MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Con người với nguồn tiềm năng trí tuệ vô tận, là nguồn lực quyết định, là mục tiêu là động lực của sự phát triển. Trong bất kì thời đại nào con người vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và quan trọng nhất của xã hội, giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế. Ngay trong những buổi đầu tiên của xã hội loài người, thời kỳ nguyên thủy, con người sống thành bầy đàn trong các thị tộc, bộ lạc, lúc đó trình độ nhận thức còn thấp họ tồn tại bằng những hoạt động thường ngày như săn bắt, hái lượm nhưng chính bản thân họ ngay lúc đó đã là chủ thể duy nhất của hoạt động này. Với việc khám phá ra những công cụ, phương tiện lao động mới cùng với sự phát triển ngày càng cao của bộ óc con người. Họ đã không ngừng cải biến tự nhiên, làm chủ tự nhiên để phát triển mặt xã hội của mình. Ngày nay, nhờ các tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, các máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại ra đời đã giải phóng phần nào sức lao động của con người, cả lao động chân tay và lao động trí óc. Nhờ đó năng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần. Mặc dù vậy, những thành tựu của khoa học đó không thể xóa nhòa vai trò của con người cũng như thay thế vai trò của con người trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Máy móc dù hoàn thiện đến đâu, dù thông minh như thế nào đi chăng nữa thì cũng chỉ là khâu trung gian cho hoạt động của con người, do con người sản xuất ra và chịu sự điều khiển bởi con người. Vì vậy, trong bất kì thời đại nào nhân tố con người vẫn sẽ là nhân tố quyết định quan trọng nhất và là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội. Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất không phải là một vấn đề mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu nhân tố người trong lực lượng sản xuất là một vấn đề mang tính thời sự phải diễn ra thường xuyên trong các giai đoạn lịch sử, ở tất cả các quốc gia. Con người vừa là chủ thể của lịch sử vừa là sản phẩm của lịch sử do đó việc phát triển con người gắn liền với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đối với đất nước ta hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức thì nhân tố người cần được chú trọng và phát triển toàn diện trên tất cả các mặt. Có như vậy thì mới có thể đảm bảo cho sự phát triển cả mặt chất cũng như mặt lượng của xã hội. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư phát triển lực lượng sản xuất và đầu tư phát triển con người thu được nhiều thắng lợi đáng kể. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy nền kinh tế nước ta phát triển không đồng đều giữa các vùng miền, các khu vực mà một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng trên là do nhân tố người trong lực lượng sản xuất chưa được quan tâm và phát triển đúng mức cho từng địa phương cụ thể, đặc biệt là ở những vùng miền núi có nền kinh tế kém phát triển. Nếu tình trạng này kéo dài thì đây thực sự là một trở ngại lớn đối với nước ta trong thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra là tiến hành nghiên cứu ở những khu vực có nền kinh tế kém phát triển để không những tạo ra sự phát triển nơi đây mà còn tạo ra động lực phát triển chung cho nền kinh tế của nước ta. Với tinh thần là người con của quê hương Tiên Phước, em thấy rằng, Tiên Phước là một huyện miền núi có nền kinh tế kém phát triển, đời sống người dân nơi đây còn rất khó khăn, do vậy em đã hình thành nên đề tài: “Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam hiện nay”. Đây là việc làm cần thiết đối với huyện Tiên Phước. Trên cơ sở đó có thể nắm bắt được một cách đầy đủ tình hình sử dụng và bồi dưỡng phát huy nhân tố con người trong những năm qua của huyện, đồng thời qua đó có thể chỉ ra những điểm hợp lý cũng như những hạn chế, bất cập từ đó đề xuất phương hướng, góp phần vào việc phát triển con người Tiên Phước một cách hiệu quả trong sự nghiệp phát triển kinh tế hiện nay.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Con người với nguồn tiềm năng trí tuệ vô tận, là nguồn lực quyếtđịnh, là mục tiêu là động lực của sự phát triển Trong bất kì thời đại nàocon người vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và quan trọng nhất của
xã hội, giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển kinh tế Ngay trong nhữngbuổi đầu tiên của xã hội loài người, thời kỳ nguyên thủy, con người sốngthành bầy đàn trong các thị tộc, bộ lạc, lúc đó trình độ nhận thức còn thấp
họ tồn tại bằng những hoạt động thường ngày như săn bắt, hái lượmnhưng chính bản thân họ ngay lúc đó đã là chủ thể duy nhất của hoạtđộng này Với việc khám phá ra những công cụ, phương tiện lao độngmới cùng với sự phát triển ngày càng cao của bộ óc con người Họ đãkhông ngừng cải biến tự nhiên, làm chủ tự nhiên để phát triển mặt xã hộicủa mình Ngày nay, nhờ các tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, cácmáy móc thiết bị và công nghệ hiện đại ra đời đã giải phóng phần nào sứclao động của con người, cả lao động chân tay và lao động trí óc Nhờ đónăng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần Mặc dù vậy, những thành tựucủa khoa học đó không thể xóa nhòa vai trò của con người cũng như thaythế vai trò của con người trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Máymóc dù hoàn thiện đến đâu, dù thông minh như thế nào đi chăng nữa thìcũng chỉ là khâu trung gian cho hoạt động của con người, do con ngườisản xuất ra và chịu sự điều khiển bởi con người Vì vậy, trong bất kì thờiđại nào nhân tố con người vẫn sẽ là nhân tố quyết định quan trọng nhất
và là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội
Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất không phải làmột vấn đề mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu nhân tố người trong lựclượng sản xuất là một vấn đề mang tính thời sự phải diễn ra thường xuyêntrong các giai đoạn lịch sử, ở tất cả các quốc gia Con người vừa là chủ
Trang 2thể của lịch sử vừa là sản phẩm của lịch sử do đó việc phát triển conngười gắn liền với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đối với đất nước ta hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhậpquốc tế và kinh tế tri thức thì nhân tố người cần được chú trọng và pháttriển toàn diện trên tất cả các mặt Có như vậy thì mới có thể đảm bảo cho
sự phát triển cả mặt chất cũng như mặt lượng của xã hội Trong nhữngnăm gần đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcĐảng và Nhà nước ta đã chú trọng đầu tư phát triển lực lượng sản xuất vàđầu tư phát triển con người thu được nhiều thắng lợi đáng kể Tuy nhiên,thực trạng cho thấy nền kinh tế nước ta phát triển không đồng đều giữacác vùng miền, các khu vực mà một trong những nguyên nhân gây ra tìnhtrạng trên là do nhân tố người trong lực lượng sản xuất chưa được quantâm và phát triển đúng mức cho từng địa phương cụ thể, đặc biệt là ởnhững vùng miền núi có nền kinh tế kém phát triển Nếu tình trạng nàykéo dài thì đây thực sự là một trở ngại lớn đối với nước ta trong thực hiệnmục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra
là tiến hành nghiên cứu ở những khu vực có nền kinh tế kém phát triển đểkhông những tạo ra sự phát triển nơi đây mà còn tạo ra động lực pháttriển chung cho nền kinh tế của nước ta
Với tinh thần là người con của quê hương Tiên Phước, em thấyrằng, Tiên Phước là một huyên miền núi có nền kinh tế kém phát triển,đời sống người dân nơi đây còn rất khó khăn, do vậy em đã hình thànhnên đề tài: “Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyệnTiên Phước tỉnh Quảng Nam hiện nay” Đây là việc làm cần thiết đối vớihuyện Tiên Phước Trên cơ sở đó có thể nắm bắt được một cách đầy đủtình hình sử dụng và bồi dưỡng phát huy nhân tố con người trong nhữngnăm qua của huyện, đồng thời qua đó có thể chỉ ra những điểm hợp lýcũng như những hạn chế, bất cập từ đó đề xuất phương hướng, góp phần
Trang 3vào việc phát triển con người Tiên Phước một cách hiệu quả trong sựnghiệp phát triển kinh tế hiện nay.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Tác giả Nguyễn Thị Trâm, với công trình nghiên cứu nghiên cứucủa mình “Vấn đề nguồn lực con người trong thời kỳ đổi mới” in trongtác phẩm, “Đổi mới ở Việt Nam tiến trình, thành tựu và kinh nghiệm”,nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2004
Tác giả Nguyễn Văn Tài với công trình nghiên cứu của mình “Tưtưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người”, Tạpchí triết học, số 2(153), tháng 4 năm 2004
Tác giả Trần Nhân trong tác phẩm “Tư duy lý luận với sự nghiệpđổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội - 2004, với phần “Pháttriển nguồn lực con người - nhân tố quyết định thắng lợi của đổi mới vàphát triển”
Tác giả Trần Văn Bính, “Xây dựng chiến lược con người - một đòi hỏi cấp thiết”, trong tác phẩm “Về định hướng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, Hà Nội - 2001
Tác giả Tống Tất Đường, nghiên cứu về “Phát triển nhân tố người trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An hiện nay”
Tác giả Hồ Văn Dũng cũng khai thác “Nhân tố người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy nhân tố đó ở nước ta hiện nay”
Tác giả Nguyễn Văn Thiện với công trình “Góp phần bàn thêm về nhân tố người”, Tạp chí nghiên cứu trao đổi
Tác giả Lê Quang Hoan với luận án tiến sỹ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vấn đề phát huy nhân tố người trong đổi mới hiện nay”
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Mục đích:
Trang 4Tìm hiểu thưc trạng việc sử dụng và phát triển nhân tố người tronglực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước, qua đó đưa ra một số giải phápcũng như những bài học để phát huy nhân tố con người một cách hiệuquả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở huyện Tiên Phước hiện nay.
- Phân tích thực trạng lực lượng sản xuất hiện nay
- Tìm ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy cho sự phát triểnnhân tố người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu đề tài:
Cơ sở lý luận:
Việc nghiên cứu và trình bày khóa luận dựa trên cơ sở lý luận củachủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minhcùng với các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các vấn đề
về con người, vấn đề về lực lượng sản xuất Khóa luận có kế thừa, tiếpthu những thành quả của công trình nghiên cứu trước như các bài viết,các tư liệu điều tra trước đây để khái quát lại và đưa ra ý kiến của mình
Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích - tổnghợp, logic - lịch sử, so sánh, thống kê…khóa luận đặc biệt chú ý đến quanđiểm thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu cũng nhưtrong trình bày đề tài này
5 Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Khóa luận chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về sử dụng và pháttriển con người trong lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước tỉnh Quảng
Trang 5Nam, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần vào việc phát huynhân tố con người trong lực lượng sản xuất.
6 Đóng góp của đề tài:
Về lý luận:
Góp phần cũng cố nhận thức lý luận về học thuyết hình thái kinh tế
xã hội, về vai trò của các nhân tố trong lực lượng sản xuất, đặc biệt vaitrò của nhân tố người trong lực lượng sản xuất
Về thực tiễn:
Những giải pháp để phát triển nhân tố người trong lực lượng sảnxuất ở huyện Tiên Phước có thể áp dụng cho những vùng có nền kinh tếkém phát triển, có điều kiện tương tự như huyện Tiên Phước
Đề tài này có thể để tham khảo và cung cấp thông tin cho huyệnTiên Phước trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung đề tài được kết cấu gồm 2 chương 6 tiết sau:
Chương 1: Quan niệm của triết học Mác - Lênin về nhân tố ngườitrong lực lượng sản xuất
1.1 Trình bày quan niệm triết học Mác - Lênin về sản xuất vànhững nhân tố của quá trình sản xuất vật chất
1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất
1.3 Vai trò của nhân tố người trong lực lượng sản xuất
Chương 2: Phát triển nhân tố người - điều kiện quyết định sự pháttriển lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam
2.1 Một vài nét về huyện Tiên Phước
2.2 Thực trạng lực lượng sản xuất ở huyện Tiên Phước
2.3 Giải pháp cho phát triển nhân tố người trong lực lượng sảnxuất ở huyện Tiên Phước tỉnh, Quảng Nam hiện nay
CHƯƠNG 1
Trang 6QUAN NIỆM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ NHÂN TỐ NGƯỜI
TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT.
1.1Trình bày quan niệm triết học Mác - Lênin về sản xuất và những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất
1.1.1 Khái niệm sản xuất, sản xuất vật chất
“Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loàingười Sản xuất xã hội bao gồm: Sản xuất vật chất, sản xuất tình thần vàsản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau,tác động qua lại lẫn nhau trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại
và phát triển của xã hội”[4, 287]
“Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ laođộng tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tựnhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và pháttriển của con người”[4, 287]
Vậy sản xuất là khái niệm có nội hàm rộng hơn khái niệm sản xuấtvật chất, sản xuất vật chất chỉ là một mặt của sản xuất mà thôi
Trong quá trình sản xuất vật chất, con người không ngừng làm biếnđổi tự nhiên, biến đổi xã hội, đồng thời làm biến đổi chính bản thân mình.Sản xuất vật chất không ngừng phát triển Sự phát triển của sản xuất vậtchất quyết định sự biến đổi, phát triển các mặt của đời sống xã hội, quyếtđịnh phát triển xã hội từ thấp đến cao
Sản xuất vật chất được tiến hành trong những điều kiện tất yếu nhưmôi trường tự nhiên và dân số (bao gồm sự tăng dân số và mật độ dâncư)
Nhìn chung sản xuất vật chất có những vai trò quan trọng sau:
- Sản xuất vật chất làm cho con người thay đổi tư thế dáng đi, làmcho tay chân thuần thục
- Sản xuất vật chất tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu thiết yếucủa con người
Trang 7- Sản xuất vật chất gắn các cá thể người lại với nhau thành xã hội.
- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người hiểu thế giớikhách quan sâu hơn, thông tin về nó nhiều hơn, vì vậy bộ não của conngười phát triển
- Sản xuất vật chất là điều kiện thuận lợi cho con người suy ngẫm.cải tiến công cụ sản xuất, thay đổi cách thức quản lí nhằm nâng cao năngsuất lao động Vì vậy, sản xuất vật chất là nhân tố quan trọng nhất, quyếtđịnh nhất đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
1.1.2 Những nhân tố của quá trình sản xuất vật chất
Để tiến hành được một quá trình sản xuất vật chất, về cơ bản cần
có ba yêu tố: Hoạt động vật chất có mục đích của con người; Những tưliệu vật chất cho chính hoạt động ấy và những đối tượng vật chất kháchquan mà hoạt động này hướng vào nhằm thay đổi chúng
Trong sản xuất vật chất, con người phải sử dụng các năng lực vốn
có của mình, trước hết là những sức mạnh vật chất để tác động vào đốitượng vật chất làm thay đổi tính chất, cấu trúc, hình thái của chúng.Nghĩa là, con người phải tiến hành các quá trình trao đổi vật chất vớinhững đối tượng khách quan Khi đi vào quá trình sản xuất vật chất, conngười không thể không đưa vào quá trình sản xuất các sức mạnh củamình như kinh nghiệm và kỹ năng lao động, sở thích và thị hiếu, tình cảm
và niềm tin Những sức mạnh này không giữ vai trò quyết định, songchúng luôn ảnh hưởng theo những mức độ khác nhau đến quá trình sảnxuất vật chất
1.2 Kết cấu và vị trí của các yếu tố trong lực lượng sản xuất
Khái niệm lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất là toàn bộ cáclực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vậtchất Nó bao gồm người lao động với một thể lực, tri thức, kĩ năng laođộng nhất định và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trongquá trình sản xuất, sức lao động của co người kết hợp với tư liệu sản xuất,
Trang 8trước hết là công cụ lao động tạo thành lực lượng sản xuất Lực lượng sảnxuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trìnhsản xuất Nó thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trongquá trình sản xuất ra của cải vật chất [ 5, 391].
Bản chất của lực lượng sản xuất được thể hiện ở các đặc trưng sau:Thứ nhất, lực lượng sản xuất là nhân tố khách quan, là nền tảng vậtchất của toàn bộ lịch sử loài người
Thứ hai, trong mỗi nền sản xuất vật chất, lực lượng sản xuất thểhiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và hoạt động của mỗi yếu
tố trong lực lượng sản xuất đều có tư cách là sự thực hiện trực tiếp haydán tiếp một phương diện nào đó của mối quan hệ này
Thứ ba, lực lượng sản xuất mang tính năng động, ít bền vững, dễthay đổi và thường xuyên phát triển
Kết cấu lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là hệ thống bao gồm các yếu tố có quan hệ tácđộng qua lại với nhau gồm người lao động và tư liệu sản xuất
Trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất thì người lao độnggiữ vị trí hàng đầu V.I Lênin viết “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toànthể nhân loại là công nhân là người lao động”[12, 430] Chính con ngườichế tạo ra tư liệu lao động, luôn luôn cải biến và sử dụng nó để tiến hànhsản xuất Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu nhưng nếukhông được con người sử dụng thì không thể phát sinh tác dụng, khôngthể trở thành lực lượng sản xuất có ích cho xã hội Do đó “Lực lượng sảnxuất là lực lượng của bản thân con người và trình độ của lực lượng sảnxuất cũng chính là trình độ phát triển của chính bản thân con người, là sựphát triển năng lực làm chủ tự nhiên xã hội và bản thân con người quacác giai đoạn lịch sử khác nhau” [8, 84]
Hiện nay, nguồn lao động ở Việt Nam đã có sự thay đổi lớn về sốlượng và chất lượng Tuy nhiên, để hòa nhập với nền kinh tế tri thức như
Trang 9hiện nay thì chất lượng nguồn lao động Việt Nam còn có nhiều vấn đềđáng quan tâm, do đó cần phải có những giải pháp cụ thể cho việc pháttriển nguồn nhân lực Việt Nam cả về số lượng và chất lượng nhằm thúcđẩy kinh tế xã hội của đất nước một cách vững chắc.
Tư liệu sản xuất:
Tư liệu sản xuất là những cái dùng trong sản xuất, điều kiện vậtchất của sản xuất [10, 13] Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động vàđối tượng lao động
Tư liệu lao động là một hay nhiều hệ thống vật thể làm khâu trunggian truyền tải sức lao động từ con người lên đối tượng lao động nhằmbiến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của conngười Trong tư liệu lao động gồm có công cụ lao động và các phươngtiện khác hỗ trợ cho con người khi sử dụng công cụ cũng như khi tiếnhành lao động nói chung
Trong tư liệu lao động thì công cụ lao động là thành phần quantrọng nhất, bởi đây là nơi tập trung nhất sức mạnh của tư liệu lao động,cái truyền tải sức lao động trực tiếp nhất đến với đối tượng C.Mác chorằng: “Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xaychạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” [ 16, 187].Hay trong Tư bản, Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau khôngphải là ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằngcách nào, với những tư liệu lao động nào”
Đối tượng lao động “Là những vật bị lao động của con người tácđộng trong quá trình lao động sản xuất” [15, 13] Đối tượng lao động haycòn được gọi là toàn bộ những vùng của tự nhiên được con người đưavào sản xuất Nó trước hết là những cái có sẵn trong tự nhiên, loại nàycon người chỉ cần dùng lao động tác động vào để tạo ra của cải vật chấtcho xã hội Những cái không có sẵn buộc con người phải tìm mọi cách đểtạo ra nó như: Sợi tổng hợp, vật liệu xây dựng, các hóa chất, loại này
Trang 10thông qua lao động sáng tạo của con người để cải biến ít nhiều phục vụcho sản xuất
Mọi đối tượng lao động đều bắt nguồn từ tự nhiên nhưng khôngphải mọi yếu của tự nhiên đều là đối tượng lao động Bởi vì chỉ nhữngyếu tố tự nhiên nào mà do con người tác động trong quá trình sản xuấtnhằm biến đổi nó phù hợp với mục đích của mình mới gọi là đối tượnglao động
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất thì khoa học kỹ thuậtđóng vai trò ngày càng to lớn, khoa học đã thâm nhập sâu vào trong quátrình sản xuất và trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp” [4, 392] “Khoahọc không còn đứng ở bên ngoài sản xuất mà chuyển thành một mắt khâubên trong, thống nhất chặt chẽ với những mắt khâu khác trong lực lượngsản xuất” [6, 28]
1.3 Vai trò của nhân tố người trong việc phát triển của lực lượng sản xuất
1.3.1 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về con người và nhân
tố người trong lực lượng sản xuất
Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề con người và nhân tốngười trong lực lượng sản xuất Tuy nhiên, vấn đề này chỉ được hiểuđúng đắn và khoa học trên lập trường của chủ nghĩa Mác –Lênin, khi conngười không được hiểu theo một cách chung chung, trừu tượng
Quan niệm của triết học Mác- Lênin về con người: Chủ nghĩa Mác
- Lênin cho rằng con người vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hộiđồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh Con người trong quá trình tồn tạikhông chỉ tác động vào tự nhiên mà con người còn quan hệ với nhau tạonên bản chất con người, làm cho con người khác với con vật
“Bản chất của con người không phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhânriêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổnghòa các mối quan hệ xã hội” [15, 11]
Trang 11Quan niệm về nhân tố người trong lực lượng sản xuất: Nhân tốngười trong lực lượng sản xuất hay nguồn lực con người là “Tổng thểnhững nhân tố thuộc về chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ trithức, vị thế xã hội tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người
có thể sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đấtnước và trong hoạt động xã hội” [3, 271-272]
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân tố người,trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh đã khẳng định
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xãhội chủ nghĩa” [21, 310]
1.3.2 Con người – nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất
Xét trong mối quan hệ giữa nhân tố con người với những thành tốcấu thành lực lượng sản xuất ta thấy:
Nhân tố người trong mối quan hệ với tư liệu sản xuất thì: Conngười với tư cách là chủ thể, các yếu tố cấu thành tư liệu sản xuất làkhách thể Ở đây con người đóng vai trò quyết định, bởi vì: Con người làchủ thể sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất, tinh thần của xã hội, trong
đó có sự sáng tạo ra những tư liệu sản xuất Nói như vậy, không phải ởđây ta bác bỏ sự tác động trở lại của tư liệu sản xuất đối với nhân tố conngười Con người là nhân tố sáng tạo, quyết định song tư liệu sản xuấtđóng vai trò chi phối, trong một số trường hợp gây ảnh hưởng lớn đếnnhân tố con người
Xét nhân tố người trong mối quan hệ với đối tượng lao động:Trong mối quan hệ này, một bên (nhân tố người) là chủ thể khai thác, vàmột bên là đối tượng của sự khai thác Ở đây nhân tố người cũng đóngvai trò quyết định, vì chỉ khi con người tác động vào đối tượng lao độngthì mới biến đối tượng lao động thành những cái có ích đáp ứng cho cuộcsống của con người