1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Triết lý nhân sinh của truyền thuyết về thời đại hùng vương tiểu luận cao học

30 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 168,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời đại ngày nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang bước vào xu thế Hội nhập hóa Quốc tế hóa trên toàn thế giới. Xu thế này đã đem lại cho Việt Nam những thuật lợi to lớn nhưng bên cạnh đó cũng gặp không ít những khó khăn thử thách. Quá trình Hội nhập hóa Quốc tế hóa một mặt đã làm cho con người phải đối diện với những “ luồng” giá trị văn hóa tốt xấu lẫn lộn, làm cho bản sắc dân tộc ngày một phai nhạt trước “ cơn lốc ” của công cuộc hội nhập quốc tế của đất nước. Mặt khác, quá trình này còn làm cho những thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước núp dưới chiêu bài dân tộc, tôn giáo để có cơ hội thực hiện các hành động chống phá Nhà nước ta. Đứng trước thực trạng ấy, Việt Nam cần phải khắc phục những khó khăn, hạn chế đồng thời phát huy những nhân tố tích cực để đưa đất nước ta không ngừng phát triển đi lên. Và để làm được điều đó thì trước hết chúng ta phải quan tâm, chú trọng và phát triển tới rất nhiều vấn đề bao gồm cả kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị… Đặc biệt trong đó vấn đề “ khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” là vấn đề được Đảng và nhân dân ta hết sức quan tâm và được đặt lên hàng đầu nhằm mục đích nâng cao tinh thần đoàn kết, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam, đồng thời chống lại những âm mưu phá hoại của kẻ thù trong giai đoạn hiện nay. Và vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” đã được Đảng và Nhà nước ta đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học của đất nước ta những năm gần đây. Nhất là khi nghiên cứu về thời đại Hùng Vương Thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử phát triển dân tộc Việt Nam ta. Thời đại Hùng Vương là thời kì đầu dựng nước, mặc dù trình độ kinh tế, văn hóa xã hội còn ở mức sơ khai nhưng trong quá trình phát triển của lịch sử đã tạo dựng nên truyền thống quý báu của dân tộc ta: cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết chiến thắng thiên tai dịch họa và dũng cảm kiên cường trong đấu trang chống giặc ngoại xâm. Những truyền thống quý báu đó là nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn thử thách trong thời đại ngày nay, để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước ngày càng hùng mạnh và có vị thế trên trường quốc tế. Nhìn nhận về thời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc, sách lịch sử Việt Nam của nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1971 có viết: “ Thời kỳ Văn Lang, thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn trọng yếu của lịch sử Việt Nam. Chính trong thời kỳ này đã xây dựng nên nền tảng dân tộc Việt Nam, nền tảng Văn hóa Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam”. Để tôn vinh thời đại mở đầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, đề cao những truyền thống văn hóa quý báu đã có từ thời đại các Vua Hùng, mà Bác Hồ kính yêu đã nhắc nhở chúng ta trong câu nói bất hủ của Người: “ Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Thời đại Hùng Vương gắn liền với những truyền thuyết cổ xưa nhất của dân tộc Việt Nam. Những truyền thuyết về thời đại Hùng Vương đã đi sâu đời sống, ăn sâu trở thành những hình thức tín ngưỡng truyền thống của dân tộc ta như tôn thờ tổ tiên, tôn thờ những vị anh hùng có công chống giặc ngoại xâm… gắn liền với nó là những lễ hội truyền thống của dân tộc để nhớ về cội nguồn của dân tộc ta tiêu biểu như: Lễ hội Đền Hùng; Lễ hội Thánh Gióng; Lễ hội Bánh ChưngBánh Giầy…đều là những lễ hội bắt nguồn từ những truyền thuyết về Thời đại Hùng Vương. Đặc biệt để tưởng nhớ tổ tiên, từ năm 2008 Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 10 tháng 3(âm lịch) là ngày Quốc giỗ của dân tộc, mọi người dân trong cả nước được nghỉ và cứ 5 năm một lần Giỗ tổ Hùng Vương sẽ do Trưng ương tổ chức. Và các lễ hội bắt nguồn từ truyền thuyết Hùng Vương ngày nay đã trở thành những lễ hội truyền thống mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam. Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được xem là một trong những vấn đề nhạy cảm nhất trong giai đoạn hiện nay vì nó là nhu cầu tinh thần không thể thiếu của một bộ phận nhân dân trong xã hội. Song sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo lại dựa trên cơ sở của thế giới siêu nhiên nào đó cho nên nó rất dễ bị các thế lực phản động lợi dụng vì mục đích xấu. Vì vậy, để giải quyết tốt vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta cần phải có những chính sách mềm dẻo và khéo léo để vừa tôn vinh đức tin của các tín đồ, vừa dẫn dắt họ theo lẽ phải, theo chân lý đúng đắn dựa trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng Mác để họ có cái nhìn đúng đắn về những giá trị văn hóa truyền thống quý báu mà cha ông ta thế hệ trước đã để lại cho chúng ta. Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề trên, cùng với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ vào việc tìm hiểu những triết lý nhân văn mà truyền thuyết Hùng Vương để lại đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy và quảng bá truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng…của quê hương đến mọi miền đất nước và bạn bè thế giới. Vì thế mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành triết học.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang

bước vào xu thế Hội nhập hóa - Quốc tế hóa trên toàn thế giới Xu thế này

đã đem lại cho Việt Nam những thuật lợi to lớn nhưng bên cạnh đó cũng gặpkhông ít những khó khăn thử thách Quá trình Hội nhập hóa - Quốc tế hóamột mặt đã làm cho con người phải đối diện với những “ luồng” giá trị vănhóa tốt xấu lẫn lộn, làm cho bản sắc dân tộc ngày một phai nhạt trước “ cơnlốc ” của công cuộc hội nhập quốc tế của đất nước Mặt khác, quá trình nàycòn làm cho những thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nướcnúp dưới chiêu bài dân tộc, tôn giáo để có cơ hội thực hiện các hành động

chống phá Nhà nước ta

Đứng trước thực trạng ấy, Việt Nam cần phải khắc phục những khó

khăn, hạn chế đồng thời phát huy những nhân tố tích cực để đưa đất nước takhông ngừng phát triển đi lên Và để làm được điều đó thì trước hết chúng taphải quan tâm, chú trọng và phát triển tới rất nhiều vấn đề bao gồm cả kinh

tế, xã hội, văn hóa, chính trị… Đặc biệt trong đó vấn đề “ khơi dậy ý thứccội nguồn của dân tộc Việt Nam” là vấn đề được Đảng và nhân dân ta hếtsức quan tâm và được đặt lên hàng đầu nhằm mục đích nâng cao tinh thầnđoàn kết, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi người dân Việt Nam, đồngthời chống lại những âm mưu phá hoại của kẻ thù trong giai đoạn hiện nay

Và vấn đề “khơi dậy ý thức cội nguồn của dân tộc Việt Nam” đã đượcĐảng và Nhà nước ta đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu khoa học củađất nước ta những năm gần đây Nhất là khi nghiên cứu về thời đại Hùng

Trang 2

Vương - Thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử phát triểndân tộc Việt Nam ta.

Thời đại Hùng Vương là thời kì đầu dựng nước, mặc dù trình độ kinh tế,văn hóa xã hội còn ở mức sơ khai nhưng trong quá trình phát triển của lịch

sử đã tạo dựng nên truyền thống quý báu của dân tộc ta: cần cù, sáng tạotrong lao động sản xuất, đoàn kết chiến thắng thiên tai dịch họa và dũng cảmkiên cường trong đấu trang chống giặc ngoại xâm Những truyền thống quýbáu đó là nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên mọi khó khăn thử tháchtrong thời đại ngày nay, để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây dựng đấtnước ngày càng hùng mạnh và có vị thế trên trường quốc tế Nhìn nhận vềthời đại Hùng Vương trong lịch sử dân tộc, sách lịch sử Việt Nam của nhàxuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1971 có viết: “ Thời kỳ Văn Lang,thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn trọng yếu của lịch sử Việt Nam Chínhtrong thời kỳ này đã xây dựng nên nền tảng dân tộc Việt Nam, nền tảng Vănhóa Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam” Để tôn vinh thời đại mởđầu dựng nước của dân tộc Việt Nam, đề cao những truyền thống văn hóaquý báu đã có từ thời đại các Vua Hùng, mà Bác Hồ kính yêu đã nhắc nhởchúng ta trong câu nói bất hủ của Người:

“ Các Vua Hùng đã có công dựng nước,

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Thời đại Hùng Vương gắn liền với những truyền thuyết cổ xưa nhất củadân tộc Việt Nam Những truyền thuyết về thời đại Hùng Vương đã đi sâuđời sống, ăn sâu trở thành những hình thức tín ngưỡng truyền thống của dântộc ta như tôn thờ tổ tiên, tôn thờ những vị anh hùng có công chống giặcngoại xâm… gắn liền với nó là những lễ hội truyền thống của dân tộc để nhớ

về cội nguồn của dân tộc ta tiêu biểu như: Lễ hội Đền Hùng; Lễ hội Thánh

Trang 3

Gióng; Lễ hội Bánh Chưng-Bánh Giầy…đều là những lễ hội bắt nguồn từnhững truyền thuyết về Thời đại Hùng Vương Đặc biệt để tưởng nhớ tổtiên, từ năm 2008 Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 10 tháng3(âm lịch) là ngày Quốc giỗ của dân tộc, mọi người dân trong cả nước đượcnghỉ và cứ 5 năm một lần Giỗ tổ Hùng Vương sẽ do Trưng ương tổ chức Vàcác lễ hội bắt nguồn từ truyền thuyết Hùng Vương ngày nay đã trở thànhnhững lễ hội truyền thống mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam.Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được xem là một trong những vấn đề nhạy cảmnhất trong giai đoạn hiện nay vì nó là nhu cầu tinh thần không thể thiếu củamột bộ phận nhân dân trong xã hội Song sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáolại dựa trên cơ sở của thế giới siêu nhiên nào đó cho nên nó rất dễ bị các thếlực phản động lợi dụng vì mục đích xấu Vì vậy, để giải quyết tốt vấn đềnày, Đảng và Nhà nước ta cần phải có những chính sách mềm dẻo và khéoléo để vừa tôn vinh đức tin của các tín đồ, vừa dẫn dắt họ theo lẽ phải, theochân lý đúng đắn dựa trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng Mác để

họ có cái nhìn đúng đắn về những giá trị văn hóa truyền thống quý báu màcha ông ta thế hệ trước đã để lại cho chúng ta

Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề trên, cùng với mongmuốn được đóng góp một phần công sức nhỏ vào việc tìm hiểu những triết

lý nhân văn mà truyền thuyết Hùng Vương để lại đồng thời góp phần gìngiữ, phát huy và quảng bá truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tínngưỡng…của quê hương đến mọi miền đất nước và bạn bè thế giới Vì thế

mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đạiHùng Vương” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành triết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 4

Thời đại Hùng Vương cùng với những đặc trưng về văn hóa - xã hội,

kinh tế, chính trị…đã trở thành đề tài được rất nhiều các nhà khoa học quantâm nghiên cứu nhằm tìm kiếm, giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắcvăn hóa của dân tộc từ thuở khai sinh lập nước cho đến nay Đặc biệt trong

xu thế hội nhập ngày nay, các giá trị văn hóa thực - hư đan xen lẫn lộn vàonhau thì việc nghiên cứu và tìm hiểu đề tài này lại càng có ý nghĩa quantrọng hơn bao giờ hết

Hiện nay, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về thời đại HùngVương, cụ thể như:

- Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Kim Biên, “Truyền thuyết Hùng Vương - Thần thoại vùng đất tổ”, nhà xuất bản Sở Văn hóa thể thao và

Du Lịch Phú Thọ, 2009: là cuốn sách sưu tầm 32 truyện cổ tích đặc sắc củavùng đất tổ bao gồm 23 truyện thuộc thời Hùng Vương và 9 truyện thuộccác thời kỳ sau từ thế kỷ 2 Trước công nguyên đến Triều đại nhà Nguyễn.Các câu chuyện truyền thuyết đã được tác giả sưu tầm và biên soạn lại saocho dễ hiểu, dễ tìm kiếm hơn nhằm mục đích phục vụ cho việc nghiên cứucủa các tác giả sau này

- Tập thể các tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn

Cảnh Minh, “Đại cương lịch sử Việt Nam”, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục,

Hà Nội, 2007 : đã khái quát một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc - Thờiđại Hùng Vương dựng nước, khái quát về kinh tế, chính trị, xã hội của conngười thời đại Hùng Vương cũng như khẳng định công lao to lớn của cácVua Hùng và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâmphương bắc xâm lược

- Tác giả Đặng Xuân Tuyên,“ Thời đại Hùng Vương - truyền thuyết

và lịch sử”, Nhà xuất bản Khu di tích lịch sử Đền Hùng, Tỉnh Phú Thọ,

Trang 5

2007 : Cuốn sách viết về các truyền thuyết Thời đại Hùng Vương dựngnước, ngày nay dựa vào các truyền thuyết ấy mà các lễ hội với rất nhiều tínngưỡng mang đậm nét dân gian vẫn còn ẩn dấu trong lễ hội ngày nay màtiêu biểu nhất là Lế hội Đền Hùng tổ chức vào ngày 10 tháng 3 ( âm lịch )hàng năm.

- Công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả Lê Tượng, Nguyễn

Anh Tuấn, Phạm Hoàng Oanh, “ Nước Văn Lang thời đại các Vua Hùng”,

của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Phú Thọ, 2009 : đã khẳng định thời

kỳ Hùng Vương là có thật với các di tích, di vật đã khai quật từ trong lòngđất là cơ sở vững chắc để chứng minh sự tồn tại của hệ thống thiết chế Nhànước của các Vua Hùng, với phong tục tập quán, ca múa nhạc, điêu khắc…mang bản sắc độc đáo còn tồn tại đến tận bây giờ trên đất nước Việt Nam

- Viện Khảo cổ học, với tác phẩm “ Hùng Vương dựng nước”, Nxb

Khoa học xã hội, 1970: bao gồm các bài phát biểu, báo cáo và tham luận đọctại hội nghị nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương họp tại Hà Nội do Việnkhảo cổ học phối hợp với Viện sử học; Viện bảo tàng lịch sử; Trường đạihọc tổng hợp tổ chức Với nhiều bài viết của các tác giả đã nghiên cứu mộtcách sâu sắc về cuộc sống, về các phong tục Thời kỳ Hùng Vương dựngnước

Ngoài ra còn rất nhiều bài viết nghiên cứu về thời đại Hùng Vươngtrên các tạp chí như tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí văn học, tập san đạihọc của rất nhiều tác giả như tác giả Nguyễn Linh, tác giả Văn Tân, tác giả

Lê Văn Lan…

Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu côngphu về thời đại Hùng Vương của các bậc tiền bối đi trước, nghiên cứu vấn

đề “ triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” là một đề tài

Trang 6

còn rất mới mẻ và nhiều hạn chế song kết quả của đề tài khóa luận nàyhướng đến không ngoài mục đích nhằm góp phần làm phong phú thêm kho

tư liệu về thời đại Hùng Vương dựng nước và giữ nước của dân tộc ta

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Với việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta bước đầu làm quen vớihoạt động nghiên cứu khoa học một cách có hệ thống, có lôgíc và hoàn thiệnhơn Đồng thời tạo điều kiện vận dụng một cách khoa học thế giới quan duyvật biện chứng trong việc nghiên cứu các truyền thuyết về thời đại HùngVương, góp phần vào việc quảng bá những nét văn hóa truyền thống đặc sắccủa quê hương vùng đất tổ Vua Hùng

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

- Cơ sở lý luận

Đề tài được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; Tưtưởng Hồ Chí Minh; Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề tínngưỡng, tôn giáo

- Phương pháp nghiên cứu của đề tài này dựa trên lập trường thế giớiquan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp của phépbiện chứng duy vật

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu toàn bộ thời đại Hùng Vương dựng nước( khoảng

từ thế kỉ 6-7 trước công nguyên) thông qua các truyền thuyết để thấy đượctriết lý nhân sinh quan của toàn bộ thời đại Hùng Vương

6 Đóng góp của khóa luận

Trang 7

Đề tài “ Triết lý nhân sinh của truyền thuyết thời đại Hùng Vương” bướcđầu làm rõ các khía cạnh nhân sinh quan trong thời đại Hùng Vương: triết lý

về sự hình thành con người, về đời sống của con người, về các mối quan hệcủa con người trong xã hội…

Đồng thời với đề tài nghiên cứu này sẽ trở thành nguồn tài liệu thamkhảo cho những tác giả quan tâm, nghiên cứu về thời đại Hùng Vương

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội

dung của đề tài bao gồm 2 chương

Chương 1: Những vấn đề chung về truyền thuyết

Chương 2: Một số vấn đề nhân sinh quan của thời đại Hùng Vương.

B NỘI DUNG

Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỀN THUYẾT

1.1 Sự hình thành và phát triển của truyền thuyết thời đại Hùng Vương 1.1.1 Sự ra đời của truyền thuyết

Trong xã hội nguyên thủy, mặc dù sống trong tình trạng văn hóa thấp

kém, nhưng con người luôn luôn khát vọng thể hiện trong các tác phẩm nghệthuật của mình tất cả những hoạt động sinh hoạt, những tâm tư, tình cảm củamình trước con người, trước tự nhiên Trước khi xuất quân đi săn bắn tập thểhay đánh cá, người nguyên thủy thường tập hợp nhau lại để diễn tập nhữngkhâu của công việc lao động mà mình sẽ tiến hành Lúc thắng lợi trở về,người ta lại diễn lại những kỳ tích đạt được trong quá trình lao động ấy ởbuổi lễ ăn mừng, phân chia thành quả lao động đó Những sinh hoạt tập thể

ấy, một mặt nhằm mục đích rèn luyện cho nhau về những kĩ năng sản xuất,

Trang 8

những hiểu biết về tự nhiên tích lũy được trong lao động sản xuất Mặt khác

đó cũng chính là dịp lễ để biểu dương những anh hùng, những bậc tiền bối

có nhiều công lao, nhiều thành tích trong cuộc đi săn đó đối với thị tộc, đốivới bộ lạc

Trên cơ sở những sinh hoạt có mục đích ấy thì văn nghệ nguyên thủy đãđược nảy sinh Những thành tích và công lao của những người kiệt suất đókhông những được kể lại hoặc được diễn ra đúng với sự thực mà nó cònđược tô điểm theo các tư tưởng chất phác và phong phú của con ngườinguyên thủy Và đó chính là nguyên nhân đã nảy sinh truyền thuyết ra đời Như vậy, truyền thuyết chính là một bộ phận của văn hóa nguyên thủyđược phát sinh trên cơ sở lao động và đời sống tập thể của người xưa.Truyền thuyết chính là kho tàng lịch sử thiêng liêng, là kho tàng kinhnghiệm sản xuất và chiến đấu của nhân dân được gìn giữ và phát triển chotới tận ngày nay Tác giả Lã Duy Lan trong tác phẩm “ Truyền thuyết Việt

Nam” đã khẳng định rằng: “ truyền thuyết chính là những điều truyền tụng

về các nhân vật lịch sử, các địa danh, các sự kiện liên quan đến lịch sử phát triển của một cộng đồng và đồng thời cũng là đại diện, là tiêu biểu hay thể hiện những giá trị văn hóa bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần của cộng đồng người đó”.

1.1.2 Đặc điểm của truyền thuyết

1.1.2.1 Yếu tố hư cấu

Truyền thuyết là một loại hình sáng tác nghệ thuật nên yếu tố hư cấuđóng một vai trò hết sức quan trọng nhưng phải dựa trên những cơ sở hiệnthực đáng tin cậy đó là sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Đây chính là đặcđiểm riêng, nổi bật và hết sức độc đáo của thể loại truyền thuyết Truyềnthuyết vừa phảng phất yếu tố thần kỳ, hoang tưởng nhưng mang bóng dángcủa sự thật lịch sử Vì thế để hiểu đúng và chính xác về nội dung của các câu

Trang 9

chuyện truyền thuyết chúng ta phải biết “ gặn lọc” những yếu tố hoangđường, thần thoại trong đó để nhìn thấy được những giá trị lịch sử đúng đắn

ẩn chứa bên trong truyền thuyết mà ta nghiên cứu

1.1.2.2 Tính khái quát hóa và cụ thể hóa

Tính cụ thể, xác thực là đặc trưng nổi bật nhất của thể loại truyền thuyết.Nếu như Thần thoại chỉ là những câu truyện về các vị thần theo trí tưởngtượng của con người sáng tạo ra, mang tính chất hoang đường, kỳ ảo, siêunhiên thì truyền thuyết lại được nhân dân sáng tác dựa trên những câuchuyện gắn liền với lịch sử của dân tộc ta

Ở thời kỳ Văn Lang cổ đại, truyền thuyết mang tính chất sử thi anh hùng

và chịu ảnh hưởng của thần thoại Tính chất huyền ảo, hoang đường đậm nétnhất là trong các truyền thuyết mô tả lại chiến công của các vị anh hùng giữnước của Vua Hùng dựng nước, Thánh Gióng, An Dương Vương…Ở thời

kỳ sau thì tính cụ thể lịch sử lại được thể hiện rõ hơn Các nhân vật lịch sửđược mô tả rõ ràng, chân thực gắn liền với đời sống của nhân dân kiểu nhưtruyền thuyết về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền…

Vì thế cho nên tính cụ thể, xác thực đã trở thành đặc trưng nổi bật nhất đểphân biệt truyền thuyết với các thể loại văn học dân gian khác

1.1.2.3 Đặc điểm nhân vật

Các nhân vật truyền thuyết gắn bó mật thiết với cuộc sống của cộng đồng,

họ là con người của cộng đồng, họ không phải là thần thánh bởi vì họ có lailịch con người rõ ràng nhưng họ cũng không phải là con người bình thường,nhỏ bé và bất hạnh Họ phi thường với sức mạnh ngang tầm với thần linh vànhững hành động của họ mang tính thần kỳ và mạnh mẽ

Có thể thấy rằng, sự chuyển đổi nhanh chóng “trung tâm” là các nhân vậttrong nội dung truyền thuyết đã phản ánh sự nối tiếp và phát triển trong lịch

sử phát triển của các thể loại văn học dân gian, nó xuất phát từ thế giới thần

Trang 10

linh đến người anh hùng mang tính chất thần kỳ và rồi lại quay trở về vớinhững con người bình thường - con người đúng nghĩa là con người Điềunày phần nào đã phản ánh rõ nét sự phát triển trong nhận thức của bản thâncon người, con người ngày càng ý thức được rõ hơn về bản thân mình, vềsức mạnh tiềm ẩn bên trong bản thân con người Với tinh thần đoàn kết conngười có thể chiến thắng tất cả mà không cần đến sức mạnh của Thần linhhay Thượng Đế tạo ra nữa.

Tóm lại, truyền thuyết là một gạch nối, một mắt xích nối liền thần thoạivới các thể loại văn học dân gian khác, nó là bước chuyển tiếp bảo đảm tínhliên tục hoàn chỉnh, hợp lý trong cơ cấu thể loại cũng như trong tiến trìnhlịch sử phát triển của loại hình tự sự dân gian

1.2 Nội dung của truyền thuyết Hùng Vương

Thứ nhất: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã thể hiện ý thức tự

hào về tổ tiên, về nòi giống Rồng - Tiên cao quý của dân tộc Việt Nam Đó

chính là một truyền thống đặc trưng, đầy tự hào của dân tộc ta Khác với cácdân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam đã chứng minh được nguồn gốc

ra đời của dân tộc mình thông qua truyền thuyết cổ xưa nhất còn lưu truyềntới tận ngày nay đó là truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ Nguồn gốc củadân tộc ta đã được thần thánh hóa và quan niệm “ con rồng cháu tiên” đã trởnên quên thuộc với nhân dân Việt Nam ta hàng bao đời nay, là niềm tự hàocủa mỗi người dân Việt Nam khi nói về nguồn gốc hình thành của dân tộcmình

Hình ảnh “ bọc trăm trứng” nở ra trăm người con trai không chỉ là hìnhảnh thể hiện sự sinh sôi nảy nở của dân tộc vốn có chung một nguồn gốc đó

là nguồn gốc Rồng - Tiên_nguồn gốc cao quý của dân tộc Việt Nam mà hìnhảnh đó còn thể hiện tinh thần đoàn kết, tình cảm cộng đồng của những người

Trang 11

con cùng sinh ra từ “ một bọc trăm trứng”, cùng nhau bảo vệ đất nước khiđất nước bị lâm nguy.

Như vậy, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ đã trở thành “ bản ghichép” giới thiệu về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là bản

“ anh hùng ca” ca ngợi công lao của các vị Vua Hùng đã có cộng dựng nước

và giữ nước của dân tộc để con cháu chúng ta sau này khi tìm hiểu về cộinguồn dân tộc mình càng thêm tự hào về nguồn cội, về truyền thống yêuthương, đoàn kết của dân tộc Việt Nam

Thứ hai: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương phản ánh tinh thần

dũng cảm, tinh thần đoàn kết nhân dân để chiến thắng mọi khó khăn do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

Người dân Văn Lang quan niệm rằng con người sinh ra từ tự nhiên, sốngtrong tự nhiên, vì thế họ phải cùng nhau gìn giữ và bảo vệ tự nhiên Tựnhiên trở thành ngôi nhà che chở cho cuộc sống của người dân Tuy nhiên,trong tự nhiên lại luôn luôn tiềm ẩn rất nhiều tai họa khủng khiếp rình rập,

đe dọa cuộc sống của con người như: thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh…làm cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên khó khăn và nguy hiểm

Vì thế để tồn tại được trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như vậy, ngườidân Văn Lang phải đoàn kết cùng nhau chống lại các thảm họa do thiênnhiên gây ra Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh nhân dân Văn Lang đãphản ánh những kỳ tích tập thể mà người dân đã đạt được trong công cuộclao động chinh phục thiên nhiên, là sức mạnh chiến thắng tất cả những lựclượng thù địch của người dân Văn Lang Ngoài ra, truyền thuyết cũng đãkhẳng định quyền làm chủ của nhân dân trên cả ba vùng tiêu biểu của đất tổ

là vùng biển, đồng bằng và trung du Xác định địa bàn cư trú ổn định củadân tộc để nhân dân ta yên tâm sinh sống hòa bình, hăng say lao động và rasức bảo vệ thành quả lao động của chính mình

Trang 12

Thứ ba: Truyền thuyết thời đại Hùng Vương thể hiện lòng thiết tha

yêu mến quê hương, bảo vệ xứ sở và địa bàn cư trú của mình.

Nhân dân Văn Lang đã xây dựng nên hình tượng Thánh Gióng là ngườiđại diện tiểu biểu nhất của dân tộc Việt Nam ta về sức mạnh chống giặcngoại xâm và ý chí quật cường của dân tộc Sức mạnh ấy là sức mạnh tổnghợp của tinh thần và vật chất, của con người và vũ khí, của cá nhân và cộngđồng đã làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc ta trước kẻ thù xâm lượchung bạo đó là giặc Ân Sức mạnh ấy không chỉ là sức mạnh của một conngười, một siêu nhân mà là sức mạnh của toàn cộng đồng bộ tộc hun đúcnên Đó là sức mạnh của sự kết hợp giữa những người đứng đầu bộ tộc vớimọi thành viên Sức mạnh của một đội quân hình thành nhanh chóng tronghoàn cảnh đất nước nguy cấp, sức mạnh của đồng tâm hiệp lực, của tinh thầnvật chất, của lương thực, của vũ khí…

Ngoài ra, truyền thuyết về thời đại Hùng Vương còn thể hiện tinh thầncảnh giác trước những âm mưu xâm lược nham hiểm của kẻ thù xâm lược.Truyền thuyết An Dương Vương Truyền thuyết đã thể hiện triết lý sâu sắc

về bài học giữ nước của dân tộc Việt Nam ta đó là: khi chúng ta đề cao cảnhgiác, phòng bị chắc chắn, nhân dân trên dưới một lòng cùng nhau bảo vệ đấtnước thì tất yếu sẽ dẫn tới thắng lợi của đất nước, chiến thắng mọi kẻ thùxâm lược Còn khi chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trước những mưu đồ củagiặc thì sớm muộn cũng sẽ dấn đến mất nước

Tiểu kết chương 1:

Như vậy, thông qua nội dung của các truyền thuyết về thời đại HùngVương đã đem lại cho chúng ta những tri thức quý giá về cuộc sống sinhhoạt, về tâm tư, tình cảm của nhân dân Lạc Việt thời đại Vua Hùng Là cơ sở

để hình thành nên những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam ta nhưtruyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống tự hào về nguồn

Trang 13

cội của dân tộc, ca ngợi tinh thần đoàn kết dân tộc để chống lại những khókhăn do thiên tai dịch bệnh gây ra, bảo vệ quê hương xứ sở…Những truyềnthống văn hóa này đã trở thành một nét đẹp văn hóa được cha ông ta từ ngànxưa gìn giữ và lưu truyền cho tới tận ngày nay.

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NHÂN SINH QUAN TRONG

TRUYỀN THUYẾT THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG 2.1 Quan niệm về đời người

2.1.1 Sự hình thành con người

Khác với những quan niệm duy tâm trước kia khi xem con người là sảnphẩm của Chúa trời, Thượng Đế sinh ra, thì thông qua Truyền thuyết LạcLong Quân - Âu Cơ đã chứa đựng một tư tưởng hết sức duy vật của người

dân Văn Lang về sự hình thành con người Dưới con mắt của người dân Văn

Lang thì mọi vật đều được sinh ra từ trời và đất Đất là nơi nâng đỡ và nuôinấng muôn loài giống như vai trò của người mẹ Trời mang đến cho thế giớiánh sáng, không khí, nước…góp phần duy trì sự sống giống như vai trò củamột người cha Do đó, khi trời đất giao hòa, âm dương kết hợp thì sẽ sinhsôi nẩy nở ra muôn loài trên thế giới Và sự hình thành của con người cũnggắn liền với trời và đất

Theo quan niệm của người dân Văn Lang, con người là sự kết hợp của haiphần: “phần hồn” và “phần xác” Phần xác có thể nhìn thấy được còn phầnhồn thì không Trong phần hồn được chia thành hai phần là: “ phần hồn” và

“ phần vía” Con người có ba hồn nhưng phần vía thì ở nam có bảy còn ở nữthì có chín “ Phần xác” của con người lại được sinh ra từ “bọc trứng” của

mẹ Âu Cơ.“ Bọc trứng” là một dạng vật chất cụ thể, dưới tác động đầy đủcủa của các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, không khí thì trứng sẽ

tự nở, gắn liền với sự hài hòa của trời đất Con người được sinh ra khôngphải do Thượng Đế, do Nữ Oa nặn đất sét mà thành mà là do yếu tố vật chất

Trang 14

cụ thể tạo ra Do vậy, quan niệm về sự hình thành con người giai đoạn nàychứa đựng yếu tố duy vật Tuy còn sơ khai nhưng họ cũng đã thấy được rằng

sự hình thành con người gắn với yếu tố vật chất

Vậy, qua cách nhìn về cuộc sống của người dân Văn Lang, chúng ta đãthấy được rằng ngay từ đầu người dân Văn Lang đã có cái nhìn hết sức duyvật về nguồn gốc của sự sống Sự sống không phải ở đâu xa sôi mà nó nằmngay ở trong những thứ gần gũi với cuộc sống của chúng ta đó là trời, là đất,

là môi trường sống tự nhiên Con người cũng như vạn vật trong tự nhiên đềuđược sinh ra từ sự biến hóa lâu dài của trời đất chứ không phải do bất kỳ mộtđấng sáng tạo nào tạo ra Con người là sản phẩm tiến hóa, phát triển lâu dàicủa tự nhiên Thế giới tự nhiên luôn luôn vận động và phát triển từ thấp tớicao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, và đỉnh cao là con người Con người

là một thực thể sống, có quá trình trao đổi chất với môi trường xung quanh,

có tâm sinh lý, có nhu cầu vật chất nhất định Con người trong qua sinh tồntại của mình không chỉ tác động và tự nhiên, làm biến đổi thế giới tự nhiên

mà con người còn quan hệ với nhau tạo nên bản chất con người Bản chấtcủa con người được thể hiện rõ không chỉ trong lao động mà còn được thểhiện trong các mối quan hệ của các cộng đồng dân cư Điều này đã đánh dấumột bước phát triển mới trong tư duy của người dân Văn Lang về việc lýgiải một cách duy vật về bản chất con người trong thời đại Hùng Vương nóiriêng và con người Việt Nam nói chung Điều này đã được triết học Mác -Lênin đã có cái nhìn tổng quát và sâu sắc về bản chất con người đó là:“ Bảnchất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhânriêng biệt Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa cácmối quan hệ xã hội”(C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb, Chính trị quốcgia, Hà Nội, 1995, t3, tr11)

Trang 15

Như vậy, truyền thuyết thời đại Hùng Vương đã có cách nhìn bước đầu vềquan niệm hình thành con người Mặc dù một số nội dung trong truyềnthuyết còn đan xen những tình tiết mang tính chất duy tâm, thần bí song vớicon mắt nhìn hiện đại của chúng ta sau khi đã tách bỏ những yếu tố duy tâm,thần bí thì chúng ta sẽ thấy được tính chất duy vật thô sơ, mộc mạc ẩn chứabên trong truyền thuyết này, đồng thời thông qua truyền thuyết khẳng địnhcông lao to lớn của người dân Văn Lang đã đạt được lúc bấy giờ kể cả trong

tư duy và trong thực tiễn

2.1.2 Đời sống của con người

Mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tựnhiên…được người dân Văn Lang thể hiện chủ yếu trên hai mặt của đờisống đó là: đời sống vật chất và đời sống tinh thần

Đời sống vật chất của người dân Văn Lang gắn liền với sản xuất nông

nghiệp mà đặc biệt là ngành nông nghiệp trồng lúa nước Ngành nôngnghiệp trồng lúa nước không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại của

cư dân mà nó còn mà nó còn giúp hình thành nên những phẩm chất quý báucủa người dân Văn Lang Người dân Văn Lang rất coi trọng tình nghĩa, yêuthương nhau, đoàn kết với nhau ngay cả trong lao động sản xuất và trong cáchình thức sinh hoạt cộng đồng khác như lễ hội, tín ngưỡng…

Ở thời đại Hùng Vương người dân Văn Lang đã sớm thấy được vai tròcủa lao động đối với cuộc sống vật chất của mình Lao động chính là nguồnsức mạnh vật chất cung cấp của cải vật chất cho đời sống con người Chỉ cóthông qua lao động thì các như cầu thiếu yếu của con người mới được đảmbảo như ăn, uống, mặc, nhà ở…Vì thế người dân Văn Lang rất đề cao laođộng, coi lao động như là yếu tố quyết định sự tồn tại của con người, quyếtđịnh vận mệnh của đất nước Một quốc gia thịnh trị thì trước tiên phải đảm

Ngày đăng: 17/08/2017, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w