1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích quy định Luật sư tố giác thân chủ trong BLHS 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) dưới góc độ pháp luật liên quan

24 262 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 42,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích quy định Luật sư tố giác thân chủ trong BLHS 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) dưới góc độ pháp luật liên quan. Cụ thể bài viết phân tích dưới góc độ của Hiến pháp, BLTTHS, LLS, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp LS.

Trang 1

MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU 3

1 Khái quát chung 4 1.1 Khái quát chung về tố cáo, tố giác tội phạm theo quy định của pháp luật 4 1.2 Khái quát chung về quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018 4

2 Phân tích quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018 dưới góc độ của pháp luật hình sự 5

3 Phân tích quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018 dưới góc độ các quy định pháp luật có liên quan 8 3.1 Phân tích theo quy định của pháp luật Việt Nam 8

3.1.1 Mâu thuẫn với nguyên tắc “suy đoán vô tội” 9 3.1.2 Mâu thuẫn với nguyên tắc “đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội” 11

3.1.3 Mâu thuẫn với “nguyên tắc tranh tụng”, nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng với luật sư 12

3.1.4 Mâu thuẫn với quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”……14 3.1.5 Gây khó khăn cho việc hành nghề và phát triển của nghề luật sư…… ……….16

3.2 Quy định của pháp luật nước ngoài về việc luật sư tố giác thân chủ……….18

4 Góp ý về quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018 21 KẾT LUẬN 23

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Mỗi ngành nghề có một đặc thù riêng và nghề luật sư cũng vậy Khi hành nghềluật sư nói chung và thực hiện công việc bào chữa cho thân chủ nói riêng, luật sưphải chịu sự điều chỉnh bởi Luật Luật sư, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệpluật sư và các pháp luật liên quan

Quy định về “luật sư tố giác thân chủ” trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửađổi bổ sung năm 2017 gần đây đã tạo nên một làn sóng tranh luận gay gắt giữanhiều quan điểm khác nhau khi đứng dưới góc nhìn qua lăng kính của Bộ luật Hình

sự, của Hiến pháp, của Bộ luật tố tụng Hình sự, của Luật Luật sư, của Quy tắc đạođức và ứng xử nghề nghiệp luật sư

Trong bài tiểu luận này, em chỉ đề cập đến vấn đề: “Phân tích quy định phápluật có liên quan về việc Luật sư tố cáo thân chủ trong Bộ luật hình sự 2015 (hiệulực 1/1/2018)” Vì sự hiểu biết còn hạn chế nên mong cô thông cảm và góp ý để em

có thể hoàn thiện bài viết tốt hơn

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

1 Khái quát chung

1.1 Khái quát chung về tố cáo, tố giác tội phạm theo quy định của pháp luật

Theo giải thích tại thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA- BQP-

BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC thì: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi

có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết” Như vậy, việc tố giác được

hiểu là việc một người cung cấp cho cá nhân, cơ quan có thẩm quyền về hành vi códấu hiệu tội phạm của người khác Đối tượng của việc tố giác phải là những hành vi

vi phạm có dấu hiệu tội phạm, tức là hành vi vi phạm pháp luật đó phải cấu thànhtội phạm

Khác với tố giác, tố cáo lại là “việc công dân theo thủ tục do Luật này quy

định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” 1 Có thể hiểu, đối tượng của tố cáo rộng hơn so với tố giác Đối tượng củaviệc tố cáo có thể là bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào thuộc bất cứ lĩnh vực nào:hành chính, dân sự…, không kể tính chất, mức độ vi phạm Như vậy, trong khíacạnh này thì khái niệm tố cáo bao gồm cả tố giác tội phạm Tuy nhiên, việc tố giáctội phạm có tính đặc thù riêng, nên nó chịu điểu chỉnh bởi pháp luật hình sự, phápluật tố tụng hình sự

Nếu như tố cáo là quyền của công dân thì tố giác tội phạm lại là nghĩa vụ Bởiviệc không tố giác tội phạm sẽ bị các chế tài xử lý, cụ thể tùy trường hợp luật định,nếu một người biết rõ cá nhân nào đó đang chuẩn bị, đang hay đã thực hiện hành vitội phạm mà không tố giác tội phạm thì sẽ người đó phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định của Bộ luật hình sự

1 Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011

Trang 4

1.2 Khái quát chung về quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018

Tại kỳ họp thứ 10 quốc hội khóa XIII thì Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13

đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ 1/7/2016 Tuy nhiên, do quá nhiềusai sót nên hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã bị hoãn lại Ngày20/6/2017, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộluật hình sự số 100/2015/QH13

Quy định về việc luật sư tố giác thân chủ đã xuất hiện trong Bộ luật hình sự

năm 2015, cụ thể là tại khoản 3 điều 19: “Người bào chữa không phải chịu trách

nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.”

Sau đó, quy định này qua nhiều Dự thảo sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự 2015thì được Quốc hội thông qua Theo đó, quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật

hình sự 2015 đã sửa đổi khoản 3 điều 19 như sau: “Người không tố giác là người

bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.”

Mặc dù trước đó đã xuất hiện quy định mới về việc luật sư tố giác thân chủ,nhưng đến khi họp Quốc hội để trình dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sựnăm 2015 thì mới tạo nên một làn sóng tranh luận trong suốt thời gian từ khi dựthảo chưa được thông qua cho đến nay

2 Phân tích quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018 dưới góc độ của pháp luật hình sự

Trang 5

Khoản 3 Điều 19 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

“3 Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình

sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.”

Trước hết, về chủ thể bị điều chỉnh bởi quy định trên Đó là “người bào chữa”

Theo quy định tại Khoản 1 điều 72 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: “người bào

chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.” Cũng theo quy định tại điều này thì người bào

chữa có thể là: luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhândân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng đượctrợ giúp pháp lý Như vậy, luật sư là một trong những chủ thể chịu sự điều chỉnhcủa khoản 3 điều 19 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tiếp theo, về nội dung quy định thì luật sư phải chịu trách nhiệm hình sự khikhông tố giác tội phạm thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiệnhoặc đã thực hiện mà luật sư biết rõ khi thực hiện việc bào chữa

Khoản 1 điều 19 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định

như sau: “Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện

hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.”

Từ quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 19 trên, ta có thể thấy có 5 điều kiệncần và đủ khi luật sư tố giác thân chủ:

(1) Người bị tố giác là người được bào chữa (thân chủ) của luật sư

(2) Luật sư phải biết rõ hành vi phạm tội thuộc trường hợp phải tố giáccủa thân chủ

Trang 6

(3) Thân chủ phạm vào các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệtnghiêm trọng

(4) Việc tố giác thực hiện khi luật sư đang thực hiện việc bào chữa chothân chủ

(5) Khi tội phạm đang chuẩn bị; đang được thực hiện; đã thực hiện

Thứ nhất, người bị tố giác là thân chủ của luật sư Như vậy, quan hệ giữa luật

sư và thân chủ xuất phát bởi một trong hai trường hợp: giữa họ có ký kết hợp đồngdịch vụ pháp lý hoặc luật sư bào chữa cho thân chủ theo trường hợp được chỉ định.Thứ hai, việc luật sư “biết rõ” hành vi phạm tội của thân chủ đang chuẩn bị,đang thực hiện, đã thực hiện phải hiểu như thế nào? Theo em, sự “biết rõ” đó phảilà: có chứng cứ xác thực về hành vi phạm tội đó, mà không được chỉ dựa theo lờikhai nhận của thân chủ Bởi không phải ai cũng nắm rõ quy định pháp luật, cũnghiểu được hành vi của họ là vi phạm pháp luật nên có thể xảy ra trường hợp họ ngộnhận về hành vi của mình đang chuẩn bị làm, đang làm hay đã làm là tội phạm Mặtkhác, kể cả cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải có chứng cứ, bằng chứng xác thựcthì mới có thể buộc tội người khác, huống hồ gì luật sư?

Ví dụ: A là người được luật sư X bào chữa cho tội “cố ý gây thương tích”.Một hôm, anh A uống rượu say và lái xe ô tô Khi đến đoạn đường có con hẻm, Athấy có chiếc xe máy do B điều khiển lao nhanh từ hẻm ra A thắng xe Xe của B téxuống cạnh xe của A B chết Nhưng qua giám định thì B chết do đau tim, khôngphải do tai nạn giao thông Nhưng A không biết và vẫn nghĩ mình đã đâm chết B.Trong quá trình luật sư chuẩn bị các thủ tục để bào chữa cho A thì A khai nhận vớiluật sư về việc mình đã đâm chết người Như vậy, luật sư chỉ mới biết về vụ việccủa A, nhưng không hề có bằng chứng xác thực mà chỉ qua lời kể của A thì khôngthể nào luật sư tố giác A Mặt khác, nếu không có bằng chứng buộc tội thân chủ mà

tố cáo thân chủ thì chẳng khác nào luật sư

Thứ ba, về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng Tộixâm phạm an ninh quốc gia được quy định trong chương XIII của Bộ luật hình sự

2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 gồm 14 điều, từ điều 108 đến điều 121 Còn tội

Trang 7

đặc biệt nghiêm trọng thì nằm rải rác trong các tội khác Nhìn chung, so với quyđịnh của Bộ luật hình sự năm 2015 chưa sửa đổi bổ sung thì số tội nằm trong trườnghợp mà luật sư phải tố giác thân chủ đã có sự mở rộng hơn, ko chỉ còn bó hẹp trongcác tội đặc biệt nghiêm trọng quy định trong điều 389 nữa.

Thứ tư, việc tố giác thực hiện khi luật sư đang thực hiện việc bào chữa chothân chủ Theo quy định tại điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì luật sư (ngườibào chữa) tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Như vậy, từ khi tham gia giai đoạnkhởi tố bị can đến khi tham gia phiên tòa xét xử bị can, bị cáo mà luật sư nhậnnhiệm vụ bào chữa thì nếu xảy ra các trường hợp luật định phải tố giác thân chủ thìluật sư phải thực hiện đúng quy định đó

Thứ năm, hành vi phạm tội bị tố giác có thể đang chuẩn bị, đang thực hiện, đãthực hiện, tương ứng với các giai đoạn tội phạm: giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giaiđoạn phạm tội chưa đạt, giai đoạn phạm tội hoàn thành Có nghĩa là dù hành vi đónằm ở bất cứ giai đoạn nào của tội phạm thì khi biết được, luật sư phải có nghĩa vụ

tố giác với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiếp nhận thông tin tố giác

Như vậy, so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm

2009, dường như nếu chỉ xét trên góc độ pháp luật hình sự thì Bộ luật Hình sự sắp

có hiệu lực thi hành này có vẻ đã loại trừ trách nhiệm tố giác của luật sư trong một

số trường hợp nhất định Với cách quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi

bổ sung năm 2009, ta có thể hiểu bất cứ “người nào” cũng có nghĩa vụ tố giác tộiphạm và luật sư cũng không nằm ngoài nghĩa vụ đó Tuy nhiên, khi suy xét quyđịnh tại khoản 3 điều 19 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017dưới nhiều góc độ của quy định pháp luật có liên quan thì tạo nên góc nhìn mớihơn, đa chiều hơn Điều này sẽ được phân tích trong mục 3 của bài

3 Phân tích quy định luật sư tố giác thân chủ trong Bộ luật hình sự có hiệu lực từ 1/1/2018 dưới góc độ các quy định pháp luật có liên quan

3.1 Phân tích theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 8

Khi luật sư và người phạm tội không có sự ràng buộc bởi giao dịch pháp lý thìluật sư khi ấy cũng là một công dân Đã là công dân thì phải có nghĩa vụ đối vớiviệc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội Vì vậy, khi biết về việc người nào đó

có hành vi phạm tội thì dù là tội phạm nào thì luật sư dưới nghĩa vụ của một côngdân phải tố giác tội phạm Nếu không tố giác tội phạm thì luật sư cũng chịu tráchnhiệm hình sự về tội “không tố giác tội phạm” như những công dân khác

Nhưng khi đặt mối quan hệ giữa luật sư- thân chủ, bị ràng buộc bởi giao dịchpháp lý thì khi ấy, việc tố giác tội phạm (chính thân chủ của mình) phải nhìn theohướng khác đi dưới quy định pháp luật khác có liên quan Bởi khi hành nghề luật sưnói chung và thực hiện công việc bào chữa cho thân chủ nói riêng, luật sư phải chịu

sự điều chỉnh bởi Luật Luật sư, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư vàcác pháp luật liên quan

Quy định về “luật sư tố giác thân chủ” đã tạo nên nhiều tranh cãi, nhiều quanđiểm khác nhau khi đứng dưới góc nhìn qua lăng kính của Hiến pháp, của Bộ luật tốtụng Hình sự, của Luật Luật sư, của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.Riêng quan điểm em về quy định này như sau: quy định “luật sư tố giác thân chủ”

đã tạo nên nhiều sự mâu thuẫn trong quy định của pháp luật, cụ thể:

(1) Mâu thuẫn với nguyên tắc “suy đoán vô tội”

(2) Mâu thuẫn với nguyên tắc “tự bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa”(3) Mâu thuẫn với trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng, luật

(4) Mâu thuẫn với quy tắc “giữ bí mật thông tin khách hàng”

(5) Gây khó khăn cho sự phát triển của nghề luật sư

3.1.1 Mâu thuẫn với nguyên tắc “suy đoán vô tội”

Nguyên tắc này đã được quy định trong công ước quốc tế về quyền con người

và nó đã được công nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự của Việt Nam,

cụ thể trong khoản 1 điều 31 của Hiến pháp năm 2013 và điều 13 Bộ luật Tố tụnghình sự năm 2015 như sau:

“Điều 31

Trang 9

1 Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”

“Điều 13 Suy đoán vô tội

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.”

Với tinh thần áp dụng của nguyên tắc trên thì trong suốt quá trình giải quyết

vụ án hình sự cho đến trước khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luậtthì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn được coi là không có tội Quy tắc này bảo vệquyền con người, lợi ích chính đáng của những người bị buộc tội khi chưa có bản

án có hiệu lực pháp luật Bởi việc người này có tội hay không thì phải qua quá trìnhđiều tra, thu thập chứng cứ, đánh giá, xem xét toàn diện, khách quan Nếu nhưkhông có bằng chứng, chứng cứ để chứng minh họ có tội thì những cơ quan có thẩmquyền phải tuyên họ vô tội

Nguyên tắc “suy đoán vô tội” cũng là một quyền của con người, đi cùng vớiquyền đó là “quyền im lặng” của người bị buộc tội Bị can, bị cáo có quyền khôngbuộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.Hơn nữa, việc chứng minh người nào có tội là trách nhiệm từ phía cơ quan tiếnhành tố tụng Luật sư, hơn ai hết phải tin rằng thân chủ của mình không có tội để cóthể tìm ra tình tiết gỡ tội, tình tiết giảm nhẹ tội cho thân chủ thì mới thực hiện đượcnghĩa vụ của một người luật sư đến cùng

Nếu như áp dụng khoản 3 điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi

bổ sung năm 2017 thì luật sư phải tố giác thân chủ khi biết rõ thân chủ phạm tộithuộc trường hợp phải tố giác Mà luật sư cũng chỉ là một bên tham gia tố tụng, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình không lẽ lại phải đi chứngminh cho việc phạm tội của thân chủ? Luật sư dựa vào đâu để chứng minh cho sự

“biết rõ” của mình? Không thể nào chỉ nghe qua lời nói của thân chủ mà đã vội kếtluận họ có tội để mà tố giác Cũng không thể nào chỉ dựa vào cáo trạng của Việnkiểm sát để quy thân chủ có tội hay không Đã có rất nhiều vụ án trải qua nhiều

Trang 10

phiên tòa xét xử nhưng vẫn oan sai Hơn nữa, luật sư được thân chủ cung cấp thôngtin nhưng không có điều kiện đi điều tra, xác minh mà lại đi tố giác thân chủ thìchuyện gì sẽ xảy ra? Nếu như vậy rất dễ làm gia tăng thêm án oan sai Mặt khác,thiên chức của một người luật sư không phải để buộc tội thân chủ Như vậy, vớicách quy định “luật sư tố giác thân chủ” thì ngay cả chính luật sư cũng buộc tội thânchủ thì liệu rằng có xâm phạm đến quyền của bị can, bị cáo không bị coi là có tộikhi chưa có bản án có hiệu lực của tòa án không? Như vậy, rõ ràng có sự mâu thuẫn

“4 Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền

tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

“Điều 16 Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”

“Quyền bào chữa” là tổng hợp tất cả các quyền mà pháp luật dành cho ngườitạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho họ 2 Đó có thể là quyền tự đưa ra chứng cứ chứng minh vô tộihoặc làm giảm nhẹ tội hoặc là quyền được luật sư, người khác bào chữa cho mình

2 Giáo trình luật tố tụng Hình sự Việt Nam, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, năm 2012, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.66

Trang 11

Tuy nhiên, với cách quy định “luật sư tố giác thân chủ” của Bộ luật Hình sựsắp có hiệu lực tới đây thì liệu rằng bị can, bị cáo có an tâm để luật sư bào chữa chomình không? Bởi nếu họ khai ra thì họ sợ mình sẽ bị tố giác Ngay chính ngườimình tin tưởng nhất là luật sư sẽ gỡ tội cho mình mà giờ luật sư lại tố giác mình thì

từ đó sẽ dẫn đến tâm lý ngại tiếp cận dịch vụ pháp lý của luật sư và chỉ còn cách làchạy tội, chạy án Như vậy, sẽ làm gia tăng những tiêu cực trong xã hội Người bịbuộc tội càng phải giấu tội, giấu thông tin của mình thì có thể gây khó khăn chocông việc của chính luật sư, của cơ quan tiến hành tố tụng Từ đó gây khó khăn hơntrong việc giải quyết vụ án và càng khó có cơ hội để luật sư có thể động viên bị cáođầu thú, tìm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can, bị cáo

Không phải ai cũng có đủ hiểu biết về pháp luật để mà có thể tự bào chữa chomình, để có thể biết dùng quyền của mình một cách đúng đắn, hiệu quả để tự bảo vệquyền lơi của chính họ Bởi vậy pháp luật mới cho phép họ quyền được nhờ luật sưbào chữa Như vậy, với cách quy định “luật sư tố giác thân chủ”, người bị buộc tộicàng không tin tưởng vào luật sư và họ sẽ không còn dám cho mình cái quyền đượcnhờ luật sư bào chữa nữa Đặc biệt là người bị buộc vào các tội xâm phạm an ninhquốc gia và tội đặc biệt nghiêm trọng Ngược lại, luật sư cũng không dám bào chữacho các tội phạm này bởi chẳng luật sư nào muốn mình vướng phải vòng lao lý vìtội “không tố giác tội phạm” Việc này vô tình đã dẫn đến làm hạn chế quyền đượcbào chữa bởi luật sư của bị can, bị cáo thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia vàtội đặc biệt nghiêm trọng

3.1.3 Mâu thuẫn với “nguyên tắc tranh tụng”, nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng với luật sư

Nguyên tắc tranh tụng và một trong những nghĩa vụ của cơ quan, người tiến

hành tố tụng, luật sư quy định trong điều 14, điều 26, điểm m khoản 1 điều 43 của

Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 như sau:

“Điều 15 Xác định sự thật của vụ án

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng….”

Trang 12

“Điều 26 Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình

sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.”

“Điều 73 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

1 Người bào chữa có quyền:

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; …”

Từ các quy định, ta thấy trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơquan tiến hành tố tụng Bất kỳ một tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một quan hệ

xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ Do vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật làcác cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng- đại diện cho quyền lực Nhànước có trách nhiệm, nghĩa vụ chứng minh tội phạm nhằm tìm ra người phạm tội để

Ngày đăng: 17/08/2017, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w