NGÔ ĐỨC DANH XÁC ĐỊNH TÍNH KHẢ THI VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA PHƯƠNG PHÁP GHI NHẬT KÝ THỜI GIAN CHỜ ĐỢI CỦA NGƯỜI BỆNH TRONG QUY TRÌNH KHÁM TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ THỌ NĂM 2016
Trang 1NGÔ ĐỨC DANH
XÁC ĐỊNH TÍNH KHẢ THI VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA PHƯƠNG PHÁP GHI NHẬT KÝ THỜI GIAN CHỜ ĐỢI CỦA NGƯỜI BỆNH TRONG QUY TRÌNH KHÁM TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ THỌ NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2NGÔ ĐỨC DANH
XÁC ĐỊNH TÍNH KHẢ THI VÀ TÍNH CHÍNH XÁC CỦA PHƯƠNG PHÁP GHI NHẬT KÝ THỜI GIAN CHỜ ĐỢI CỦA NGƯỜI BỆNH TRONG QUY TRÌNH KHÁM TẠI PHÒNG KHÁM BỆNH VIỆN ĐA KHOA PHÚ THỌ NĂM 2016
Chuyên ngành: Quản lý bệnh viện
Trang 3Để hoàn thành chương trình học tập và luận án tốt nghiệp, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các tập thể và
cá nhân đã tạo điều kiện, hỗ trợ trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp vừa qua
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lưu Ngọc Hoạt và TS Nguyễn Huy Ngọc, là những người thầy đã tận tình hướng dẫn trong quá trình hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Đại học Y Hà Nội, các quý Thầy Cô giáo các Bộ môn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Bệnh viện đa khoa Tỉnh Phú Thọ, nơi đã cho phép tôi được lấy số liệu nghiên cứu và tạo điều kiện tối đa về nhân lực, vật lực để tôi có thể thu thập được số liệu, cảm ơn các Thầy Cô của
Bộ môn Thống kê, Tin học Y học, đặc biệt là ThS Đinh Thái Sơn đã tham gia
hỗ trợ tội trong việc thu thập và phân tích số liệu, cảm ơn Gia đình, Bạn bè Đồng nghiệp, các Anh Chị cộng tác viên và Thành viên nhóm nghiên cứu đã nhiệt tình tham gia trong quá trình thu thập số liệu điều tra thực hiện đề tài Đặc biệt, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả cán bộ, học viên, người bệnh và người nhà người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ đã đồng
ý tham gia và hỗ trợ tôi trong việc triển khai công trình nghiên cứu này
Trang 4Tôi là Ngô Đức Danh, học viên cao học khóa 24, trường Đại học Y Hà Nội, chuyên ngành Quản lý bệnh viện, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lưu Ngọc Hoạt và TS Nguyễn Huy Ngọc
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào đã được công bố tại Việt Nam
3 Số lượng và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Người viết cam đoan
Học Viên
Ngô Đức Danh
Trang 5BHYT Bảo hiểm y tế
DMIC (Dartmouth Microsystem Improvement Curriculum)
Chương trình Cải tiến Hệ thống của Dartmouth ECG Điện tim
EEG Điện não
KH Khách hàng
BNB Bệnh nhânNgười bệnh
PDSA Plan-Do-Study-Ac là chu trình Kế hoạch, hoạt động,
nghiên cứu và đánh giá PGS.TS Phó Giáo Sư – Tiến sĩ
SPSS Phương pháp tính toán trong thống kê
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Hệ thống bệnh viện 4
1.1.1 Khái niệm bệnh viện 4
1.1.2 Phân hạng bệnh viện theo Bộ Y tế 4
1.1.3 Chức năng của bệnh viện 5
1.2 Dịch vụ y tế 7
1.2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế 7
1.2.2 Khái niệm khám bệnh 8
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của khoa khám bệnh 9
1.2.4 Tiêu chuẩn và tác phong của nhân viên phòng khám 10
1.2.5 Khái niệm thời gian chờ khám bệnh 10
1.2.6 Mục tiêu đo lường thời gian chờ khám bệnh 12
1.2.7 Phân loại thời gian chờ đợi 12
1.2.8 Khái niệm tính khả thi 12
1.2.9 Tính khả thi của phương pháp dùng người nhà người bệnh ghi nhật ký thời gian chờ đợi của người bệnh 13
1.3 Khái niệm Nghiệm pháp so sánh sự tương hợp của Atlman- Band 15
1.3.1 Giới thiệu Nghiệm pháp 15
1.3.2 Tóm tắt Nghiệm pháp 16
1.4 Tình hình dịch vụ y tế tại Phú Thọ 19
1.5 Mô hình nghiên cứu 20
1.6 Sơ lược về cơ cấu tổ chức đơn vị nơi nghiên cứu 21
1.7 Bệnh viện Đa Khoa Phú Thọ có chức năng, nhiệm vụ: 22
1.7.1 Cấp cứu – Khám bệnh - Chữa bệnh 22
Trang 71.7.4 Thực hiện Đề án số 1816/BYT và chỉ đạo tuyến dưới về chuyên
môn, kỹ thuật 23
1.7.5 Phòng bệnh 23
1.7.6 Kinh tế y tế 23
1.7.7 Hợp tác quốc tế 24
1.7.8 Tổ chức thực hiện Dự án xây dựng bệnh viện 24
1.8 Quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh BV ĐK Phú Thọ 29
1.9 Thực trạng quá tải bệnh viện và thời gian chờ khám hiện nay tại BV ĐK Phú Thọ 30
1.10 Một số nghiên cứu có liên quan với đề tài này trên thế giới và Việt Nam 30
1.10.1 Các nghiên cứu trên Thế giới 30
1.10.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 32
1.11 Tình hình địa bàn nghiên cứu 34
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 36
2.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 37
2.1.2 Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu 37
2.1.3 Thiết kế và quy trình nghiên cứu 40
2.1.4 Kỹ thuật và công cụ nghiên cứu 40
2.2 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 41
2.3 Phương pháp nghiên cứu 42
2.4 Xử lý số liệu 43
2.5 Nguyên nhân, phương pháp khắc phục sai số 43
2.5.1 Nguyên nhân 43
Trang 82.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Thông tin chung người bệnh 46
3.2 Tính khả thi của phương pháp sử dụng người nhà người bệnh đo lường thời gian chờ đợi của người bệnh 47
3.3 Mức độ đồng nhất giữa phiếu ghi của người nhà và cán bộ y tế 49
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sai lệch giữa hai phương pháp 53
Chương 4: BÀN LUẬN 55
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 56
4.2 Thời gian chờ của người bệnh đối với dịch vụ 58
4.3 Tính khả thi và tính chính xác của phương pháp người nhà người bệnh ghi nhật ký xác định thời gian chờ đợi 60
4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tính khả thi và tính chính xác của phương pháp người nhà người bệnh tự ghi nhật ký xác định thời gian chờ đợi của người bệnh 62
4.5 Điểm mạnh và những hạn chế của nghiên cứu 63
KẾT LUẬN 65
KHUYẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Bảng 2.1 Tổ chức và hoạt động tại khoa khám bệnh- BVĐK Phú Thọ 41
Bảng 2.2 Thông tin chung của người bệnh 41
Bảng 2.3 Thang đo về thời gian chờ đợi 42
Bảng 3.1 Thông tin chung của người bệnh 46
Bảng 3.2 Thời gian đi khám bệnh của người bệnh tham gia nghiên cứu47 Bảng 3.3 Tỷ lệ người nhà người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu 48
Bảng 3.4 Tỷ lệ người nhà người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lại phiếu điều tra đã ghi chép 48
Bảng 3.5 Tỷ lệ phiếu do người nhà người bệnh tự ghi có đầy đủ thông tin 49
Bảng 3.6 Thời gian người bệnh khám chữa bệnh 49
Bảng 3.7 Mô tả sự khác biệt về thời gian chờ do cán bộ y tế ghi nhận và người nhà tự ghi nhận bằng phương pháp Bland Altman 52
Bảng 3.8 Sự khác biệt về độ lệch giữa hai phương pháp theo ngày 53
Bảng 3.9 Sự khác biệt về thời gian chờ của các người bệnh đến khám chuyên khoa ngoại với các chuyên khoa khác 53
Bảng 3.10 Sự khác biệt thời gian chờ của người bệnh đến khám chuyên khoa lẻ so với các chuyên khoa khác 54
Bảng 4.1 So sánh tỷ lệ nam nữa giữa một số nghiên cứu 56
Bảng 4.2 So sánh tỷ lệ nông thôn thành thị giữa một số nghiên cứu 56
Bảng 4.3 So sánh tổng thời gian chờ với một số nghiên cứu khác 58
Trang 10Hình 1.1 Tương hợp khi phương pháp A cho kết quả đúng bảng phương
pháp B và góc α = 450 18 Biểu đồ 3.1 Tương quan thời gian chờ do cán bộ y tế ghi nhận và người
nhà người bệnh tự ghi nhận 51 Biểu đồ 3.2 Sự đồng nhất của 02 phương pháp đo thời gian chờ người bệnh
khám tại bệnh viện đa khoa Phú Thọ 52
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Thời gian chờ đợi để được nhận các dịch vụ y tế tại phòng khám của người bệnh là một tiêu chí đóng góp quan trọng cho sự hài lòng của người bệnh Ở Việt Nam, do bảo hiểm y tế vẫn thanh toán một phần cho các người bệnh vượt tuyến, do hệ thống bác sỹ gia đình chưa được phát triển mạnh nên người bệnh thường tự đến các bệnh viện để khám, ngay cả với các các bệnh nhẹ nên có hiện tượng các bệnh viện có uy tín, thương hiệu ở tuyến trên nên các bệnh viện này luôn bị quá tải
Bên cạnh đó, do hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam chưa có hệ thống để người bệnh đăng ký hẹn giờ, lấy số trước khi đến khám, chưa triển khai phân luồng khám bệnh cả sáng lẫn chiều nên người bệnh thường đến tập trung đông nhất vào đầu giờ buổi sáng, trong khi nguồn nhân lực và mặt bằng phòng khám không đủ đáp ứng nên bệnh nhận phải xếp hàng, chờ đợi lâu giữa các lần nhận dịch vụ Tại một số bệnh viện còn có hiện tượng “cò bệnh viện” đưa người bệnh vào khám không theo số thứ tự càng làm tăng thời gian chờ đợi của các người bệnh khác Chính vì vậy ngày 22 tháng 4 năm 2013, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1313/QĐ-BYT về hướng dẫn quy trình khám bệnh tại bệnh viện nhằm thống nhất qui trình khám bệnh của các bệnh viện; hướng dẫn thủ tục trong khám bệnh, rút ngắn thời gian chờ, tránh gây phiền hà và tăng sự hài lòng của người bệnh, đặc biệt đối với người bệnh bảo hiểm y tế Theo báo cáo của Bộ Y tế thì sau 1 năm triển khai quyết định này 75% số bệnh viện được khảo sát (320 bệnh viện) đã tiến hành đo lượng thời gian khám bệnh, kết quả cho thấy việc cải tiến quy trình khám bệnh đã giảm được thời gian khám bệnh trung bình là 40 phút/người bệnh [1] Tuy nhiên điều tra này mới chỉ cho biết thời gian khám bệnh trung bình với một người bệnh chứ chưa cho biết được thời gian chờ đợi của người bệnh giữa các lần khám, tại các thời điểm khác
Trang 12nhau trong ngày, các ngày khác nhau trong tuần để từ đó có các biện pháp nhằm giảm thời gian chờ đợi, tăng sự hài lòng của người bệnh Lý do chính của việc các bệnh viện chưa đo lường được thời gian chờ đợi của người bệnh tại phòng khám đó là hiện chưa có phương pháp vừa chính xác vừa khả thi, vừa tiết kiệm kinh phí để đo lường thời gian chờ đợi
Để tiếp cận vấn đề này, thời gian vừa qua đã có nhiều nghiên cứu về thời gian chờ đợi khám bệnh ví dụ như phương pháp dùng chính người bệnh
tự ghi thời gian chờ khám, tuy nhiên phương pháp này có thể có sai số do người bệnh quan tâm nhiều đến việc khám bệnh cho mình hơn là ghi chép thời gian chờ đợi theo yêu cầu của bệnh viện
Phương pháp thứ hai cũng hay dùng là dùng cán bộ y tế đi theo từng người bệnh để ghi chép thời gian chờ tại từng dịch vụ Phương pháp này có
ưu điểm là tính chính xác cao, nhưng nhược điểm rất lớn đó là tốn kém nguồn lực và thời gian nghiên cứu kéo dài (do mỗi cán bộ y tế chỉ đi theo một người bệnh)
Phương pháp thứ ba là dùng phần mềm quản lý phòng khám để ghi chép lại thời gian bắt đầu từng dịch vụ với từng người bệnh Phương pháp này
có ưu điểm là ghi được chính xác sự bắt đầu của từng dịch vụ nhưng không ghi được thời gian kết thúc dịch vụ nên không tính được chính xác thời gian chờ đợi giữa hai dịch vụ Ngoài ra phương pháp này chưa thể áp dụng rộng rãi ở Việt Nam không phải bệnh viện nào cũng có điều kiện để áp dụng phần mềm quản lý bệnh viện có chức năng ghi chép thời gian bắt đầu với tất cả các dịch vụ tại phòng khám
Vì các lý do nêu trên, chúng tôi dự kiến sử dụng một phương pháp mới, tức là phát phiếu cho người nhà của các người bệnh không quá nặng nhờ ghi lại thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc từng dịch vụ của người bệnh tại phòng khám, thông qua đó để tính thời gian chờ đợi giữa các dịch vụ Để
Trang 13kiểm định xem phương pháp này có thay thế được phương pháp sử dụng điều tra viên hay không, chúng tôi đã sử dụng đồng thời phương pháp dùng điều tra viên đi theo người bệnh để bấm giờ đối chứng với nhóm người nhà người bệnh Chúng tôi hy vọng rằng, nếu phương pháp này cho kết quả chính xác và khả thi thì đây sẽ là một phương pháp có thể giúp các bệnh viện theo dõi được thời gian chờ đợi của người bệnh hàng quý, thậm chí hàng tháng, giúp bệnh viện có các biện pháp giảm thời gian chờ đợi, tăng cường sự hài lòng của người bệnh
Vì vậy, chúng tôi đã triển khai nghiên cứu đề tài này với những mục tiêu như sau:
1 Xác định tính khả thi và tính chính xác của phương pháp sử dụng người nhà ghi nhật ký xác định thời gian chờ đợi của người bệnh trong các bước của quy trình khám tại phòng khám Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Phú Thọ
2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến tính khả thi và tính chính xác của phương pháp này
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Hệ thống bệnh viện
1.1.1 Khái niệm bệnh viện
Theo tổ chức Y tế thế giới, bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh, chữa bệnh và dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường cư trú Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học, tham gia chỉ đạo tuyến
1.1.2 Phân hạng bệnh viện theo Bộ Y tế
Bệnh viện công được phân thành 4 hạng [2]:
+ Bệnh viện hạng đặc biệt: Là cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y
tế, với các chuyên ngành được trang bị các thiết bị y tế và các máy móc hiện đại, với đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn sâu và có các trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng I
+ Bệnh viện hạng I: là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng II
+ Bệnh viện hạng II: là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các ngành,
có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang
bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng III
+ Bệnh viện hạng III: là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của quận, huyện trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Trang 15Ngoài ra bệnh viện được chia theo mô hình bệnh viện đa khoa và bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện nghành BVĐK Tỉnh Phú Thọ là bệnh viện hạng
I, một bệnh viện lớn nhất khu vực Tây Bắc hiện nay
1.1.3 Chức năng của bệnh viện
Bệnh viện có 7 chức năng và nhiệm vụ chính: Khám bệnh, chữa bệnh, Phòng bệnh, Đào tạo cán bộ, Nghiên cứu khoa học, Chỉ đạo tuyến, Phòng bệnh, Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế trong bệnh viện [2]
- Cấp cứu -Khám bệnh- Chữa bệnh:
Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các bệnh viện tuyến dưới chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội tú hoặc ngoại trú
Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước
Tổ chức khám giám định sức khỏe, khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, thành phố, trung ương hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu
- Nghiên cứu khoa học về y học
Tổ chức nghiên cứu, hợp tác các đề tài y học ở cấp nhà nước, cấp bộ hoặc cấp cơ sở, chú trọng nghiên cứu về y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
Nghiên cứu triển khai y học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu lựa chọn ưu tiên thíc hợp trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành
Trang 16Kết hợp với bệnh viện bạn và các bệnh viện chuyên khoa đầu nghành
để phát triển kỹ thuật của bệnh viện
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật
Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới, thực hiện việc phát triển chuyển giao kỹ thuật chuyên môn
Kết hợp với bệnh viện tyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu trong địa bàn các tỉnh, thành phố và các ngành
- Quản lý kinh tế y tế
Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách nhà nước cấp Thực hiên nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về thu, chi tài chính, từng bước thực hiện hoạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh
Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: viên phí, BHYT, đầu tư nước ngoài và của các cá nhân, tổ chức kinh tế khác
Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Nhà nước khuyến khích các bệnh viện thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP về công tác xã hội hóa y tế Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động
sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước [3]
Trang 171.2 Dịch vụ y tế
1.2.1 Khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế
Chất lượng dịch vụ được hiểu và quan niệm theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào vị thế của từng người
Chất lượng nhìn từ góc độ của người bệnh hay khách hàng liên quan đến loại hình và tính hiệu quả của chăm sóc, có thế chú trọng hơn vào thái độ thân thiện, được tôn trọng, sự thoải mái, sự sạch sẽ và tính sẵn có của dịch vụ tương đồng với chi phí
Theo Gronroos (1984), chất lượng dịch vụ y tế là khái niệm rộng, thường bao gồm hai thành phần: Chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong ký thuật chuẩn đoán và điều trị bệnh Chất lượng chức năng bao gồm các đặc trưng như: cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp, ứng xử của nhân viên y tế, cách tổ chức quy trình khám chữa bệnh, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh [4-6]
Nhân viên y tế hoặc các cơ sở y tế quan tâm nhiều đến quy trình cung cấp dịch vụ y tế, khả năng chuẩn đoán và điều trị một ca bệnh mà ít để ý đến tính tiện lợi và công tác chăm sóc khác
Nhà quản lý có thể cho rằng chất lượng là sự tiếp cận, năng suất, tính phù hợp, khả năng có thể chấp nhận được và hiệu quả trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nhà quản lý quan tâm nhiều tới chi phí cho việc cung cấp dịch vụ y tế chuẩn, có chấ lượng và khả năng chi trả các đối tượng
Theo ý kiến của hội nghị bàn tròn quốc gia về chất lượng, Viện Y khoa Massachusetts, Hoa Kỳ cho rằng; “Chất lượng chăm sóc là mức độ mà nhờ đó các dịch vụ y tế cho các cá nhân và công chứng làm tăng khả năng có thể đạt được các kết quả sức khỏe mong đợi và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện đại” [7-9]
Trang 18Dựa trên các quy trình, nhiệm vụ và kì vọng về kết quả thực hiện:
“Chất lượng không có một cách ngẫu nhiên mà là kết quả cảu ý định quyết đoán, nỗ lực chân thành, hướng đi thông minh và sự thực thi khéo léo”
Dựa trên mô hình công nghiệp: Lấy khách hàng làm trọng tâm, thì việc đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng là mục đích chính của chất lượng Chính vì vậy, cần phải xác định ưu tiên khách hàng, tiếp theo là đánh giá kỳ vọng và nhu cầu khách hàng Mục tiêu của nhà cung cấp dịch vụ y tế là tìm ra phương thức và phương pháp để đáp ứng kỳ vọng của khách hàng và đáp ứng như cầu của họ nếu có thể
Xu hướng về chất lượng khác nhau qua mỗi giai đoạn, lịch sử phát triển của chất lượng chăm sóc sức khỏe có thể được chia thành 7 giai đoạn: Định hướng kết quả; chú trọng vào tổ chức; Chú trọng vào quy trình; Kết quả quyết định: Quản lý kết quả; cải thiện thành tích; Chất lượng dựa trên bằng chứng lấy người bệnh làm trung tâm
Có nhiều khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế, nhưng nhìn chung lại thì chất lượng dịch vụ y tế có thể là:
+ Có hiệu quả, khoa học, việc chăm sóc phải thực hiện theo các tiêu chuẩn đã quy định
+ Thích hợp với người bệnh
+ An toàn không gây biến chứng
+ Người bệnh tiếp cận được và chấp nhận với sự hài lòng, ít tốn kém so với cách điều trị khác
1.2.2 Khái niệm khám bệnh
Là xem xét tình trạng cơ thể một cách khách quan về lâm sàng như Tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, thận tiết niệu, cơ xương khớp Thông qua các kỹ năng nhìn, sờ, gõ, nghe, đo huyết áp, nhiệt độ Khi cần thì hội chẩn khi chưa xác định được bệnh, thông qua các xét nghiệm cận lâm sàng để xác định rõ
Trang 19bệnh như: Tổng phân tích tế bào máu bằng máy đếm tự động, sinh hóa máu, Xquang, siêu âm, điện tim, điện não đồ
Khoa khám bệnh là một trong những khoa lớn nhất của bệnh viện đa khoa Tỉnh Phú Thọ, bao gồm đầy dủ các chuyên khoa thuộc bệnh viện và được thành lập từ khi thành lập bệnh viện đến nay
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của khoa khám bệnh
Khoa khám bệnh - BVĐK tỉnh Phú Thọ có các nhiệm vụ và chức năng [4, 10, 11]:
+ Tổ chức tiếp nhận và khám chữa bệnh cho mọi đối tượng có nhu cầu: BHYT đúng tuyến, BHYT vượt tuyến, tự nguyện, dịch vụ theo yêu cầu
+ Khám, cấp giấy chứng nhận sức khỏe các loại
+ Lập hồ sơ bệnh án ban đầu cho người bệnh nhập viện, vận chuyển người bệnh đến khoa điều trị và bàn giao đầy đủ hồ sơ bệnh án ban đầu cho khoa điều trị
+ Chuyển tuyến kịp thời với những trường hợp ngoài khả năng của bệnh viện
+ Thực hiện ghi chép, lưu trữ sổ sách, hồ sơ, bệnh án và thống kê, báo cáo kết quả khám chữa bệnh tại khoa theo quy định của bệnh viện và sở y tế
+ Khám kiểm tra sức khỏe định kỳ cho các bệnh mãn tính
+ Khám, tư vấn và điều trị theo yêu cầu
+ Nghiên cứu, đào tạo và tham gia công tác chỉ đạo tuyến
+ Sàng lọc và kiểm soát dịch bệnh khi có dịch xảy ra
+ Chăm sóc sức khỏe cho toàn thể cán bộ viên chức của bệnh viện + Thực hiện một số đặc biệt khác do giám đốc giao nhiệm vụ
Đây là nơi đầu tiên tiếp đón người bệnh vào bệnh viện, nơi tuyến đầu tiếp xúc với người bệnh và định hướng việc điều trị cho người bệnh Lượng người bệnh đến khám tại Khoa Khám bệnh tăng dần theo các năm, không
Trang 20những người bệnh tỉnh nhà mà những nơi khác ngoài tỉnh Chất lượng ngày càng tăng, đến nay bệnh viện làm được 100% thủ thuật của bệnh viện hạng I, 60% số các thủ thuật của bệnh viện hạng đặc biệt, mỗi năm có khoảng gần 300.000 lượt khám bệnh ngoại trú tại Khoa Khám Bệnh
1.2.4 Tiêu chuẩn và tác phong của nhân viên phòng khám
- Luôn đi trước giờ làm việc để chuẩn bị phòng khám, tiếp đón người
bệnh đến khám bệnh
- Nhã nhặn, vui vẻ và hướng dẫn nhiệt tình
- Tiếp xúc với người khám bệnh luôn có danh xưng rõ ràng, nên gọi tên, tránh dùng từ BN
- Luôn tạo cho ngừời khám bệnh được thoải mái trong suốt thời gian chờ khám
- Phòng sạch, ngăn nắp, luôn có túi rác và chứa rác đúng qui định
1.2.5 Khái niệm thời gian chờ khám bệnh
Là tổng thời gian từ khi người bệnh xuất hiện ở phòng khám đến khi người bệnh rời khỏi phòng khám, trong đó có 2 khoảng thời gian chờ là thời gian chờ đến lượt khám và thời gian chờ đơn thuốc Theo nghiên cứu của Mohamad Hannafi Abdullah về thời gian chờ đợi của BN ngoại trú tại phòng khám bệnh viện đại học Kebangsaan Malaysia năm 2003, thời gian chờ đợi của BN được định nghĩa: “Là tổng thời gian từ khi BN đăng ký khám cho đến khi được bác sỹ khám, tư vấn Có hai khoảng thời gian chờ, thứ nhất chờ gặp bác sĩ, thứ hai chờ nhận được đơn thuốc” [11]
Trang 21Trong chỉ thị số 06/2012/CT-BYT, ngày 07/12/2012 Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu cũng nhấn mạnh rút ngắn thời gian chờ khám và làm xét nghiệm cận lâm sàng để hạn chế quá tải bệnh viện
Như vậy bộ trưởng cũng khẳng định thờigian chờ khám và thời gian chờ xét nghiệm là hai khoảng thời gian của quy trình khám bệnh
Như vậy, thời gian chờ khám được định nghĩa: “Là một khoảng thời gian chờ đợi trong quy trình khám bệnh, được tính từ khi BN tới phòng khám cho đến khi BN gặp bác sỹ để khám bệnh và nhân viên y tế để thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng trên BN” [12] Trong một nghiên cứu của Bejamin,
AL tại ba phòng khám đa khoa ở PaPuaNewGiunea thì 24% BN đến khám gặp được một bác sĩ trong vòng 30 phút, 70% trong vòng 2 giờ, 47% chờ 1-3 giờ để được tư vấn, 9,5% chờ 3-5 giờ để được tư vấn [13] Theo nghiên cứu tại Havard mới xuất bản trong tạp chí y tế thì từ năm 1997- 2004 thời gian chờ gặp bác sỹ tại phòng khám cấp cứ tăng 36% từ 22 phút đến 30 phút cho 50% số BN Thời gian chờ của 50% BN tim mạch tăng từ 8 đến 20 phút [14]
Tại Việt Nam, thời gian chờ đợi của người bệnh và gia đình của họ trong quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh - cấp cứu, bệnh viện đại học Y
Hà Nội - tháng 04/2009 của tác giả Trương Quang Trung, Lưu Ngọc Hoạt, Bùi Văn Lệnh thì thời gian chờ đợi của BN trong nghiên cứu là dưới 45 phút [15] Tiến sỹ Lý Ngọc Kính - vụ trưởng vụ điều trị Bộ Y Tế cho biết dự thảo kiểm tra chất lượng bệnh viện năm 2007 quy định bệnh viện không được để tình trạng thời gian chờ khám trung bình của BN quá 60 phút Tại thời điểm
đó, cũng theo tiến sỹ Kính thì quy định về thời gian chờ khám chỉ những bệnh viện nhỏ có thể thực hiện được, với những bệnh viện lớn thường xuyên quá tải thì không dễ dàng chút nào
Trang 221.2.6 Mục tiêu đo lường thời gian chờ khám bệnh
Việc đo lường thời gian chờ khám bệnh nhằm để biết được khâu nào trong quá trình khám của người bệnh là chờ lâu nhất, ngày nào trong tuần phải chờ lâu nhất, một số khâu còn cho ta biết được những tác động nào trực tiếp đến thời gian chờ
1.2.7 Phân loại thời gian chờ đợi
- Thời gian chờ đợi được phân loại theo thang đo: Rất lâu →Lâu → Chấp nhận được → Nhanh → Rất nhanh
Trong nghiên cứu này tôi đưa tính ra tổng thời gian chờ đợi chung trung bình của mỗi người bệnh, theo quy định của bộ y tế mà đưa ra nhận xét kết quả thu được mà không đưa vào bộ câu hỏi để hỏi người bệnh trong quy trình khám
1.2.8 Khái niệm tính khả thi
“Khả thi theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là khả năng thực hiện một công việc hoặc nhiệm vụ nào đó trong một bối cảnh và điều kiện cụ thể Như vậy, một phương pháp mới có tính khả thi là một phương pháp có khả năng thực hiện trên thực tế hay nói một cách khác là phương pháp được áp dụng rộng rãi trong thực tế mà không gặp nhiều trở ngại, khó khăn
Tính khả thi của phương pháp mới, bao gồm sự phù hợp giữa quy định của các phương pháp cũ nhưng phải đảm bảo với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện phương pháp ấy
Một phương pháp được coi là có tính khả thi khi nó bao gồm được những đặc tính cơ bản như: Công nghệ, Kinh tế, Pháp lý, Hoạt động, Lịch trình và Văn hóa
Về công nghệ: Phương pháp mới có áp dụng công nghệ mới hay không
và có tạo ra được các sản phẩm đặc thủ khác với phương pháp cũ hay không
Về kinh tế: Tính khả thi thường cũng được gắn liền với hiệu quả kinh tế
và phân tích kinh tế cũng là phương pháp thường dùng nhất để đánh giá hiệu
Trang 23quả của một phương pháp nghiên cứu mới Thường được gọi là phân tích chi phí/lợi ích, quy trình này chính là xác định những lợi ích và tiết kiệm đã được tính toán sẵn so với phương pháp truyền thống và so sánh chúng với chi phí Nếu lợi ích lớn hơn chi phí, sau đó quyết định được thực hiện để thiết kế và thực hiện phương pháp Phương pháp mới phải nhằm tới mục đích giảm chi phí nghiên cứu
Về pháp lý: Một phương pháp được gọi là khả thi cũng phải đảm bảo không vi phạm luật pháp, quy định, quy chế, do vậy việc cân nhắc về tính pháp lý của một phương pháp mới là hết sức cần thiết Phương pháp mới đảm bảo tính bảo mật, an toàn tuyệt đối cho nơi mà phương pháp này triển khai nghiên cứu Không vi phạm các quy phạm pháp luật, các quy chế tổ chức đơn
vị nghiên cứu và mọi cá nhân liên quan
Về các hoạt động: Phương pháp mới tốt như thế nào với các vấn đề cần triển khai nghiên cứu Những mặt lợi thế, những cơ hội được xác định trong phạm vi mà ta thấy được nó hơn hẳn các phương pháp cũ
Về lịch trình nghiên cứu: Phương pháp mới sẽ thất bại nếu nó mất quá lâu để được hoàn thành trước khi nó trở thành hữu ích Lịch trình là một biện pháp đánh giá tính khả thi thông qua xem xét về tính hợp lý về mặt thời gian biểu, làm sao tiết kiệm được thời gian so với các phương pháp cũ
Về văn hóa: Cần phải xem xét xem phương pháp mới này có yếu tố nào ảnh hưởng đến văn hoá và chuẩn mực đạo đức tại nơi triển khai hay không? Bởi vì nền văn hóa riêng của địa phương có thể xung đột với các phương pháp nghiên cứu mới
1.2.9 Tính khả thi của phương pháp dùng người nhà người bệnh ghi nhật
ký thời gian chờ đợi của người bệnh
Nếu vận dụng các tính chất nêu trên để cân nhắc tính khả thi của phương pháp dùng người nhà người bệnh ghi nhật ký thời gian chờ đợi của
Trang 24người bệnh thì phương pháp này có điểm ưu việt hơn phương pháp dùng cán
bộ y tế đi theo người bệnh để bấm giờ tính thời gian chờ đợi, cụ thể là:
Về mặt kinh tế: So với các phương pháp truyền thống khác phương pháp này cho ta thấy được lợi ích chi phí trong nghiên cứu, cụ thể là nếu sử dụng điều tra viên thì mỗi điều tra viên chỉ có thể theo dọc được một người, cho nên nếu người bệnh phải sử dụng nhiều dịch vụ tại phòng khám thì điều tra viên sẽ phải theo dõi một người bệnh rất lâu Ngoài ra điều tra viên còn có thể lạc mất đối tượng được phân công theo dõi khi bệnh viện quá đông, còn đối với việc sử dụng người nhà người bệnh nhẹ để ghi nhật ký thì do những người nhà này luôn đi sát người bệnh nên sẽ không bao giờ bị lạc, đồng thời khi người bệnh vào khám thì người nhà sẽ có thể được tự do để ghi nhật ký thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc dịch vụ Như vậy nếu phải chi trả cho người thu thập số liệu thì phương pháp chi trả cho người nhà chắc chắn sẽ rẻ hơn rất nhiều so với chi trả cho điều tra viên
Về công nghệ: Phương pháp sử dụng người nhà người bệnh ghi nhật ký rất đơn giản chỉ cần họ điền chính xác giờ người bệnh bắt đầu nhận dịch vụ và giờ kết thúc nhận dịch vụ vào bản nhật ký khám bệnh tại phòng khám mà họ
đã được hướng dẫn để điền, do vậy phương pháp này chỉ cần người có đồng
hồ và biết chữ là có thể triển khai được
Về mặt pháp lý phương pháp này không ảnh hưởng gì đến các quy định quy chế của phòng khám, cũng như không ảnh hưởng đến việc chăm sóc người bệnh do vậy tính khả thi là rất cao
Về lịch trình: Phương pháp dùng người nhà người bệnh ghi nhật ký đảm bảo không làm thay đổi thời gian chờ đợi, cũng như thời gian nhận dịch
vụ của người bệnh
Về hoạt động: Phương pháp dùng người nhà người bệnh chính là phương pháp tận dụng thời gian rỗi của người nhà đi theo người bệnh để ghi
Trang 25nhật ký thời gian chờ đợi Bởi công việc chính của họ là đi theo để giúp đỡ người bệnh trong quá trình khám bệnh, ngoài ra không có hoạt động nào khác, chúng ta có thể tận dụng tốt đối tượng này, và nó không ảnh hưởng đến thời gian khám cũng như chờ đợi của người bệnh Ngoài ra, với phương pháp này, chỉ cần một người điều tra viên có khả năng lựa chọn và tập huấn tốt cho các người nhà người bệnh thì một ngày có thể thu được số liệu của hàng chục người bệnh, trong khi nếu dùng điều tra viên thì phải cần tới hàng chục điều tra viên/ngày do mỗi điều tra viên chỉ có thể theo dõi dọc 2-4 người bệnh/ngày
Về văn hóa: Đây là phương pháp ghi chép đơn giản với mục đích thu thập thông tin xác định thời gian chờ đợi của người bệnh để có các biện pháp giảm thời gian chờ đợi, tăng cường chất lượng phục vụ, tăng sự hài lòng với bệnh nên phương pháp này không có vi phạm đạo đức cũng như văn hóa
Như vậy xét về mặt khả thi thì đây là phương pháp khả thi, dễ làm, rẻ tiền và không vi phạm đạo đức, văn hoá Tuy nhiên ngoài tính khả thi thì cần phải quan tâm đến tính chính xác của phương pháp
Để đánh giá tính chính xác, chúng tôi đã áp dụng phương pháp so sánh với một phương pháp kinh điển mà các bệnh viện thường làm trước đây, đó là
sử dụng cán bộ y tế, sinh viên hoặc điều tra viên để theo dõi người bệnh, bấm thời gian chờ đợi Trắc nghiệm thống kê được sử dụng để so sánh hai phương pháp này là Nghiệm pháp Atlman- Bland được trình bày chi tiết dưới đây
1.3 Khái niệm Nghiệm pháp so sánh sự tương hợp của Atlman- Band
1.3.1 Giới thiệu Nghiệm pháp
Nghiệm pháp này được áp dụng để đánh giá mức độ tương đồng của 2 phương pháp đo lường trên cùng một đối tượng với biến định lượng Phương pháp này được coi tương đương với nghiệm pháp Kapa khi xem xét sự tương đồng của hai phương pháp đánh giá một đối tượng với một biến định tính
Trang 26Trước khi Altman và Bland đề xuất phương pháp này vào năm 1986 thì các nhà khoa học thường dùng hệ số tương quan (hệ số Pearson - r) khi so sánh sự tương đồng của 2 phương pháp đo lường trên cùng một đối tượng
Một ví dụ về biểu đồ Bland-Altman Hai đường ngang đứt đoạn là khoảng tin cậy 95%
Nghiệm pháp Atlman- Bland được tiến hành qua 3 bước:
(a) Bước 1: Ở mỗi đối tượng nghiên cứu, cộng giá trị phương pháp đo lường A với giá trị phương pháp đo lường B, và chia kết quả cho 2 Tức là tính trung bình giá trị đo lường cho mỗi đối tượng, tạm gọi là M;
(b) Bước 2: Ở mỗi đối tượng, tính hiệu số giữa A và B, tạm gọi là D; (c) Bước 3: Vẽ biểu đồ tán xạ với M là trục hoành và D và trục tung như trong biểu đồ trên đây:
1.3.2 Tóm tắt Nghiệm pháp
Trong nghiên cứu y học, nhất là trên thực hành lâm sàng, thường tìm sự tương hợp giữa 2 phương pháp đo lường hoặc giữa 2 chuyên viên đọc kết quả
Trang 27Cần phân biệt giữa tương quan (correlation) và tương hợp hoặc tương đồng (agreement) Tương quan là mối quan hệ giữa hai biến định lượng thường được ký hiệu là y và x Nếu mối quan hệ này có tính chất nhân quả thì sẽ có một biến được gọi là biến độc lập (biến “nhân”, ký hiệu là x), còn biến kia là biến phụ thuộc được gọi là biến “quả”, ký hiệu là y Khi mối quan hệ nhân quả này lớn và chặt chẽ, người ta có thể viết được phương trình hồi quy y = a + βx Khái niệm tương hợp/tương đồng có điểm khác biệt cơ bản với tương quan, đó là khi người nghiên cứu muốn đánh giá sự tương đồng của hai phương pháp cùng đo lường, đánh giá giá trị của một biến số để xem hai phương pháp có tương đồng không Nếu biến số này là biến nhị phân thì Nghiệm pháp Kapa là thích hợp, còn nếu là biến định lượng thì Nghiệm pháp Altman – Bland sẽ được sử dụng Nếu hai phương pháp là tương hợp hoàn hảo, tức là không có bất kỳ sự khác biệt nào giữa hai phương pháp khi đo lượng một biến định lượng trên cùng một đối tượng, thì sự phân bố mức độ tương hợp của hai phương pháp này được thể hiện như trong biểu đồ dưới đây, tức là tất cả các giá trị được đo bằng hai phương pháp đều trùng nhau và nằm trên được thẳng tạo với trục hoành một góc 450
Trang 28Hình 1.1 Tương hợp khi phương pháp A cho kết quả đúng bảng phương
Sau khi phân tích độ lệch chuẩn bằng phần mềm SPSS theo Phương Pháp Atlman- Bland ta có sự phân bố của mẫu so với độ lệch cận trên và cận dưới, nếu sự phân bố này > 90% thì ta nói sự tương hợp giữa 2 phương pháp
là rất cao Ví dụ như Biểu đồ sau:
Trang 29Biểu đồ trên cho thấy chỉ có 2 mẫu nằm ngoài ± 2SD và > 90% mẫu nằm trong khoảng này Kết luận: có sự tương hợp cao giữa hai phương pháp
Ở nghiên cứu của chúng tôi cũng theo sự so sánh này, trong đó điều tra viên là phương pháp thứ nhất (phương pháp chuẩn) Phương pháp người nhà
là phương pháp cần được kiểm chứng độ chính xác Nếu có 90% mẫu của chúng tôi nằm trong khoảng này thì chứng tỏ phương pháp người nhà ghi
có nhiều sự lựa chọn và gần như chỉ có khả năng đánh giá chất lượng dịch vụ
y tế thông qua cảm nhận về chất lượng chức năng Trong bối cảnh đó, mô
Trang 30hình phân phối dịch vụ y tế ở Việt Nam đã có những biến động lớn: Một phần lớn người bệnh có nhu cầu cao về dịch vụ y tế bắt đầu chuyển sang chọn lựa các cơ sở dịch vụ y tế tư nhân, nơi cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng chức năng tốt hơn Nhiều người bệnh có điều kiện sẵn sàng ra nước ngoài để khám
và điều trị Điều này dẫn đến “chảy máu” ngoại tệ, mà theo một báo cáo không chính thức của Bộ Y tế, lên đến gần một tỉ USD mỗi năm Các bệnh viện nước ngoài ngày càng đẩy mạnh thu hút người bệnh trong nước Điều này đã và đang đặt ra nhiều thách thức to lớn đối với các bệnh viện công trong nước cũng như đối với bệnh viện Đa khoa Phú Thọ Theo xu hướng này như hiện nay, thách thức đặt ra cho những bệnh viện công như bệnh viện Đa khoa Phú Thọ là không nhỏ Thực tế là hiện nay đang có xu hướng các người bệnh bảo hiểm y tế chuyển sang khám chữa bệnh tại các bệnh viện tư như BV Hùng Vương, phòng khám Gia đình…và một số phòng khám quốc tế có chất lượng dịch vụ cao khác
1.5 Mô hình nghiên cứu
Thời gian chờ kết quả CLSThời gian chờ xong quy trình khám
Trang 311.6 Sơ lƣợc về cơ cấu tổ chức đơn vị nơi nghiên cứu
Trang 321.7 Bệnh viện Đa Khoa Phú Thọ có chức năng, nhiệm vụ:
Bệnh viện đa khoa Phú Thọ là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc
Sở Y Tế và UBND tỉnh Phú Thọ có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Vùng Tây Bắc Bệnh viện có đội ngũ cán bộ y tế có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, được trang bị hiện đại,
có các chuyên khoa sâu, cơ sở hạ tầng phù hợp Trong tổng số các dự án bệnh viện vệ tinh được thủ tướng chính phủ và Bộ Y tế phê duyệt giai đoạn 2013-
2020, Bệnh viện Đa khoa tỉnh được chọn làm bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện
K, Bệnh viện Bạch Mai Truớc đó, bệnh viện Đa khoa tỉnh đã triển khai thành công là bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2005-2009 Đề án bệnh viện vệ tinh đã và đang phát huy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm quá tải bệnh viện tuyến trung ương
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ là Bệnh viện tuyến cao nhất của tỉnh Phú Thọ, được xếp loại Bệnh viện hạng I và với biên chế giường bệnh 1300 giường trong đó 800 giường kế hoạnh và 500 giường bệnh xã hội hoá, tổng số cán bộ viên chức bệnh viện 960 người, trong đó có 300 bác sĩ Bệnh viện có
43 khoa, phòng (35 Khoa, 7 Phòng chức năng và 1 Trung tâm khám chữa bệnh chất lượng cao 11 tầng) Hàng ngày Bệnh viện tiếp đón trung bình từ
900 - 1000 lượt người đến khám bệnh, người bệnh nội trú trung bình 1000 -
1200 người, do đặc điểm vị trí địa lý số người bệnh của các tỉnh lân cận chiếm khoảng 36%
1.7.1 Cấp cứu – Khám bệnh - Chữa bệnh
Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài vào hoặc từ các bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú
và ngoại trú
Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong khu vực
Chuyển tuyến người bệnh theo quy định của Bộ Y tế
Trang 33 Tổ chức khám và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của Nhà nước
1.7.3 Nghiên cứu khoa học về y học
Tổ chức nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các đề tài y học
Kết hợp với các bệnh viện tuyến trên, các Bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của Bệnh viện
1.7.4 Thực hiện Đề án số 1816/BYT và chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn,
kỹ thuật
Tiếp nhận, triển khai kỹ thuật mới do tuyến trên chuyển giao, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới theo Đề án số 1816/BYT và theo sự chỉ đạo của Bộ Y tế
Lập kế hoạch và chỉ đạo trung tâm y tế các huyện thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn
Kết hợp với Bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong địa bàn tỉnh
1.7.5 Phòng bệnh
Tuyên truyền, tư vấn sức khỏe cho nhân dân
Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch
1.7.6 Kinh tế y tế
Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi tài chính, từng bước thực hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh
Trang 34 Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác
1.7.7 Hợp tác quốc tế
Tham gia các chương trình hợp tác với các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước theo quy định của Nhà nước
1.7.8 Tổ chức thực hiện Dự án xây dựng bệnh viện
Tổ chức thực hiện Dự án nâng cấp và mở rộng bệnh viện lên quy mô
2000 giường bệnh vào năm 2018
Chất lượng và thân thiện là mục tiêu phấn đấu phát triển bền vững của bệnh viện
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ được thành lập từ năm 1965 với tên gọi là Bệnh viện cán bộ Từ năm 2006 đến nay, Bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Phú Thọ là Bệnh viện tuyến cao nhất của tỉnh Phú Thọ, được xếp loại Bệnh viện hạng I với quy mô 1300 giường bệnh, tổng số cán bộ viên chức Bệnh viện trên 1400 cán bộ, trong đó có 420 bác sĩ
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ có tổng số 42 Khoa, Phòng, Trung tâm bao gồm 9 Phòng chức năng, 7 Khoa cận lâm sàng, 25 Khoa lâm sàng và 6 Trung tâm (Trung tâm Đào tạo và chỉ đạo tuyến, Trung tâm Tim mạch, Trung tâm Ung bướu, Trung tâm khám chữa bệnh chất lượng cao, Trung tâm Huyết học truyền máu và Trung tâm xét nghiệm tự động) [16]
Trang 36a Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu về y học và ứng dụng những tiến
bộ kỹ thuật y học ở cấp Nhà nước, cấp bộ, cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc – Kết hợp với các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của Bệnh viện
b Nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu…
4 Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
a Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện chỉ đạo các Bệnh viện tuyến dưới phát triển kỹ thuật chuyên môn nâng cao chất lượng chuẩn đoán và điều trị
b Kết hợp với các Bệnh viện tuyến dưới thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong khu vực
5 Phòng bệnh:
a Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng
b Phối hợp với các cơ sở y tế phòng thực hiện thường xuyên nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch
6 Hợp tác quốc tế:
Hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ở ngoài nước theo đúng quy định của Nhà nước
7 Quản lý kinh tế trong Bệnh viện:
a Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp
b Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Bệnh viện Từng bước hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh
c Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm, y tế, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác
II TỔ CHỨC
1 Các phòng chức năng:
Trang 372.4 Khoa Nội tim mạch
2.5 Khoa Nội tiêu hoá
2.6 Khoa Nội cơ – xương – khớp
2.7 Khoa Nội thận – tiết niệu
2.8 Khoa Nôị Tiết
2.9 Khoa dị ứng
2.10 Khoa huyết học lâm sàng
2.11 Khoa truyền nhiễm
Trang 382.20 Khoa Ngoại thần kinh
2.21 Khoa ngoại hồng lực
2.22 Khoa ngoại tiêu hoá
2.23 Khoa Ngoại thận – tiết niệu
2.33 Khoa Ung bướu (điều trị tia xạ)
2.34 Khoa Truyền máu
2.35 Khoa Lọc máu (thận nhân đạo)
2.36 Khoa Huyết học
2.37 Khoa hoá sinh
2.38 Khoa Vi sinh
2.39 Khoa Chẩn đoán hình ảnh
2.40 Khoa Thăm dò chức năng
2.41 Khoa Nội soi
2.42 Khoa giải phẫu bệnh
2.43 Khoa Chống nhiễm khuẩn
2.44 Khoa Dược
2.45 Khoa Dinh dưỡng
Trang 391.8 Quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh BV ĐK Phú Thọ
Khoa khám bệnh toạ lạc ở toà nhà 5 tầng sau cổng chính bệnh viện Cũng như các bệnh viện trực thuộc tỉnh khác trên cả nước, bệnh viện đa khoa Phú Thọ cũng áp dụng theo quy trình khám bệnh tại Khoa Khám Bệnh theo quy định của Bộ Y Tế Đó là đầu tiên người bệnh đến lấy số thứ tự làm thủ tục, tại đây các người bệnh được phát 1 phiếu vào đăng ký khám bệnh do 2 nhân viên lễ tân (vừa giải đáp thắc mắc vừa phát hành thẻ thông minh) Sau
đó người bệnh vào các phòng đăng ký ghi trên phiếu (có 6 phòng vừa đăng ký khám bệnh vừa tiếp nhận thẻ bảo hiểm và đóng tiền khám nếu viện phí) và được hướng dẫn đến phòng khám theo từng bệnh Tiếp theo người bệnh đến phòng khám ghi trong phiếu đăng ký khám bệnh Sau khi được Bác Sỹ khám bệnh xong, các người bệnh đi nạp tiền xét nghiệm và làm các xét nghiệm, chiếu chụp để phục vụ cho việc chẩn đoán được chính xác, tại tầng 2 và 3 của bệnh viện là các khu xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng, tại đây người bệnh được tiếp nhận bởi phiếu chỉ định dịch vụ mà Bác sỹ Khám bệnh chỉ định Sau khi làm xong các chỉ định dịch vụ thường thì chưa có kết quả ngay, các người bệnh sẽ được hướng dẫn ngồi đợi kết quả tại 2 phòng trả kết quả xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh Sau khi có kết quả cận lâm sàng thì người bệnh đưa kết quả về nạp cho Bác sỹ khám bệnh ban đầu và nhận đơn thuốc Sau khi có đơn thuốc thì người bệnh đến phòng đăng ký ban đầu
để nạp nạp lại mọi xét nghiệm (nếu là người bệnh bảo hiểm) hoặc đóng viện phí (nếu là người bệnh không có thẻ bảo hiểm hoặc đóng % mà bảo hiểm không chi trả), để kết thúc quá trình khám Sau khi xong thủ tục kết thúc, người bệnh ra nhà thuốc để nhận thuốc (bảo hiểm) hoặc trả tiền mua thuốc và nhận thuốc tại nhà thuốc bệnh viện
Quy trình được tóm tắt như sau:
Trang 40Lấy số thứ tự → Đăng ký khám bệnh →Phòng khám bệnh →Nộp tiền
xét nghiệm → Xét nghiệm CLS → Khám lại → Quay lại phòng đăng ký → Nộp đơn thuốc và trả tiền thuốc → Nhận thuốc → Ra về
1.9 Thực trạng quá tải bệnh viện và thời gian chờ khám hiện nay tại BV
ĐK Phú Thọ
Trước tình hình bất cập trong quy trình khám chữa bệnh hiện nay, ngày 22/4/2013, Bộ Y tế đã ban hành nội dung hướng dẫn quy trình khám bệnh tại các khoa khám bệnh của bệnh viện Mục đích của hướng dẫn nhằm đơn giản hóa quy trình khám chữa bệnh, giảm thời gian chờ đợi, bớt thủ tục phiền hà
cho người bệnh
Cụ thể, khoa khám bệnh sẽ thực hiện quy trình khám theo các như bước gồm tiếp đón người bệnh, khám lâm sàng và chẩn đoán, thanh toán viện phí, cuối cùng là phát và lĩnh thuốc Thời gian khám bệnh lâm sàng sẽ không quá
2 giờ, nếu có thêm xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, siêu âm thì chưa tới 3 giờ Như vậy, với quy trình mới, số thủ tục như thời gian mà người bệnh phải chờ đợi sẽ giảm đi một nửa Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ hiện nay vấn đề thời gian chờ đợi chưa có nghiên cứu nào được công bố, theo tính toán
sơ bộ của Phòng Quản lý chất lượng thì thời gian trung bình là 37,5 phút theo phương pháp sử dụng điều tra viên với số lượng mẫu 50 người bệnh
1.10 Một số nghiên cứu có liên quan với đề tài này trên thế giới và Việt Nam
1.10.1 Các nghiên cứu trên Thế giới
- Nghiên cứu của Michael M, Schaffer SD, Egan PL, Little BB, Pritchard PS năm 2013 tại Đại học điều dưỡng Nam Florida, Mỹ về “Cải thiện thời gian chờ đợi và sự hài lòng của KH trong chăm sóc cấp cứu ban đầu” đã cho thấy có mối liên quan chặt chẽ và nghịch đảo giữa sự hài lòng của KH và thời gian chờ đợi trong các chăm sóc cấp cứu Mục tiêu của