1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KL triết lý dân chủ của hồ chí minh với đời sống dân chủ hiện nay ở huyện vĩnh linh, tỉnh quảng trị”

82 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 368 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam là một con người tài năng, đức độ vẹn toàn. Toàn bộ sự nghiệp vì dân, vì nước của Người là tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời để lớp lớp con cháu noi theo. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần và trí tuệ quý báu của cách mạng nước ta, của dân tộc và của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư tưởng đó là một động lực lớn của nhân dân ta trong cuộc hành trình mới xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, ấm no, hạnh phúc, văn minh. Trong tư tưởng của Người có rất nhiều nội dung, nhiều vấn đề quan trọng, trở thành tài sản vô cùng quý giá của dân tộc Việt Nam. Một trong những tư tưởng quan trọng mà ngày nay chúng ta vẫn đang hướng đến đó là dân chủ. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa MácLênin xem dân chủ là động lực, là con đường dẫn tới CNXH. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ được kiến giải một cách giản dị, dễ hiểu. Người không định nghĩa dân chủ theo kiểu hàn lâm, bác học nhưng lại phản ánh được chiều sâu giá trị lý luận của nó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt giản dị định nghĩa khái niệm dân chủ: “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ”. Đây được xem là một định nghĩa kinh điển về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh một định nghĩa ngắn gọn, nhưng lại bao quát đầy đủ nhất, sâu sắc nhất bản chất của dân chủ. Định nghĩa này đã nhấn mạnh chủ thể chân chính của chế độ mới là nhân dân. Họ trở thành người chủ của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân…”17; 548., Người cũng khẳng định “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”16; 286.. Dân chủ là một vấn đề có tính thời đại và thời sự sâu sắc, nhất là trong sự phát triển của xã hội hiện đại ngày nay. Dân chủ là tiêu chuẩn cơ bản, để đánh giá sự tiến bộ của mọi thời đại. Chính vì nhận thấy được tầm quan trọng, vai trò của dân chủ trong đời sống xã hội, Hồ Chí Minh đã đưa ra một hệ thống các luận điểm về dân chủ, được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội... Người viết: “Ở nước ta chính quyền là của của nhân dân do nhân dân làm chủ... Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”17; 218219. Chế độ dân chủ là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”15;698, “Quyền hành và lực lượng là ở nơi dân”15; 698, hệ thống chính trị do dân cử ra và do dân tổ chức nên. Dân chủ không chỉ là một thiết chế xã hội của một quốc gia mà còn thể hiện trong quan hệ quốc tế: hòa bình giữa các dân tộc, dân chủ bình đẳng trong các tổ chức quốc tế, là nguyên tắc ứng xử quốc tế… Trong xã hội ngày nay, với những chuyển biến sâu sắc của thế giới và của đất nước, chúng ta đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn và thử thách. Vậy nên nước ta đang xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN và hình thái nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Đó là nội dung cốt lõi của triết lý dân chủ Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam nói chung và ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nói riêng, đã ngày càng bộc lộ rõ tình trạng vi phạm dân chủ. Điều này có thể xảy ra bất cứ lúc nào và có nguy cơ làm chệch huớng XHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” gây bạo loạn lật đổ, sử đụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm làm thay đổi chế độ chính trị của đất nước ta. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là việc làm rất cần thiết, cấp bách cả về lý luận và thực tiễn. Với ý nghĩa đó tôi chọn đề tài “Triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh với đời sống dân chủ hiện nay ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” làm khóa luận tốt nghiệp.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu đề tài của khóa luận 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận 8

5 Đóng góp của khóa luận 9

6 Kết cấu của khóa luận 9

NỘI DUNG KHÓA LUẬN 11

Chương 1: TRIẾT LÝ DÂN CHỦ TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH11 1.1 Cơ sở hình thành và phát triển 11

1.1.1 Cơ sở hình thành 11

1.1.2 Quá trình phát triển 18

1.2 Những nội dung cơ bản trong triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh 21

1.2.1 Triết lý dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh 21

1.2.2 Những phương diện biểu hiện triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh 24

Chương 2 VẬN DỤNG TRIẾT LÝ DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH 48

VÀO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG DÂN CHỦ HIỆN NAY 48

Ở HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ 48

2.1 Thực trạng dân chủ hiện nay ở Huyện Vĩnh Linh,tỉnh Quảng Trị 48

2.1.1 Vài nét về mảnh đất và con người Vĩnh Linh 48

2.1.2 Thành tựu 51

2.1.3 Hạn chế 56

2.1.4 Sự cần thiết phải vận dụng triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh trong đời sống hiện nay ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 59

2.2 Nội dung cơ bản của sự vận dụng triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh vào xây dựng đời sống dân chủ hiện nay ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 62

2.2.1 Xây dựng nền dân chủ trong lĩnh vực chính trị 62

2.2.2 Xây dựng nền dân chủ trong lĩnh vực kinh tế 69

2.2.3 Xây dựng nền dân chủ trong lĩnh vực văn hóa – xã hội 74

KẾT LUẬN 81

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam là mộtcon người tài năng, đức độ vẹn toàn Toàn bộ sự nghiệp vì dân, vì nước củaNgười là tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời để lớp lớp con cháu noitheo Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần và trí tuệ quý báu của cáchmạng nước ta, của dân tộc và của Đảng Cộng sản Việt Nam Tư tưởng đó làmột động lực lớn của nhân dân ta trong cuộc hành trình mới xây dựng nước

ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, ấm no, hạnh phúc, văn minh.Trong tư tưởng của Người có rất nhiều nội dung, nhiều vấn đề quan trọng,trở thành tài sản vô cùng quý giá của dân tộc Việt Nam Một trong những tưtưởng quan trọng mà ngày nay chúng ta vẫn đang hướng đến đó là dân chủ

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin xem dân chủ là độnglực, là con đường dẫn tới CNXH Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh,dân chủ được kiến giải một cách giản dị, dễ hiểu Người không định nghĩadân chủ theo kiểu hàn lâm, bác học nhưng lại phản ánh được chiều sâu giá trị

lý luận của nó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt giản dị định nghĩa kháiniệm dân chủ: “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ” Đây được xem làmột định nghĩa kinh điển về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh - một địnhnghĩa ngắn gọn, nhưng lại bao quát đầy đủ nhất, sâu sắc nhất bản chất củadân chủ Định nghĩa này đã nhấn mạnh chủ thể chân chính của chế độ mới lànhân dân Họ trở thành người chủ của đất nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “dân chủ là của quý báu nhất củanhân dân…”[17; 548]., Người cũng khẳng định “nước ta là nước dân chủ, địa

vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”[16; 286]. Dân chủ là một vấn đề có tính thờiđại và thời sự sâu sắc, nhất là trong sự phát triển của xã hội hiện đại ngày

Trang 3

Chính vì nhận thấy được tầm quan trọng, vai trò của dân chủ trong đờisống xã hội, Hồ Chí Minh đã đưa ra một hệ thống các luận điểm về dân chủ,được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Người viết: “Ở nước ta chính quyền là của của nhân dân do nhân dân làmchủ Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thaymặt mình thi hành chính quyền ấy Thế là dân chủ”[17; 218-219] Chế độ dânchủ là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”[15;698], “Quyền hành và lực lượng là ởnơi dân”[15; 698], hệ thống chính trị do dân cử ra và do dân tổ chức nên Dânchủ không chỉ là một thiết chế xã hội của một quốc gia mà còn thể hiện trongquan hệ quốc tế: hòa bình giữa các dân tộc, dân chủ bình đẳng trong các tổchức quốc tế, là nguyên tắc ứng xử quốc tế…

Trong xã hội ngày nay, với những chuyển biến sâu sắc của thế giới vàcủa đất nước, chúng ta đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn và thửthách Vậy nên nước ta đang xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phầntheo định hướng XHCN và hình thái nhà nước pháp quyền của dân, do dân

và vì dân Đó là nội dung cốt lõi của triết lý dân chủ Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Namnói chung và ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nói riêng, đã ngày càng bộc

lộ rõ tình trạng vi phạm dân chủ Điều này có thể xảy ra bất cứ lúc nào và cónguy cơ làm chệch huớng XHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thùđịch thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” gây bạo loạn lật đổ, sử dụng cácchiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm làm thay đổi chế độ chính trị củađất nước ta

Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và vận dụng tưtưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là việc làm rất cần thiết, cấp bách cả về lý

luận và thực tiễn Với ý nghĩa đó tôi chọn đề tài “Triết lý dân chủ của Hồ

Chí Minh với đời sống dân chủ hiện nay ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” làm khóa luận tốt nghiệp.

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài của khóa luận

Trong thời gian qua, việc nghiên cứu tưởng Hồ Chí Minh nói chung

và triết lý Hồ Chí Minh nói riêng đã trở thành một việc làm thiết thực, chủyếu của nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội nhân văn ở Việt Nam Đónggóp thành công vào cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh” hiện nay

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo cáo, nhiều bộ phim

tư liệu và các tài liệu liên quan đã tiếp cận tư tưởng dân chủ của Hồ ChíMinh ở nhiều góc độ khác nhau

- Dân chủ di sản văn hóa Hồ Chí Minh – do Nguyễn Khắc Mai chủ

biên (Nxb Lao Động, Hà Nội, 1997) – đã xác định rõ những nội dung cơ bảntrong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh, những đóng góp của Người trongmột số lĩnh vực của thực tiễn và xác định đó là một di sản văn hóa lớn, cógiá trị lớn đối với dân tộc Việt Nam

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ - TS Phạm Hồng Chương (Nxb

Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004) - đã chỉ rõ nguồn gốc, quá trình hình thànhnhững quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ, và việc vận dụng lý luận đóvào thực tiễn của đất nước

- Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh – do TS Phạm Văn Bính chủ

biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008) - đã chỉ rõ những vấn đề cơ bảntrong triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất áp dụng triết lý dânchủ vào việc lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay

Tiếp nối và kế thừa những giá trị, những lý luận mà các nhà khoa học,

các nhà nghiên cứu đã đưa ra, đề tài “Triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh với

đời sống dân chủ ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị”, nhằm làm sáng tỏ

hơn nội dung triết lý dân chủ của Người và vận dụng vào thực hiện đời sống

Trang 5

Mặc dù ở những góc độ nghiên cứu, tìm hiểu khác nhau, nhưng tất cảđều nhằm mục địch hiểu rõ và sâu sắc triết lý dân chủ và vận dụng nó vàothực tiễn nhằm xây dựng một chế độ xã hội, một đất nước dân giàu – nướcmạnh – xã hội dân chủ – công bằng – văn minh.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận

+ Mục đích: góp phần làm sáng tỏ triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh và

sự vận dụng triết lý đó của Người vào xây dựng đời sống dân chủ ở huyệnVĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận

+ Cơ sở lý luận:

Phép biện chứng duy vật về lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đườnglối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về dân chủ

+ Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp lôgic – lịch sử,phương pháp so sánh – đối chiếu, …

5 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận nhằm nâng cao nhận thức triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh

cả về lý luận và hoạt động thực tiễn, nhằm khắc phục những cách nhìn phiếndiện và tình trạng vi phạm dân chủ trong đời sống hiện nay ở Việt Nam.Đồng thời có thể là một tài liệu sinh hoạt hết sức bổ ích trong hoạt động lý

Trang 6

luận và thực tiễn, đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang tiến hành đẩy mạnhcuộc vận động “Học tập và lam theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hiệnnay.

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậngồm hai chương, bốn tiết:

Chương 1 : Triết lý dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1 Cơ sở hình thành và phát triển

1.2 Những nội dung cơ bản trong triết lý dân chủ của Hồ Chí MinhChương 2: Vận dụng triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh vào xây dựngđời sống dân chủ hiện nay ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

2.1 Thực trạng dân chủ hiện nay ở Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

2.2 Nội dung cơ bản của sự vận dụng triết lý dân chủ của Hồ ChíMinh vào xây dựng đời sống dân chủ hiện nay ở huyện Vĩnh Linh, tỉnhQuảng Trị

Trang 7

NỘI DUNG KHÓA LUẬN

- Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh

Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là một sản phẩm lịch sử cụ thể,

là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sửđược hình thành dưới tác động và ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử

xã hội của dân tộc và của thời đại vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

+ Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

Vào cuối thế kỷ XIX, Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập đã

bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, trở thành một nước thuộc địa nửaphong kiến Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Namkhông có tự do, đã không ngừng nổi lên chống lại chúng Trong khi đó,triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đã từng bước khuất phục, lần lượt kíkết các hiệp ước đầu hàng, thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảothủ, phản động,… không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc

và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới Các cuộc khởi nghĩa vũ trangdưới khẩu hiệu “Cần vương” do các văn thân, sỹ phu lãnh đạo cuối cùngcũng thất bại Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở ViệtNam đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp - xã hội sâu sắc Tạotiền đề bên trong cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX

Trang 8

Đầu thế kỷ XX, các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháprầm rộ, lan rộng ra cả nước (Chủ trương cầu viện, dùng vũ trang khôiphục độc lập của Phan Bội Châu; Chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” khaithông dân trí, nâng cao dân trí,…trên cơ sở đó mà dần dần tính chuyệngiải phóng của Phân Chu Trinh; Khởi nghĩa nặng cốt cách phong kiếncủa Hoàng Hoa Thám; Khởi nghĩa theo khuynh hướng tư sản củaNguyễn Thái Học) nhưng đều thất bại Phong trào cứu nước của nhândân ta muốn đi đến thắng lợi, phải đi theo con đường mới

Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc, cho mỗi người yêu nướcViệt Nam lúc bấy giờ là phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân thoátkhỏi ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai Trong điều kiện lịch sử

ấy, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước, đáp ứng đòi hỏi bức thiếtcủa dân tộc và thời đại

+ Bối cảnh thời đại

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã pháttriển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, xáclập sự thống trị trên phạm vi thế giới Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻthù chung của tất cả các dân tộc thuộc địa

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi và sự ra đời củaLiên bang Xô viết đã tạo ra những tiền đề, điều kiện cơ bản thúc đẩyphong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên Thế giới, trong đó có ViệtNam phát triển nhanh chóng, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại.Ngay sau đó, Quốc tế III được thành lập năm 1919, đã làm phong tràocông nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa và phong trào giải phóng củacác nước thuộc địa càng có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấutranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc

- Những tiền đề tư tưởng, lý luận

Trang 9

Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là kết quả của sự kết hợp giữa

tư tưởng thân dân truyền thống ở phương Đông và quan điểm cách mạng,

là sự nghiệp của quần chúng trong học thuyết Mác-Lênin Kết hợp giữatruyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã nâng

tư tưởng dân chủ lên một tầm cao mới vừa mang tính khoa học, vừamang tính nhân văn sâu sắc

+ Giá trị truyền thống của dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết bắt nguồn từ các giá trị truyềnthống của dân tộc, là sự kế thừa và phát triển các giá trị văn hoá truyềnthống dân tộc Trong đó chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã trở thànhđộng lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người, niềm tự hào và lànhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của người Việt Nam

Trong văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, dân chủ đượchiểu là dân chủ trong nông dân, trong chính cuộc sống của người nôngdân đấu tranh cho chủ nghĩa bình quân về quyền lợi, đấu tranh để đòiquyền được sống, được hạnh phúc

Không chỉ dừng ở đây, trong tư tưởng dân chủ của truyền thốngdân tộc Việt Nam thì dân chủ còn tồn tại ở một số biện pháp thân dân củacác vương triều tiến bộ

Chẳng hạn, trong điều kiện khó khăn của đất nước, sự phân hóacủa các giai cấp và những yêu cầu của việc giữ nước thì nhà Lý, nhàTrần đã xây dựng nên một thiết chế tập quyền thân dân, nhằm giữ đượclòng dân bằng nhiều hình thức dân chủ: Nhà Lý đã cho đặt chuông kêuoan; nhà Trần mở Hội nghị Diên Hồng (1284)…

+ Tinh hoa văn hóa của nhân loại

Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông (Nhogiáo, Lão giáo, Phật giáo, ) Người đã tiếp thu, kế thừa có chọn lọc tư

Trang 10

tưởng dân chủ, nhân văn của văn hóa Phục hưng, của thế kỷ Ánh sáng,của cách mạng tư sản phương Tây, cách mạng tư sản Trung Quốc

Nho giáo là học thuyết về đạo đức và phép ứng xử, triết lý hànhđộng, lý tưởng về một xã hội bình trị Đặc biệt Nho giáo đề cao văn hoá,

lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân Người đã cãi biến tưtưởng của Mạnh Tử về “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vị khinh” theonghĩa dân là quý nhất, nhà nước là thứ yếu, người lãnh đạo phải ở sauhết Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại Theocách diễn giải của Người chúng ta thấy một thiết chế dân chủ mới theothứ tự: dân, xã tắc và quân Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng phê phán Nhogiáo có những tư tưởng tiêu cực như bảo vệ chế độ phong kiến, phân chiađẳng cấp (quân tử và tiểu nhân), trọng nam khinh nữ

Phật giáo có hạn chế về thế giới quan duy tâm chủ quan, hướngcon người tới xuất gia tu hành làm hạn chế tính tích cực xã hội của conngười Tuy nhiên đã được Việt Nam hóa theo hướng tích cực, trở nêngắn bó, gần gủi với quần chúng nhân dân Đó là quan điểm của Phật giáo

về tư tưởng vị tha, bình đẳng, từ bi, bác ái Phật giáo cũng đề cao nếpsống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động Phậtgiáo vào Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa yêu nước sống gắn bó với dân,hoà vào cộng đồng chống kẻ thù chung của dân tộc là chủ nghĩa thựcdân Sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm vào thế kỷ XIIIvới tính chất “tùy duyên nhi bất biến” của đạo Phật, sống gắn bó với dân,với nước là một ví dụ điển hình

Nói như Phật giáo Ấn Độ thì Hồ Chí Minh là hiện thân của vị “Phật sống”.Người cũng đã tìm thấy ở “chủ nghĩa tam dân” của Tôn Trung Sơnnhững điều phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta là tư tưởng dânchủ tiến bộ với chủ trương dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh

Trang 11

Sơn có những chính sách “thích hợp với điều kiện nước ta”[1;15], mà tựnhận mình là một học trò nhỏ của Tôn Dật Tiên.

Hồ Chí Minh là nhà Mácxít tỉnh táo và sáng suốt, biết khai thácnhững yếu tố tích cực của tư tưởng văn hoá phương Đông, vận dụng vàphát triển các học thuyết ấy lên một trình độ mới để phục vụ cho sựnghiệp của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân

chủ và cách mạng phương Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong

“Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Đại cách mạng Pháp 1791;

tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnhphúc trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ 1776 Trước khi ra nước ngoài,Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái Sau này Ngườinhớ lại vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên Người được nghe những từ Tự do,Bình đẳng, Bác ái Đó là khẩu hiệu nổi tiếng của Đại cách mạng Pháp năm1789.Vì vậy, Người đã nảy ra ý muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau những

từ ấy

Lần đầu sang Pháp, Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách,phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ Người đã nhìn thấy mặttrái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái Người cũng tiếp thu tư tưởngtiến bộ của những nhà Khai sáng Pháp như Voltaire, Rousso,Montesquieu

Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông - Tây để

phục vụ cho cách mạng Việt Nam Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có

những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”[16; 46]

+ Chủ nghĩa Mác-Lênin

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, là cơ sở lýluận cốt lõi tạo nên sự hoàn thiện triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh

Trang 12

Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta… là mặt trời

soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa

xã hội…”[19; 128] Với chủ nghĩa yêu nước cao cả, Người ra đi tìm

đường cứu nước với những giá trị truyền thống tốt đẹp của người ViệtNam Người đã tiếp thu những giá trị tốt đẹp của tư tưởng dân chủ nhânloại, thông qua những trải nghiệm, những gì mà Người đã tận mắt nhìnthấy qua các hình thức dân chủ tư sản điển hình ở các nước phương Tây

Để rồi từ đó Người đã nhận ra cho mình một con đường đúng đắn khiđến với chủ nghĩa Mác - Lênin

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là đến với mục tiêu giải phóng conngười khỏi ách áp bức, bóc lột Người đã vận dụng chủ nghĩa Mác -Lênin theo phương pháp Mácxít và theo tinh thần phương Đông, khôngsách vở, không kinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giảipháp riêng, cụ thể cho cách mạng Việt Nam Thế giới quan và phươngpháp luận Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh nhìn nhận, đánh giá, phântích, tổng kết các học thuyết, tư tưởng, đường lối cách mạng và kinhnghiệm hoạt động thực tiễn để đề ra con đường cách mạng giải phóngdân tộc đúng đắn

b) Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan là một nhân tố quan trọng trong việc hình thành

tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh Nhân cách, phẩm chất, tài năng và trítuệ của Hồ Chí Minh đã tác động rất lớn đến việc hình thành và pháttriển tư tưởng của Người

Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, có óc phê phántinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cáchmạng trong nước và trên thế giới

Hồ Chí Minh có sự khổ công học tập, rèn luyện chiếm lĩnh vốn tri

Trang 13

giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để tiếp cận với chủ nghĩa Mác Lênin với tư cách là học thuyết về cách mạng của giai cấp vô sản.

-Hồ Chí Minh có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến

sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một trái tim yêu thương nhân dân,thương người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổquốc, vì hạnh phúc của nhân dân Bác Hồ từ một người tìm đường cứunước đã trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo

Chính vì vậy, cùng với sự tiếp nhận những giá trị dân chủ của nhânloại, Người cũng đã nhìn thấy tư tưởng dân chủ tư sản và các mô hình xãhội của nó là những cái đã trở nên không còn phù hợp, không còn mới

mẽ đối với sự phát triển của nhân loại nữa Những năm bôn ba trong cácphong trào công nhân ở “chính quốc” và các nước thuộc địa, Người đãnhận thấy rõ điều đó Thực tế ở nước Nga, nơi mà phong trào công nhân,nhân dân lao động diễn ra mạnh mẽ nhằm xây dựng một chế độ mới, mộtnền dân chủ vô sản Đây còn là ước mơ, là khát khao của cả nhân loại.Bởi vì chỉ có nền dân chủ vô sản thì quyền lực mới thực sự là của nhândân, dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản

Với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã thực sự tìm cho mình mộttiếng nói chung, Người đã kế thừa, vận dụng đúng đắn, sáng tạo những

tư tưởng dân chủ vào trong các hoạt động của mình Người đã đưa vàotrong phong trào đấu tranh, lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng dântộc dân chủ nhân dân, nhằm thiết lập nên một chế độ dân chủ mới ở nướcta

Tóm lại, cùng với sự kết hợp những giá trị dân chủ trong những nétvăn hóa truyền thống của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại và khotàng lý luận chủ chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là nhân cách, phẩmchất, tài năng và trí tuệ của Hồ Chí Minh, đã làm cơ sở cho việc hìnhthành nên triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh

Trang 14

1.1.2 Quá trình phát triển

a) Giai đoạn từ 1890 đến 1920

Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước và lớn lên tronghoàn cảnh nước mất, nhà tan Từ nhỏ Người đã tiếp thu những truyềnthống của dân tộc, nền văn hiến của nước nhà và những tinh hoa văn hóaphương Đông Người lại được hưởng nền giáo huấn “yêu nước, thươngnòi” của gia đình, truyền thống đấu tranh bất khuất của đất Lam Hồng.Vậy nên, Hồ Chí Minh đã được trang bị cho mình những tư tưởng dânchủ trong văn hóa, truyền thống của dân tộc Ngoài vốn Nho học vàQuốc học, trong hành trang học vấn của Người còn có những hiểu biếtnhất định về nền văn hoá phương Tây, đặc biệt là nền văn hoá, văn minhPháp Hấp dẫn nhất đối với Người là câu châm ngôn về lý tưởng “Tự do,Bình đẳng, Bác ái” mà cách mạng Pháp đã khai sinh

Để thực hiện hoài bão của mình, Người đã đi và sống ở nhiều nướcthuộc châu Âu, châu Á, châu Phi, Châu Mỹ, tận mắt chứng kiến cuộcsống bị bóc lột, bị đàn áp của nhân dân các nước thuộc địa và cũng đãtrực tiếp tìm hiểu đời sống của nhân dân lao động các nước tư bản.Người rút ra kết luận rằng trên đời này chỉ có hai giống người: giốngngười bóc lột và giống người bị bóc lột và chỉ có một mối tình hữu ái -tình hữu ái vô sản là thật mà thôi

Năm 1919, thay mặt nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc – HồChí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây, những yêu sách của nhân dân AnNam đòi các quyền tự do, dân chủ, bình đẳng Người cũng đã khảo sát,

và tìm hiểu cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tham gia Đảng Xã hộiPháp (1919), tìm hiểu Cách mạng Tháng Mười Nga

Nhờ nhận thức rút ra từ thực tiễn gần 10 năm lăn lội tìm con đường

cứu nước nên khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân

Trang 15

đó những lời giải đáp đầy thuyết phục cho những câu hỏi của mình HồChí Minh quyết định đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin Sau đó, Người đãtham gia vào Quốc tế cộng sản, Người trở thành một trong những ngườisáng lập Đảng cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản đầu tiên củadân tộc Việt Nam Đây là bước nhảy vọt lớn trong nhận thức của Người,một sự chuyển biến về chất, kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nướcvới chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Đây là khoảng thời gian mà Hồ Chí Minh tìm tòi, lựa chọn chomình một con đường cứu nước đúng đắn, đồng thời là khoảng thời gianbước ngoặt trong quá trình hình thành của tư tưởng Hồ Chí Minh, trong

đó có tư tưởng dân chủ

b) Giai đoạn từ 1920 đến 1930

Đây là thời kỳ hình thành cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, trong

đó có tư tưởng dân chủ

Hồ Chí Minh đã có thời kỳ hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi,phong phú ở Pháp (1921-1923), ở Liên Xô (1923-1924), ở Trung Quốc

(1924-1927), ở Thái Lan (1928-1929) Trong thời gian này, tư tưởng

Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã hình thành cơ bản Hồ Chí

Minh đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận, kết hợp với tuyên truyền

tư tưởng giải phóng dân tộc và vận động tổ chức quần chúng đấu tranh,xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản ViệtNam

Những tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường

Kách mệnh (1927) và những bài viết của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này

đều đứng trên lập trường dân chủ đã tố cáo sự tàn bạo của chủ nghĩa thựcdân; tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào các nước thuộc địa và thể

Trang 16

hiện những quan điểm lớn và độc đáo, sáng tạo về con đường cách mạngViệt Nam.

c) Giai đoạn từ 1930 đến 1945

Giai đoạn này Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn, thửthách nhưng vẫn kiên định tư tưởng, quan điểm của mình về cách mạngViệt Nam, nêu cao tư tưởng độc lập, tự do và quyền dân tộc cơ bản

Từ năm 1934, Nguyễn Ái Quốc trở lại Mátxcơva và Người đã tìmthấy trong nghị quyết Đại hội VII Quốc tế cộng sản năm 1935 bướcchuyển hướng mới phù hợp với những suy nghĩ tìm tòi của mình vềđường lối, đặc biệt là vấn đề mặt trận dân tộc rộng rãi chống đế quốc, đòidân chủ cơm áo và hòa bình Chính điều đó đã dẫn đến thắng lợi củaCách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã

ra đời “Tuyên ngôn độc lập” do Hồ Chí Minh trịnh trọng công bố trướcquốc dân đồng bào và toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa – Nhà nước của dân, do dân, vì dân đã khẳng định về mặtpháp lý quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam Đây là một bướcphát triển mở rộng tư tưởng dân quyền và nhân quyền của cách mạng tưsản thành quyền tự do, độc lập của các dân tộc trên thế giới Người viết:

“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa đã cho họnhững quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, cóquyền được sống, quyền sung sướng, quyền tự do và mưu cầu hạnhphúc”[1; 34]

d) Giai đoạn từ 1945 đến 1969

Đây là giai đoạn tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh được đưa vào thựctiễn xây dựng chế độ dân chủ mới ở nước ta sau Cách mạng Tháng Támnăm 1945 Vì vậy Người đã lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành khángchiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân dân

Trang 17

cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám cho đến khi Người qua đời, tưtưởng dân chủ luôn luôn được phát huy rộng rãi trong tất cả các phongtrào trên tất cả các lĩnh vực Đến phút cuối trước khi Người ra đi vẫn đểlại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng - mộtbản tổng kết sâu sắc, nói lên những nội dung cơ bản, những tư tưởng,tình cảm lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạngViệt Nam, đặc biệt là xây dựng một nhà nước dân chủ, một nhà nướcthực sự của dân, do dân và vì dân

1.2 Những nội dung cơ bản trong triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh

1.2.1 Triết lý dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, danh nhânvăn hóa thế giới đã trọn đời phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân Cuộcđời của Người là một tấm gương sáng ngời về phẩm chất và đạo đứccách mạng Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động của mình, Người đã để lạinhững tư tưởng, những triết lý vô cùng giá trị Đó là nền tảng lý luậnvững chắc cho quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Một trong nhữngtriết lý có ý nghĩa quan trọng và đáng tự hào là triết lý dân chủ

Triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh là một hệ thống chỉnh thể, baoquát trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Với Người dân chủ là khátvọng ngàn đời của con người Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân

ta bởi vì hàng ngàn năm nay sống dưới chế độ phong kiến và gần mộttrăm năm dưới chế độ thực dân đều không biết đến dân chủ, tự do HồChí Minh quan niệm dân chủ có nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ

Dân là chủ là muốn nói đến quyền lực, địa vị của dân trong bộ máynhà nước và vai trò của nhân dân trong sự nghiệp phát triển xã hội Dânphải ở địa vị cao nhất của đất nước Người nói: “Nước ta là nước dân

Trang 18

chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”[16; 515] Dân là chủ sẽ đối lậpvới nô lệ, thần dân hay thảo dân trong chế độ phong kiến cũng như thânphận nô lệ trong tình cảnh bị thực dân thống trị Trong xã hội phongkiến, thì dân chủ được xem là chủ của dân, ông vua được xem là ThiênTử Cho nên tất cả thần dân phải cung phụng vua như bổn phận, cho dù

đó là minh quân hay bạo chúa Đó là mối quan hệ quân - thần Trong chế

độ chính trị mới, khi nhà nước dân chủ ra đời, nhìn trong hệ quy chiếuđịa vị quyền lực thì dân là chủ thể quyền lực, còn cán bộ, công chức làđầy tớ của nhân dân, là người phục vụ nhân dân Dân là chủ còn biểuhiện vị thế xã hội, tính tích cực chính trị và địa vị pháp lý của người dân

Dân làm chủ là phản ánh năng lực và trách nhiệm của nhân dânđều làm chủ chế độ, làm chủ đất nước Năng lực đó được biểu hiện ởtrình độ văn hóa, bản lĩnh, ý thức, trách nhiệm… Đó là nội hàm của nănglực dân chủ, thể hiện hành vi làm chủ Chính địa vị của người chủ vànăng lực làm chủ đã khái quát đầy đủ nhất trong nhận thức về dân chủcủa Hồ Chí Minh Làm chủ, đó là hoạt động của dân, biểu hiện năng lựcthực hành dân chủ của dân, trước hết là về trình độ phát triển ý thức dânchủ của dân với tư cách là chủ thể quyền lực thực hiện sự ủy quyền chânchính của mình vào thể chế nhà nước

Tuy Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền nhưng phải luôn lấy dân làmgốc Nghĩa là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo nhưng phải luôn để chodân làm chủ và dân là chủ Hai vế của mệnh đề luôn đi đôi với nhau, thểhiện vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của nhân dân Người nói: “baonhiêu quyền hạn đều của dân, mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơidân”[15; 698], Người cũng nhấn mạnh: “nhân dân có quyền lợi làm chủthì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân”[17; 452] Người luônluôn khẳng định: Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân,

Trang 19

dân là chủ thể của quyền lực và nhà nước là chủ thể đại diện cho dân.Quan niệm đó của Hồ Chí Minh phản ánh đúng nội dung bản chất quanniệm dân chủ chung trên thế giới được hình thành từ xa xưa: quyền hành

và lực lượng đều thuộc về nhân dân Xã hội nào bảo đảm cho điều đóđược thực thi thì đó là một xã hội thực sự dân chủ

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ bản chất của một nhà nước dân chủ là “mọingười có quyền làm, quyền nói”[21; 225], “nước ta là nước dân chủ, địa

vị cao nhất là dân, vì dân là người chủ”[16; 515] Người chỉ rõ: “Chúng

ta thà hy sinh làm kách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm saokách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong taymột bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mớiđược hạnh phúc”[12; 270] Người cũng đã khẳng định rằng:

“Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến chính phủ do dân cử ra

Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và mọi lực lượng đều ở nơi dân.”[15; 698] Điểm nổi bật trong triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh là luôn luôn

có cái cốt lõi: dân là gốc; dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết Dân làgốc thì dân phải là chủ Dân chủ phải được hiểu là quyền con người,quyền mưu cầu hạnh phúc như nhau…Mất cái lõi “dân là gốc” thì dânchủ sẽ thành vô nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Lãnh đạo mộtnước mà để cho dân nước mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnhphúc con người cũng là mất dân chủ Người đánh giá cao về vai trò củadân chủ: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân…”[17; 548] Muốn

Trang 20

vận động nhân dân thì điều cơ bản đầu tiên phải dân chủ Vì vậy, mở đầubài báo “Dân vận”, Người khẳng định “nước ta là nước dân chủ”[16;515]

Triết lý của Người về dân chủ đã khẳng định dân chủ là giá trị củanhân loại, là khát vọng sâu xa, cũng là thành tựu của cuộc đấu tranh lâudài của các dân tộc và của loài người Trong xã hội ta, xã hội do nhândân làm chủ thì dân chủ vừa là mục tiêu và động lực của sự phát triểnkinh tế - xã hội, vừa là cơ chế và phương thức để vận hành quyền lực củanhân dân trong quản lý nhà nước và tổ chức đời sống xã hội

1.2.2 Những phương diện biểu hiện triết lý dân chủ của Hồ Chí Minh

a) Dân chủ trong lĩnh vực chính trị

Dân chủ trong xã hội Việt Nam thể hiện trên tất cả các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội , trong đó dân chủ thể hiện trong lĩnhvực chính trị là quan trọng nhất và được biểu hiện tập trung trong hoạtđộng của Nhà nước do nhân dân thành lập, ủng hộ, xây dựng Điểm cốtlõi của dân chủ trong chính trị là chế độ uỷ quyền của dân thông qua bầucử, bằng phương thức dân chủ đại diện, bầu ra Chính phủ với chế độ phổthông đầu phiếu Khi Chính phủ đó ra đời, nhiệm vụ chủ yếu cấp bách làphải thực hiện dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân Đó là mục đích

căn bản sâu xa của dân chủ trong chính trị Triết lý Hồ Chí Minh về dân

chủ trong chính trị xuất phát từ truyền thống văn hoá dân tộc, được kếttinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là sự kết hợp nhữngtinh hoa giá trị dân chủ của văn hoá phương Đông và phương Tây, đặcbiệt là lý tưởng giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội, giải phóngcon người của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Khi nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị,cho thấy nổi lên những nội dung lớn sau:

Trang 21

- Giải phóng nhân dân về mặt chính trị để xác lập quyền lực chính trị của nhân dân

Tư tưởng giải phóng của Hồ Chí Minh rất triệt để, đó là giải phóngdân tộc để phát triển dân tộc, đưa cộng đồng dân tộc Việt Nam hoà nhậpvào cộng đồng dân tộc thế giới Trong sự nghiệp giải phóng này, trướchết là giải phóng về mặt chính trị để xác lập quyền tự do chính trị, quyền

tự quyết dân tộc, đảm bảo trên thực tế quyền lực chính trị của nhân dân, từ đótiến tới những cuộc giải phóng khác Chính vì thế mà Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Thứ nhất, đánh đổ chủ nghĩa thực dân, phong kiến làm chonước Nam hoàn toàn độc lập

Thứ hai, xây dựng chính phủ công nông

Thứ ba, xây dựng chính trị: dân quyền.”[10; 30]

- Xây dựng nền chính trị mới khoa học và cách mạng

+ Xác định chủ thể của nền chính trị mới, khoa học và cáchmạng

Sau khi đánh đổ chế độ chính trị chuyên chế thực dân và phongkiến, Hồ Chí Minh đã xác lập nền chính trị mới ở Việt Nam, đó là nềnchính trị thấm nhuần sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, thế giới quan

và hệ tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, thống nhất hữu cơgiữa tính chất giai cấp với tính chất và truyền thống dân tộc, kết hợpnhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế chân chính

Như vậy, nền chính trị mới mà Hồ Chí Minh xây dựng là nền chínhtrị mà trong đó nhân dân, những người lao động là chủ thể của quyền lựcchính trị Chủ thể đó được khẳng định rõ ràng trong nhà nước của dân,

do dân và vì dân Nhà nước của dân là do nhân dân đứng dậy đấu tranh

để giành lấy chính quyền về tay mình Đó là kết quả của sự hy sinh anh

Trang 22

dũng của biết bao nhiêu người con ưu tú của dân tộc, hy sinh trên máychém, trong nhà tù của thực dân đế quốc và trên chiến trường

Tư tưởng nhà nước của dân là điểm mấu chốt trong xác địnhchủ thể chính trị mới Điều này được thể hiện rõ ngay từ Quốc dân Đạihội Tân Trào lập ra Chính phủ Lâm thời Người quan niệm cần phải xâydựng một nhà nước mà: tất cả quyền bính trong nước là của toàn thểnhân dân Việt Nam “Việc nước là việc chung, mỗi một người con Rồngcháu Tiên, bất kỳ già, trẻ, gái trai, giàu nghèo quý tiện, đều phải gánhvác một phần”[14; 240-241]

Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hoà được thành lập thông qua tổng tuyển cử Việc Hồ Chí Minhchủ trương thực hiện tổng tuyển cử là một sáng kiến vĩ đại phản ánhđược tính chất dân chủ Nhà nước của dân, bảo đảm quyền làm chủ củanhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng mang bản chất giai cấp côngnhân, đó là điểm đặc sắc đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xáclập chủ thể của nền chính trị mới

Nhà nước do dân là việc hiện thực hoá quyền lực thuộc về nhândân, nhân dân là chủ thể chính trị mới, nhân dân uỷ quyền của mình chonhà nước bằng cách lựa chọn, bầu ra những đại biểu xứng đáng của mình

để thay mặt mình thực thi mọi công việc hàng ngày Nhà nước đó do dântổ chức nên, dân ủng hộ, giúp đỡ đóng thuế để nhà nước hoạt động Nhànước đó cũng do nhân dân phê bình, xây dựng, giúp đỡ Hồ Chí Minh đãtừng chỉ rõ: “Tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên

hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhândân”[18; 591], và “Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng thì dânchúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi và gây lên chính phủ khác”[12;270]

Trang 23

Nhà nước vì dân là nhà nước có trách nhiệm và chịu trách nhiệmtrước dân phải giải quyết cho được bốn vấn đề cốt yếu nhất là: “1 Làmcho dân có ăn; 2 Làm cho dân có mặc; 3 Làm cho dân có chổ ở; 4 Làmcho dân có học hành”[14; 152] Nhà nước vì dân là nhà nước bảo vệnhân dân, chống lại những tệ nạn vi phạm quyền dân chủ và lợi ích củanhân dân Hồ Chí Minh viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhândân làm chủ Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ từtrung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào vàngành nào đều phải là đầy tớ trung thành của nhân dân”[19; 323]

Như vậy, chủ thể của nền chính trị mới mà Hồ Chí Minh xác lậpphản ánh được tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn Tínhkhoa học là nắm vững tinh thần lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vậndụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn cáchmạng Việt Nam Tính cách mạng triệt để trong tư tưởng chính trị dânchủ của Hồ Chí Minh là ở chỗ, hướng sự nghiệp giải phóng đến triệt để,gắn liền giải phóng dân tộc trên lập trường giai cấp công nhân với giảiphóng giai cấp và giải phóng con người

Chủ thể chính trị mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thấmnhuần sâu sắc tính nhân văn của Người Đó là “lấy giá trị con người làcốt lõi, lấy giải phóng và phát triển con người và xã hội làm mục đích”,

“nước lấy dân làm gốc” mà căn dặn cán bộ, đảng viên phải làm điều lợicho dân, tránh điều hại cho dân, phải thấu hiểu tâm trạng và nguyện vọngcủa dân, tiếp thu ý kiến phê bình của dân và quyết tâm sửa chữa nhữngkhuyết điểm, sai lầm để phục vụ dân chúng ngày một tốt hơn Đó là nétđộc đáo của giá trị triết lý dân chủ Hồ Chí Minh

+ Xác lập quyền lực chính trị của nhân dân

Trang 24

* Nhân dân làm chủ nhà nước và xã hội để thực hiện quyền lựcchính trị của mình trong chế độ mới

Trong chế độ xã hội mới - chế độ xã hội chủ nghĩa thì động lựcquan trọng để phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị là con người, là quầnchúng nhân dân đã được giải phóng và làm chủ

Quyền lực của nhân dân được thể hiện trong hoạt động củanhà nước với tư cách nhân dân có quyền lực tối cao Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Ở nước ta, chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ… Nhândân là ông chủ nắm chính quyền Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặtmình thi hành chính quyền ấy Thế là dân chủ”[17; 218-219] Điều nàycho thấy trong chế độ mới, nhân dân làm chủ thông qua bầu cử, ứng cửvào nhà nước Thông qua bầu cử và ứng cử vào bộ máy nhà nước mànhân dân thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân trong nhà nước

và trước xã hội Đây là điều kiện để phát huy vai trò, địa vị và năng lựclàm chủ nước nhà của mỗi một người dân với tư cách người chủ

* Nhân dân làm chủ thông qua bầu cử, ứng cử vào Nhà nước

Thông qua bầu cử, ứng cử vào bộ máy nhà nước mà nhân dân thểhiện trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân trong Nhà nước và trước xãhội Đây là điều kiện để phát huy vai trò, địa vị và năng lực làm chủ nhànước của một người dân với tư cách người chủ

Đấu tranh cho dân chủ không chỉ lật đổ chế độ chuyên chế thựcdân và phong kiến mà còn xây dựng chế độ xã hội mới Việc người dân ýthức được nghĩa vụ công dân của mình để đi bỏ phiếu giống như ngườilính, người chiến sĩ trên mặt trận vậy Bởi vì: “Một lá phiếu cũng có sứclực như một viên đạn”[14,145] Mặt khác, việc tham gia bầu cử củangười dân để lựa chọn những người xứng đáng đảm nhận việc nước, “đó

Trang 25

là một cách rất hợp lý, để nhân dân lao động thực hành quyền thống trịcủa mình”[17,218].

* Quyền làm chủ của nhân dân còn thể hiện ở chỗ, nhân dân phátbiểu góp ý kiến của mình vào các công việc nhà nước

Nhà nước là một tổ chức do nhân dân lập ra để thay mặt nhân dânthực thi quyền lực cho nhân dân Thông qua bầu cử, nhân dân ủy thácquyền lực của mình cho nhà nước Khi quyền lực của nhân dân đã được

uỷ thác cho nhà nước, trở thành quyền lực nhà nước, thì việc thực hiệnquyền lực nhà nước phải minh bạch và để tránh lạm quyền, chuyênquyền, tha hóa về quyền lực Để làm được như vậy thì nhà nước phảichịu sự kiểm soát quyền lực từ phía nhân dân, phải lắng nghe sự đónggóp ý kiến phê bình của nhân dân Điều đó vừa phản ánh được tráchnhiệm của nhân dân đối với nhà nước; vừa thể hiện mối quan hệ giữa nhànước và nhân dân Hồ Chí Minh viết: “dân dùng đầy tớ làm việc chomình, thì phải giúp đỡ chính phủ Nếu chính phủ sai thì phải phê bình,phê bình nhưng không phải là chửi”[15; 60] Thực hiện như vậy mớithực sự là Chính phủ của nhân dân và do nhân dân lập ra Hồ Chí Minhchỉ rõ: “Không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực luợng, nếu không

có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường”[14; 56]

* Nhân dân làm chủ bằng cách tham gia vào công việc quản

lý nhà nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn công việc tham gia quản lý nhà nướcvới mục tiêu xây dựng CNXH và trách nhiệm của người làm chủ nướcnhà Người đã chỉ rõ mục đích tại sao người dân từ công nhân, nông dânđến trí thức và với người lao động khác phải tham gia vào quản lý nhànước Người nhấn mạnh: “Khác hẳn với trước kia, công nhân bây giờ làngười chủ đất nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống… Muốn thực hiện đúngvai trò làm chủ, giai cấp công nhân phải quản lý tốt kinh tế, quản lý tốt xí

Trang 26

nghiệp, làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao, của cải xãhội ngày càng nhiều với phẩm chất tốt, giá thành hạ”[21; 564]

Kế thừa tư tưởng của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọngviệc nhân dân tham gia quản lý nhà nước Khi nói về dân chủ vô sản,V.I.Lênin chỉ rõ là phải làm thế nào để cho nhân dân thực sự học tậpđược công tác quản lý… Thấm nhuần tư tưởng đó của Lênin, Hồ ChíMinh đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng ViệtNam khi chỉ đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc Người viết:

“Để thực hiện tốt nhiệm vụ cách mạng, nhà nước ta phải phát triển quyềndân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực vàsức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực

sự tham gia quản lý công việc nhà nước, ra sức xây dựng CNXH và đấutranh thực hiện thống nhất nước nhà”[18; 590]

Hồ Chí Minh còn khẳng định rằng: “Chỉ có chế độ của chúng tamới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động,bảo đảo mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật

sự tham gia quản lý Nhà nước Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khảnăng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xãhội, làm cho đất nước ta mạnh, dân ta giàu:[18; 593]

* Kiểm tra giám sát, kiểm tra cơ quan công quyền, kiểm tra hành

vi đạo đức công chức

Việc nhân dân tham gia giám sát, kiểm tra cơ quan công quyền

và kiểm tra hành vi đạo đức công chức là thể hiện nhiệm vụ sinh hoạtchính trị rộng rãi của nhân dân Đó là cách tốt nhất để ngày càng hoànthiện nhà nước, phát huy tính tích cực và sức sáng tạo, chủ động củanhân dân trong việc xác định địa vị, trách nhiệm và năng lực làm chủ củamình Đồng thời kiểm tra, giám sát lại tạo điều kiện cho chính phủ thực

Trang 27

chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân…”[17; 362] Đó là một chính phủ thực sự của dân, do dân, vì dân

361-Mối quan hệ giữa nhân dân và Chính phủ thì nhân dân phải thểhiện được năng lực làm chủ của mình, trách nhiệm của mình thông quasinh hoạt chính trị Thực hiện tốt mối quan hệ này là đúng với nguyên lýdân chủ trong xác lập trách nhiệm và nghĩa vụ giữa nhân dân với chínhphủ Tức là Chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ những gì thuộc vềnhân dân, ngược lại những cái gì thuộc về thẩm quyền quản lý điều hànhcủa Chính phủ thì nhân dân phải có nghĩa vụ thi hành cho đúng Nhândân có quyền làm chủ thì phải có nghĩa vụ của người chủ

Triết lý của Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị có giá trị lýluận và thực tiễn vô cùng sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam qua cácthời kỳ Quán triệt những nội dung của tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh,Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng đã kế thừa,vận dụng và không ngừng phát triển sáng tạo tư tưởng của Người nhằmmục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”,đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Đây là mục tiêu xuyên suốt, mụctiêu cao cả và là điểm tựa về đường lối, chủ trương, chính sách để đoànkết toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Thực hiện mục tiêu xuyên suốt đó cũng chính là vận dụng vàphát triển những kiến giải sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ

b) Dân chủ trong kinh tế

Điểm cốt lõi của dân chủ trong kinh tế là vấn đề lợi ích Theo HồChí Minh, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân thì việc to, việc nhỏ đềunhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân với tinh thần “bao nhiêu lợiích đều vì dân”

Trang 28

Những tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh thường được diễn đạtbằng những ngôn từ mộc mạc, giản dị, để ngay cả những người dân bìnhthường cũng hiểu được.

Nội dung tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực kinh tếđược thể hiện trong vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất:

Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Trong nước ta hiện nay có những hìnhthức sở hữu chính như sau:

+ Sở hữu Nhà nước tức là của toàn dân

+ Sở hữu của hợp tác xã tức là của tập thể nhân dân lao động

+ Sở hữu của những người lao động riêng lẻ

+ Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”[18;588]

Riêng đối với các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân, Hồ ChíMinh chỉ rõ rằng:

“+ Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, nhànước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn

và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn…

+ Đối với những nhà tư bản công thương, nhà nước không xóa

bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sứchướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế, dân sinh, phù hợpvới kế hoạch của nhà nước”[18; 598]

Quyền của người sở hữu là sự đảm bảo cho các tư liệu sản xuất đều

có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ và chịu trách nhiệm vềkết quả sản xuất của mình

Phát triển kinh tế có nhiệm vụ vô cùng quan trọng, đóng góp vaitrò trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Chính vì vậy, trongquá trình phát triển đất nước, ngoài việc phát huy tối đa những yếu tố

Trang 29

giới là việc làm có ý nghĩa Người kêu gọi: “Các bạn, người buôn bán,kinh doanh… đã chung sống với Việt Nam Các bạn đã khai cơ lậpnghiệp ở Việt Nam Những hoạt động chính đáng về kinh tế và văn hóacủa các bạn cũng có lợi cho Việt Nam Vì vậy, các bạn cứ yên lòng làm

ăn như thường Nhân dân và chính phủ Việt Nam sẽ giúp đỡ và bảo hộcác bạn”[17; 361]

Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ trong lĩnh vực kinh

tế là đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân đối với quá trình sản xuất, màtrước hết là sự làm chủ của họ đối với các hình thức sở hữu về tư liệu sảnxuất trong các thành phần kinh tế, phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa Tổ chức và quản lý sản xuất

Từ quyền làm chủ tư liệu sản xuất tạo cơ sở cho nhân dân ta thựchiện quyền làm chủ trong lĩnh vực tổ chức và quản lý sản xuất

Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực này thể hiệntrước hết trong việc hình thành một cơ cấu kinh tế nhằm tạo sự phát triểncân đối giữa các ngành kinh tế, giữa các vùng kinh tế Hồ Chí Minh nhấnmạnh “nước ta vốn là nước nông nghiệp lạc hậu Đó là chỗ bắt đầu đi củanước ta”[19; 40] Người giải thích “nông nghiệp chiếm bộ phận lớn trongnền kinh tế mà sản xuất nhỏ lại chiếm bộ phận lớn trong nông nghiệp Vìnông nghiệp là một nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời

là nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhấthiện nay, cho nên cần phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có

cơ sở để phát triển các ngành khác”[30; 14]

Khi đề cập đến vai trò của dân trong quản lý sản xuất Hồ Chí Minhnói: “Vai trò của công nhân trong tham gia quản lý, đó là biểu hiệnquyền làm chủ tập thể của công nhân, viên chức trong mọi hoạt động của

xí nghiệp[21; 567-568] Người còn nhấn mạnh: “Muốn thực hiện đúngvai trò làm chủ, giai cấp công nhân phải quản lý tốt kinh tế, quản lý tốt

Trang 30

xí nghiệp, làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao, của cải xãhội ngày càng nhiều với phẩm chất tốt, giá thành hạ”[21; 564]

c) Dân chủ trong lĩnh vực văn hóa – xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, toàn bộ di sản tưtưởng của Người là một kho báu văn hóa của dân tộc Việt Nam Trong

đó tư tưởng của Người về văn hóa chiếm một vị trí hết sức quan trọng

Đó là một hệ thống các quan điểm lý luận mang tính khoa học và cáchmạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam Được kết tinh vàchắt lọc những giá trị cả văn hóa phương Đông, phương Tây, của truyềnthống và hiện đại, của dân tộc và quốc tế Theo Hồ Chí Minh, văn hóa có

ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vị trí đặc biệt quan trọng Theo Người:Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng; những cơ sở hạ tầng của xã hội cókiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và đủ điều kiện phát triểnđược; có thực mới vực được đạo; xã hội thế nào thì văn hóa thế ấy.Nhưng mặt khác, đến lượt mình, văn hóa là động lực của sự phát triển xãhội, phát triển kinh tế; văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi

Văn hóa được xây dựng và bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịchsử, nó làm nên nền tảng tinh thần của một xã hội, giữ vai trò quan trọngvừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.Trong rất nhiều bài nói và bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đếnviệc phải giữ gìn và phát huy những truyền thống, bản sắc văn hóa dântộc Đó là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộcViệt Nam được hun đúc nên qua hàng ngàn năm lịch sử Đó là lòng yêunước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộngđồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng đạo lý, đức tính cần cù sáng tạotrong lao động, dũng cảm trong chiến đấu… Bên cạnh việc giữ gìn vàphát huy bản sắc dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, biết

Trang 31

chọn lọc, sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh và đặc tính của dân tộcmình Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tấm gương cho mọi thế hệ ViệtNam, trong đó có tuổi trẻ noi theo.

Với nhận thức là văn hóa có nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc và nhândân, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ quan điểm Cách mạng là sựnghiệp của quần chúng và nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất làdân Vì vậy, văn hóa cũng phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm: Vì nhândân phục vụ và phát huy sứ mạng của toàn dân làm văn hóa Làm chovăn hóa thấm sâu vào đời sống và hoạt động xã hội, vào mọi lĩnh vựcsinh hoạt và quan hệ con người là yêu cầu rất cao, là nhiệm vụ khó khăn

và lâu dài Chỉ khi nào được mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức chínhtrị, xã hội, các đoàn thể, tôn giáo, nhà trường và gia đình… tham gia tíchcực, thường xuyên, liên tục, bền bỉ thì văn hóa mới có thể thực hiện đượcnhững nhiệm vụ đã đề ra Cụ thể như sau:

- Văn hóa phục vụ nhân dân

Xuyên suốt sự nghiệp văn hóa của mình, Hồ Chí Minh luôn tâmniệm lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cho công tác văn hóa Hồ ChíMinh luôn yêu cầu người làm văn hóa phải luôn đặt câu hỏi sáng tác choai? và về cái gì?

Hồ Chí Minh nói, văn hóa phải phục vụ nhân dân, “không thể nóinghệ thuật vị nghệ thuật mà cần phải nói rõ văn hóa phục vụ công - nông

- binh”, “văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việcnâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng”[19; 59] Để thựchiện được những nhiệm vụ đó, “văn hóa phải gắn liền với lao động sảnxuất, văn hóa xa đời sống, xa lao động là văn hóa suông”[19; 59]

- Văn hóa dân tộc, khoa học và đại chúng

Hồ Chí Minh cho rằng, nhiệm vụ của nhà nước dân chủ trong xâydựng văn hóa dân tộc là “phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa

Trang 32

học và đại chúng Phải nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân… Phảichống văn hóa nô lệ của đế quốc, phong kiến”[17; 220].

Việc tiếp thu văn hóa nhân loại như vậy phải thông qua những đạibiểu có trình độ, đủ để phân biệt được những gì là tinh hoa với những gìkhông phải tinh hoa, những gì có thể và cần tiếp thu hoặc ngược lại Sựthiếu hiểu biết đối với các nền văn hóa khác, quan điểm mơ hồ trong vấn

đề tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại có thể dẫn đến hai khuynh hướnghoặc “sùng ngoại” hoặc “bài ngoại” Cả hai khuynh hướng này trước kiađều đã có ở nước ta, đến nay vẫn không phải không có Do bảo thủ nênmọi cái của nước ngoài đều e ngại, đều cho là của chủ nghĩa tư bản, nênkhông cần nghiên cứu, không thể tiếp nhận Ngược lại, do “sùng ngoài”nên đã đồng nhất hiện đại hóa với “Tây Phương hóa”, mọi cái mới củanước ngoài đều coi là “tiên tiến, hiện đại”, đều có thể “ăn sống nuốttươi”, không phân biệt hay dở, tốt xấu, tiến bộ hay chỉ làm tha hóa conngười Điều này có thể thấy khá rõ trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ,trong lối sống, và trong các lĩnh vực khác nữa

Một mặt tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng mặt khác, phảigóp phần làm phong phú thêm văn hóa nhân loại Đó là quan niệm tronglĩnh vực văn hóa mà Hồ Chí Minh thường dặn cán bộ: Chúng ta có thểbắt chước cái hay của bất kỳ nước nào ở Âu – Mỹ, nhưng điều cốt yếu làsáng tác, đã hưởng cái hay của người thì cũng phải có cái hay cho người

ta hưởng, đừng chịu vay mà không trả Trong văn hóa, nếu chỉ muốn

“viện trợ không hoàn lại”, thì chính điều đó không chỉ là một thái độ rất khôngvăn hóa mà còn không thể phát huy được bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc

- Phát triển văn hoá các dân tộc

Các dân tộc ít người ở Việt Nam được Hồ Chí Minh dành một sựquan tâm đặc biệt và một sự cảm thông sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực

Trang 33

biểu nhất của khối đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bàocác dân tộc ít người trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đấtnước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Người nói: “trước kia bọn thực dân phong kiến nắm quyền làmchủ, chúng bắt đồng bào ta làm nô lệ Ngày nay, chế độ ta là chế độ dânchủ, tức là tất cả đồng bào các dân tộc đều là người chủ nước nhà”[19;326] Hồ Chí Minh luôn chủ trương phải làm cho miền núi tiến kịp miềnxuôi, làm cho đồng bào các dân tộc ít người được hưởng ngày càng đầy

đủ hơn những quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hoá “Các dân tộc cóquyền bình đẳng Chính phủ sẽ gắng sức giúp cho các dân tộc thiểu số

về mọi mặt Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý tới trình độ học thức chodân tộc Các dân tộc được tự do bày tỏ nguyện vọng và phải cố gắng đểcùng giành cho bằng được độc lập hoàn toàn, tự do và thái bình”[14;110-111] Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng bào Kinh và đồng bào cácdân tộc thiểu số đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt.Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau giang sơn và chính phủ là giang sơn và chính phủ chung của chúng ta.Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ giữ gìn nước non

ta, để ủng hộ chính phủ ta

Trên lĩnh vực giáo dục, Hồ Chí Minh rất quan tâm chỉ đạo

sự nghiệp phát triển giáo dục miền núi, khôi phục và xây dựng hệ thốngchữ viết cho các dân tộc ít người Người căn dặn các cán bộ đi công tácmiền núi phải tôn trọng tâm lý, phong tục tập quán, tiếng nói của đồngbào các dân tộc : “Nước ta có nhiều dân tộc, đấy là điểm tốt Mỗi dân tộc

có một tiếng nói riêng, có khi hai dân tộc một tiếng nói Cán bộ đi làmviệc ở chỗ nào, phải học tiếng ở đấy”[20; 137]

Quan điểm và tình cảm của Bác Hồ với đồng bào các dân tộc, cũngnhư đối với nhân dân lao động thật vô cùng sâu nặng Đó là sự kết tinh

Trang 34

và thấm đượm tình thương yêu, kính trọng, biết ơn của Bác Hồ đối vớinhân dân mà cuộc đời Bác đã từng trải nghiệm và sự nghiệp Bác gâydựng Trước lúc Bác đi xa, trong di chúc Bác viết: Nhân dân lao động ta

ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độphong kiến và thực dân áp bức, bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiếntranh Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù Từngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành vớiĐảng Bác căn dặn Đảng ta nhiều việc sau khi cuộc kháng chiến chốngMỹ cứu nước thắng lợi, song công việc Bác đặc biệt quan tâm là: Đảngcần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm khôngngừng nâng cao đời sống của nhân dân

- Sử dụng trí thức và nhân tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đại trí thức, một danh nhân văn hoáthế giới, một thiên tài của nhân loại trong thế kỷ 20 Vấn đề trí thức luôn

là vấn đề được Người hết sức quan tâm với những quan điểm thiết thực

và cụ thể Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức luôn soi đường cho chúng talàm tốt hơn nữa công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng trí thức

để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng cho sựnghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hồ Chí Minh chú ý đặc biệt tới vị trí và vai trò của trí thức trongtiến trình cách mạng và xây dựng đất nước Người nói: “Là một bộ phậntrong lực lượng cách mạng, trí thức có nhiệm vụ thi đua phụng sự tổquốc, phục vụ nhân dân Vì vậy, Đảng và Chính phủ ta rất quý trọngnhững người trí thức của nhân dân, vì nhân dân”[15; 170] Sự thật đúngnhư vậy Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, rõ ràng có sự đóng gópxứng đáng của giới trí thức Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân

Trang 35

với kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến Trong xây dựng chủ nghĩa xãhội, vai trò của trí thức càng lớn.

Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và nhân tài làtấm lòng thiết tha, thật sự cầu hiền Chỉ trong vòng một năm sau Cáchmạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hai bài đăng trênbáo Cứu quốc: “Nhân tài và kiến quốc” (14/11/1945) và “Tìm người tàiđức” (20/11/1946) Đó là Chiếu cầu hiền của cách mạng, với những lời lẽchân thành, lay động con tim của đông đảo trí thức lúc bấy giờ

Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng “Trí thức Việt Nam có đầu ócdân tộc và đầu óc cách mạng” và “cách mạng rất cần trí thức và chỉ cócách mạng mới biết tôn trọng tri thức” Tuy nhiên, Người cũng chỉ ra rất

cụ thể: “Nhưng trọng trí thức là thế nào? Không phải tất cả đều là trọng.Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ nhândân”[15; 171]

Trên thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đào tạo, phát hiện, cảmhoá, trọng dụng nhiều nhà trí thức, nhân tài như: Huỳnh Thúc Kháng,Phan Kế Toại, Phan Anh, Đặng Thai Mai, Đặng Văn Tố…; những nhàkhoa học nổi tiếng như: GS Trần Đại Nghĩa, GS Hồ Đắc Di, GS TônThất Tùng, GS Đặng Văn Ngữ, GS Trần Hữu Tước, GS Tạ Quang Bửu,

GS Nguyễn Xuyến, GS.VS Nguyễn Khánh Toàn, GS Nguyễn VănHuyên, Tiến sĩ Lương Đình Của, GS Hoàng Minh Giám, GS Nguỵ NhưKonTum, Bác sỹ Phạm Ngọc Thạch, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát…;những nhà chính trị, quân sự tài ba như: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng,

Võ Nguyên Giáp,…

- Xây dựng nền giáo dục và đời sống văn hóa mới

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có

ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng ViệtNam Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công

Trang 36

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ở nước ta, tư tưởng đó củaNgười càng có ý nghĩa thiết thực.

Tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh không bó hẹp trong việc giáo dụctri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vôcùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa

“hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ

Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[14; 8].Người xác định nhiệm vụ tiêu diệt “giặc dốt” cũng cấp thiết và quantrọng như diệt “giặc đói”, “giặc ngoại xâm” Trực tiếp xây dựng nền giáodục mới, Hồ Chí Minh xác định rõ mục tiêu giáo dục “một nền giáo dục

sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước ViệtNam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn cócủa các em”[14; 32], “non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được haykhông, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với cáccường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở cônghọc tập của các em”[14; 33] Khẳng định “giáo dục là sự nghiệp củaquần chúng”, do vậy Hồ Chí Minh đề ra phương châm “cần phải pháthuy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kếtchặt chẽ giữa thầy và trò, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhândân, để hoàn thành thắng lợi sự nghiệp đó”[21; 403]

Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh

là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới Nhưng doyêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ranhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phối hợp Ở thời kỳ chuẩn bị thành lậpĐảng, Người tập trung vào việc triển khai các lớp huấn luyện tại QuảngChâu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ về con

Trang 37

quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Người kêu gọi sửa đổi giáodục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc Tất cảgiáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc Bước sang giai đoạncách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắn liềnvới tình hình mới Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội,làm chủ sản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học

Về phương pháp giáo dục, tuy Hồ Chí Minh không để lại chochúng ta một tác phẩm, một hệ thống lý luận về phương pháp giáo dục,nhưng những việc làm thiết thực, những bài viết ngắn gọn, súc tích củaNgười đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực Người lấynguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bảncho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục Nguyên tắc này đượcNgười sử dụng trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên,công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… Nó được coinhư “kim chỉ nam” để lồng dẫn nhận thức, hành động và bồi dưỡng tinhthần yêu nước cho tất cả mọi người Hơn nữa, nguyên tắc này có tínhchất quyết định trong việc chuyển hướng giáo dục và trở thành đặc trưngcủa nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Người nhấn mạnh rằng học phải suynghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành, họcvới hành phải kết hợp với nhau

Cùng với việc xây dựng một nền giáo dục mới, Hồ Chí Minh chủtrương xây dựng đời sống văn hóa mới của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân

Đời sống văn hoá mới được Hồ Chí Minh nêu ra với ba nội dung:đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới Để xây dựng đời sống mớitrước hết phải xây dựng đạo đức mới Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồngChính phủ, Người đã nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm chính

Trang 38

Lối sống mới, theo Hồ Chí Minh là lối sống có lý tưởng, có đạođức Để xây dựng lối sống mới, Hồ Chí Minh yêu cầu phải sửa đổi “cách

ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại” Xây dựng nếp sống mới - nếp sốngvăn minh theo Người là quá trình làm cho lối sống mới dần dần thànhthói quen Thành phong tục tập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển thuầnphong mỹ tục lâu đời của dân tộc

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, đời sống mới không phải cái gì cũ cũng

bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ Cái

gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì sửa đổi Cái gì cũ mà tốt thìphát triển thêm Cái gì mới mà hay thì phải làm, phải bổ sung

Xây dựng đời sống văn hóa mới là một phong trào văn hóa có tínhnhân dân rộng lớn nhất vì lợi ích của toàn dân Nó thực sự là một phong tràodân chủ cả về nội dung và hình thức, nó thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh vềdân chủ trong lĩnh vực văn hóa.

d) Thực hành dân chủ

Thực hành dân chủ là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi

vì dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Dân chủ càngđược đảm bảo thì cách mạng mới thành công và thành công triệt để

Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là sự huy động và sử dụng đượctối đa quyền hạn, lực lượng của toàn dân để thực hiện những nhiệm vụ củacách mạng vì lợi ích của nhân dân ở tất cả các thời kì phát triển Vai trò quantrọng đó được Hồ Chí Minh thực hiện rất thành công trong thực tiễn cáchmạng nước ta

- Xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ rộng rãi.

Ngay trong Chương trình của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh(Việt Minh), Hồ Chí Minh đã xây dựng một chương trình thực hiện mục tiêu

Trang 39

dân chủ, xác định rõ quyền và trách nhiệm của nhân dân trước vận mệnh củanước nhà, gắn độc lập, tự do của tổ quốc với quyền lợi của từng người dân.

Dân chủ ở nước Việt Nam mới được thể hiện và được bảo đảm trongđạo luật cơ bản nhất là các bản Hiến pháp do Hồ Chí Minh chủ trì xây dựng

và được Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đầu tiêncủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thể hiện rõ nhất và thấm đậm nhất tưtưởng dân chủ của Hồ Chí Minh Hiến pháp năm 1946 đặt cơ sở pháp lý đầutiên cho việc thực hiện quyền lực của nhân dân

Với trách nhiệm chủ trì việc soạn thảo Hiến pháp năm 1959,

Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định quan điểm đảm bảo dân chủ trong việcxác lập quyền lực chính trị của nhân dân trong Hiến pháp Cơ chế thực hiệnquyền lực của nhân dân trong bản Hiến pháp năm 1959 được phát triển, cụthể hóa thêm Điều đó được thể hiện rõ ở các điều về quyền lực của nhândân, vấn đề đại biểu của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân vàđặc biệt ở Hiến pháp cũng xác định việc tất cả các cơ quan nhà nước đềuphải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến vàchịu sự kiểm soát của nhân dân Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đềuphải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và phápluật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân

Người chú trọng đảm bảo quyền lực của các giai cấp, tầng lớp, các

cộng đồng dân tộc trong thể chế chính trị nước ta

Hồ Chí Minh chú trọng đảm bảo quyền lực của các giai cấp, tầng lớp,các cộng đồng dân tộc trong thể chế chính trị nước ta Đối với giai cấp côngnhân, Hồ Chí Minh khẳng định rằng công nhân có quyền thực sự trong xínghiệp, và tự làm chủ về tư liệu sản xuất, học phải được làm chủ việc quản

lý, làm chủ trong việc phân phối sản phẩm lao động

Đối với nông dân, Hồ Chí Minh cho rằng, bao giờ ở nông thôn, người

Trang 40

dân thật sự nắm chính quyền, nông dân được giải phóng thì mới có dân chủthực sự Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của tầng lớp trí thức trong tiếntrình dân chủ hóa ở Việt Nam và cho rằng, lao động trí óc có nhiệm vụ rấtquan trọng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc

Người đặc biệt quan tâm tới vấn đề giải phóng phụ nữ để phụ nữ bìnhđẳng với nam giới, thực sự tham gia tích cực với các công việc xã hội Ngườicũng đề cao vai trò làm chủ đất nước của thanh, thiếu niên

Đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, Hồ Chí Minh quantâm đến việc bảo đảm quyền làm chủ của tất cả nhân dân các dân tộc và chorằng, phải làm cho các dân tộc làm chủ đất nước, mau chóng phát triển kinh

tế, văn hóa, thực hiện các dân tộc bình đẳng về mọi mặt

- Xây dựng các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh để đảm bảo dân chủ trong xã hội

Trong việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam, Hồ Chí Minh chú trọngtới việc xây dựng các tổ chức đảm bảo dân chủ trong xã hội:

+ Xây dựng Đảng với tư cách là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhànước và lãnh đạo toàn xã hội

+ Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân

+ Xây dựng Mặt trận với vai trò là liên minh chính trị tự nguyện của tất cảcác tổ chức chính trị - xã hội vì mục tiêu chung là sự phát triển của đất nước

- Xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi khác của nhân dân

Trong đó, quan điểm nhất quán của Người là có đảm bảo và phát huydân chủ trong Đảng thì mới đảm bảo được dân chủ của toàn xã hội Đó làquan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh Quyền lãnh đạo của Đảng được xuấtphát từ sự ủy quyền của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân dân.Đảng trở thành hạt nhân chính trị của toàn xã hội và là nhân tố tiên quyết để

Ngày đăng: 17/08/2017, 18:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w