1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức dạy học môn khoa học ở các trường tiểu học thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên theo hướng vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột

113 195 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng các hoạt động nhận thức của HS trong học tập môn Khoa học thông qua vận dụng phương pháp BTNB .... Trong điều 24.2 Luật Giáo dục 12- 1998 ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ ÁNH HỒNG

TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC

Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN THEO HƯỚNG VẬN DỤNG

PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ ÁNH HỒNG

TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC

Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN THEO HƯỚNG VẬN DỤNG

PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT

Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC

Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ THỊ KIM LINH

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Thị Ánh Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hà Thị Kim Linh, người

đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo - những người đã trực tiếp giúp tác giả nâng cao kiến thức trong thời gian theo học chương trình thạc sĩ Giáo dục học khóa 22 (2014 - 2016) tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; Cảm ơn tập thể CB, GV và HS của một

số trường Tiểu học trên địa bàn thành phố Thái Nguyên đã cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá cho luận văn

Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các học viên cao học Giáo dục khóa 22 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Thái Nguyên, ngày tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Thị Ánh Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của đề tài 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO HƯỚNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 7

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7

1.1.1 Những nghiên cứu trên Thế giới 7

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 9

1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.2.1 Quá trình dạy học 11

1.2.2 Phương pháp dạy học 12

1.2.3 Phương pháp BTNB 13

1.3 Một số vấn đề cơ bản về vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học Tiểu học 14

1.3.1 Đặc điểm hoạt động học tập của HS Tiểu học 14

Trang 6

1.3.2 Những đặc điểm của phương pháp BNTB 16

1.3.3 Những ưu điểm của vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học 19

1.3.4 Một số kĩ thuật dạy học trong dạy học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB 22

1.3.5 Đánh giá HS trong quá trình dạy học theo phương pháp BTNB 25

1.3.6 Mối quan hệ giữa phương pháp BTNB với các phương pháp dạy học khác 26

1.4 Tổ chức dạy học môn Khoa học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB 28

1.4.1 Khái quát về chương trình môn Khoa học lớp 4, lớp 5 28

1.4.2 Ưu thế của việc sử dụng phương pháp BTNB trong dạy học môn Khoa học lớp 4,5 30

1.4.3 Tiến trình dạy học môn Khoa học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB 32

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học môn Khoa học 39

1.5.1 Năng lực phương pháp của GV 39

1.5.2 Đặc điểm nhận thức của HS 39

1.5.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 40

1.5.4 Sĩ số học sinh của lớp học 40

1.5.5 Chương trình và Sách giáo khoa 41

Kết luận chương 1 42

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4,5 THEO HƯỚNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 43

2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 43

2.1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát 43

2.1.2 Mục đích, đối tượng và phương pháp khảo sát 43

2.2 Thực trạng tổ chức dạy học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB 44

2.2.1 Thực trạng nhận thức tổ chức dạy học môn khoa học lớp 4,5 theo hướng vận dụng phương pháp BTNB 44

2.2.2 Thực trạng tổ chức dạy học môn khoa học lớp 4,5 theo hướng vận dụng phương pháp BTNB 49

Trang 7

2.2.3 Thực trạng sử dụng phương pháp BTNB trong dạy học môn Khoa

học lớp 4, lớp 5 54

2.2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 theo hướng vận dụng phương pháp BTNB 59

Kết luận chương 2 62

Chương 3: QUY TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4, 5 THEO HƯỚNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT 63

3.1 Thiết kế quy trình tổ chức phương pháp BTNB 63

3.1.1 Giai đoạn 1: Thiết kế kế hoạch bài học 64

3.1.2 Giai đoạn 2: Tổ chức thực hiện kịch bản thiết kế 66

3.1.3 Giai đoạn 3: Kết thúc thực hiện 67

3.2 Tổ chức thực nghiệm các bài học 69

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 69

3.2.2 Nhiệm vu ̣ thực nghiê ̣m 70

3.2.3 Đi ̣a bàn thực nghiê ̣m 70

3.2.4 Nội dung thực nghiê ̣m 70

3.2.5 Tổ chứ c thực nghiê ̣m 70

3.2.6 Tiêu chí đánh giá 72

3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 73

Kết luận chương 3 76

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Khuyến nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BTNB : Bàn tay nặn bột GD-ĐT : Giáo dục và đào tạo

TC, CĐ, ĐH : Trung cấp, cao đẳng, đại học THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông TNXH : Tự nhiên và Xã hội

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Nhận thức của GV về khái niệm“Phương pháp BTNB” 45

Bảng 2.2 Thực trạng về ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học 46

Bảng 2.3 Thực trang nhận thức về đặc điểm của phương pháp BTNB 47

Bảng 2.4 Nhận thức về các hoạt động cần thiết khi vận dụng PP BTNB trong dạy học môn Khoa học 48

Bảng 2.5 Thực trạng vận dụng PP BTNB trong thực hiện nội dung môn Khoa học lớp 4,5 50

Bảng 2.6 Đánh giá về hành động học tập của HS khi vận dụng PP BTNB 51

Bảng 2.7 Nhận thức của GV về tiến trình vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học môn Khoa học 52

Bảng 2.8 Thực trạng thông tin hỗ trợ GV về phương pháp BTNB 53

Bảng 2.9 Thực trạng sử dụng các kĩ thuật dạy học của GV trong vận dụng PP BTNB 54

Bảng 2.10 Thực trạng các hoạt động nhận thức của HS trong học tập môn Khoa học thông qua vận dụng phương pháp BTNB 56

Bảng 2.11 Biểu hiện hành vi học tập của HS trong giờ học môn Khoa học 57

Bảng 2.12 Thực trạng thái độ của HS trong học tập môn Khoa học 58

Bảng 3.1 Kế hoa ̣ch thực nghiê ̣m 72

Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra môn Khoa ho ̣c 4 sau thực nghiê ̣m 73

Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra môn Khoa ho ̣c 5 sau thực nghiê ̣m 74

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển theo hướng tích cực không chỉ mang lại cho con người những cơ hội, môi trường, điều kiện và động lực để phát huy tiềm năng vốn có của bản thân để phát triển toàn diện mà còn đặt ra không ít những khó khăn, thử thách đòi hỏi con người phải không ngừng học hỏi, tiếp thu tri thức và nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện và hình thành kĩ năng, kĩ xảo

Nhiệm vụ đặt ra cho sự nghiệp giáo dục hiện nay là đổi mới căn bản, toàn diện để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo Việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục đòi hỏi phải đổi mới tất cả các mặt, các khâu của quá trình giáo dục: Từ xây dựng chương trình đào tạo, đổi mới năng lực của người dạy, đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá đến đổi mới đội ngũ quản lí các cấp trong ngành giáo dục Đổi mới toàn diện trong suốt hệ thống giáo dục từ giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục THPT, giáo dục chuyên nghiệp (Trung cấp, cao đẳng, đại học).Trong

đó đổi mới PPDH là thực sự cần thiết Đổi mới PPDH trong nhà trường gắn liền với đổi mới phương tiện dạy học và đổi mới trang thiết bị dạy học, dùng thiết bị dạy học để đổi mới phương pháp Trong điều 24.2 Luật Giáo dục (12-

1998) ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ

động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”.[14]

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, bậc học Tiểu học có vai trò rất quan trọng, được coi là đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng nên nền móng vững chắc, dần dần hình thành nên hệ thống tri thức sau này cho các HS Bên cạnh đó, qua mỗi bài học, HS được hình thành những hành vi đúng, những phẩm chất tốt từ đó hình thành nên nhân cách.Những kiến thức cơ bản và hành

Trang 11

vi mẫu ấy được quy định trong khối kiến thức môn Toán, Tiếng việt, Đạo đức, TNXH, Khoa học, Lịch sử, Địa lý…

Môn học khác nhau đảm nhiệm nhiệm vụ và chức năng cung cấp cho HS những kiến thức và kĩ năng cần thiết Trong đó, Khoa học được coi là môn học chiếm vị trí quan trọng bởi nội dung môn học có sự tích hợp kiến thức của nhiều khoa học như: Vật lí, Hóa học, Sinh học qua đó hình thành cho HS thế giới quan dựa trên nền tảng tri thức khoa học Qua mỗi tiết học cung cấp cho

HS những kiến thức cơ bản ban đầu liên quan đến hiểu biết về thế giới tự nhiên, con người Các em bước đầu được làm quen với những tri thức khoa học, có những hiểu biết cơ bản về các hiện tượng tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày, những phát minh khoa học của loài người từ đó giáo dục cho HS ý thức bảo vệ môi trường, lòng say mê và hứng thú nghiên cứu khoa học ngay từ nhỏ, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Vì vậy, môn Khoa học có điều kiện thuận lợi để vận dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học để bước đầu hình thành cho HS phương pháp học tập mang tính chất tự tìm tòi nghiên cứu, rèn khả năng tư duy sáng tạo

Môn học này trang bị những kiến thức khoa học gần gũi với học sinh, đó

là những kiến thức giúp HS lí giải được cuộc sống, hiện tượng tự nhiên xung quanh các em, đòi hỏi người GV tạo điều kiện cho HS trải nghiệm, được thực hành lại lí thuyết đã được nghe, được đọc, minh họa lại những tri thức để vận dụng vào cuộc sống Vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng quan trọng, để khắc phục được tình trạng trên một số phương pháp dạy học mới, tiến tiến và hiện đại hơn đước các nhà trường áp dụng như: PP nêu và giải quyết vấn

đề, PP thảo luận nhóm, trò chơi học tập… Trong đó cần kể đến một PPDH mới với nhiều ưu điểm và có thể đáp ứng được mục tiêu trên và vận dụng tốt vào giảng dạy các môn ở trường Tiểu học nói chung và môn Khoa học nói riêng đó chính là PP “Bàn tay nặn bột” Trong quá trình tiếp cận phương pháp này HS được động não suy nghĩ, thảo luận trao đổi ý kiến với HS khác để tìm ra kiến

Trang 12

thức mới GV là người chuẩn bị nội dung bài học, chuẩn bị những câu hỏi phù hợp, vừa sức với các em và quan trọng, GV lựa chọn nội dung để áp dụng được phương pháp BTNB vào dạy học tạo điều kiện cho HS được tiếp cận và khám phá ra tri thức mới của bài học Có thể nói, vận dụng PP BTNB là một hướng tiếp cận mới trong dạy học ở nhà trường hiện nay, không chỉ góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhà trường mà đồng thời còn là những gợi dẫn cho GV tiểu học những suy nghĩ mới, cách làm mới trong dạy học cũng như phát triển năng lực nghiệm vụ của của bản thân, đáp ứng nhu cầu của giáo dục nhà trường hiện nay

Xuất phát từ những lí do trên, người viết lựa chọn đề tài: “Tổ chức dạy học

môn Khoa học ở các trường Tiểu học thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo hướng vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột” làm đề tài luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Giáo dục học

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức dạy học môn Khoa học theo hướng vận dung PP BTNB ở một số trường Tiểu học thành phố Thái Nguyên luận văn thiết kế quy trình tổ chức dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học theo hướng vận dụng PP BTNB góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Khoa học nói riêng, chất lượng dạy học ở một số trường tiểu học thành phố Thái Nguyên nói riêng

3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tổ chức dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 ở một số trường tiểu học thành phố Thái Nguyên theo hướng vận dụng PP BTNB

3.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học

4 Giả thuyết khoa học

Vận dụng BTNB trong dạy học là xu hướng mới của dạy học hiện đại, theo cách dạy học này nhấn mạnh và huy động sự tham gia, trải nghiệm của

Trang 13

học sinh trong quá trình nhận thức Phương pháp BTNB không là một PPDH đơn nhất mà có mối quan hệ mật thiết với các phương pháp dạy học khác ở nhà trường tiểu học Nếu thiết kế được quy trình vận dụng phương pháp dạy học BTNB trong dạy học môn Khoa học lớp 4, lớp 5 và tổ chức vận dụng quy trình

đó một cách khoa học sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động và khơi nguồn sáng tạo cho học sinh trong quá trình học tập, góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả dạy học nhà trường tiểu học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lí luận của tổ chức dạy học môn Khoa học môn Khoa học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB ở trường tiểu học

5.2 Khảo sát thực trạng tổ chức dạy học môn Khoa học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB tại một số trường tiểu học, thành phố Thái Nguyên

5.3 Quy trình tổ chức dạy hoc môn Khoa học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB ở trường tiểu học tổ chức thực nghiệm tại trường tiểu học Đội Cấn, thành phố Thái Nguyên

6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát thực trạng 16 GV và 60 HS ở trường Tiểu học Đội Cấn, 6 GV và 50 HS ở trường Tiểu học Phúc Trìu, 6 GV và 55 HS ở trường Tiểu học Gia Sàng thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên

Tổ chức thực nghiệm dạy học một số bài học trong môn Khoa học lớp 4,

lớp 5tại trường Tiểu học Đội Cấn - Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên

7 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các nhóm phương pháp sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu, sách báo, tài liệu tham khảo có kiên quan đến vấn đề Chọn lọc, phân tích, khái quát hóa các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu để xác lập cơ sở lí luận cho luận văn

Trang 14

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động của học sinh trong giờ học, quan sát giáo viên trong giờ dạy để nhận thấy hứng thú của HS trong giờ học, sự tương tác giữa GV - HS, HS - HS, Sự phản hồi người học của người dạy trong một tiết học

7.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục: Sử dụng các bảng hỏi để trưng cầu

ý kiến các GV dạy lớp 4, 5 và cán bộ quản lí của các trường tiểu học để thu thập những số liệu cụ thể về thực trạng nhận thức và thực trạng sử dụng phương pháp của GV

7.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến của các cán bộ quản lí giáo dục, GV có kinh nghiệm dạy học tiểu học về các thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Tiến hành lấy ý kiến cá nhân của một số GV và cán bộ quản lí về một số nội dung liên quan đến phương pháp dạy học BTNB: Những đặc điểm của BTNB, những hiệu quả mà BTNB mang lại khi sử dụng, Những yêu cầu, nguyên tắc cơ bản,… quan trọng là biết được những khó khăn, hạn chế mà GV đang mắc phải khi sử dụng phương pháp dạy học này

7.2.4 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn cán bộ quản lí, GV, HS thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Trong quá trình nghiên cứu

có thể tiến hành phỏng vấn trực tiếp HS về hứng thú học tập, phỏng vấn GV về tần suất sử dụng phương pháp, hiệu quả sử dụng,… Để nắm được thực trạng sử dụng phương pháp trong các nhà trường tiểu học

7.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Để có được tư liệu cho quá trình nghiên cứu việc áp dụng phương pháp vào giảng dạy ở thực tế

7.2.6 Thực nghiện sư phạm: Để tổ chức thực nghiệm quy trình sử dụng phương pháp BTNB mà luận văn thiết kế trong dạy học môn Khoa học lớp 4, lớp5 ở trường Tiểu học Đội Cấn, TP Thái Nguyên Chúng tôi thiết kế các bài học theo phương pháp BTNB và tiến hành thực nghiệm 02 tiết lớp 4, 02 tiết lớp

5 tại trường Tiểu học Đội Cấn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Trang 15

7.3 Phương pháp thống kế toán học

Sử dụng để xử lí các số liệu khảo sát thu được trong đề tài, xử lý kết quả thực nghiệm

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về tổ chức dạy học môn khoa học ở trường tiểu

học theo hướng vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột

Chương 2.Thực trạng tổ chức dạy học môn khoa học lớp 4,5 theo hướng vận

dụng phương pháp bàn tay nặn bột tại trường tiểu học, thành phố Thái Nguyên

Chương 3 Quy trình tổ chức dạy học môn Khoa học lớp 4,5 theo hướng

vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO HƯỚNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP

BÀN TAY NẶN BỘT

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu trên Thế giới

Năm 1995, Giáo sư Georges Charpak dẫn một đoàn gồm các nhà khoa học và các đại diện của Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp đến một khu phố nghèo ở Chicago (Mỹ) để tìm hiểu về một phương pháp dạy học khoa học dựa trên việc thực hành, thí nghiệm đang được thử nghiệm ở đây Sau đó một nhóm nghiên cứu về vấn đề này được thành lập tại Ban Trường học - Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp Viện Nghiên cứu Sư phạm Quốc gia Pháp (INRP) được đề nghị làm báo cáo về hoạt động khoa học này ở Mỹ và sự tương thích của các hoạt động này với điều kiện ở Pháp (Báo cáo thực hiện vào tháng 12 năm 1995)

Trong năm học 1995 - 1996, Ban Trường học - Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp

đã vận động khoảng 30 trường thuộc 3 tỉnh tình nguyện thực hiện chương trình

Tháng 4/1996, một hội thảo nghiên cứu về phương pháp BTNB được tổ chức tại Poitiers (miền Trung nước Pháp), tại đây kế hoạch hành động đã được giới thiệu và triển khai

Ngày 9/7/1996, Viện Hàn lâm Khoa học Pháp đã thông qua quyết định thực hiện chương trình

Tháng 9/1996, cuộc thử nghiệm đầu tiên được tiến hành bởi Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp với 5 tỉnh và 350 lớp học tham gia Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu tham gia giúp đỡ các GV thực hiện các tiết dạy Từ đây, phương pháp BTNB chính thức được ra đời trên cơ sở kế thừa của các thử nghiệm trước đó và tiếp tục phát triển

Năm 1997, một nhóm chuyên gia của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và Viện Nghiên cứu Sư phạm Quốc gia Pháp được thành lập để thúc đẩy sự phát triển của khoa học trong trường học

Trang 17

Tháng 9/1998, Viện Hàn lâm Khoa học Pháp soạn thảo 10 nguyên tắc cơ bản của phương pháp BTNB Sáu nguyên tắc đầu tiên liên quan đến tiến trình

sư phạm và bốn nguyên tắc còn lại nêu rõ những bên liên quan tới cộng đồng khoa học giúp đỡ cho phương pháp BTNB Hoạt động triển khai phương pháp BTNB được diễn ra mạnh mẽ ngay từ những ngày đầu

Tháng 6/2000, một chương trình đổi mới dạy học khoa học và công nghệ trong nhà trường được Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp công bố Phương pháp BTNB là phương pháp được khuyên dùng trong chương trình mới

Năm 2001, nhóm chuyên gia nghiên cứu về phương pháp BTNB của Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và Viện Nghiên cứu Sư phạm Quốc gia đã được

mở rộng thêm với trường Đại học Sư phạm Paris

Tháng 5/2004 tại Paris, hội thảo quốc gia về hỗ trợ khoa học, công nghệ trong các trường tiểu học được thành lập Hiến chương về hỗ trợ khoa học, công nghệ trong trường tiểu học được soạn thảo để phục vụ hướng dẫn cho các đơn vị liên quan

Năm 2005, một thỏa thuận đã được ký kết giữa Viện Hàn lâm Khoa học Pháp và Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp nhằm tăng cường vai trò của hai cơ quan này đối với giáo dục khoa học và kỹ thuật Một thỏa thuận mới cũng đã được

ký kết vào năm 2009 giữa Viện Hàn lâm Khoa học Pháp, Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp và Bộ giáo dục Cấp cao và Nghiên cứu[7]

Ngay từ khi mới ra đời, phương pháp BTNB đã được tiếp nhận và truyền

bá rộng rãi Nhiều quốc gia trên thế giới đã hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học Pháp trong việc phát triển phương pháp này như Brazil, Bỉ, Afghanistan, Campuchia, Chilê, Trung Quốc, Thái Lan, Colombia, Hy lạp, Malaysia, Marôc, Serbi, Thụy Sĩ, Đức,…trong đó có Việt Nam thông qua Hội Gặp gỡ Việt Nam Tính đến năm 2009, có khoảng hơn 30 nước tham gia trực tiếp vào chương trình BTNB

Nhờ sự bảo trợ của Vụ Công nghệ - Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp, trang web quốc tế dành cho 9 quốc gia được thành lập năm 2003 nhằm đăng tải tài

Trang 18

liệu cung cấp bởi các giáo viên, giảng viên theo ngôn ngữ của mỗi nước thành viên tham gia

Hệ thống các trang web tương đồng (site miroir) với trang web BTNB của Pháp được nhiều nước thực hiện, biên dịch theo ngôn ngữ bản địa của các quốc gia như Trung Quốc, Hy Lạp, Đức, Serbi, Colombia…

Tháng 7 năm 2004, trường hè Quốc tế về BTNB với chủ đề “Bàn tay nặn bột trên thế giới: trao đổi, chia sẻ, đào tạo” đã được tổ chức ở Erice - Ý dành cho các chuyên gia Pháp và các nước

Hội đồng Khoa học Quốc tế (International Council for Science - ICS) và Hội các Viện Hàn lâm Quốc tế (International Academy Panel - IPA) phối hợp tài trợ để thành lập cổng thông tin điện tử về giáo dục khoa học, trong đó nội dung phương pháp BTNB được đưa vào Cổng thông tin đa ngôn ngữ này được thành lập vào tháng 4/2004 [3].

Nhiều dự án theo vùng lãnh thổ, châu lục được hình thành để giúp đỡ, hỗ trợ cho việc phát triển phương pháp BTNB tại các quốc gia Có thể kể đến dự án Pollen (Hạt phấn) của Châu Âu, dự án phát triển phương pháp BTNB trong hệ thống các lớp song ngữ tại Đông Nam Á của VALOFRASE (Valofrase du Francais en Asie du Sud-Est - Chương trình phát triển tiếng Pháp ở Đông Nam Á),

dự án giảng dạy khoa học cho các nước nói tiếng Ả-rập…

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Phương pháp BTNB được đưa vào Việt Nam là một cố gắng nỗ lực to lớn của Hội Gặp gỡ Việt Nam Phương pháp BTNB được giới thiệu tại Việt Nam cùng với thời điểm mà phương pháp này mới bắt đầu ra đời và thử nghiệm ứng dụng trong dạy học ở Pháp

Tháng 01/2000, "Bàn tay nặn bột - Khoa học trong trường tiểu học" - cuốn sách đầu tiên về BTNB tại Việt Nam được xuất bản Đây là cuốn sách viết

về phương pháp BTNB của giáo sư Georges Charpak xuất bản năm 1996 được dịch bởi tác giả Đinh Ngọc Lân Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày được

Trang 19

những vấn đề lí luận cơ bản về phương pháp BTNB như: "Khái niệm, cơ sở

khoa học, ý nghĩa và khả năng vận dụng của phương pháp này vào dạy học nói chung, trong đó có dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học nói riêng Có thể coi đây là một trong những tài liệu quý báu đưa phương pháp BTNB du nhập

và tiếp cận với nền giáo dục phổ thông ở Việt Nam, đặc biệt là bậc giáo dục

Với mục đích cung cấp cho GV tiểu học tại Việt Nam một PPDH mới, tích cực nhằm thực hiện đổi mới PPDH trên tinh thần của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội Gặp gỡ Việt Nam đã trực tiếp làm việc với các trường Đại học, các Sở Giáo dục và Đào tạo tại các địa phương để tổ chức các lớp tập huấn về phương pháp BTNB cho GV cốt cán, giảng viên, cán bộ quản lý Tại một số địa phương, chương trình triển khai áp dụng phương pháp BTNB được triển khai mạnh mẽ từ cấp Phòng Giáo dục và Đào tạo đến cấp trường, nổi bật như thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng Tại Đà Nẵng sau đợt tập huấn dành cho

GV và chuyên viên các Phòng Giáo dục và Đào tạo năm 2009, Sở Giáo dục và Đào tạo Đà Nẵng đã làm việc với Hội Gặp gỡ Việt Nam để "đặt hàng" thiết kế một chương trình tập huấn ngắn cho cán bộ quản lý bậc Tiểu học toàn thành phố nhằm giúp các cán bộ quản lý hiểu rõ về phương pháp BTNB, tầm quan trọng của nó và tạo điều kiện cho các GV thí điểm áp dụng trong các tiết dạy khoa học ở trường

Năm 2011 Bộ GD-ĐT có phê duyệt đề án “Triển khai phương pháp Bàn tay nặn bột ở trường phổ thông giai đoạn 2011-2015” với hai giai đoạn: từ 2011-2013 thực hiện thí điểm, từ 2014-2015 thực hiện đại trà trên toàn quốc

Tính đến nay trải qua quá trình tiếp cận hơn một thập kỉ nhưng phương pháp BTNB vẫn chưa thực sự được tiếp cận và triển khai ở tất cả các trường tiểu học Các nghiên cứu về phương pháp này còn hạn chế, chủ yếu mới dừng lại ở các tài liệu tập huấn được lưu hành nội bộ

Trang 20

1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quá trình dạy học

Theo quan niệm cổ truyền, quá trình dạy học là tập hợp những hành động liên tiếp thâm nhập vào nhau của giáo viên và của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, nhằm làm cho học sinh tự giác nắm vững hệ thống những cơ sở khoa học và 10 trong quá trình đó phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan và nhân sinh quan [ 5, trang 9]

Như vậy quá trình dạy học được hiểu là tập hợp những hoạt động của thầy và trò dưới sự hướng dẫn chỉ dạo của thầy, nhằm giúp trò phát triển được nhân cách và nhờ đó mà dạt tới mục đích dạy học Khái niệm nêu trên phản ánh được rõ nét sự phối hợp hành động, thống nhất giữa thày và trò hướng tới mục đích dạy học

Khái niệm đưa ra được cấu trúc cơ bản của quá trình dạy học với các thành tố chủ yếu và các quan hệ giữa chúng: Thầy - Trò - Mục đích dạy học, cũng như sự tổ chức bên ngoài của quá trình này: thày chỉ đạo, trò lĩnh hội để đạt được mục đích dạy học Tuy nhiên, với khái niệm trên, chúng ta chưa thấy dược mặt trái đọng bên trong và chức năng của yếu tố tạo nên quá trình dạy học Theo quan niệm hiện nay, quá trình dạy học là một quá trình tương tác (hợp tác giữa thày và trò, trong đó thày chủ đạo như: hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học

Quá trình dạy học là quá trình xã hội được tổ chức có mục đích, có kế hoạch Trong đó dưới vai trò chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động tự

tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học, đạt mục đích dạy học đề ra

Quá trình dạy học còn được đề cập dưới cáchtiếp cận khác:

"Quá trình dạy học là mục đích rõ rệt, trình tự kế tiếp nhau sự hay đổi tác động qua lại giữa thầy và trò nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo

dục và phát triển nói chung của HS" (Iu.K.Babanxki) [dẫn theo 1]

Trang 21

Dưới góc độ lí thuyết điều khiển (Cibernetic), "Quá trình dạy học là quá

trình điều khiển, trong đó GV đóng vai trò điều khiển, HS đóng vai trò tự điều

khiển" [dẫn theo 1]

Trong quá trình phạm vị nghiên cứu của đề tài luận văn, chúng tôi tiếp cận khái niệm theo hướng: Quá trình dạy học là một quá trình, dưới vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) của người thầy, HS tự giác, tích cực tự

tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập.”

1.2.2 Phương pháp dạy học

Thuật ngữ phương pháp theo tiếng Hy Lạp là “Methodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt tới mục đích nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn Vận dụng khái niệm này vào quá trình dạy học có thể

hiểu Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của GV và HS trong

quá nhất nhiệm vụ học tập đề ra

Theo Bách khoa toàn thư của Liên Xô năm 1965 “Phương pháp dạy học

là cách thức làm việc của GV và Hs nhờ đó mà HS năm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức” [dẫn

theo 9]

Theo tác giả Nguyễn Quang Ngọc, Phương pháp dạy học được hiểu là

“Cách thức làm việc của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò

nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hoạt động, hình thành thế giới quan duy

vật khoa học…”[dẫn theo 9]

Phương pháp dạy học chính là những cách thức, là con đường, là phương hướng hành động để giải quyết vấn đề nhận thức của HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học Phương pháp dạy học bao gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học tác động lẫn nhau, phối hợp với nhau Trong đó phương pháp dạy giữ vai trò chủ đạo đối với phương pháp học, phương pháp học có tính độc lập tương đối, chịu sự tác động của phương pháp dạy và có tác động trở lại phương pháp dạy

Trang 22

Khi được tham gia vào các hoạt động dạy học theo phương pháp BTNB, trẻ luôn cảm thấy tò mò trước những hiện tượng mới mẻ của cuộc sống xung quanh, kích thích các em đặt ra các câu hỏi “tại sao?”.Có thể nói

“Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logic PPDH, dẫn dắt HS đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới mẻ là để HS tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu

rõ câu trả lời mình tìm được Qua đó, HS sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành

Có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp BTNB Tuy nhiên, có thể

hiểu khái quát “Phương pháp BTNB là một phương pháp dạy học tích cực dựa

trên tiến trình tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học

BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho HS bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra

Với một vấn đề khoa học đặt ra, HS có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm

Trang 23

chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức

Cũng như các PPDH tích cực khác BTNB luôn coi HS là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của GV

Tổ chức dạy học môn Khoa học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB chính là GV lựa chọn những hoạt động phù hợp có trong bài học để vận dụng phương pháp BTNB Tổ chức cho HS thực hành thí nghiệm để tự các em khám phá, tìm tòi ra tri thức mới Qua việc tìm tòi, nghiên cứu để khám phá ra những tri thức khoa học, bài học còn chú trọng đến rèn luyện ngon ngữ nói và viết cho

HS, bước đầu hình thành ở các em những kĩ năng nghiên cứu khoa học giản đơn

1.3 Một số vấn đề cơ bản về vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học Tiểu học

1.3.1 Đặc điểm hoạt động học tập của HS Tiểu học

HS tiểu học thuộc giai đoạn lứa tuổi từ 6 đến 11,12 tuổi Ở độ tuổi này ở các em chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang học tập Hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm, sinh lí của các em Cùng với sự phát triển về thể chất, đặc trưng của lứa tuổi này là hình thành tính chủ định Hoạt động vui chơi vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của HS Muốn HS học tập một cách hiệu quả, GV cầnchú ý phối hợp đồng đều giữa học tập và vui chơi cho các em

Tư duy của HS tiểu học mang đậm màu sắc xúc cảm và ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Mỗi HS phát triển dần khả năng khái quát hóa theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông HS tiểu học

Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai

Trang 24

đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh

mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn

liền với các rung động tình cảm của các em

Hầu hết HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi vào lớp 1, HS bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5, HS có ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của HS, nhờ có ngôn ngữ mà nhận thức của các em phát triển dễ dàng Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của HS ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của các em

Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế ở lứa tuổi này Trong

sự chú ý của HS đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, các em đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

Ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

Các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

Tình cảm của HS tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động Lúc này, khả năng kiềm chế cảm xúc của HS còn non nớt, dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, tình cảm của HS lúc này chưa

bền vững

Nét tính cách của HS đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn [8]

Trang 25

HS tiểu học phát triển về thể chất chậm hơn so với tuổi mẫu giáo Sự phát triển thể chất của HS tiểu học là tiền đề quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho các em có thể lĩnh hội tri thức phù hợp với độ tuổi để hình thành, phát triển

tâm lí, nhân cách và hoàn thiện bản thân mình

Ở lứa tuổi tiểu học, hoạt động của các em là sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động học tập, hoạt động vui chơi và hoạt động xã hội

Mối quan hệ giữa đặc điểm tâm, sinh lí HS cuối cấp tiểu học với việc vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học môn Khoa học

Ở bậc Tiểu học, đặc biệt là HS lớp 4, 5 tâm, sinh lí của các em đang được hình thành và phát triển về tất cả mọi mặt HS bắt đầu được khám phá, tìm kiếm và lĩnh hội những tri thức khoa học Môi trường thay đổi đòi hỏi HS phải tập trung chú ý liên tục, chuyển từ hiếu kì, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá Các em bước đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bộc phát để chuyển thành tính kỉ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo của đôi bàn tay để tập viết HS bước đầu có những biểu hiện của tính tích cực học tập Vì vậy, nội dung và phương pháp dạy học phải dựa trên sự phát triển tâm, sinh lý của HS

để mang lại hiệu quả giáo dục cao nhất Việc đưa các PPDH mới phù hợp với đặc điểm, trình độ nhận thức của HS đang ngày càng được nâng cao và chú trọng Trong đó, phương pháp BTNB là một phương pháp có thể đáp ứng đầy

đủ nhu cầu nhận thức của HS Khi thực hiện dạy và học theo phương pháp này các em có điều kiện được tiếp xúc trực tiếp với các đồ dùng trực quan sinh động phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của lứa tuổi tiểu học, từ đó kích thích trí tò mò, khám phá để tìm ra tri thức khoa học cho HS

1.3.2 Những đặc điểm của phương pháp BNTB

Đặc điểm cơ bản của phương pháp BTNB là quá trình dạy học được tiến hành dựa trên tìm tòi - nghiên cứu Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, HS đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy - học, tích cực, chủ động

Trang 26

lĩnh hội kiến thức, GV là người hướng dẫn, cố vấn, giúp đỡ HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức thông qua các hoạt động Phương pháp này ngoài việc giúp HS lĩnh hội kiến thức còn rèn luyện các kĩ năng và phát triển ngôn ngữ nói và viết cho HS

Có thể phân biệt phương pháp BTNB với các phương pháp dạy học khác

dựa trên một số dấu hiệu dưới đây:

Dạy học được tiến hành dựa trên vốn kiến thức hiện có của HS Vận dụng BTNB chú trọng đến vốn kiến thức ban đầu của HS Quan niệm ban đầu

là những biểu tượng ban đầu, ý kiến ban đầu của HS về sự vật, hiện tượng trước khi được tìm hiểu về bản chất sự vật, hiện tượng Đây là những quan niệm được hình thành trong vốn sống của HS, là các ý tưởng giải thích sự vật, hiện tượng theo suy nghĩ của HS, còn gọi là các "khái niệm ngây thơ" Thường thì các quan niệm ban đầu này chưa tường minh, thậm chí còn mâu thuẫn với các giải thích khoa học mà HS sẽ được học Biểu tượng ban đầu không phải là kiến thức cũ, kiến thức đã được học mà là quan niệm của HS về sự vật, hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học kiến thức đó Tạo cơ hội cho HS bộc

lộ biểu tượng ban đầu trước khi tiếp cận kiến thức mới là một đặc điểm quan

trọng của phương pháp dạy học BTNB

Dạy học là quá trình tổ chức cho HS tương tác với sự vật, hiện tượng qua

đó học sinh phát hiện vấn đề, lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng Vận dụng PP BTNB trong dạy học đặc biệt chú trọng đến trải nghiệm, thực hành của HS HS

được thực hành, làm thí nghiệm trong quá trình học để tìm tòi và khám phá ra tri thức khoa học mới Vấn đề đặt ra trước HS có thể là qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phù hợp HS phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng;

Trang 27

rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu Trong quá trình này, HS luôn luôn phải động não, trao đổi với các HS khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức Con đường tìm ra kiến thức của HS cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học

Những sự vật, hiện tượng được GV lựa chọn để HS quan sát đều là những sự vật, hiện tượng gần gũi với chính cuộc sống hàng ngày của các em,

dễ quan sát và dễ tìm hiểu

Trong quá trình tìm tòi tri thức qua bài học, HS sử dụng một công cụ để ghi lại, diễn đạt lại những suy nghĩ ban đầu, những phán đoán và cả những kết luận khoa học đó là vở thí nghiệm Đây còn là công cụ GV kết hợp với quá trình quan sát của mình trong mỗi giờ học để nhìn nhận được quá trình tiến bộ của HS trong học tập Bản thân HS cũng có thể dựa vào những ghi chép của mình để nhận ra sự tiến bộ của bản thân sau mỗi giờ học và sau cả một quá trình dài hơn

Khi sử dụng thì mỗi HS được làm việc nhóm, tăng cường khả năng tương tác giữa HS -HS Tìm tòi - nghiên cứu cần có sự hợp tác mới mang lại hiệu quả

cao Ngay từ việc thảo luận, hoạt động theo nhóm HS cũng đã có cơ hội làm những việc như một nhà khoa học: Chia sẻ ý tưởng, tranh luận, suy nghĩ về những gì cần làm và phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra

Trong quá trình thảo luận, HS được tự do phát biểu ý kiển của mình, Biết kết hợp với ý kiến của người khác để đi đến kết luận cuối cùng Phát triển khả năng giao tiếp tự tin, lập luận logic cho HS

Sử dụng những dự án học tập có tính lâu dài theo nhiều tuần học, nhiều chủ đề Các hoạt động GV đưa ra phải được tổ chức sao cho đảm bảo mức độ

tiến bộ dần trong học tập của HS Việc xây dựng các hoạt động này trên cơ sở

chương trình, SGK, nhưng cũng để HS có sự tự chủ, sự độc lập và sáng tạo

Mỗi chủ đề có thể thực hiện trong nhiều tuần nhưng ít nhất phải có 02 tiết học về chủ đề đó Các dự án học tập phải được đảm bảo tính liên tục của các hoạt động và các phương pháp sư phạm dựa trên tổng thể chương trình

Trang 28

Vận dụng PP BTNB trong dạy học đòi hỏi sự đa dạng về nguồn lực tham gia như gia đình và cộng đồng được khuyến khích ủng hộ và tham gia vào

các hoạt động trên lớp Các nhà khoa học được huy động vào giúp đỡ các hoạt động của lớp học theo khả năng chuyên môn của mình Theo từng vùng và khu

vực, ở các cơ sở đào tạo, GV được cung cấp kiến thức về sư phạm và giáo dục

Thông qua các trang web của chương trình, GV có thể tham khảo các modul bài học hay những ý tưởng xây dựng hoạt động, trao đổi và được giải đáp cho những câu hỏi hay thắc mắc nảy sinh trong quá trình giảng dạy Bên cạnh đó, GV cũng có thể tham gia vào các chương trình xây dựng nội dung chung cùng dồng nghiệp, các chuyên gia và các nhà khoa học

1.3.3 Những ưu điểm của vận dụng phương pháp BTNB trong dạy học

1.3.2.1 HS được quan sát và tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng gần gũi

với cuộc sống xung quanh

Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em được thao tác, thực hành trên những sự vật, hiện tượng

Sự vật có thể được hiểu là bao gồm cả những sự vật thật như Thực vật, đồ vật hoặc thậm chí là động vật sống (lá cây, bông hoa, quả bóng, con chuột, Và tiến hành các thí nghiệm với nó và cả những sự vật mà HS không thể tiếp xúc được như Mặt trăng, Mặt trời, bầu trời,…

Đối với HS tiểu học vốn sống của các em còn ít, vì vậy các sự vật hiện tượng càng gần gũi với HS càng kích thích sự tìm hiểu, khuyến khích sự tìm tòi của các em

1.3.3.2 Phát triển ở HS năng lực lập luận, tư duy phản biện trong quá trình học tập

Vận dụng phương pháp này nhấn mạnh sự khuyến khích HS suy nghĩ đưa ra những lập luận để bảo vệ cho ý kiến cá nhân của mình; nhấn mạnh vai trò hoạt động nhóm trong học tập Với phương pháp dạy học này, HS được học tập trong nhóm như: nhóm cùng làm thí nghiệm, nhóm trao đổi, nhóm

Trang 29

thảo luận, Khi trao đổi với những thành viên khác, các em nảy sinh những mâu thuẫn trong nhận thức hoặc mâu thuẫn giữa kiến thức, kĩ năng thông thường, các em đã có với những tình huống thưc tiễn khi quan sát sự vật, hiện tượng

1.3.3.3 Tiến trình dạy học theo hướng nâng cao dần về mức độ nhận thức của HS

Hoạt động dạy học được tổ chức theo tiến trình sư phạm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn

Mức độ nhận thức được hình thành theo quy luật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Để HS hiểu sâu sắc kiến thức, yêu cầu của sự hình thành kiến thức cũng theo quy tắc này Từ hiểu biết cơ bản, rồi nâng dần lên theo cấp

độ tương ứng với khả năng nhận thức của HS sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức hiệu quả và chắc chắn

1.3.3.4 Phương pháp được sử dụng trong thời gian lâu dài

Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập

Một chủ đề khoa học được giảng dạy trong nhiều tuần sẽ giúp cho HS có thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu, xây dựng và hình thành kiến thức Điều này cũng có lợi cho HS trong việc khắc sâu, ghi nhớ kiến thức thay vì giảng dạy ồ

ạt, nhồi nhét kiến thức, "cưỡi ngựa xem hoa"

Các kiến thức trong chương trình bậc học, lớp học đều có sự kế thừa, liên quan với nhau GV khi thiết kế hoạt động dạy học cần chú ý đến tính kế thừa của các vấn đề đã được đưa ra ở cấp học dưới Càng có sự trao đổi thông tin, thống nhất giữa GV các bậc học, các lớp thì hoạt động dạy học càng có hiệu quả

1.3.3.5 Trang bị cho HS những kĩ năng giản đơn trong nghiên cứu khoa học

Học sinh bắt buộc có mỗi em một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em.

Trang 30

Vở thí nghiệm là một đặc trưng quan trọng của phương pháp BTNB Ghi chép trong vở thí nghiệm được thực hiện bởi từng cá nhân HS theo cách thức

và ngôn ngữ của chính các em Trong mỗi tiết học, HS tiến hành ghi chép những biểu tượng ban đầu , những dự đoán kết quả thí nghiệm và những câu trả lời của bản thân mình Sau khi giải quyết xong vấn đề những ghi chép đó có thể đúng hoặc sai HS sẽ chỉnh sửa và ghi chép lại một cách chính xác.Thông qua

vở thí nghiệm GV cũng có thể tìm hiểu sự tiến bộ trong nhận thức hay biết mức

độ nhận thức của HS để điều chỉnh hoạt động dạy học, hàm lượng kiến thức cho phù hợp Ghi chép trong vở thí nghiệm không những giúp HS làm quen với công tác nghiên cứu khoa học mà còn giúp HS rèn luyện ngôn ngữ

Vì hoạt động học tập của HS được diễn ra trong trải nghiệm, thực hành

và thực tiên x thao tác với đồ vật hoặc quá trình tương tác với các sự vật, hiện tượng nên người học hình thành được các kỹ năng quan sát, so sánh, suy luận, khái quát hóa,… thu thập thông tin lý giải cho vấn đề khóa học, thực tiễn

1.3.3.6.Phát triển ngôn ngữ cho HS

Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói

Ở đây, nguyên tắc 6 nhấn mạnh mối liên hệ giữa dạy học kiến thức và rèn luyện ngôn ngữ (nói và viết) cho HS Sự hiểu kiến thức nội tại bên trong

HS sẽ được biểu hiện ra bằng ngôn ngữ khi HS phát biểu, trình bày, viết GV cần quan tâm, tôn trọng và lắng nghe HS cũng như yêu cầu các HS khác lắng nghe ý kiến của bạn mình Các thuật ngữ khoa học, khái niệm khoa học cũng được hình thành dần dần, giúp HS nắm vững và hiểu sâu sắc

1.3.3.7 Có sự phối hợp tham gia của cộng đồng

Các gia đình hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học

Ưu điểm này nhấn mạnh vai trò của gia đình và xã hội trong việc phối kết hợp với nhà trường để thực hiện tốt quá trình giáo dục HS Trong đó, gia

Trang 31

đình, khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học như: cùng con thực hiện các thí nghiệm, bài tập ở nhà; cùng con chuẩn bị các đồ dùng, nguyên vật liệu trước khi mang đến lớp…

Ở địa phương, các cơ sở khoa học (trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu, ) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình

Các trường học có thể mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các giáo sư tới nói chuyện với HS trong lớp học hay giúp đỡ GV trong việc thiết kế hoạt động dạy học (kiến thức, thí nghiệm) Điều này là thực sự cần thiết đối với các

GV tiểu học vì trong chương trình đào tạo không được học nhiều về các kiến thức khoa học

Ở địa phương, các cơ sở đào tạo giáo viên (Trường cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy Các đối tác khoa học (trường Đại học, Cao đẳng, viện nghiên cứu…) được huy động

để giúp đỡ các hoạt động của lớp học theo khả năng của mình.Nguyên tắc này nhấn mạnh sự hợp tác giúp đỡ về mặt sư phạm, phương pháp, kinh nghiệm của các giảng viên, chuyên gia nghiên cứu về phương pháp BTNB giúp đỡ GV thiết

kế giảng dạy, tư vấn giải đáp những vướng mắc của GV

1.3.3.7 GV có sự trao đổi với nhau

Giáo viên có thể tìm thấy trên Internet các website có nội dung về những môđun (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải đáp thắc mắc Họ cũng có thể tham gia những hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách

1.3.4 Một số kĩ thuật dạy học trong dạy học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB

1.3.4.1 Kĩ thuật tổ chức lớp học

Thực hiện dạy học môn Khoa học theo phương pháp BTNB có rất nhiều hình thức tổ chức lớp học theo nhóm Vì vậy nếu muốn tiện lợi cho việc tổ

Trang 32

chức thảo luận, hoạt động nhóm thì lớp học nên được sắp xếp bàn ghế theo nhóm cố định Sao cho đảm bảo phù hợp với sĩ số HS, tầm nhìn của các HS được lưu ý, cung cấp đủ ánh sáng và đảm bảo khoảng cách phù hợp giữa các nhóm khi thảo luận

1.3.4.2 Kĩ thuật chia nhóm

Trong quá trình thảo luận, các học sinh được kết nối với nhau bằng chủ

đề thảo luận và trao đổi xoay quanh chủ đề đó Học sinh cần được khuyến khích trình bày ý tưởng, ý kiến cá nhân của mình trước các học sinh khác, từ đó rèn luyện cho học sinh khả năng biểu đạt, đồng thời thông qua đó có thể giúp các học sinh trong lớp đối chiếu, so sánh với suy nghĩ, ý kiến của mình Những

ý kiến trái ngược quan điểm luôn là sự kích thích mạnh mẽ cho sự thảo luận sôi nổi của lớp học Để tạo hứng thú và tạo cơ hội cho HS, GV cần lựa chọn đa dạng về hình thức chia nhóm Có rất nhiều hình thức khác nhau: Chia theo số điểm danh, màu sắc, sở thích, tháng sinh, cùng sở thích, cùng mảnh ghép,

1.3.4.3 Kĩ thuật tổ chức hoạt động nhóm

Hoạt động nhóm giúp học sinh làm quen với phong cách làm việc hợp tác với nhau giữa các cá nhân Kỹ thuật hoạt động nhóm được thực hiện ở nhiều phương pháp dạy học khác, không phải một đặc trưng của phương pháp BTNB Tuy nhiên trong việc dạy học theo phương pháp BTNB, hoạt động nhóm được chú trọng nhiều và thông qua đó giúp học sinh làm quen với phong cách làm việc khoa học, rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh mà chúng ta sẽ phân tích kỹ hơn trong phần nói và rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh

Mỗi nhóm sẽ có một nhóm trưởng để điều khiển và đại diện nhóm trình bày vấn đề, một thư kí dể ghi chép, các thành viên còn lại tích cực, chủ động trao đổi với các bạn.Trong quá trình học sinh thảo luận theo nhóm, giáo viên quan sát các nhóm để bao quát,thu thập thông tin đánh giá HS và giúp đỡ kịp thời khi các em gặp khó khăn

Trang 33

1.3.4.4 Kĩ thuật đặt câu hỏi của giáo viên

Trong dạy học theo phương pháp BTNB, câu hỏi của giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của của phương pháp và thực hiện tốt ý

đồ dạy học Có thể là câu hỏi nêu vấn đề, GV đưa ra câu hỏi ở đầu giờ học, trong quá trinh lên lớp, GV còn đặt các câu hỏi gợi ý,dẫn dắt HS đến vấn đề cần tìm hiểu Câu hỏi đặt ra cần đảm bảo tính sư phạm và tính mục đích, để HS

dễ hiểu và đưa ra được câu trả lời đúng vấn đề

1.3.4.5 Kĩ thuật đề xuất thí nghiệm nghiên cứu, phương án tìm câu trả lời

Bước đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay các giải pháp tìm câu trả lời trong vận dụng phương pháp BTNB cũng là một bước khá phức tạp, đòi hỏi giáo viên phải có kỹ năng sư phạm để điều khiển tiết học, tránh để HS đi quá

xa yêu cầu nội dung của bài học

Đối với ý kiến hay vấn đề đặt ra đơn giản, ít phương án hay thí nghiệm chứng minh thì giáo viên có thể cho học sinh trả lời trực tiếp phương án mà học sinh đề xuất

Phương án tìm câu trả lời hay thí nghiệm kiểm chứng đều xuất phát từ những sự khác biệt của các ý tưởng ban đầu (biểu tượng ban đầu) của học sinh,

vì vậy giáo viên nên xoáy sâu vào các điểm khác biệt gây tranh cãi đó để giúp học sinh tự đặt câu hỏi thắc mắc và kích thích học sinh đề xuất các phương án

để tìm ra câu trả lời

Các thí nghiệm phải vừa sức với suy nghĩ đơn giản của HS, với các vật liệu thí nghiệm thân thiện, quen thuộc, hạn chế dùng những thí nghiệm phức tạp hay dùng những vật dụng thí nghiệm quá xa lạ đối với HS

1.3.4.6 Kĩ thuật hướng dẫn học sinh sử dụng vở thí nghiệm

Vở thí nghiệm là một đặc trưng quan trọng trong thực hiện phương pháp BTNB Thông qua việc ghi chép trong vở thí nghiệm, học sinh được tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và giáo viên cũng giúp học sinh rèn luyện ngôn ngữ viết thông qua cuốn vở này

Trang 34

GV cần hướng đẫn HS ghi chép đầy đủ những biểu tượng, những câu hỏi

về vấn đề, khi làm thí nghiệm cần ghi những dự đoán và hiện tượng xảy ra, những kết luận về kiến thức cần nhớ GV cần rèn cho HS ghi chép ngắn gon, dễ hiểu và trình bày khoa học

1.3.4.7 Kĩ thuật hướng dẫn HS làm thí nghiệm

Khi hướng dẫn HS làm thí nghiệm hay quan sát hoặc nghiên cứu tài liệu

để tìm ra câu trả lời, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chú ý đến các thông tin chính để rút ra kết luận tương ứng với câu hỏi Các lệch, câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu với trình độ HS.Trong quá trình HS tiến hàng thí nghiệm, GV quát sát để có những điều chỉnh, góp ý khi HS có sai sót Khuyến khích học sinh độc lập thực hiện giữa các nhóm, không nhìn và học theo nhau

1.3.5 Đánh giá HS trong quá trình dạy học theo phương pháp BTNB

Dạy học theo phương pháp BTNB giúp HS rèn luyện các kĩ năng (Thảo luận, trình bày vấn đề, tổng hợp vấn đề, đặt câu hỏi cho vấn đề cần giải quyết, hoạt động và làm việc theo nhóm, làm thí nghiệm…) và rèn luyện ngôn ngữ nói

và viết Chính vì vậy, khi kiểm tra đánh giá HS cũng cần chú trọng đến kiểm

tra 2 vấn đề chính là kiến thức và kĩ năng

Về kiến thức, GV có thể kiểm tra theo hình thức thông thường đối với các bài dạy theo phương pháp khác Hình thức kiểm tra bằng trắc nghiệm được khuyến khích sử dụng vì kiểm tra được lượng kiến thức nhiều hơn, rộng hơn

mà HS đã được học Bên cạnh đó cần thiết sử dụng thêm một vào câu hỏi dạng

tự luận ngắn để kiểm tra kĩ năng ngôn ngữ viết của HS

Về kĩ năng, GV có thể kiểm tra theo hình thức vấn đáp để kiểm tra kĩ năng trình bày của HS song song với việc kiểm tra kiến thức Kiểm tra thực hàn được khuyến khích với môn học làm thí nghiệm như môn Khoa học Cách kiểm tra HS làm thí nghiệm sẽ giúp HS vận dụng những hiểu biết của mình sau khi được học kiến thức, động não, suy nghĩ để áp dụng các vấn đề mới hoặc tương tự

Trang 35

1.3.6 Mối quan hệ giữa phương pháp BTNB với các phương pháp dạy học khác

Theo quan điểm hiện đại thì dạy học là dạy giải quyết vấn đề, quá trình dạy - học bao gồm " Một hệ thống các hành động có mục đích của GV tổ chức hoạt động trí óc và tay chân của HS, đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được nội dung dạy học, đạt được mục tiêu xác định" Trong quá trình dạy học, GV tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức của HS phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học Như vậy, chúng ta có thể hình dung diễn biến của hoạt động dạy học như sau:

GV tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ cho HS): HS hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết Dưới sự chỉ đạo của GV, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêu dạy học

và các nội dung cụ thể đã xác định HS tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của GV, hoạt động học của HS diễn ra theo một tiến trình hợp lí, phù hợp với những đòi hỏi phương pháp luận GV chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của HS, bổ sung, tổng kết, khái quát hóa, thể chế hóa tri thức, kiểm tra kết quả học phù hợp với mục tiêu dạy học các nội dung

cụ thể đã xác định

Trong dạy học các môn khoa học ở trường phổ thông, đối với việc xây dựng một kiến thức cụ thể thì tiến trình hoạt động giải quyết vấn đề được mô tả như sau: "Đề xuất vấn đề - suy đoán giải pháp - khảo sát lí thuyết, thực nghiệm

- kiểm tra, vận dụng kết quả"

Đề xuất vấn đề: Từ cái đã biết và nhiệm vụ cần giải quyết nảy sinh nhu cầu về một cái còn chưa biết, về một cách giải quyết không có sẵn, nhưng hi vọng có thể tìm tòi, xây dựng được Diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi

Suy đoán giải pháp: Để giải quyết vấn đề đặt ra, suy đoán điểm xuất phát cho phép đi tìm lời giải: chọn hoặc đề xuất mô hình có thể vận hành được để đi tới cái cần tìm; hoặc phỏng đoán các biến cố thực nghiệm có thể xảy ra mà nhờ

đó có thể khảo sát thực nghiệm để xây dựng cái cần tìm

Trang 36

Khảo sát lí thuyết, thực nghiệm: Vận hành mô hình rút ra kết luận logic

về cái cần tìm, thiết kế phương án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm, thu lượm các dữ liệu cần thiết và xem xét, rút ra kết luận về cái cần tìm

Kiểm tra, vận dụng kết quả: Xem xét khả năng chấp nhận được của các kết quả tìm được, trên cơ sở vận dụng chúng để giải thích các sự kiện và xem xét sự phù hợp của lí thuyết và thực nghiệm Xem xét sự cách biệt giữa kết luận

có được nhờ suy luận lí thuyết với kết luận có được từ các dữ liệu thực nghiệm

để quy nạp chấp nhận kết quả tìm được khi có sự phù hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, hoặc để xét lại, bổ sung, sửa đổi đối với thực nghiệm hoặc đối với sự xây dựng và vận hành mô hình xuất phát khi chưa có sự phù hợp giữa lí thuyết

và thực nghiệm, nhằm tiếp tục tìm tòi xây dựng cái cần tìm

Để phát huy đầy đủ vai trò tự chủ của HS trong hoạt động cá nhân và thảo luận tập thể nhằm giải quyết vấn đề cũng như vai trò của GV trong việc tổ chức, kiểm tra, định hướng các hoạt động đó thì với mỗi nhiệm vụ nhận thức

cần phải được thực hiện theo các pha như sau:Pha thứ nhất: "Chuyển giao

nhiệm vụ, tạo mâu thuẫn nhận thức, phát biểu vấn đề";Pha thứ hai: "Học sinh hành động độc lập, tự chủ, trao đổi, tìm tòi giải quyết vấn đề";Pha thứ ba:

"Tranh luận, hợp thức hoá, vận dụng tri thức mới"

Đối chiếu với tiến trình sư phạm của phương pháp BTNB, chúng ta có thể nhận thấy điểm tương đồng của phương pháp này so với các PPDH tích cực khác là ở chỗ đều nhằm tổ chức cho HS hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn đề Về cơ bản thì tiến trình dạy học cũng được diễn ra theo 3 pha chính là: chuyển giao nhiệm vụ cho HS; HS hoạt động tự chủ giải quyết vấn đề; báo cáo, hợp thức hóa và vận dụng kiến thức mới Điểm khác biệt của phương pháp BTNB so với các phương pháp khác là ở chỗ các tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề là những sự vật hay hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó Đặc biệt, phương pháp BTNB chú trọng việc giúp cho HS bộc lộ quan niệm ban đầu để

Trang 37

tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đề xuất các câu hỏi và giả thuyết Hoạt động tìm tòi - nghiên cứu trong phương pháp BTNB rất đa dạng, trong đó các phương án thí nghiệm nếu được tiến hành thì chủ yếu là các phương án được đề xuất bởi chính HS, với những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm Đặc biệt, trong phương pháp BTNB, HS bắt buộc phải có mỗi em một quyển vở thí nghiệm do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các

em Thông qua các hoạt động như vậy, phương pháp BTNB nhằm đạt được mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của HS các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói

1.4 Tổ chức dạy học môn Khoa học theo hướng vận dụng phương pháp BTNB

1.4.1 Khái quát về chương trình môn Khoa học lớp 4, lớp 5

1.4.1.1 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4

Môn Khoa học ở lớp 4 được xây dựng trên cơ sở tiếp nối những kiến thức về tự nhiên, con người và xã hội của môn Tự nhiên - Xã hội các lớp 1, 2,

3 Nội dung chương trình được cấu trúc đồng tâm, mở rộng theo ba chủ đề:Con người và sức khoẻ;Vật chất và năng lượng; Thực vật và động vật

Chủ đề “Con người và sức khỏe” gồm những nội dung : Sự trao đổi chất

của cơ thể với môi trường; Một số chất dinh dưỡng có trong thức ăn và nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể Ăn uống khi ốm đau; An toàn, phòng chống bệnh tật và tai nạn: Sử dụng thực phẩm an toàn (rau sạch, thực phẩm tươi sống, thức ăn, đồ uống đóng hộp,) Phòng một số bệnh do thiếu hoặc thừa chất dinh dưỡng; phòng một số bệnh lây qua đường tiêu hóa; phòng đuối nước

Chủ đề “Vật chất và năng lượng” gồm các bài học về: Nước - Tính chất

của nước, ba thể của nước, sự chuyển thể, vòng tuần hoàn của nước; vai trò của nước trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống; sự ô nhiễm nước; cách làm sạch nước; sử dụng nước hợp lí, bảo vệ nguồn nước; Không khí- Tính chất, thành phần của không khí; vai trò của không khí đối với sự sống, sự cháy;

sự chuyển động của không khí, gió, bão, phòng chống bão; sự ô nhiễm không

Trang 38

khí; bảo vệ bầu không khí trong sạch; Âm thanh: Các nguồn âm, sự truyền âm,

âm thanh trong đời sống, chống tiếng ồn; Ánh sáng: Các nguồn sáng, sự truyền ánh sáng; vai trò của ánh sáng; Nhiệt: Cảm giác nóng, lạnh, nhiệt độ, nhiệt kế, các nguồn nhiệt; vai trò của nhiệt

Chủ đề “Thực vật và động vật” gồm các bài học về:Sự trao đổi chất của

thực vật và động vật với môi trường

1.4.1.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5

Chương trình Khoa học ở lớp 5 cũng được xây dựng trên cơ sở tiếp nối những kiến thức về tự nhiên, con người và xã hội của môn Tự nhiên và Xã hội các lớp 1, 2, 3, môn Khoa học lớp 4 Nội dung chương trình ở lớp 5 cũng được cấu trúc đồng tâm, mở rộng và nâng cao theo ba chủ đề: Con người và sức khỏe; Vật chất và năng lượng và Thực vật và động vật Riêng ở lớp 5 còn có chủ đề Môi trường và tài nguyên thiên nhiên nhằm giúp HS nhìn lại mối quan

hệ giữa con người - tự nhiên - xã hội mà các em đã được học từ đầu cấp

Chủ đề “Con người và sức khỏe” gồm các bài học về:Sự sinh sản, sự lớn

lên và phát triển của cơ thể người Vệ sinh ở tuổi dậy thì; An toàn, phòng chống bệnh tật và tai nạn: Sử dụng thực phẩm an toàn; không sử dụng các chất gây nghiện; sử dụng thuốc an toàn; phòng một số bệnh do ăn thiếu hoặc ăn thừa chất dinh dưỡng; phòng một số bệnh lây qua đường tiêu hoá; phòng tránh một số bệnh (sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, viêm gan, HIV/ AIDS); phòng bệnh đuối nước; phòng chống xâm hại trẻ em; phòng tránh tai nạn giao thông

Chủ đề “Vật chất và năng lượng” gồm các bài học về: Đặc điểm và ứng

dụng của một số vật liệu thường dùng: tre mây, kim loại và hợp kim (gang, thép), đá vôi, gốm (gạch,ngói), xi măng, thuỷ tinh, cao su, chất dẻo, tơ sợi; Sự biến đổi hoá học của một số chất;Sử dụng một số dạng năng lượng: Than đá, dầu mỏ, khí đốt; Mặt Trời, gió, nước; năng lượng điện

Chủ đề “Thực vật và động vật” gồm các bài học về:Sự trao đổi chất của

thực vật và động vật với môi trường; Sự sinh sản của cây xanh; Sự sinh sản của một số động vật

Trang 39

Chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên” gồm các bài học về: Sự

sinh sản của động vật; Sự sinh sản của thực vật

1.4.2 Ưu thế của việc sử dụng phương pháp BTNB trong dạy học môn Khoa học lớp 4,5

1.4.2.1 Về mục tiêu môn học

Môn Khoa học ở bậc tiểu học nhằm giúp HS lĩnh hội những tri thức ban đầu và thiết thực về con người, tự nhiên và xã hội xung quanh Qua đó phát triển cho các em năng lực quan sát, năng lực tư duy, lòng ham hiểu biết khoa học và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, góp phần hình thành nhân cách cho HS Môn Khoa học lớp 4 và 5 đều có chung một mục tiêu sau đây:

Về kiến thức, giúp HS có một số kiến thức cơ bản ban đầu và thiết thực

sau: Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm; Sự trao đổi chất,

sự sinh sản của thực vật, động vật; Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một

số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất

Về kỹ năng, hình thành và phát triển cho HS các kỹ năng ban đầu như

sau: Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng; Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống, sản xuất; Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp Biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ ; Phân tích, so sánh, rút ra những dấu

hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên

Về thái độ, hình thành và phát triển ở HS thái độ và thói quen như: HS tự

giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng; Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống; Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp HS có ý thức và hành động bảo vệ môi trường xung quanh

Trang 40

Với mục tiêu trên, việc vận dụng phương pháp BTNB vào dạy học môn Khoa học là rất phù hợp và hiệu quả.Với đặc trưng của mình BTNB sẽ đáp ứng đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn học Phương pháp này chú trọng đến việc hình thành kiến thức khoa học cơ bản cho HS thông qua việc tiến hành thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu để chính các em khám phá ra tri thức mới dưới vai trò chủ đạo của GV Trong quá trình làm thí nghiệm HS được hình thành và phát triển những kĩ năng cơ bản trong cuộc sống như: Biết ứng xử đúng với những tình huống liên quan đến sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; làm được các thí nghiệm đơn giản, gần gũi với cuộc sống xung quanh; biết cách phát hiện và giải quyết vấn đề một cách lôgic, khoa học

Từ đó tạo cho HS hứng thú học tập, yêu thích môn học và có tình cảm đúng

đắn với việc bảo vệ môi trường xung quanh

1.4.2.2 Về nội dung chương trình

a Chương trình môn học được xây dựng theo quan điểm tích hợp

Môn Khoa học được phát triển từ môn Tự nhiên và Xã hội các lớp 1, 2,

3 Môn học được xây dựng trên cơ sở tích hợp các nội dung của khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học) với khoa học về sức khỏe, môi trường

Môn học được xây dựng theo quan điểm tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học như: Sinh học, Vật lí, Hóa học, Y học, Địa lí, Lịch sử, Môi trường, Dân số

b Chương trình môn học có cấu trúc đồng tâm nâng cao dần yêu cầu đối với học sinh

Nội dung chương trình môn Khoa học được phân bổ trong các chủ đề chính được lặp lại sau mỗi lớp của cấp học và được phát triển hơn Các kiến thức trong mỗi chủ đề được nâng cao dần, từ cụ thể đến trừu tượng, từ gần đến xa, từ dễ đến khó, tăng dần mức độ phức tạp, khái quát, tạo điều kiện để HS dễ thu nhận kiến thức

c Nội dung chương trình môn Khoa học chú ý tới những vốn sống, vốn hiểu biết của HS trong việc tham gia xây dựng các bài học

Nội dung chương trình được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với HS, giúp các em có thể áp dụng các kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng

Ngày đăng: 17/08/2017, 16:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w