, đặc biệt là khi
họ không phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài Kết quả này được xác nhận bởi các bằng chứng từ các cải cách thuế theo luật định: giảm thuế suất doanh nghiệp được theo sau bởi sự gia tăng tinh minh bạch công ty Hơn nữa doanh nghiệp lựa chọn minh bạch cao hơn ở các nước với chất lượng kiểm toán cao Đầu tư vào các công ty tương quan thuận với sự minh bạch, đặt biệt là các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều hơn về tài chính
từ bên ngoài Kết quả này mạnh mẽ hơn trong các nước với có chính sách thuê phù hợp
Bose và cộng sự (2012) nghiên cứu tại 119 quốc gia từ 1999/2000 đến 2004/2005 để kiểm tra tác động của phát triển ngân hàng đến quy mô của nền kinh tế ngầm Kết quả chính tác giả thu được đó là sự cải thiện trong phát triển của ngành ngân hàng được đi kèm với nên kình tế ngầm nhỏ hơn trong so sánh giữa nhiều quốc gia Ngoài ra, cả chiều sâu và mức hiệu quả của ngành ngân hàng làm giảm kìch thước của một nền kinh
tế ngầm Các kết quả này được kiểm tra với nhiều tiêu chuẩn đo lường và kiểm soát các tác động đồng thời khác nhau
Một vài nghiên cứu khác về tỷ lệ của nền kinh tế ngầm trong nền kinh tế có thể kể đến
là Gobbi và Zizza, 2007; Elgin và Uras, 2013 Các nghiên cứu này tím ra ba cơ chế kinh tế ngầm tác động ngược tới phát triển tài chính
Đầu tiên, cách thức kinh tế ngầm tác động tới khu vực kinh tế chính thức là làm giảm khả năng nguồn lực của các tổ chức trung gian để kiểm tra các doanh nghiệp có hoạt động hay không ở các khu vực kinh tế ngầm
Trang 37 Thứ hai, tham gia ở mức cao hơn trong kinh tế ngầm có thể dẫn tới bị các tổ chức tài chình đặt các rào cản cao hơn trong việc vay vốn, ví dụ như yêu cầu phải có nhiều hơn về tài sản thế chấp, qua đó cho thấy chi phí tín dụng cao hơn
Thứ ba, khi nền kinh tế ngầm phát triển cao, đặc biệt các cho vay không chính thức phát triển mạnh, điều này sẽ làm giảm cầu cho vay ở khu vực kinh tế chính thức dẫn tới các biến dạng về cấu hình thị trường tài chính trong nền kinh tế chính thức
Cụ thể các nghiên cứu trên, sử dụng dữ liệu tại Ý, Gobbi and Zizza (2007) tìm thấy bằng chứng rằng tác động của kinh tế ngầm làm cản trở sự phát triển của khu vực tài chính Các doanh nghiệp chỉ có thể tiếp cận nguồn vốn bên ngoài bằng cách công chứng các thông tin đang tin cậy trong các tài liệu chính thức Đây có thể là điều không thể đối với nhiều nhà sản xuất trong khu vực không chính thức, những người thiếu sổ sách kế toán thích hợp Tương tự, những người lao động bất hợp pháp có gặp khó khăn trong việc vay vốn chi tiêu hoặc các điều kiện mua nhà có trợ cấp Sử dụng dữ liệu bảng trên thị trường tin dụng tại Ý, tác giả tìm thấy tỷ lệ các lao động không chính thức
có tác động ngược chiều tới lượng tiền họ vay ở khu vực tư nhân Theo ước tính của nghiên cứu này, một phần trăm tăng lên trong lao dộng không chính thức dẫn đến giảm 1-2 phần trăm trong tăng trưởng GDP và giảm 0.3 phần trăm trong tìn dụng nhà ở Ngược lại, các hiệu ứng phản hồi của độ sâu tài chình lên kìch thước của quy mô khu vực phi tài chính là yếu và mức ý nghĩa thống kê không đáng kể Tác giả còn dùng phương pháp biến giả để đo lường khác biệt giữa công nhân chính thức và không chính thức, tác giả tìm thấy công nhân phi chính thức có tác động tiêu cực đến các quyết định tín dụng của ngân hàng địa phương
Elgin và Uras, 2013 xây dựng mô hính trong đó các biến ngoại sinh trong đó khu vực ngầm tác động tới khu vực tài chính Khu vực ngầm làm hại sự phát triển của phát triển
Trang 38tài chình thông qua các đàn áp áp lực tài chính và thuế Mặc khác, tăng kìch thước khu vực ngầm tạo điều kiện phát triển tài chính thông qua việc nới lỏng các hạn chế năng lực về lĩnh vực tài chính Dữ liệu tác giả sử dụng là 152 quốc gia trong thời kỳ từ năm
1999 đến 2007
Trang 39CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C U
Từ nền tảng khảo lược các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng quy mô kinh tế ngầm và các nhân tố tác động được phân tích ở chương 2, chương này sẽ dựa trên cơ
sở đó để xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu, trình bày mẫu nghiên cứu và các biến đo lường, đặt ra các giả thuyết nghiên cứu và phát triển xây dựng mô hình hồi quy cũng như phương pháp xử lý nhằm đạt được kết quả định lượng tin cậy trả lời câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung xem xét bản chất của mối quan hệ giữa phát triển tài chính, và kinh tế ngầm, ở các quốc gia đang phát triển sử dụng mô hình VAR trên
dữ liệu bảng theo tiếp cận của Love và Zicchino, 2006; Holtz-Eakin và cộng sự.,
1988 dữ liệu bảng để phát hiện chiều hướng của mối quan hệ nhân quả giữa phát triển tài chính, và kinh tế ngầm Nghiên cứu của tác giả đi theo một số phân tích bằng chứng về mối quan hệ nhân quả đã tổng hợp bằng lý cơ chế tác động và bằng chứng thực nghiệm ở chương 2 Tác giả kiểm tra hai giả thuyết sau đây:
H1: Phát triển tài chính tác động làm giảm quy mô kinh tế ngầm
H2: Phát triển quy mô kinh tế ngầm làm cản trở sự phát triển tài chính
Các giả thuyết này sẽ được trả lời qua phân tích hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai của mô hình VAR trên dữ liệu bảng
Nghiên cứu của tác giả sử dụng dữ liệu bảng hàng năm trong giai đoạn 1997 – 2014
ở các quốc gia đang phát triển Đông Nam Á Tác giả xem xét các quốc gia này bao gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philipine, Thái Lan, Việt Nam
Trang 40Khi nghiên cứu về kinh tế ngầm người nghiên cứu đối mặt với khó khăn ước lượng nền kinh tế này do bản chất định nghĩa là các tham số không đo lường được của cục thống kê, và cũng bởi các chủ thể kinh tế ngầm là các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động nổ lực che giấu sự tham gia và liên quan của họ Tuy nhiên, nghiên cứu này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu đo lường gần đây, Schneider và cộng sự, 2010; Elgin
và Öztunali, 2012; Alm và Embaye, 2013, Võ Hồng Đức 2014 đã xây dựng các phương pháp ước lượng về kinh tế ngầm Tác giả ký hiệu tên biến chuỗi dữ liệu đo lường sự biến động tăng giảm kinh tế bóng tối về kích cỡ là shadow
Dữ liệu đo lường nền kinh tế ngầm được đo lường bởi Võ Hồng Đức (2014) Sử dụng phương pháp MIMIC Việc Đo lường quy mô nền kinh tế ngầm rất phức tạp, bởi vì tất
cả doanh nghiệp và cá nhan tham gia vào khu vực kinh tế ngầm đều tìm cách tránh bị phát hiện Trong khi đó, các nhà làm chính sách và quản lý kinh tế cần phải biết được quy mô của nền kinh tế ngầm nay nhằm phục vụ cho việc ban hành một chính sách kinh tế phù hợp Hơn thế nữa, quy mô và tốc độ phát triển của kinh tế ngầm cần được cân nhắc khi ban hành chính sách nhằm tạo điều kiện để mọi hoạt động trong nền kinh
tế trở thành chinh thức và chịu sự chi phối giống nhau của pháp luật Do vậy, việc xác định quy mô nền kinh tế ngầm, dù khó khăn và nhiều tranh cãi, là việc làm rất cần thiết Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định và lượng hóa các nhân tố dẫn đến
sự tồn tại và phát triển của kinh tế ngầm tại các quốc gia ASEAN trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2014 Kết quả cho thấy quy mô nền kinh tế ngầm ở Thái Lan, My-an-mar và Lào đang ở mức độ rất cao so với các quốc gia còn lại trong khối ASEAN trong năm 2014 Tuy nhiên, trong giai đoạn 20 năm, Việt Nam và Phi-lip-pin có tốc độ gia tăng quy mô nền kinh tế ngầm hàng năm lớn nhất khối ASEAN Chẳng hạn như, quy mô nền kinh tế ngầm của Việt Nam tăng hơn 6% hàng năm và Phi-lip-pin gia tăng gần 4% hàng năm giá trị của nền kinh tế chính thức Tại Việt Nam, năm 2014, có đến
40 tỷ USD nằm ở khu vực kinh tế ngầm so với gần 170 tỷ USD ở nền kinh tế chính thức