MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xuyên suốt lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, dù trong thời gian nào, hoàn cảnh nào thì vấn đề đạo đức luôn là vấn đề cốt lõi, trọng tâm, là cơ sở để xây dựng và phát triển con người. Văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Nơi đó đã sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới, kể cả Việt Nam. Một trong số đó phải kể đến trường phái triết học Nho gia. Ngay từ khi du nhập vào Việt Nam , ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội cũng như tinh thần con người Việt Nam là rất lớn, nhất là về vấn đề đạo đức. Những giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo như trung, hiếu, tiết, nghĩa, về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín đã từng là thước đo giá trị đạo đức của con người Việt Nam ta mà ảnh hưởng của nó vẫn lưu lại cho đến hôm nay. Theo xu thế phát triển, đất nước ta cũng mở cửa hội nhập giao lưu quốc tế. Bên cạnh những mặt tích cực của hội nhập thì vẫn xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến lối sống và đạo đức của con người Việt Nam hiện nay. Và một điều đáng buồn là chính tầng lớp thanh niên, những người chủ tương lai của đất nước lại là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các yếu tố tiêu cực đó. Vấn đề đạo đức của thanh niên hiện nay đang ở tình trạng báo động và có nhiều điều phải bàn đến. Năm 2011 này được chọn làm năm thanh niên. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến tầng lớp thanh niên hiện nay là rất lớn. Đó là những người chủ tương lai của đất nước, gánh trên vai trọng trách xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, hạn phúc, văn minh, sánh vai với bạn bè năm châu, bốn biển. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải xây dựng cho được những con người mà cụ thể ở đây là những thanh niên Việt Nam mới có đầy đủ cả phẩm chất đạo đức lẫn tài năng. Trong đó, vấn đề đạo đức luôn luôn là vấn đề then chốt và được đặt lên hàng đầu. Để làm rõ thực trạng cũng như góp một phần nhỏ vào việc xây dựng đạo đức thanh niên, tôi đã chọn đề tài: Phát huy một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay để làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Xung quanh vấn đề Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng đã có nhiều tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu theo những phương diện khác nhau, nhưng có thể phân định thành một số nhóm vấn đề sau đây: Nhóm thứ nhất, đi sâu luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo và những yêu cầu đạo đức của Nho giáo như: “Nho giáo” của Trần Trọng Kim; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu; “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm; “Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam” của Phan Đại Doãn; “Nho học và nho học Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư; “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện; “Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sỹ Thắng,… Nhóm thứ hai, đi sâu nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam, nêu rõ ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực đạo đức, chính trị xã hội, hệ tư tưởng, văn hoá, giáo dục khoa cử... Liên quan đến vấn đề này có: Tác giả Nguyễn Đăng Duy với “Nho giáo với văn hoá Việt Nam”, Quang Đạm với “Nho giáo xưa và nay”, Vũ Khiêu với “Nho giáo và đạo đức”; “Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam”, Nguyễn Tài Thư với “Nho học và Nho học ở Việt Nam”, Nguyễn Hùng Hậu với “Triết lý trong văn hoá phương Đông”,...
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuyên suốt lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, dù trong thời gian nào, hoàn cảnh nào thì vấn đề đạo đức luôn là vấn đề cốt lõi, trọng tâm, là cơ
sở để xây dựng và phát triển con người
Văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Nơi đó đã sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới, kể cả Việt Nam Một trong số
đó phải kể đến trường phái triết học Nho gia Ngay từ khi du nhập vào Việt Nam , ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội cũng như tinh thần con người Việt Nam là rất lớn, nhất là về vấn đề đạo đức Những giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo như trung, hiếu, tiết, nghĩa, về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
đã từng là thước đo giá trị đạo đức của con người Việt Nam ta mà ảnh hưởng của nó vẫn lưu lại cho đến hôm nay
Theo xu thế phát triển, đất nước ta cũng mở cửa hội nhập giao lưu quốc
tế Bên cạnh những mặt tích cực của hội nhập thì vẫn xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến lối sống và đạo đức của con người Việt Nam hiện nay Và một điều đáng buồn là chính tầng lớp thanh niên, những người chủ tương lai của đất nước lại là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các yếu tố tiêu cực đó Vấn đề đạo đức của thanh niên hiện nay đang ở tình trạng báo động và có nhiều điều phải bàn đến
Năm 2011 này được chọn làm năm thanh niên Điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến tầng lớp thanh niên hiện nay là rất lớn Đó là những người chủ tương lai của đất nước, gánh trên vai trọng trách xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, hạn phúc, văn minh, sánh vai với bạn
bè năm châu, bốn biển Muốn làm được điều đó, chúng ta phải xây dựng cho được những con người - mà cụ thể ở đây là những thanh niên Việt Nam mới
có đầy đủ cả phẩm chất đạo đức lẫn tài năng Trong đó, vấn đề đạo đức luôn luôn là vấn đề then chốt và được đặt lên hàng đầu
Để làm rõ thực trạng cũng như góp một phần nhỏ vào việc xây dựng
đạo đức thanh niên, tôi đã chọn đề tài: " Phát huy một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay" để làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng
đã có nhiều tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu theo những phương diện khác nhau, nhưng có thể phân định thành một số nhóm vấn đề sau đây:
- Nhóm thứ nhất, đi sâu luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo và những yêu cầu đạo đức của Nho giáo như: “Nho giáo” của Trần Trọng Kim;
“Khổng học đăng” của Phan Bội Châu; “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm; “Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam” của Phan Đại Doãn; “Nho học
và nho học Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư; “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện; “Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sỹ Thắng,…
Trang 2- Nhóm thứ hai, đi sâu nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam, nêu rõ ảnh
hưởng của nó trong các lĩnh vực đạo đức, chính trị - xã hội, hệ tư tưởng, văn hoá, giáo dục - khoa cử Liên quan đến vấn đề này có: Tác giả Nguyễn Đăng
Duy với “Nho giáo với văn hoá Việt Nam”, Quang Đạm với “Nho giáo xưa
và nay”, Vũ Khiêu với “Nho giáo và đạo đức”; “Nho giáo và sự phát triển ở Việt Nam”, Nguyễn Tài Thư với “Nho học và Nho học ở Việt Nam”, Nguyễn Hùng Hậu với “Triết lý trong văn hoá phương Đông”,
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo và đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là bàn đến những yếu tố tác động đến đạo đức của tầng lớp thanh niên Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều yếu tố như: Kinh tế thị trường, sự du nhập văn hóa lối sống từ bên ngoài trong quá trình hội nhập, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, Nhưng ở đây, luận văn chỉ nghiên cứu một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo
và trên cơ sở đó phát huy nó vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay
4 Mục đích và nhiệm vụ
Mục đích: đề tài đi sâu vào phân tích và làm rõ một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo Trên cơ sở đó, phát huy những giá trị này vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ: để thực hiện mục đích trên, đề tài cần phải đi sâu vào làm rõ những vấn đề cơ bản sau:
- Những giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo được thể hiện như thế nào
- Làm rõ sự phát huy những giá trị tích cực đó vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng - chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về vấn đề đạo đức Ngoài ra, còn có các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nghị quyết về thanh niên
Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, đối chiếu,
so sánh, Nhưng phương pháp xuyên suốt của cả đề tài vẫn là phương pháp duy vật biện chứng
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ hơn những giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo và nét riêng của đạo đức Nho giáo Việt Nam
Tìm ra một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của những mặt tích cực đó vào việc xây dựng đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay
Trang 37 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương 5 tiết
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
NHO GIÁO VÀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ TÍCH CỰC CỦA
ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO
1.1 Một vài nét về Nho giáo Trung Quốc
1.1.1 Khái lược quá trình hình thành và phát triển
Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ "Nho" Theo Hán tự "Nho"là chữ "Nhân" (người) đứng cạnh chữ "Nhu" (cần, chờ đợi) Nho gia còn gọi là nhà nho, người đã học thấu sách thánh hiền được thiên hạ cần để dạy bảo người đời ăn ở cho hợp luân thường đạo lý Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây trở thành học thuyết, gọi là Nho gia hay Nho học Người ta cũng gắn học thuyết này với tên tuổi người đã sáng lập nên nó, gọi là Khổng học
Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nay thuộc Phủ Duyện Châu, Tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông sinh vào năm 551 TCN Đó là lúc xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triền miên, dạo lý nhân luân xáo trộn, thiện ác khó phân biệt Học thuyết của Khổng Tử lập thành hệ thống, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí mà dạy người Lấy đạo cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ trật tự ở trong xã hội cho bền vững
Khổng Tử sống trong thời Xuân thu Thời kỳ này, thể chế thống nhất của quốc gia bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều chư hầu lớn nhỏ Học thuyết của Khổng Tử chiếm vị thế thống trị trong thời đại phong kiến một phần vì tư tưởng đẳng cấp nghiêm ngặt, cho rằng nếu làm trái với cấp trên hoặc trái với cha mẹ đều là tội nghiêm trọng Theo lý luận này, bậc quân vương phải quản
lý tốt đất nước, thường dân phải trung thành với quân vương Mỗi người đều
có nhiều thân phận, có thể là con, có thể là cha, có thể là thần tử, nhưng đều phải duy trì ranh giới tôn ti nghiêm khắc Như vậy nhà nước mới thái bình, nhân dân mới có được cuộc sống yên ổn
Học thuyết của Khổng Tử mới xuất hiện không trở thành tư tưởng chủ yếu ngay lập tức mà mãi đến thế kỷ thứ 2 TCN thì tư tưởng đó mới trở thành
vị trí độc tôn Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các đại sĩ phu thời Hán, Khổng Tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống cho nhà nước phong kiến Trung Hoa
Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyên thủy Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư
Trang 4Ngũ Kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch
do Khổng Tử san định các sách của đời trước để lại và ngài còn viết sách Xuân Thu để bộc lộ rõ quan điểm của mình
Tứ Thư gồm có Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử
Luận Ngữ là sách ghi lại những lời dạy của Khổng Tử do học trò của ông ghi chép lại sau khi ông mất Luận ngữ còn có nghĩa là các lời bình
Đại Học là sách dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử Sách này
do Tăng Sâm còn gọi là Tăng Tử, học trò xuất sắc của Khổng Tử, dựa trên lời dạy của thầy mà soạn ra Đại học có nghĩa là sự học lớn
Trung Dung là sách dạy người ta cách sống trung hòa, không thiên lệch Sách này do người cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò của Tăng Tử soạn ra Trung là ý muốn nói cái tâm không lệch bên này hay bên kia Dung có nghĩa là dung dưỡng, giữ mãi mức như vậy
Mạnh Tử là sách ghi lại những lời dạy của Mạnh Tử Mạnh Tử tên thật
là Mạnh Kha (390 -305 TCN) Ông là người đã phát triển tư tưởng của Khổng
Tử và là nhân vật tiêu biểu nhất của Nho giáo sau Khổng Tử
1.1.2 Những tư tưởng cơ bản của đạo đức Nho giáo và một số giá trị tích cực của nó
1.1.2.1 Học thuyết "Tam Cương"
Trong các mối quan hệ xã hội, triết học Nho gia xác định ba mối quan
hệ cơ bản và thông thường của mỗi đời người trong thiên hạ gọi là Tam cương, gồm quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Mỗi quan hệ lại có từng tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng như vua nhân từ, tôi trung thuận, cha hiền, con thảo, chồng biết tình nghĩa, vợ nghe lẽ phải
Trong xã hội, quan hệ vua - tôi là quan hệ mà Nho giáo chú ý nhiều nhất Vua còn được gọi là thiên tử (con trời) có sứ mệnh to lớn nhất là thay trời để giáo dân, trị dân, do vậy vị trí của vua là cao nhất, quyền uy của vua là tuyệt đối Tôi (bề tôi) có thể là mọi người nói chung dưới quyền thống trị của vua Trách nhiệm, nghĩa vụ của bề tôi là phụng sự vua hết lòng, coi vua là cha
mẹ Còn vua đối với bề tôi, vua phải theo mệnh trời mà nuôi dưỡng, giáo hóa dân, bởi vì họ cũng do trời sinh ra
Trong gia đình, quan hệ cha - con là một trong ba quan hệ cơ bản của con người Để duy trì quan hệ này, Nho giáo đưa ra hai chuẩn mực đạo đức là
từ và hiếu Đức từ (đối với con) cũng chính là để sai khiến dân chúng Đức hiếu (đối với cha) cũng chính là để thờ vua
Trong mối quan hệ này, các nhà Nho đề cao vị trí của người cha là bề trên của con, sinh ra con nên Nho giáo nhấn mạnh đức hiếu tức là nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của người con đối với cha Người con có đạt được đức hiếu đó mới là người có nhân, có lễ, nghĩa, trí Trong quan hệ cha con, người làm cha phải có đức nhân Cha phải có nghĩa vụ yêu thương con mình, nuôi dạy con nên người, làm gương cho con,dạy con biết đạo làm người trong xã
Trang 5hội, biết trung với vua, biết hiếu với cha, biết kính người trên và biết đễ với anh em, biết làm việc nghĩa
Quan hệ chồng - vợ cũng là một trong ba quan hệ cơ bản của con người Để duy trì quan hệ chồng - vợ, Nho giáo đưa ra phạm trù nghĩa Nghĩa
là chuẩn mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ giữa chồng - vợ với nhau Chồng vợ phải yêu thương và có trách nhiệm với nhau Tuy nhiên, địa vị xã hội và vai trò của người phụ nữ được nhìn nhận và đánh giá thấp hơn
so với người đàn ông Đặc biệt từ Đổng Trọng Thư trở đi, các nhà Nho đều đòi hỏi người phụ nữ, người vợ trong gia đình phải tuyệt đối phục tùng chồng,
kể cả cha mẹ chồng Có như vậy, người vợ mới được coi là người có đạo đức, tiết hạnh
1.1.2.2 Học thuyết "Ngũ thường"
Nho giáo nói về năm đức chủ yếu (ngũ thường) là năm tiêu chuẩn đạo đức căn bản nhất thường có ở con người Theo Khổng Tử, muốn hợp lễ thì người quân tử phải có nhân, trí, dũng Mạnh Tử bỏ dũng và nói nhiều về lễ nghĩa thành bốn đức: nhân - nghĩa - lễ - trí Đổng Trọng Thư thêm tín thành năm đức (ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)
Nhân theo nghĩa hẹp là một phẩm chất đạo đức cơ bản, là chuẩn mực đạo đức để con người tự tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách của mình Theo nghĩa rộng, thì những đức cần có khác của con người như nghĩa lễ trí tín -hiếu - trung đều là biểu hiện cụ thể của đức nhân Nhân là đạo làm người, là cách cư xử của mình với người, là yêu người, bác ái Theo Khổng Tử "Nhân" không chỉ là riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính Người có nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân là nghĩa của đạo làm người
Lễ là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức dùng để chỉ tôn ti, trật tự, kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải học, phải làm theo Nếu nhân là nội dung thì lễ chính là hình thức của nhân Lễ là những chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu trong các hoạt động của con người và trong các mối quan hệ xã hội
Phạm trù nghĩa trong đạo đức Nho giáo là sự đối nhau với nhân Nếu nhân thể hiện trong các mối quan hệ với người khác thì nghĩa là sự thể hiện trong tự vấn lương tâm mình Lòng hổ thẹn là đầu mối của nghĩa Nghĩa có nghĩa đen là điều nên nói, việc nên làm Ngoài ra, nghĩa còn là cách cư xử với mọi người theo công bằng và lẽ phải
Trong quan điểm về trí, khi được Phàn Trì hỏi về Trí, Khổng Tử đáp:
"Trí là biết người" Trong học thuyết Nho gia, Trí được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống,qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo Nói chung, theo Khổng Tử, phải có trí thì con người mới vươn tới được đức nhân nên không thể là người nhân mà thiếu trí
Chữ tín theo Nho giáo là lòng thật thà, niềm tin, đức tính giữ lời hứa hẹn, giữ đúng, làm đúng những điều đã nói ra Chữ tín trong đạo đức Nho
Trang 6giáo hướng con người đến sự ngay thẳng, chân thật trong hành xử, trong đối nhân xử thế
1.1.2.3 Học thuyết "Tứ đức"
Không chỉ nói về đạo đức nam giới, Nho giáo còn đề ra những tiêu chuẩn cho người phụ nữ với học thuyết tứ đức Tứ đức trong quan điểm Nho giáo là bốn đức tính cần thiết mà người phụ nữ phải có, đó là: Công Dung -Ngôn - Hạnh
Công: Theo Nho giáo đó là khéo léo trong công việc Đạo đức Nho giáo đòi hỏi người phụ nữ thời xưa trong nữ công gia chánh phải khéo léo
Đó là những công việc như may, vá, thêu thùa, bếp núc Với người phụ nữ giỏi thì có thêm cầm kì thi họa
Chữ "Dung" trong đạo đức Nho giáo không chỉ nói về nhan sắc mà chủ yếu nói về dáng điệu, sắc diện Dung có nghĩa là hòa nhã trong sắc diện, gọn gàng trong dáng đi, điệu bộ
Chữ Ngôn trong đạo đức Nho giáo có nghĩa là lời ăn tiếng nói phải khoan thai, dịu dàng, mềm mỏng Nho giáo coi "ngôn" cùng là điểm quan trọng trong đạo đức của người phụ nữ Bởi vì tính nết, đức hạnh của người phụ nũ thể hiện khá nhiều qua lời ăn tiếng nói, qua cung cách giao tiếp hàng ngày
Đức "Hạnh" trong đạo đức Nho gia đòi hỏi sự nhu mì, hiền thảo trong tính nết của người phụ nữ Theo đạo đức Nho giáo thì người phụ nữ ở trong gia đình phải luôn hiền thảo, nết na Khi ra ngoài xã hội, khi đối nhân xử thế thì "Hạnh" có nghĩa là sự nhu mì, chính chắn, không hợm hĩnh, cay nghiệt với người khác
1.1.2.4 Tư tưởng "Hiếu đễ"
"Hiếu đễ" là một nét đặc sắc trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Hiếu ở đây có nghĩa là lòng yêu thương, hiếu kính của con cái đối với cha mẹ, với bậc sinh thành Còn "đễ" có nghĩa là anh em trong một nhà phải có tình thân mật, anh phải biết bao bọc và che chở cho em và phải biết nhường nhịn em
Em phải biết kính trọng anh, nghe lời anh
Theo đạo đức Nho gia, người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ Nuôi thì phải kính, chứ nếu không kính yêu thì không phải là hiếu Khi cha mẹ còn, không được làm điều gì cho cha mẹ lo buồn Nếu làm cha mẹ đau lòng, lo buồn thì đó là tội nặng, đó là bất hiếu Khổng Tử đề cao việc lấy lễ và thờ cha
mẹ nhưng không phải cha mẹ làm gì trái đạo cũng đều nghe theo
Chữ Đễ trong đạo đức Nho giáo gắn liền với quan hệ anh - chị - em Nho giáo đòi hỏi phải có "Đễ", tức là anh em một nhà phải có tình thân mật với nhau Anh em một nhà phải biết yêu thương gắn bó với nhau Anh phải biết chỉ bảo, che chở cho em, em phải biết kính trọng và nghe lời anh Tất cả những điều trên tạo nên một mối quan hệ anh em thuận hòa, yên ấm mà giá trị giáo dục của nó vẫn được lưu giữ cho đến hôm nay và mai sau
1.2 Một vài nét về Nho giáo Việt Nam
1.2.1.Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam.
Trang 7Vào cuối đời Tây Hán và đầu đời Đông Hán, cùng với chính sách cai trị
và "Hán hóa" vùng đất cổ Việt Nam thời đó gọi là Giao Chỉ, Cửu Chân, văn hóa Hán bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam từ tên tuổi hai tên quan mà sách sử Việt Nam cũng như sách sử Trung Hoa đều ca ngợi họ có công trong việc "khai hóa", mở mang phong tục mới là Tích Quang và Nhâm Diên Nhưng sự hiện diện tương đối rõ nét của Nho giáo ở nước ta chỉ thật sự bắt đầu vào cuối thời Đông Hán với vai trò tích cực của Sĩ Nhiếp (187-226) Ngô
Sĩ Liên đã từng bình luận trong sách "Đại Việt sử kí toàn thư" về vai trò của
Sĩ Nhiếp với nước ta là "thông thi thư, tập lễ nhạc" Từ thời Tích Quang-Nhâm Diên rồi Sĩ Nhiếp đến trước đời Đường (618-907), Nho giáo được truyền bá sang Việt Nam là Hán Nho
Trong thời kì Bắc thuộc, lực lượng truyền bá Nho giáo chủ yếu là quan lại phong kiến Trung Quốc đô hộ Sát cánh cùng quan lại đô hộ là các nho sĩ Trung Quốc di cư sang nước ta Những sĩ Nho này được quan lại đô hộ huy động vào thực hiện âm mưu đồng hóa dân tộc ta Giai đoạn này, chỉ một số người nhất định trong số một số địa phương nhất định, thuộc tầng lớp trên của xã hội mới được tiếp xúc với Nho giáo
Nội dung truyền bá chủ yếu của Nho giáo ở nước ta thời kì Bắc thuộc cũng chỉ gói gọn trong mấy điều nhỏ hẹp Đó là tìm cách khẳng định và cổ vũ mạnh mẽ cho tiếng nói tôn quân mà đỉnh cao của nền tôn quân này là Hoàng
đế Trung Hoa Bên cạnh đó, sự truyền bá nội dung của Nho giáo vào nước ta liên tục gieo rắc tư tưởng trọng nam khinh nữ, nam quý nữ tiện, làm băng hoại nền đạo lí tốt đẹp vốn có ngàn đời của ông cha ta Nho giáo nước ta thời Bắc thuộc chỉ là một quá trình lợi dụng, cắt xén và áp đặt thô bạo chứ chưa thật sự có được một quá trình truyền bá tự nhiên đúng nghĩa
Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng Từ đó trở đi, một kỉ nguyên mới của lịch sử nước nhà bắt đầu được mở
ra Đó là kỉ nguyên của độc lập, tự do và thống nhất Nho giáo đã tự tìm cho mình một con đường thâm nhập vào xã hội Việt Nam có vẻ chậm chạp nhưng khá chắc chắn Đó là con đường đi từ chiếm lĩnh dần địa hạt giáo dục, tiến tới chiếm lĩnh địa hạt chính trị và tư tưởng Từ đó, Nho giáo đã được người dân Việt Nam chủ động thừa nhận như một văn hóa chủ thể và xác lập địa vị cao sang của nó khi nền độc lập dân tộc hoàn toàn ổn định vững chắc và đi vào phục hưng dân tộc ở vương triều Lý, bắt đầu từ năm 1010_ năm Triều Lý dời
đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội ngày nay)
Thời nhà Trần đã đặt ra những học vị cao cấp của Nho học như Thái Học Sinh, Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa giúp cho hệ thống học vị trong thi cử học tập của Nho giáo gần như đã hoàn chỉnh Đến thời nhà Lê, tháng 3 năm Nhâm Tuất (1442) thời Lê nhân Tông, triều Lê chính thức cho thi đối sách ở sân điện để lấy tiến sĩ Năm này, nhà Lê đã đổi Thái Học Sinh thành Tiến sĩ và nước ta quen gọi Tiến sĩ từ đó Khoa thi Tiến sĩ năm Nhâm Tuất là cột mốc quan trọng xác lập vị trí độc tôn của Nho giáo ở Việt Nam hồi thế kỉ XV
Trang 8Quy mô quảng bá của Nho giáo càng mở rộng, nhất là từ buổi đầu của thời
Lê sơ trở đi Bất cứ ai, dù ở đâu và thuộc tầng lớp nào trong xã hội, nếu có điều kiện cũng đều có thể tiếp nhận Nho giáo Học trò nước ta cũng được học những sách kinh điển của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh, Bách gia chư tử…Nền Nho giáo ở nước ta và Trung Quốc đã không còn khác nhau bao nhiêu
Trong thời kì nội chiến lâu dài (1527-1801), cùng với sự sụp đổ của nền thống nhất quốc gia, Nho giáo nước ta cũng bị sụp đổ từng bước một cách thảm hại Trong thời gian này, Nho giáo đã gặp một số trở ngại lớn, đó là sự phục hưng mạnh mẽ của Phật giáo, Đạo giáo, là sự truyền bá của Thiên Chúa Giáo vào nước ta, đặc biệt là những cuộc khởi nghĩa của nông dân
Dưới thời nhà Nguyễn, Nho giáo được chấn hưng Nho giáo thời Nguyễn bao hàm nhiều xu hướng khác nhau, trong đó nổi bật nhất là ba xu hướng thể hiện
ba đặc tính ảnh hưởng khác nhau của Hán Nho, Đường nho và Tống nho
Từ sau thế kỉ XIX, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta Sự sụp đổ của nhà Nguyễn kéo theo sự sụp đổ của nền Nho giáo mới được chấn hưng Nho giáo dần dần đi vào quên lãng như một cuộc rút lui lặng lẽ sau ngót hai nghìn năm thăng trầm từ khi du nhập vào Việt Nam
1.2.2 Một số giá trị tích cực trong đạo đức Nho giáo Việt Nam
Sự du nhập, tồn tại, phát triển rồi đi đến chỗ tàn lụi của Nho giáo ở nước ta trải qua ngót hai ngàn năm lịch sử Từng ấy thời gian, với bao biến cố thăng trầm của xã hội, Nho giáo dần dần đi vào đời sống, tinh thần con người việt và để lại nhiều dấu ấn đậm nét trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Một điều đặc biệt là khi tiếp nhận Nho giáo, các nhà Nho nước ta đã biết “gạn đục khơi trong” Đó là ông cha ta đã biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của Nho giáo,loại bỏ đi những giá trị tiêu cực để làm nên một nền Nho giáo mang bản sắc dân tộc, nhất là những giá trị đạo đức Điều đó thể hiện rất rõ qua những giá trị tích cực của đạo đức Nho giáo Việt Nam
Học thuyết của Nho giáo bàn nhiều đến mối quan hệ Vua_Tôi và đề cao chữ trung của bề tôi đối với vua.Các nhà nho nước ta cũng tiếp nhận tư tuởng này nhưng không mù quáng trung quân mà đặt ái quốc lên hàng đầu Chữ trung trong đạo đức Nho giáo Việt Nam xuất phát từ một điều khác, quan trọng hơn, thiết thực và thiêng liêng hơn, đó nền độc lập tự chủ của đất nước,
là lợi ích căn bản của dân
Hiếu trong đạo đức nho giáo Trung Quốc được thể hiện ở lòng kính yêu, biết ơn cha mẹ, ở hành động nuôi nấng, chăm sóc mẹ của con cái Khi
du nhập sang Việt Nam, các nhà nho Việt Nam đã biết kế thừa, phát huy những giá trị tốt đẹp đó của nho giáo Trung Quốc Đến thời Hồ Chí Minh, chữ hiếu đã phát triển lên một tầm cao mới Hiếu trong đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là hiếu với cha mẹ, với bậc sinh thành mà còn với nhân dân Đạo hiếu ở đây đã được làm mới trên cơ sở phát huy những giá trị tốt đẹp vốn có
để biến thành cội nguồn sức mạnh của dân tộc
Trong đạo đức Nho giáo, chữ nhân gần như bao trùm lên toàn bộ Nhân trong nho giáo Trung Quốc chính là lòng yêu thương với con người
Trang 9Nguyễn Trãi là một nhà nho giáo xuất sắc của đất nước ta ở thế kỉ XV Ông
đề cao chữ nhân nhưng trước hết theo ông nhân là lòng yêu thương nhân dân
bị áp bức,hành hạ dưới sự tàn bạo của kẻ thù Đạo đức nhân nghĩa trong Nguyễn Trãi không chỉ là biểu hiện những giá trị tích cực của Nho giáo Khổng - Mạnh mà các giá trị truyền thống của của dân tộc, đặc biệt là lòng khoan dung, nhân ái cũng được tiếp thu và phát triển đến đỉnh cao
Đạo vợ chồng được Nho gia coi là một trong tam cương: vua tôi, cha -con, vợ - chồng Tuy nhiên, mối quan hệ đạo vợ chồng của Nho gia là mối quan hệ lệ thuộc, trong đó quyền uy người chồng là rất lớn và người vợ phải luôn phụ thuộc, phục tùng chồng Đạo đức Nho giáo ở Việt Nam khi bàn về đạo vợ chồng lại khác Đạo vợ chồng trong Nho giáo Việt Nam ngỡ như giản
dị mà lại rất tinh tế và sâu sắc.Ở đó, tình và nghĩa luôn luôn quyện chặt với nhau, lòng chung thủy sắt son được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu của đạo
vợ chồng
Nho gia thường ghép chung đạo hiếu với đạo anh em, gọi chung là hiếu
đễ Nói hiếu là hiếu với cha mẹ, mà trước hết là cha, còn nói "Đễ" tức là nói đến sự tôn kính đối với bậc huynh trưởng Đạo đức anh em của Nho giáo nước ta cho rằng, anh em mà biết trên kính dưới nhường thì mới thật là anh
em hòa thuận Trên kính dưới nhường ở đây vừa thể hiện sự quan tâm, chăm sóc, đùm bọc của anh đối với em, vừa phải thể hiện lòng tôn kính, biết ơn của
em đối với anh Đạo lý anh em trong đạo đức Nho giáo Việt Nam mang tính nhân văn sâu sắc, là cơ sở để xây dựng mối quan hệ anh em hòa mục bền vững, làm nên giá trị đạo đức tốt đẹp của nền Nho giáo Việt Nam và là một trong những chuẩn mực của đạo làm người
Trong đạo bằng hữu, Nho giáo Trung Quốc lấy chữ "tín", là một trong
"ngũ thường" gồm nhân - lễ - nghĩa - trí - tín làm chuẩn Tuy nhiên, đối với đạo đức Nho giáo Việt Nam, trong mối giao kết bạn bè thì cần nhất vẫn là
"tâm thành" Điều đó có nghĩa là, với đạo đức Nho giáo nước ta khi nói về mối quan hệ bạn bè thì đặt sự chân thành đồng cảm với nhau lên trên hết Có như vậy tình cảm bạn bè mới bền chặt, bạn bè mới trở thành chỗ dựa tin cậy cho nhau những lúc khó khăn được
Nho giáo Trung Quốc vốn trọng nam khinh nữ Nếu như đàn ông là người
"tề gia trị quốc, bình thiên hạ" với những vai trò to lớn như vậy thì người phụ nữ trong Nho giáo Trung Quốc lại ở địa vị thấp hèn của xã hội Tuy nhiên, đạo đức Nho giáo Việt Nam ta không hoàn toàn như vậy Nho giáo Việt Nam cũng đề cao vai trò của người phụ nữ khi coi người phụ nữ cũng là người chủ của gia đình, giữ trọng trách nuôi dạy các con khôn lớn, nên người và đóng vai trò tích cực trong việc giúp đỡ chồng về công việc xã hội
Tóm lại, mặc dù tiếp thu và ít nhiều ảnh hưởng những tư tưởng đạo đức của Nho giáo Trung Quốc, nhưng các nhà Nho chân chính của đất nước ta, qua bao thế hệ đã vận dụng đạo đức Nho giáo Trung Quốc vào việc xây dựng nền đạo đức cho dân tộc một cách xuất sắc Đó chắc lọc từng cái tốt đẹp, tinh túy trong Nho giáo Trung Quốc, cải tiến những cái bảo thủ, bất hợp lý, phát
Trang 10triển những giá trị đạo đức tốt đẹp lên đến đỉnh cao Chính những điều đó đã tạo nên một nền đạo đức Nho giáo Việt Nam mang đậm đà bản sắc dân tộc, vừa phù hợp với những giá trị đạo đức truyền thống, lại vừa phù hợp với lối sống của người Việt Nam