1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quan điểm của ph ăngghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm “nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước

24 393 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 111 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một trong những vấn đề quan trọng của việc nghiên cứu triết học Mác Lênin là đi sâu vào nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, vì đó là cơ sở xuất phát để nhận thức một cách chính xác và trung thành với tư tưởng của các nhà triết học mácxít. Việc nghiên cứu tác phẩm kinh điển không chỉ là tiếp thu, nhận thức mà còn bảo vệ chủ nghĩa Mác vào thực tiễn. Trong số các tác phẩm của Ph. Ăngghen viết trong thời kỳ (1883 1889), tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” được coi là tác phẩm đặc biệt là một trong những tác phẩm chủ yếu tiếp tục phát triển tư tưởng thiên tài của C.Mác: Quan niệm duy vật về lịch sử. “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc tiếp tục phát triển và luận chứng cho chủ nghĩa Mác. Trong tác phẩm của mình, Ph.Ăngghen đã cụ thể hóa một cách căn bản khái niệm lịch sử thế giới do Ông cùng với C.Mác nghiên cứu trước đó. Ông cũng bác bỏ với sức thuyết phục cao hơn trước nhiều học thuyết giáo điều của khoa học tư sản, chẳng hạn, các quan niệm về sự tồn tại ngay từ đầu của gia đình phụ hệ, của chế độ tư hữu, của chính quyền nhà nước, của sự bất bình đẳng xã hội, của sự bóc lột, áp bức, v.v.. Một trong những vấn đề chính của tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” là sự lý giải theo tinh thần duy vật – biện chứng quá trình chuyển biến hợp quy luật của nhân loại từ chế độ tư hữu đối với tư liệu sản xuất, yếu tố đã trở thành cơ sở của chế độ người áp bức và bóc lột người. Trong tác phẩm, Ph. Ăngghen đã phân tích kỹ vấn đề xuất hiện tư hữu. Về mặt thực tiễn, Ở việt Nam, vấn đề sở hữu và thành phần kinh tế luôn là vấn đề quan trọng được đề cập trong các kỳ Đại hội Đảng, cũng như sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và người dân. Mục tiêu của giữu vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, Đại hội IX chỉ rõ ba mục tiêu: Thứ nhất, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xâ hội; thứ hai, nâng cao đời sống nhân dân; thứ ba, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối. Đại hội XI cũng chỉ ra ba mục tiêu: thứ nhất, thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; thứ hai, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; thứ ba, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn. Như vậy, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế nhiều thành phần theo tinh thần Đại hội IX, Đại hội X và Đại hội XI về căn bản là nhất quán. Mặt khác, trong khi thống nhất về tính đúng đắn của chủ trương chiến lược về phát triển hàng hoá nhiều thành phần, vẫn còn những ý kiến khác nhau về sở hữu và về thành phần kinh tế, về mối quan hệ giữa quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối thích ứng với mỗi hình thức sở hữu, về mối quan hệ tương hỗ và vị trí của mỗi hình thức sở hữu và thành phần kinh tế trong hệ thống các hình thức sở hữu, về vấn đề sở hữu trong xã hội chủ nghĩa, về mối quan hệ giữa các mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các hình thức sở hữu, về những tác động và những ràng buộc chính trị xã hội với vấn đề sở hữu, thậm chí cả sự e ngại chệch hướng xã hội chủ nghĩa khi phát triển sở hữu tư nhân và các thành phần kinh tế ngoài nhà nước… Việc chưa thống nhất về hàng loạt vấn đề đó dẫn đến nhiều hệ luỵ: thiếu rõ ràng trong quan điểm về sở hữu và thành phần kinh tế; thiếu rõ ràng và nhất quán trong cơ chế, chính sách và chỉ đạo xử lý vấn đề sở hữu trong xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau; định kiến xã hội đối với các chủ sở hữu tư nhân… Do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sở hữu. Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra đối với con đường phát triển hiện nay của nước ta, như vấn đề sở hữu, việc đi vào nghiên cứu quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin là cần thiết. Tác phẩm của Ph.Ăngghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” chiếm một vị trí đặc biệt trong sách báo mácxít chuyên nghiên cứu lý luận về tiến trình lịch sử. Từ thực tiễn đó, việc nhận thức và vận dụng đúng đắn các nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lênin về sở hữu và các hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ đi lên xã hộ chủ nghĩa là một trong các vấn đề trọng yếu. Mọi hành động và tư tưởng chủ quan duy ý chí mượn danh nghĩa chủ nghĩa Mác Lênin cũng như chủ nghĩa giáo điều trong xử lý các vấn đề phát sinh đều tất yếu sẽ thất bại. Từ nhận thức trên đây Tôi chọn vấn đề nghiên cứu Quan điểm của Ph.Ăngghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” và một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những vấn đề quan trọng của việc nghiên cứu triết họcMác - Lênin là đi sâu vào nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, vì đó là cơ

sở xuất phát để nhận thức một cách chính xác và trung thành với tư tưởngcủa các nhà triết học mácxít Việc nghiên cứu tác phẩm kinh điển không

chỉ là tiếp thu, nhận thức mà còn bảo vệ chủ nghĩa Mác vào thực tiễn

Trong số các tác phẩm của Ph Ăngghen viết trong thời kỳ 1889), tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhànước” được coi là tác phẩm đặc biệt - là một trong những tác phẩm chủyếu tiếp tục phát triển tư tưởng thiên tài của C.Mác: Quan niệm duy vật vềlịch sử

“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” củaPh.Ăngghen có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc tiếp tục phát triển vàluận chứng cho chủ nghĩa Mác Trong tác phẩm của mình, Ph.Ăngghen

đã cụ thể hóa một cách căn bản khái niệm lịch sử thế giới do Ông cùngvới C.Mác nghiên cứu trước đó Ông cũng bác bỏ với sức thuyết phục caohơn trước nhiều học thuyết giáo điều của khoa học tư sản, chẳng hạn, cácquan niệm về sự tồn tại ngay từ đầu của gia đình phụ hệ, của chế độ tưhữu, của chính quyền nhà nước, của sự bất bình đẳng xã hội, của sự bóclột, áp bức, v.v

Một trong những vấn đề chính của tác phẩm “ Nguồn gốc của gia đình,của chế độ tư hữu và của nhà nước” là sự lý giải theo tinh thần duy vật – biệnchứng quá trình chuyển biến hợp quy luật của nhân loại từ chế độ tư hữu đốivới tư liệu sản xuất, yếu tố đã trở thành cơ sở của chế độ người áp bức và bóclột người

Trong tác phẩm, Ph Ăngghen đã phân tích kỹ vấn đề xuất hiện tưhữu

Trang 2

Về mặt thực tiễn, Ở việt Nam, vấn đề sở hữu và thành phần kinh tếluôn là vấn đề quan trọng được đề cập trong các kỳ Đại hội Đảng, cũngnhư sự quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp vàngười dân Mục tiêu của giữu vững định hướng xã hội chủ nghĩa trongnền kinh tế thị trường, Đại hội IX chỉ rõ ba mục tiêu: Thứ nhất, phát triểnlực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹthuật của chủ nghĩa xâ hội; thứ hai, nâng cao đời sống nhân dân; thứ ba,phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sảnxuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối Đại hội XIcũng chỉ ra ba mục tiêu: thứ nhất, thực hiện mục tiêu: dân giàu, nướcmạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; thứ hai, giải phóng mạnh mẽ

và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; thứ

ba, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làmgiàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giảhơn Như vậy, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triểnkinh tế nhiều thành phần theo tinh thần Đại hội IX, Đại hội X và Đại hội

XI về căn bản là nhất quán

Mặt khác, trong khi thống nhất về tính đúng đắn của chủ trương chiếnlược về phát triển hàng hoá nhiều thành phần, vẫn còn những ý kiến khácnhau về sở hữu và về thành phần kinh tế, về mối quan hệ giữa quan hệ sởhữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối thích ứng với mỗi hình thức sởhữu, về mối quan hệ tương hỗ và vị trí của mỗi hình thức sở hữu và thànhphần kinh tế trong hệ thống các hình thức sở hữu, về vấn đề sở hữu trong xãhội chủ nghĩa, về mối quan hệ giữa các mô hình kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và các hình thức sở hữu, về những tác động và nhữngràng buộc chính trị - xã hội với vấn đề sở hữu, thậm chí cả sự e ngại chệchhướng xã hội chủ nghĩa khi phát triển sở hữu tư nhân và các thành phần kinh

tế ngoài nhà nước… Việc chưa thống nhất về hàng loạt vấn đề đó dẫn đếnnhiều hệ luỵ: thiếu rõ ràng trong quan điểm về sở hữu và thành phần kinh tế;

Trang 3

thiếu rõ ràng và nhất quán trong cơ chế, chính sách và chỉ đạo xử lý vấn đề sởhữu trong xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; sự phân biệtđối xử với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau; địnhkiến xã hội đối với các chủ sở hữu tư nhân…

Do vậy, đã nảy sinh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phảiđược nghiên cứu và giải đáp thỏa đáng hơn nữa, trong đó có vấn đề sởhữu

Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra đốivới con đường phát triển hiện nay của nước ta, như vấn đề sở hữu, việc đivào nghiên cứu quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin là cầnthiết Tác phẩm của Ph.Ăngghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tưhữu và của nhà nước” chiếm một vị trí đặc biệt trong sách báo mácxítchuyên nghiên cứu lý luận về tiến trình lịch sử

Từ thực tiễn đó, việc nhận thức và vận dụng đúng đắn các nguyên lýcủa chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu và các hình thức sở hữu trong thời

kỳ quá độ đi lên xã hộ chủ nghĩa là một trong các vấn đề trọng yếu Mọihành động và tư tưởng chủ quan duy ý chí mượn danh nghĩa chủ nghĩaMác - Lênin cũng như chủ nghĩa giáo điều trong xử lý các vấn đề phátsinh đều tất yếu sẽ thất bại

Từ nhận thức trên đây Tôi chọn vấn đề nghiên cứu Quan điểm của Ph.Ăngghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” và một số vấn đề thực tiễn ở Việt

Nam hiện nay làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài này đã có các công trình nghiên cứu như: Về tác phẩm của của Ph.Ăngghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của tác giả I.L.An-Đrê-ép (Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1987); “Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay” của

Nguyễn Văn Thạo (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004), cuốn sách

Trang 4

trình bày một số vấn đề sở hữu ở nước ta trong những năm đổi mới, nêulên thực trạng chuyển biến sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước và lĩnhvực đất đai gần 20 năm qua và sự tác động của nó tới sự phát triển kinh tế

- xã hội ở Việt Nam ; Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Nguyễn Thanh Tuyền (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006); “Phát triển kinh tế tư nhân – xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của

Đặng Minh Tiến (Tạp chí Triết học, số 3, 2007); “Từ quan niệm của C.Mác về “xoá bỏ chế độ tư hữu”suy nghĩ về vấn đề sở hữu tư nhân trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”của Vũ Thị Kiều Phương (Tạp chí Triết học, số 8, 2008); “Sự phát triểnquan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về các hình thức sở hữu và nền

kinh tế nhiều thành phần” của Nguyễn Thị Huyền (Tạp chí Triết học, số

7, 2009); Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam của Nguyễn Kế Tuấn làm chủ biên (Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2010), nội dung cuốn sách làm rõ thêm những vấn đề

lý luận cơ bản về vấn đề sở hữu trong mô hình kinh tế thị trường, vậndụng chúng để làm sáng rõ vấn đề sở hữu trong mô hình kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trong các công trình nghiên cứu ở trên có một số công trình đã đềcập đến vấn đề chế độ tư hữu theo quan niệm của Ph Ăngghen trong tácphẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” vàmột số công trình đã đi sâu phân tích vấn đề sở hữu nói chung và sở hữu

tư nhân nói riêng trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay Cáctác phẩm cũng nêu ra thực trạng, xu hướng và giải pháp của vấn đề sởhữu nói chung và sở hữu tư nhân nói riêng ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, nhận thức một cách khái quát, toàn diện và sâu sắcnhững vấn đề cơ bản nhất của vấn đề tư hữu thì cần phải được tiếp tục

Trang 5

nghiên cứu Đề tài Quan niệm của Ph Ăngghen về chế độ tư hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

và một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, vì thế, được thực hiện

trên cơ sở kế thừa, tiếp thu và hệ thống hóa từ kết quả nghiên cứu trongcông trình đi trước

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Làm rõ những quan niệm cơ bản về chế độ tư hữu của Ph.Ăngghentrong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhànước” và một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay Từ đó, góp phầnnắm vững các quan niệm duy vật biện chứng trong cách giải quyết cácvấn đề nhận thức luận, hơn nữa củng cố thế giới quan duy vật đối với bảnthân với tư cách là một sinh viên chuyên ngành triết học

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở lý luận:

Đề tài dựa trên cơ sở hệ thống những nguyên lý của chủ nghĩa duyvật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; đường lối của Đảng và chínhsách của Nhà nước làm sáng tỏ nội dung của chế đô tư hữu đượcPh.Ăngghen trình bày trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế

độ tư hữu và của nhà nước”

Phương pháp nghiên cứu:

Trang 6

Kết hợp các nguyên lý duy vật với nguyên tắc thống nhất lôgíc vàlịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổnghợp, cụ thể, trừu tượng để giải quyết các nhiệm vụ đã xác định.

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu đề tài.

Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu phạm vi của tác phẩm “Nguồngốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” và các vấn đề thựctiễn ở Việt Nam hiện nay

6 Đóng góp của đề tài

Với phạm vi của một khóa luận được hoàn thành trong một thờigian ngắn, mong muốn của Tôi là góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề cơbản về chế độ tư hữu trong tác phẩm theo quan niệm của Ph.Ăngghen vàthực tiễn ở Việt Nam hiện nay Khoá luận có thể dùng làm tài liệu thamkhảo cho những người quan tâm đến vấn đề trên

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Khoá luận gồm

có 2 chương, 5 tiết

CHƯƠNG 1

QUAN ĐIỂM CỦA PH.ĂNGGHEN VỀ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU

TRONG TÁC PHẨM “NGUỒN GỐC CỦA GIA ĐÌNH, CỦA CHẾ

ĐỘ

TƯ HỮU VÀ CỦA NHÀ NƯỚC”

1.1 Khái niệm sở hữu và vị trí của vấn đề tư hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”

1.1.1 Khái niệm sở hữu

Trong học thuyết cách mạng và khoa học của các nhà sáng lập củachủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề sở hữu có vị trí cực kỳ quan trọng Dựavào tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể khái quát quanniệm của Mác và Ph.Ăngghen về sở hữu thành những nội dung sau:

Trang 7

Thứ nhất, sở hữu được coi là điều kiện của nền sản xuất xã hội Thứ hai, sở hữu là một hình thái quan hệ xã hội

Thứ ba, quan hệ sở hữu là mang tính lịch sử xã hội, không có một

hình thức sở hữu tồn tại vĩnh viễn mà thường xuyên biến đổi

Bốn là, sự vận động, phát triển của quan hệ sở hữu là một quá trình

lịch sử tự nhiên

Thứ năm, sự tồn tại nhiều loại hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội

Thứ sáu, việc xóa bỏ chế độ tư hữu phải là một quá trình lâu dài và

khó khăn, phức tạp

Bảy là, quan hệ sở hữu tư bản chủ nghĩa chuyển biến theo hướng xã

hội hóa, quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu, các nhànghiên cứu lý luận ở nước ta đã đưa ra những quan điểm khác nhau vềnội dung của phạm trù sở hữu

Tóm lại, xung quanh việc nhận thức về phạm trù sở hữu còn có

nhiều quan điểm, nhiều ý kiến chưa thống nhất với nhau Để nhận thức vềphạm trù sở hữu, trước hết cần phải đứng vững trên quan điểm, phươngpháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; kế thừa có chọn lọc những kết quảnghiên cứu đã đạt được và gắn lý luận với thực tiễn đời sống hiện thực đểxem xét, Với cách tiếp cận như vậy, chúng tôi đồng ý với quan điểm

cho rằng: Sở hữu là một phạm trù xã hội phản ánh quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải vật chất, là hình thái xã hội có tính lịch sử của việc chiếm hữu của cải vật chất và thông qua quan hệ xã hội ấy thỏa mãn nhu cầu của mình; sở hữu không phải là quan hệ giữa người với vật mà là quan hệ giữa người với người đối với vật.

1.1.2 Vị trí của vấn đề tư hữu trong tác phẩm

Tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhànước” của Ph.Ăngghen được đánh giá là một trong những tác phẩm tiêu biểu

Trang 8

trong đó những quan niệm duy vật về lịch sử của Mác đã được phát triển mộtcách đáng chú ý.

Cuốn sách của Ph.Ăngghen mang nội dung giải thích có căn cứ trênquan điểm duy vật biện chứng về lịch sử loài người ở các giai đoạn pháttriển sơ khai của nó Trong đó có nêu rõ đặc điểm chi tiết các tiền đề kinh

tế và điều kiện lịch sử làm phát sinh chế độ tư hữu, nhà nước và gắn vớichúng là sự tiến hoá của các hình thức hôn nhân và gia đình

Chế độ tư hữu phát sinh, tồn tại, phát triển theo quy luật và có vai tròlịch sử lâu dài trong xã hội loài người Nói cách khác, chế độ tư hữu phátsinh, tồn tại như một tất yếu khách quan và chỉ kết thúc vai trò lịch sử củabằng sự quyết định bởi tính thích ứng của quan hệ sản xuất với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, một khi lực lượng sản xuất pháttriển đầy đủ nhất, hoàn bị nhất

Theo Ph.Ăngghen, sự phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vàphân công lao động xã hội là nguyên nhân sâu xa làm tan rã chế độ cộngsản nguyên thuỷ, đưa đến sự hình thành chế độ tư hữu Cùng với quátrình phát triển của lực lượng sản xuất là sự chuyển hoá thích ứng về chất

và lượng của quan hệ sản xuất Sự chuyển hoá này được thể hiện ở trình

độ xã hội hoá của quan hệ sản xuất (mà trung tâm là quan hệ sở hữu), quy

mô về cơ cấu tổ chức kinh doanh và cơ chế quản lý thích ứng Chế độ tưhữu cùng với các hình thức sở hữu của nó có vai trò thúc đẩy sự pháttriển của các quan hệ hôn nhân gia đình trong tác phẩm “Nguồn gốc củagia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ph.Ăngghen

Vậy, chế độ tư hữu đã xuất hiện và xã hội phân chia thành kẻ giàungười nghèo, chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã thay thế chế độ quầnhôn Đồng thời xuất hiện chế độ gia trưởng đặc trưng bằng vai trò tuyệtđối và quyền lực vô hạn của người chồng trong gia đình C.Mác vàPh.Ăngghen đã nói: Gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đang đedọa thị tộc

Trang 9

Vấn đề sở hữu trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ

tư hữu và của nhà nước” còn được Ph.Ăngghen đề cập trong sự ra đời vàphát triển của nhà nước đầu tiên trong lịch sử - nhà nước chiếm hữu nô lệAten

Nguyên nhân cơ bản của quá trình hình thành và phát triển của chế

độ tư hữu và giai cấp là do sự phát triển của sản xuất và sự phân công laođộng xã hội Ph.Ăngghen viết: “Từ sự phân công xã hội lớn lần đầu tiên

đã nãy sinh ra sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành hai giai cấp:chủ nô và nô lệ kẻ bóc lột và người bị bóc lột” [8;240]

Như vậy, xét về nguồn gốc nhà nước theo Ph.Ăngghen: “Nhà nướcnảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ những sự đối lập giai cấp đã phát triểnngay trong nội bộ xã hội thị tộc

Như vậy, quá trình hình thành chế độ tư hữu chiếm một vị trí hết sức

quan trọng và góp phần làm cho tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của nhà nước” là sự tiếp tục phát triển và hoàn thiện

quan niệm duy vật về lịch sử - một trong hai phát kiến thiên tài của Mác.Đồng thời, tác phẩm của Ph.Ăngghen còn góp phần to lớn vào việc giáodục và trang bị cho giai cấp công nhân trên toàn thế giới vũ khí tư tưởngsắc bén trong cuộc đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản và các trào lưuphi mácxít khác, hướng giai cấp công nhân đoàn kết lại trong một khốithống nhất, có tổ chức, đấu tranh vì một xã hội tương lai - xã hội xã hộichủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

1.2 Nguồn gốc của chế độ tư hữu

Ph.Ăngghen đã coi sự phát triển của lực lượng sản xuất, việc phâncông lao động xã hội ngày càng sâu sắc, cũng như việc tăng cường traođổi hàng hóa do các yếu tố đó gây nên là nguồn gốc phát sinh chế độ tưhữu Sự thiếu thốn hay khánh kiệt của các tiền tệ tự nhiên nào đó của sảnxuất và khan hiếm những sản phẩm tiêu dùng được tạo ra - tất cả những

Trang 10

điều đó đã làm cho xã hội phải điều tiết chúng trở nên cần thiết một cáchgay gắt

Sự phát triển của lực lượng sản xuất của lao động đã tạo ra một quátrình hai mặt Nó đòi hỏi phải tăng số lượng người thu hút vào quá trìnhphát triển xã hội, quá trình gắn bó với nhau bởi việc đẩy mạnh các hìnhthức trao đổi khác nhau Đồng thời, nó gây nên việc giảm sút các tế bàokinh tế đang tập trung trong mình chúng lẫn cả sản xuất và tiêu dùng, tức

là việc trực tiếp đảm bảo đời sống Theo khuynh hướng sau, chế độ sởhữu riêng biệt của các tế bào sản xuất khác nhau đã nảy sinh Hiện tượngcùng tồn tại của chế độ sở hữu tập thể cổ truyền thụ động và chế độ tưhữu năng động, với tính cách là hai loại hình đối lập của quan hệ sản xuấtgiữa người với người, về phương diện tư liệu sản xuất, đã hình thành.Như vậy, theo Ph.Ăngghen trong “Nguồn gốc của gia đình, của chế

độ tư hữu và của nhà nước” thì sự phát triển của lực lượng sản xuất, việcphân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, cũng như việc tăng cườngtrao đổi hàng hóa do các yếu tố đó gây nên, là nguồn gốc phát sinh chế độ

tư hữu

1.3 Bản chất của chế độ tư hữu

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, tuy trải qua nhiềuphương thức sản xuất khác nhau, nhưng chỉ có hai chế độ sở hữu cơ bản

là chế độ sở hữu tư nhân (còn gọi là chế độ tư hữu) và chế độ sở hữucông cộng (còn gọi là chế độ công hữu) về tư liệu sản xuất Đó là hai cựccủa một hệ thống có sự phân biệt ranh giới rõ ràng về cả chủ thể sở hữu(một bên chủ sở hữu là cá nhân và một bên chủ sở hữu là cộng đồngngười với quy mô và phạm vi khác nhau) và về phạm vi các đối tượng sởhữu

Chế độ tư hữu có hai phương diện: phương diện tự nhiên đối với tưliệu sản xuất và phương diện xã hội đối với tư liệu sản xuất

Trước hết, phương diện tự nhiên đối với tư liệu sản xuất

Trang 11

Chế độ tư hữu về các loại tư liệu sản xuất đã tồn tại lâu đời qua cácphương thức sản xuất.

Trong đó, xã hội cộng sản nguyên thủy và cộng sản chủ nghĩa tồn tạichế độ sở hữu công hữu với tư liệu sản xuất Ba chế độ xã hội là: chiếmhữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa tồn tại chế độ chiếm hữu tưnhân về tư liệu sản xuất

Về chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất trong xã hội công xãnguyên thủy ở trình độ tự phát Sở hữu công xã là chế độ sở hữu xuấthiện trong những giai đoạn nhất định của phương thức sản xuất công xãnguyên thủy

Với lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ thấp kém, phương kếsinh tồn là dựa vào săn bắt và hái lượm, con người không thể chống nổivới sức mạnh của thiên nhiên nên phải cố kết với nhau trong lao độngchung và kết quả lao động thuộc về công xã nguyên thủy

Đến xã hội cộng sản chủ nghĩa, trải qua ba giai đoạn: thời kỳ quá độ,chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Thời kỳ quá độ, tồn tại đa sở hữu:

tư nhân về tư liệu sản xuất (kinh tế cá thể); tư bản tư nhân; sở hữu tập thể(kinh tế hợp tác xã); sở hữu nhà nước (doanh nghiệp nhà nước); công tư hợpdoanh Giai đoạn chủ nghĩa xã hội, tồn tại hai hình thức sở hữu: sở hữu tậpthể và sở hữu nhà nước Giai đoạn chủ nghĩa cộng sản, tồn tại sở hữu toàndân

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến và xã hội tư bảnchủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Giai cấpthống trị chiếm đoạt tư liệu sản xuất, bắt người lao động làm thuê và tạorất tư bản kếch sù cho các ông chủ Cùng với tước đoạt tư liệu sản xuất,người lao động làm giàu Có ba hình thức sở hữu khác nhau trong ba chế

độ xã hội khác nhau đó

Ở xã hội chiếm hữu nô lệ, tư liệu sản xuất chủ yếu là nô lệ Ai cónhiều nô lệ nhất sẽ trở thành giai cấp thống trị Trong xã hội chiếm hữu

Trang 12

nô lệ, mọi tài sản thuộc về chủ nô, kể cả người nô lệ cũng thuộc về chủ

nô Người nô lệ cũng chỉ là “công cụ biết nói”, cùng với các “công cụkhông biết nói” khác đều thuộc về chủ nô Chiếm hữu tư liệu sản xuất,của cải và nô lệ là phương thức tồn tại thống trị trong xã hội chiếm hữu

Bên cạnh sự tồn tại của chế độ sở hữu phong kiến là hình thức sởhữu tư nhân của những người sản xuất nhỏ và người buôn bán nhỏ

Như vậy, với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, sở hữu tưnhân xuất hiện và làm nảy sinh hiện tượng người bóc lột người, xã hộiphân chia thành giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột sở hữu tư nhân là

sở hữu kinh tế của quan hệ xã hội đối với chế độ chiếm hữu nô lệ và xãhội phong kiến

Sang xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ tư hữu cùng với nền kinh tế thịtrường đã đạt tới sự phát triển cao Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì nềnđại công nghiệp rất phát triển nhưng vai trò của khoa học - công nghệ lớnnhất Suy cho cùng, tư liệu sản xuất của tư bản chủ nghĩa là tiền, quan hệsản xuất hàng - tiền Tư hữu tư bản chủ nghĩa đã tập trung vào tay cácnhà tư bản khối lượng lớn về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động thựchiện tích tụ và tập trung cao độ về nguồn lực Trong xã hội tư bản chủnghĩa còn có hình thức sở hữu xuất hiện trong thời kỳ chuyển từ chủnghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền là hình

Ngày đăng: 17/08/2017, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w