1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận cao học kinh tế tri thức và sự phát triển của nó ở việt nam hiện nay

23 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 114 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Toàn cầu hóa về kinh tế, với xung lực là kinh tế tri thức đã và đang trở thành xu thế phát triển khách quan của thế giới đương đại. Những dự báo thiên tài của C.Mác và Ph. Ăngghen cách đây gần 200 năm về sự “xuất hiện của công nhân khoa học”, “tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”, “lực lượng sản xuất tinh thần”, “giá trị lao động cơ bắp trong sản phẩm làm ra sẽ được giảm cực nhỏ”...Giờ đã trở thành hiện thực. Đó là một trong những quy luật vận động căn bản của lịch sử nhân loại ngày nay, mà Việt Nam chúng ta đang trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa càng không thể đứng ngoài quy luật đó. Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà tri thức và khoa học công nghệ trở thành yếu tố quyết định nhất của nền sản xuất. Trong điều kiện ngày nay thì phát triển nền kinh tế tri thức là xu thế chung của nhân loại. Nó là cơ hội cho các Quốc gia trên thế giới tiếp cận những thành tựu của khoa hoc công nghệ, trao đổi thông tin, tri thức khoa học để nhằm nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Nhưng bên cạnh đó, nó cũng tạo ra những thách thức, nếu như không nhanh chóng nắm bắt những thành tựu của khoa học công nghệ, tri thức khoa học sẽ bị lạc hậu, không bắt kịp với xu thế của nhân loại. Nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế lâu dài của nhân loại, không ai có thể phủ nhận rằng, thời nào cũng vậy, tri thức vẫn nằm ở trung tâm của sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao từng bước phúc lợi xã hội “Phi trí bất hưng”. Năng lực phát minh và canh tân, nghĩa là tạo ra những ý tưởng mới, kiến thức mới và sau đó được cụ thể hóa trong sản phẩm, trong những cách tổ chức sản xuất, trong công nghệ sản xuất,....theo dòng lịch sử chính là nhân tố làm ra sự phát triển của xã hội loài người. C. Mác đã từng đánh giá ý nghĩa vĩ đại của khoa học và xem khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp. Tuy vậy cách nói về kinh tế tri thức ( hay nền kinh tế đặt trên cơ sở tri thức ) thì lại mới xuất hiện gần đây. Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của đảng đã nhấn mạnh: “Con đường công nghiệp của các nước đi trước vừa có những bước tuần tự vừa có những bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn những thành tựu về khoa học công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” 17; 71 Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhanh chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trong cách tiếp cận phát triển hiện nay, cần thiết phải đặt vấn đề phát triển tri thức vào đúng tầm của nó. Cho dù có nhắc đến khái niệm này hay không, nội dung chủ yếu của các chính sách phát triển nếu không hướng đến việc xây dựng một nền kinh tế được dựa trên cơ sở của tri thức khoa học hiện đại thì sẽ không có cơ hội nói đến việc rút ngắn quá trình và thời gian tiến kịp các nền kinh tế đã phát triển. Tiến cùng thời đại trong phát triển kinh tế hiện nay đòi hỏi phải có sự “nắn dòng” chiến lược xóa đói giảm nghèo theo hướng trước hết tập trung cho xóa đói nghèo về tri thức ( tức là nâng cấp năng lực tiếp cận với kinh tế của con người, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách thể chế và hội nhập với dòng chảy chung của xu thế phát triển kinh tế thế giới hiện đại. Như vậy, nghiên cứu về kinh tế tri thức và vai trò của nó đối với Việt Nam hiện nay là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc. Với mong muốn tìm hiểu kinh tế tri thức ở Việt Nam, tôi chọn vấn đề: Kinh tế tri thức và sự phát triển của nó ở Việt Nam hiện nay làm đề tài khóa luận của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa về kinh tế, với xung lực là kinh tế tri thức đã vàđang trở thành xu thế phát triển khách quan của thế giới đương đại.Những dự báo thiên tài của C.Mác và Ph Ăngghen cách đây gần 200năm về sự “xuất hiện của công nhân khoa học”, “tri thức sẽ trở thànhlực lượng sản xuất trực tiếp”, “lực lượng sản xuất tinh thần”, “giá trịlao động cơ bắp trong sản phẩm làm ra sẽ được giảm cực nhỏ” Giờ

đã trở thành hiện thực Đó là một trong những quy luật vận động cănbản của lịch sử nhân loại ngày nay, mà Việt Nam chúng ta đang trêncon đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa càng không thể đứng ngoài quy luật đó

Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà tri thức và khoa học - côngnghệ trở thành yếu tố quyết định nhất của nền sản xuất Trong điềukiện ngày nay thì phát triển nền kinh tế tri thức là xu thế chung củanhân loại Nó là cơ hội cho các Quốc gia trên thế giới tiếp cận nhữngthành tựu của khoa hoc - công nghệ, trao đổi thông tin, tri thức khoahọc để nhằm nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội Nhưng bên cạnh đó, nó cũng tạo ra những thách thức, nếunhư không nhanh chóng nắm bắt những thành tựu của khoa học -công nghệ, tri thức khoa học sẽ bị lạc hậu, không bắt kịp với xu thếcủa nhân loại

Nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế lâu dài của nhân loại, không

ai có thể phủ nhận rằng, thời nào cũng vậy, tri thức vẫn nằm ở trung

Trang 2

tâm của sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao từng bước phúc lợi xã hội

“Phi trí bất hưng” Năng lực phát minh và canh tân, nghĩa là tạo ranhững ý tưởng mới, kiến thức mới và sau đó được cụ thể hóa trongsản phẩm, trong những cách tổ chức sản xuất, trong công nghệ sảnxuất, theo dòng lịch sử chính là nhân tố làm ra sự phát triển của xãhội loài người C Mác đã từng đánh giá ý nghĩa vĩ đại của khoa học

và xem khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp Tuy vậy cách nói vềkinh tế tri thức ( hay nền kinh tế đặt trên cơ sở tri thức ) thì lại mớixuất hiện gần đây

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của đảng đã nhấn mạnh:

“Con đường công nghiệp của các nước đi trước vừa có những bướctuần tự vừa có những bước nhảy vọt Phát huy những lợi thế của đấtnước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặcbiệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứngdụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn những thành tựu về khoahọc - công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức” [ 17; 71]Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để rútngắn quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhanh chóng xâydựng thành công chủ nghĩa xã hội Trong cách tiếp cận phát triểnhiện nay, cần thiết phải đặt vấn đề phát triển tri thức vào đúng tầmcủa nó Cho dù có nhắc đến khái niệm này hay không, nội dung chủyếu của các chính sách phát triển nếu không hướng đến việc xâydựng một nền kinh tế được dựa trên cơ sở của tri thức khoa học hiệnđại thì sẽ không có cơ hội nói đến việc rút ngắn quá trình và thời giantiến kịp các nền kinh tế đã phát triển Tiến cùng thời đại trong phát

Trang 3

triển kinh tế hiện nay đòi hỏi phải có sự “nắn dòng” chiến lược xóađói giảm nghèo theo hướng trước hết tập trung cho xóa đói nghèo vềtri thức ( tức là nâng cấp năng lực tiếp cận với kinh tế của con người,đồng thời tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách thể chế vàhội nhập với dòng chảy chung của xu thế phát triển kinh tế thế giớihiện đại.

Như vậy, nghiên cứu về kinh tế tri thức và vai trò của nó đốivới Việt Nam hiện nay là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễnsâu sắc Với mong muốn tìm hiểu kinh tế tri thức ở Việt Nam, tôi

chọn vấn đề: Kinh tế tri thức và sự phát triển của nó ở Việt Nam hiện nay làm đề tài khóa luận của mình.

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Từ vài thập kỷ qua, đã có rất nhiều những công trình nghiêncứu về kinh tế tri thức Sự phong phú của các nguồn tư liệu trong vàngoài nước có thể coi như đã phần nào “bão hòa” về những tranhluận thuần túy học thuật về chủ đề này Tuy nhiên, vấn đề là làm thếnào để phát triển ở Việt Nam lại là một thách thức to lớn, không chỉ

về mặt thực tiễn, mà trước hết là ở khía cạnh nhận thức lý luận.Chính vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào kinh tế trithức và vai trò của nó đối với sự phát triển ở Việt Nam hiện nay như:Đặng Hữu(2004), Kinh tế tri thức thời cơ và thách thức đối với

sự phát triển của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trang 4

TS.Nguyễn Thị Luyến, cb, (2005), Nhà nước với phát triểnkinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội

Nguyễn Kế Tuấn(2004), Phát triển kinh tế tri thức đẩy nhanhquá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Chính trịQuốc gia, Hà Nội

Ngoài ra còn rất nhiều bài viết khác được đăng rải rác trên cácloại tạp chí Mỗi bài viết có một cách nhìn, cách hiểu, cách triển khaikhác nhau Khóa luận này là sự kế thừa những thành quà của các tácgiả đi trước góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề về kinh tế trithức và sự phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài

Trình bày khái quát về kinh tế tri thức và vai trò của kinh tế trithức đối với Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của đề tài

Phân tích lý luận chung về kinh tế tri thức, các nền kinh tếtrong lịch sử và sự ra đời của kinh tế tri thức

Phân tích thực trạng và đề xuất những phương hướng, giảipháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở lý luận của đề tài

Đề tài này được trình bày trên cơ sở lý luận cuả chủ nghĩa Mác-Lê nin, đường lối của đảng và chính sách của nhà nước

Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trang 5

Vận dụng các nguyên tắc của phép biện chứng duy vật kết hợpvới các phương pháp chung như logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, sosánh,

5 Đóng góp của khóa luận

Với phạm vi của một khóa luận trong một thời gian ngắn, tácgiả chỉ hy vọng khóa luận này sẽ góp phần làm sáng tỏ lý luận vềkinh tế tri thức Hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn về kinh tế trithức ở Việt Nam Mặt khác đề tài có thể xem là nguồn tài liệu cungcấp một số vấn đề về vai trò của kinh tế tri thức đối với sự phát triển

ở Việt Nam cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề này

6 Kết cấu của khóa luận

Ngoài Mở đầu Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóaluận gồm có 2 chương, 7 tiết

Trang 6

NỘI DUNG

Chương 1

Lý luận về kinh tế tri thức

1.1 Khỏi niệm về tri thức và Kinh tế tri thức

1.1.1 Khỏi niệm tri thức

Tri thức, theo nghĩa thụng thường, là sự hiểu biết cú hệ thốngcủa con người về sự vật, hiện tượng tự nhiờn hoặc xó hội

Sự phỏt triển của tri thức gắn liền với lịch sử phỏt triển của loàingười, và vai trũ quan trọng của nú trong quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế -

xó hội loài người là điều đó rừ ràng Nhưng để cú mụi trường cho trithức bừng nở trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và trởthành nguồn lực chủ đạo trực tiếp tạo ra phần lớn của cải và sự giàu

cú cho con người và xó hội là nhiệm vụ trọng đại của chỳng ta.Tri thức là kết quả của quỏ trỡnh con người phản ỏnh để nhậnbiết thế giới khỏch quan nhằm cải tạo cỏc điều kiện phục vụ tiến trỡnhphỏt triển của nhõn loại Tớnh đỳng đắn của tri thức được kiểmnghiệm bằng thực tế Mọi hiện tượng ý thức đều cú nội dung tri thứcnhất định, nếu khụng thỡ con người cú thể khụng hoặc ớt khả nănghoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới, cú chăng thỡ chỉ là những hoạtđộng khụng tự giỏc nờn kộm hiệu quả

1.1.2 Khỏi niệm kinh tế tri thức

Thuật ngữ kinh tế tri thức (knowledge economy) mới đợc sửdụng phổ biến trờn các sách báo ở Việt Nam trong ba bốn năm trở lại

đây, đó cũng là lẽ tự nhiên vì loại hình kinh tế mới này cũng mới dần

Trang 7

dần đợc hình thành và rõ nét trên thế giới trong mấy thập kỷ qua, bắt

đầu từ các nớc công nghiệp phát triển

Cũng có nhiều thuật ngữ và quan niệm liên quan đến thuật ngữkinh tế tri thức, chẳng hạn nh thuật ngữ “Nền kinh tế dựa trên trithức” (knowledge based economy); “Nền kinh tế đợc dẫn dắt bởi trithức” (knowledge drven economy); “Nền kinh tế dựa trên ý tởng”(idea based economy); “Nền kinh tế học hỏi” (learning economy);

“Xã hội thông tin” (information society); “Nền kinh tế thông tin”;(information economy); “Nền kinh tế công nghệ cao” (networkeconomy); “Nền kinh tế số hoá” (digital economy); “Nền kinh tếkhông gian điều khiển học” (cyber economy); “Nền kinh tế sinh học -

số hoá” (biodigital economy); “Nền kinh tế mới” (new economy);Trong các thuật ngữ trên, ngày nay trên thế giới phổ biến dùng

thuật ngữ kinh tế tri thức, đa số đồng tình với quan niệm coi một nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức, là động lực chủ yếu của sự tăng trởng, tạo ra của cải, tạo ra việc làm trong

tất cả các nghành kinh tế đợc gọi là nền kinh tế tri thức (Theo

Bớc sang phong trào Phục Hng, thời kỳ của chế độ phong kiến

đang trên con đờng tan rã Việc phá vỡ quan hệ phong kiến gắn vớichuyên chế thần quyền và giáo hội, cùng với việc xác lập và pháttriển quan hệ t bản chủ nghĩa nh là một nhu cầu khách quan thúc đẩykhoa học phát triển mạnh mẽ, nhờ đó mà lực lợng sản xuất xã hộicũng phát triển tiến lên công nghiệp

1.2.1.2 Nền kinh tế công nghiệp

Trang 8

a Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

Trong cuộc cách mạng này, than đá, máy động lực dùng hơi

n-ớc, đã thay thế than củi, sức khoẻ động vật Đây là quá trình đổi mớicông nghệ đặc trng của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Lực l-ợng sản xuất của thời kỳ này chuyển từ sản xuất thủ công sang sảnxuất cơ khí, tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển nhảy vọt của nềnkinh tế thế giới

b Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trong thời kỳ này đãtrực tiếp thúc đẩy lực lợng sản xuất công nghiệp phát triển mà biểuhiện là hình thành các khu công nghiệp, những thành phố côngnghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới

1.2.2 Sự ra đời của kinh tế tri thức

Chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức là sựchuyển từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiên nhiênsang nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức của con ngời Những máymóc do con ngời tạo ra, gọi là máy móc thông minh, không chỉ thaythế lao động chân tay mà còn thay thế nhiều chức năng lao động tri

óc tạo ra những khả năng sáng tạo vô tận của con ngời

Đặc trng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

là quá trình xuất hiện và phát triển của hệ thống công nghệ cao (nhcông nghệ vi điện tử, máy tính quang điện tử, lade, vật liệu mới, hạtnhân, gen, tế bào)

Bảng 1 dới đây trình bày một số đặc điểm khác biệt nhau của

ba nền kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, tri thức) để thấy rõ sự khácnhau về bản chất

Bảng 1: So sánh đặc điểm ba nền kinh tế

Yếu tố Nền kinh Nền kinh Nền kinh tế tri thức

Trang 9

tế nông nghiệp

tế công nghiệp

Đầu vào của

sản xuất

Lao động,

đất đai

Lao động,vốn

Tri thức, thông tin,lao động, vốn.Các quá trình

chủ yếu

Trồng trọt,chăn nuôi

Khaikhoáng,chế tạo, giacông

Dự báo, điều khiển,sáng tạo

Công nghệ chủ

yếu thúc đẩy

phát triển

Sử dụngsúc vật,công cụthủ công

đơn giản

Cơ giớihoá, hoá

học hoá,

điện khíhoá,chuyênmôn hoá

Công nghệ cao,không gian điện tử,nối mạng toàn cầu

CNTT và

truyền thông

Trang 10

1.3 Những đặc trng chủ yếu của nền kinh tế tri thức (KTTT) 1.3.1 Tri thức là nguồn lực có ý nghĩa quyết định nhất đến sự phát triển kinh tế xã hội trong nền kinh tế tri thức

Trong nền kinh tế tri thức, tri thức tham gia vào quá trình quản

lý điều khiển sản xuất, trực tiếp sản xuất nh công cụ sản xuất, đồngthời trực tiếp là một thành tố trong các sản phẩm nh nguyên liệu sảnxuất

Thông qua công nghệ cao đặc biệt là cụng nghệ thụng tin, trithức đợc thể hiện ra không chỉ nh là điều kiện để kinh tế tri thức pháttriển mà bản thân nó đã trở thành một phần của nền kinh tế tri thức,

có giá trị tăng nhanh và đợc ứng dụng rộng rãi trong hoạt động kinh

tế - xã hội

Do vai trò của tri thức trong nền kinh tế tri thức nên quyền sởhữu trí tuệ trở nên rất quan trọng (có khi hơn cả vốn, tài nguyên thiênnhiên) Trong nền kinh tế mới này việc sản xuất sáng tạo tri thức làthớc đo giá trị xã hội mới

1.3.2 Nền kinh tế tri thức mang tính toàn cầu

Thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại làmột trong những nguyên nhân dẫn đến xu thế toàn cầu hoá Đây làmột xu thế khách quan của lịch sử phát triển xã hội

Sự xuất hiện nền kinh tế tri thức là hệ quả của cách mạng khoahọc và công nghệ hiện đại mà tiêu biểu là cách mạng thông tin.Nền kinh tế tri thức dựa vào đầu t vốn trớ tuệ, thực hiện sự pháttriển bền vững trong nền kinh tế phát triển toàn cầu

Con đờng phát triển để trở nên giàu có, phồn thịnh của mỗiquốc gia, dân tộc, tổ chức, công ty, xí nghiệp không thể tách rời sựphát triển và phồn thịnh của cả hệ thống

1.3.3 Phơng thức phát triển cơ bản của nền kinh tế tri thức là xã hội học tập, học tập suốt đời với mọi ngời

Với nền kinh tế tri thức, mỗi ngời có đợc nhiều hay ít tri thức,

là do việc học tập tiếp thu tri thức và năng lực chuyển hoá tri thức củamỗi ngời

Trang 11

Xã hội hiện đại phải tạo điều kiện thuận lợi nhất và bảo đảmcho mọi thành viên trong xã hội có cơ hội học tập tốt nhất trong bất

cứ lúc nào và bất cứ nơi nào

Việc học tập suốt đời trong nền kinh tế tri thức chẳng những

đáp ứng những thách thức trớc một thế giới đầy biến động và thay đổinhanh chóng, mà còn có u điểm linh hoạt, đa dạng, dễ tiếp cận trongkhông gian và thời gian Đồng thời việc học tập suốt đời còn bao hàmviệc hình thành nên nhân cách và năng lực, khả năng đánh giá vàhành động

1.3.4 Trong nền kinh tế tri thức bảo đảm tính phát triển bền vữmg

Nền kinh tế tri thức dựa trên lực lượng sản xuất mới có một uviệt đặc thù là tính bền vững, bảo đảm một sự phát triển lâu dài, ổn

định, tránh đợc các thảm hoạ cạn kiệt tài nguyên, thay đổi khí hậutoàn cầu

1.3.5 Nền kinh tế tri thức làm biến đổi cơ bản thị trờng truyền thống

Nền kinh tế tri thức sinh ra trong điều kiện của nền kinh tế thịtrờng TBCN và hàng hoá tri thức ngày càng trở nên áp đảo trong thịtrờng đó Tình hình trên đây dẫn đến những thay đổi cơ bản trong thịtrờng truyền thống

Sự phát triển mạnh thơng mại điện tử dần dần xoá bỏ các thủtục thơng mại truyền thống

Trong kinh tế tri thức quy luật giảm dần lợi nhuận/doanh thucuả thị trờng công nghiệp TBCN sẽ đợc thay thế bằng quy luật tăngdần lợi nhuận/doanh thu

1.3.6 Nền kinh tế tri thức làm thay đổi cơ cấu xã hội và thang giá trị xã hội

Trong xã hội xuất hiện các cộng đồng dân c kiểu mới Đó làcác tổ hợp vừa sản xuất vừa nghiên cứu, vừa học tập; các làng khoahọc, các công viên khoa học, các vờn ơm khoa học v.v

Kèm theo những thay đổi đó là sự thay đổi thang giá trị Trongthực tế trớc đây, trong nền kinh tế công nghiệp TBCN, số vốn bằng

Trang 12

tiền (hữu hình) quyết định bậc thang giá trị Ngày nay dần dần sẽchuyển sang bậc thang giá trị mới quyết định bởi vốn vô hình (nhântài sản sinh tri thức có giá trị cao, công nghệ có hiệu quả lớn v.v)

Sự thay đổi thang giá trị còn thể hiện ở chỗ chuyển nhân tài

từ chỗ thích “làm quan” sang lĩnh vực cạnh tranh thắng bại trongthị trờng

Chương 2

sự phát triển của KINH TẾ TRI THỨC

ở việt nam hiện nay 2.1 Thực trạng nền kinh tế việt nam hiện nay

2.1.1 Tình hình quốc tế

Đặc điểm nổi bật của thế giới hiện nay là cuộc cách mạng khoahọc - công nghệ phát triển nh vũ bão đã tác động sâu sắc đến nhiềulĩnh vực của đời sống xã hội Khoa học và công nghệ đang phát triểntrở thành "Lực lợng sản xuất trực tiếp" Sức mạnh của mỗi quốc giatùy thuộc phần lớn vào năng lực khoa học - công nghệ Lợi thế vềnguồn tài nguyên, thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ítquan trọng hơn Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn,

có năng lực sáng tạo ngày càng có ý nghĩa quyết định trong nền kinh

tế tri thức

Xu thế hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hóa có ảnh hởng

đến sự phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, kinh tế thế giới gặp phảinhững biến động, khó khăn về cả giá cả, tài chính, nguồn năng lợng.Toàn cầu hóa nảy sinh những vấn đề xã hội và môi trờng ảnh hởng

đến phát triển kinh tế tri thức

2.1.2 Tình hình trong nớc

Ngày đăng: 17/08/2017, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w