1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

17 423 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 94,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, tham nhũng được xếp ở mức phổ biến, có tính hệ thống, vì vậy, các ưu tiên cho phòng chống tham nhũng cũng không nằm ngoài các yếu tố kể trên. Để phòng, chống tham nhũng một cách căn bản, đúng hướng cần tập trung vào những giải pháp xây dựng và thiết lập sự cai trị của luật pháp, xây dựng và hoàn thiện các thể chế trách nhiệm, và các thể chế tham gia của người dân. Để làm được các mục tiêu cơ bản này, cần phải thiết kế và thực thi các giải pháp sau:

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA CHÍNH TRỊ HỌC

TIỂU LUẬN Môn: Quyền lực Chính trị

GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Học viện thực hiện: Nguyễn Thị Hòa

Hà Nội - 2016

Trang 2

Các biện pháp chống tham nhũng dựa trên những khuyến khích tạo cho hành vi tham nhũng Những điều kiện nhất định khuyến khích các quan chức tìm kiếm và chấp nhận tham nhũng Những lợi nhuận mong đợi thu được từ tham nhũng nhiều hơn chi phí cho tham nhũng

Ở những nước có tham nhũng nặng nề và quản trị yếu kém, những ưu tiên cho các nỗ lực chống tham nhũng là thiết lập sự cai trị của luật pháp, tăng cường các thể chế tham gia và trách nhiệm giải trình, hạn chế sự can thiệp của chính phủ tập trung vào những sự ủy quyền căn bản Đối với những nước có tham nhũng vừa phải và quan trị khá, những ưu tiên là phân quyền và cải cách kinh tế, quản trị dựa vào kết quả và đánh gia, và thực hiện những khuyến khích cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ công Còn đối với những nước ít tham nhũng và quản trị tốt, các ưu tiên là các chiến lược và chương trình chống tham nhũng rõ ràng, quản trị tài chính mạnh mẽ hơn và tăng cường nhận thức của công chúng và chính phủ, không có hối lộ và những nỗ lực để bắt “những con cá lớn”.1

Ở Việt Nam, tham nhũng được xếp ở mức phổ biến, có tính hệ thống, vì vậy, các ưu tiên cho phòng chống tham nhũng cũng không nằm ngoài các yếu tố

kể trên Để phòng, chống tham nhũng một cách căn bản, đúng hướng cần tập trung vào những giải pháp xây dựng và thiết lập sự cai trị của luật pháp, xây dựng

và hoàn thiện các thể chế trách nhiệm, và các thể chế tham gia của người dân Để làm được các mục tiêu cơ bản này, cần phải thiết kế và thực thi các giải pháp sau:

1 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế ủy quyền của dân

Một trong các quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân trong các nhà nước dân chủ là quyền quyết định của nhân dân lựa chọn các đại diện thực hiện ý chí của mình và đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được

ủy quyền không thi hành được ý nguyện của dân chúng Vì vậy, hệ thống bầu cử theo nhiệm kỳ luôn là công cụ kiểm soát quan trọng, thể hiện rõ ràng nhất quyền quyết định tối cao của nhân dân Tuy nhiên, ở nước ta như phần trên đã phân tích,

1 Jeff Huther and Anwar Shap, Anti – Corruption Policies and programs, a framework for Evaluation,

policy research working paper, the World Bank, 12/2000.

Trang 3

bầu cử Quốc hội được thực hiện theo cơ chế Đảng cử, dân bầu Toàn dân bầu Quốc hội nhưng là bầu cho những ứng cử viên đã được định trước theo sự sắp xếp của cấp ủy, của Đảng Thực chất cơ chế ủy quyền này ngay từ khâu ủy quyền đầu tiên đã chưa đảm bảo thực chất quyền quyết định của nhân dân đối với các đại diện của mình

Để khắc phục tình trạng uỷ quyền hình thức và là nguyên nhân dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động của Đảng và Nhà nước, Đảng phải chủ động tự hạn chế quyền sắp đặt, quyết định của mình trong việc giới thiệu các ứng cử viên mà thực chất là quyết định các đại diện được bầu Đảng giới thiệu cán bộ của Đảng ra tranh cử cùng với các ứng cử viên tự ứng cử, các ứng cử viên do nhân dân đề cử Đảng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng cho tất cả các ứng cử viên Chỉ có thông qua môi trường cạnh tranh thực sự mới tìm được người tài giỏi ra gánh vác công việc của đất nước Danh sách ứng cử viên cần nhiều hơn số lượng cần bầu ít nhất là gấp đôi để mở rộng sự lựa chọn của nhân dân Nhân dân mới có quyền quyết định xem ai là người xứng đáng được giao trọng trách quản lý đất nước Đảng phải tôn trọng quyền quyết định này của dân Làm như thế không những Đảng nâng cao được uy tín, tính chính đáng cho quyền lãnh đạo của mình mà còn có thêm sức mạnh của dân cùng tham gia xây dựng bộ máy nhà nước

Việc thiết kế hệ thống bầu cử là yếu tố quan trọng tiếp theo sau khi Đảng

đã quán triệt được vai trò quyết định của nhân dân trong việc lựa chọn các đại diện Trong phạm vi nghiên cứu này không thể đi sâu vào các thiết kế cụ thể mà chỉ đưa ra những yêu cầu có tính nguyên tắc chung, đó là:

- Luật bầu cử nên được xây dựng và quy định cụ thể trong Hiến pháp; phải lập

ra Ủy ban giám sát bầu cử có vị thế độc lập với các ảnh hưởng bên ngoài Các biện pháp này nhằm đảm bảo phản ánh một cách trung thực lá phiếu của người dân

- Do còn nhiều hạn chế về trình độ nhận thức, về việc tiếp cận thông tin cũng như năng lực duy lý, cộng theo tâm lý đám đông nên sự lựa chọn của người dân vẫn có khả năng không hợp lý Vì vậy, cần có những quy định, biện pháp ngăn cấm, hạn chế việc tuyên truyền, vận động có tính chất mị dân Đồng thời, có

Trang 4

các hình thức giáo dục, tuyên truyền, nâng cao sự hiểu biết của dân chúng để người dân có được sự lựa chọn hợp lý

- Nên có sự nghiên cứu, khảo sát cụ thể để thiết lập các đơn vị bầu cử một thành viên trên toàn quốc Nó sẽ khắc phục được nhiều điểm hạn chế của đơn vị

bầu cử nhiều thành viên và hình thành đoàn đại biểu quốc hội như hiện nay Thứ

nhất, nó làm giảm chi phí thông tin và giám sát của cử tri đối với đại biểu mà họ

bầu ra Với đơn vị bầu cử nhiều thành viên như hiện nay, cử tri không có đủ thời gian cũng như khả năng cần thiết để tiếp cận thông tin, tìm hiểu được nhiều ứng

cử viên cùng một lúc Nếu không có sự đầu tư thích đáng sẽ dẫn tới khả năng quyết định lựa chọn của cử tri không hợp lý Ngay bản thân cử tri cũng không thấy hành vi bầu cử có ý nghĩa gì, một khi quyết định lựa chọn của họ không dựa trên những căn cứ, thông tin cần thiết Việc thiết lập đơn vị bầu cử một thành viên sẽ làm giảm bớt tình trạng “bỏ phiếu cho cái không biết” đã xảy ra ở nhiều nơi hiện nay Hơn nữa, sự quan tâm và giám sát của cử tri đối với một đại diện sẽ

sát sao và hiệu quả hơn thay vì phải để mắt tới nhiều đại diện cùng một lúc Thứ

hai, nó gắn kết và tăng cường trách nhiệm của đại biểu quốc hội đối với cử tri,

Quốc hội và trách nhiệm của cử tri đối với đại biểu của mình Khắc phục tình trạng “cha chung không ai khóc” thường xảy ra khi có nhiều đại diện, có đoàn đại diện (đoàn đại biểu quốc hội) Do đó, nó làm tăng tính đại diện của đại biểu quốc hội vì lợi ích thiết thực của cử tri đơn vị bầu cử đã bầu ra họ

Khi bầu cử dân chủ thực sự thì kết quả bầu cử là người ngoài Đảng hay là đảng viên không phải là vấn đề quan trọng Điều quan trọng là những người đó

có sự tín nhiệm thực sự của nhân dân Cũng như vậy, các thành viên của cơ quan hành pháp và tư pháp không nhất thiết phải có tiêu chí là đảng viên mà quan trọng là đáp ứng tốt công việc

Người đứng đầu quốc gia, đứng đầu chính quyền cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) cần được toàn dân trực tiếp bầu Vì là cấp giải quyết công việc hàng ngày, trực tiếp liên quan đến lợi ích của người dân, được toàn dân trực tiếp ủy

Trang 5

quyền sẽ tạo nên sự đồng thuận trong việc thực thi quyền lực, hiệu quả thực thi quyền lực cao hơn

2 Xây dựng cơ chế bãi miễn của nhân dân

Cụ thể hóa quyền bãi nhiệm của nhân dân đối với các đại biểu được bầu, nếu họ không làm chọn nhiệm vụ của mình Quyền bãi nhiệm các đại biểu được bầu của nhân dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp cũng như trong Luật tổ chức Quốc Hội Nhưng quy trình bãi nhiệm đại biểu Quốc hội của nhân dân vẫn chưa

cụ thể, rõ ràng và có nhiều công đoạn phức tạp Theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, cử tri bãi nhiệm đại biểu quốc hội chỉ khi có đề nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cách thức lại do UBTVQH quyết định Cách thức đó được tiến hành như thế nào, quy định ở đâu, thì vẫn chưa có chỉ dẫn cụ thể Về vấn đề này, có thể tham khảo Hiến pháp 1946 Hiến pháp có quy định rõ ràng, cụ thể về quyền bãi miễn của nhân dân: khi có ¼ tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đề nghị bãi miễn nghị viên họ đã bầu, thì Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn nghị viên đó Nếu có 2/3 tổng số nghị viên đồng ý thì nghị viên đó bị bãi miễn

Trong bối cảnh hiện nay, có thể quy định thành các thủ tục đơn giản, dễ dàng hơn để cử tri có thể thực hiện được quyền đã hiến định của mình Chẳng hạn, khi đã thiết lập được đơn vị bầu cử một thành viên, có thể chỉ cần 1/5 tổng số cử tri đã bầu ra đại biểu đó đề nghị bãi miễn, Quốc hội phải xét vấn

đề bãi miễn đại biểu đó và chỉ cần tỷ lệ phiếu quá bán đồng ý ở Quốc hội, đại biểu đó sẽ bị bãi miễn Điều này dựa trên cơ sở phân tích tại sao quy trình lựa chọn người lãnh đạo, đại diện cho lợi ích chung cần phải được thiết kế cẩn trọng, sao cho đó là quá trình rất khó khăn, trong khi quá trình phế truất lại

dễ dàng hơn rất nhiều (có khi chỉ cần một biểu hiện rõ ràng về sự không đáp ứng các tiêu chí về đạo đức, tinh thần phục vụ nhân dân) Một trong các lý do chính là tính bất đối xứng của hai loại quyết định này: việc nhận biết người tốt (hiểu theo nghĩa rộng là phù hợp với mục tiêu cụ thể) sẽ đòi hỏi thời gian dài, nhiều kiến thức và nhiều thông tin hơn là việc nhận biết người xấu Cũng

Trang 6

như việc nhận biết một người ích kỷ (có thể chỉ cần quan sát một vài biểu hiện) sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với việc khẳng định người đó là vô tư, vị tha

Tuy nhiên, đó vẫn là cơ chế nhân dân bãi nhiệm gián tiếp thông qua quyết định trực tiếp của Quốc hội Trong tương lai, khi có các điều kiện về kỹ thuật, thông tin, trình độ dân trí, dân chủ của nhân dân có thể thiết lập cơ chế nhân dân trực tiếp bãi nhiệm các đại biểu khi họ không còn sự tín nhiệm của nhân dân mà không cần phải thông qua cơ chế gián tiếp hay đợi đến nhiệm kỳ bầu cử mới thực hiện được ý nguyện này

3 Ban hành và thực hiện cơ chế phúc quyết hiến pháp của nhân dân

Trong chế độ dân chủ, Hiến pháp là bản khế ước giao kèo sự ủy quyền của nhân dân cho Nhà nước Vì vậy, quyền lập hiến không chỉ dừng lại ở Quốc hội mà quyết định tối hậu phải thuộc về toàn dân Việc sửa đổi Hiến pháp cũng phải tuân theo quy trình chặt chẽ và thông qua trưng cầu dân ý để dân quyết định Ở nước ta, Hiến pháp 1946 đã có điều khoản quy định cụ thể

về vấn đề này Các Hiến pháp sau do nhiều yếu tố chi phối đã không kế thừa được tư tưởng tiến bộ này của hiến pháp 1946 Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, việc ghi nhận quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân trong Hiến pháp và tổ chức thực hiện là hết sức cần thiết

Nó là cơ sở pháp lý căn bản để khẳng định quyền lực nhà nước là của nhân dân, đồng thời phù hợp với thông lệ quốc tế trong quá trình hội nhập

4 Ban hành Đạo luật về tự do thông tin

Giữa người dân và các quan chức, cơ quan nhà nước luôn có sự “bất đối

xứng về thông tin” Chính sự khác biệt này đã tạo nên những lợi ích “độc quyền

tự nhiên” cho các quan chức, cơ quan nhà nước và do đó tăng chi phí giám sát của người dân Vì vậy, cần phải thiết lập những quy định, luật lệ để đảm bảo sự

Trang 7

minh bạch, công khai về thông tin Chẳng hạn các đạo luật về thông tin, tự do ngôn luận, quyền được tiếp cận thông tin của người dân

Đạo luật về tự do thông tin – cho phép người dân yêu cầu các cơ quan công quyền cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động và kết quả hoạt động của của nhà nước Tuy nhiên luật về tự do thông tin chỉ là bước khởi đầu, là điều kiện cần chứ chưa đủ để minh bạch hoá các hoạt động công quyền Sự ra đời của đạo luật này sẽ tăng cường vai trò giám sát của người dân, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền

Việc tiếp cận các thông tin của chính phủ là một điều kiện tiền đề cần thiết nhằm đẩy mạnh sự minh bạch và công khai Việc tiếp cận đó làm giảm thiểu sự lạm dụng thông tin, quản lý sai trái và tham nhũng

5 Ban hành luật bảo vệ người chống tiêu cực, tham nhũng

Nếu tham nhũng có tính hệ thống, người tố cáo tham nhũng có nguy cơ bị cấp trên kỷ luật hoặc thậm chí có thể bị cáo buộc rằng chính họ là kẻ tham nhũng Khi đó, việc tố cáo tham nhũng là rất hiếm Các phương tiện thông tin đại chúng

đã đề cập không ít trường hợp người tố cáo tham nhũng bị trù dập, từ tước đoạt phương tiện sinh sống đến cả tính mạng Vì vậy nếu không có sự bảo vệ hữu hiệu

từ luật pháp cho đến thực thi trên thực tế thì việc tố cáo các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng là khó xảy ra “Xét về bản tính con người, nếu chúng ta có thể kiểm soát được sự sinh sống của một người thì tức là chúng ta có thể kiểm soát được ý chí của người đó”2

Hành vi trả thù người tố cáo tham nhũng ngày càng tinh vi trong khi những quy định về bảo vệ người tố cáo còn chung chung, mang tính nguyên tắc và nằm rải rác tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau Nhiều ý kiến nhận định như trên tại hội thảo quốc tế về bảo vệ người chống tham nhũng do Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (BCĐ PCTN) tổ chức ngày 3-11 tại Hà Nội

2Alexander Hamilton, James Madision, John Jay (1959), Luận về hiến pháp Hoa Kỳ, Bản dịch

của Nguyễn Hưng Vượng, Sài gòn

Trang 8

Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Khiếu nại tố cáo hay một số luật khác đều có quy định để bảo vệ người tố cáo Tuy nhiên, quy định chưa được cụ thể chi tiết nên việc thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, người tố cáo tham nhũng chưa được bảo vệ đúng mức “Phải cụ thể hóa những quy định hiện nay, ban hành chi tiết những quy trình, quy chế để việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng Không nên coi việc tố cáo sai là phạm luật hình sự mà nên xây dựng quy chế thông tin chặt chẽ để hạn chế Ở Mỹ có tới 25 văn bản quy phạm pháp luật để bảo vệ người tố cáo tham nhũng, quy trình tố cáo rất dễ dàng, công khai trên mạng Người tố cáo tham nhũng được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân thân và họ còn được hưởng một tỉ lệ nhất định từ số tiền thu được của vụ án tham nhũng đó

Nghị định hướng dẫn Luật Tố cáo tới đây sẽ có chương riêng để bảo vệ người tố cáo Cạnh đó, khi phát hiện tham nhũng phải xử lý thật nhanh (thậm chí cách ly khỏi xã hội như một số nước đã làm) để những người bị tố cáo không có

cơ hội trả thù” Các điều luật cần quy định cụ thể, rõ ràng về hình thức bảo vệ, đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng trả thù và có chế độ thù lao, đãi ngộ xứng đáng cho người tố cáo bị xâm hại, cũng như khen thưởng, biểu dương người phát hiện, tố cáo tham nhũng

Để bảo vệ người tố cáo trước hết là phải xem xét xử lý thông tin người ta

tố cáo nhanh chóng, kịp thời, triệt để Ví như ở Trung Quốc, nếu có bằng chứng tương đối cụ thể về người bị tố cáo tham nhũng thì họ sẽ thực hiện biện pháp cách ly ra khỏi xã hội Việc làm này để người bị tố cáo không có điều kiện liên hệ với những người khác, không còn điều kiện để trả thù người tố cáo

Một văn bản đang được trông đợi hy vọng sẽ bảo vệ người chống tham nhũng một cách tích cực, đó là "Quy chế bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng” đang được Bộ Công an phối hợp với các bộ, ban, ngành khác xây dựng, tuy nhiên đến giờ vẫn chưa được ban hành, trong khi nạn tham nhũng ngày càng nóng và diễn biến phức tạp Chính vì vậy, để an toàn hơn, tránh những tai họa không mong muốn, nhiều người tố cáo tham nhũng đã lựa chọn giải pháp im lặng Như vậy, nếu không nhanh chóng có biện pháp bảo vệ sự an toàn cho những người dám tố cáo hành vi tham nhũng bằng những điều luật cụ thể, rõ

Trang 9

ràng; đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng trả thù; bên cạnh đó cần có chế độ thù lao, đãi ngộ, khen thưởng xứng đáng cho người tố cáo Đồng thời, nên có quy định biện pháp xử lý đối với những người làm lộ thông tin, người xử lý thông tin của người tố cáo tham nhũng

Trong những cơ quan, tổ chức tiếp nhận và xử lý thông tin tố cáo hành vi tham nhũng phải quy định trách nhiệm lẫn chế tài cụ thể đối với những người có trách nhiệm tiếp nhận thông tin và bảo vệ thông tin đó Cùng đó cũng phải có những chế tài nặng đối với việc để lộ nguồn tin này trước khi nó được chuyển đến các cơ quan liên quan xác minh, điều tra Quy chế chỉ mới quy định chế tài đối với cơ quan có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo mà chưa quy định chế tài đối với cơ quan tiếp nhận nhưng lại để lọt tin tố cáo ra ngoài là chưa hợp lý Để bảo

vệ việc tố cáo tham những, cần đề cao việc bảo mật thông tin cá nhân của người

tố cáo Theo luật Hàn Quốc, người tiết lộ thông tin cá nhân của người tố cáo có thể chịu án tù từ 3 năm, hoặc bị phạt tới 10 triệu won Người gây bất lợi về vị trí công tác, bất lợi tài chính hoặc hành chính cho người tố cáo có thể bị phạt tù hơn

1 năm hoặc 10 triệu won Nếu người tố cáo bị đe doạ, luật của Hàn Quốc cho phép Uỷ ban Chống tham nhũng yêu cầu cảnh sát các cấp bảo vệ người tố cáo Tại Mỹ, các thủ tục, quy trình tố cáo cũng được công bố công khai, rộng rãi trên mạng

Đó là chưa kể đến hiện nay chúng ta đang có những quy định hạn chế việc

tố cáo tham nhũng Chẳng hạn những quy định cấm, không xem xét đối với những thư tố cáo nặc danh, hay người hối lộ cũng bị xử lý… Trên thực tế vì tố cáo chống tham nhũng thường bị trù dập nên phải mạo danh, nặc danh Trong khi

đó ta lại không tính đến những tố cáo dưới hình thức này Vô hình dung ngăn chặn sự tố cáo, chống tham nhũng của nhân dân Vì chưa có cơ chế bảo vệ người chống tiêu cực nên chẳng ai giám tố cáo cho dù biết đó là sự thật Các nước khác, chỉ cần có ý kiến phản ánh dù nặc danh hay không đều được quan tâm xem xét, là dấu hiệu để thẩm tra, kiểm tra

Người đưa hối lộ cũng bị xử lý nên chẳng ai giám tố cáo Tư duy theo cách này là không hợp lý Bởi lẽ vì bất ký lý do gì người ta đưa hối lộ thì anh là người

Trang 10

có quyền có chức, anh ở vị thế chủ động có quyền nhận hoặc không, không ai có thể ép buộc anh nhận Còn việc người ta hối lộ có thể do rất nhiều nguyên nhân,

có thể đầu cơ trục lợi, cũng có thể vì bất đắc dĩ … Vì vậy, phải xử người bán chứ không thể xử người mua cho dù vì bất kỳ động cơ nào Đấy là chưa kể tới không

ít người “bị buộc” phải hối lộ nhưng sau đó muốn tố cáo để trừng trị kẻ ăn hối lộ thì với quy định trên họ cũng không dám tố cáo Quy định như trên càng khuyến khích người nhận hối lộ vì biết chắc rằng dù nhận hay không thì người đưa cũng không giám tố cáo mình

Quy định xử lý người đưa hối lộ nhằm hạn chế người hối lộ, nhưng trên thực tế lại chỉ hạn chế sự tố cáo Nó khuyến khích việc nhận hối lộ, vì người được hối lộ biết chắc rằng dù nhận hay không thì người hối lộ cũng không giám

tố cáo mình Đó là chưa kể đến hiện nay chúng ta đang có những quy định hạn chế việc tố cáo tham nhũng Chẳng hạn những quy định cấm, không xem xét đối với những thư tố cáo nặc danh, hay người hối lộ cũng bị xử lý… Trên thực tế vì

tố cáo chống tham nhũng thường bị trù dập nên phải mạo danh, nặc danh Trong khi đó ta lại không tính đến sự tố cáo dưới hình thức này Vô hình dung ngăn chặn sự tố cáo, chống tham nhũng của nhân dân Vì chưa có cơ chế bảo vệ người chống tiêu cực nên chẳng ai giám tố cáo cho dù biết đó là sự thật Các nước khác, chỉ cần có ý kiến phản ánh dù nặc danh hay không đều được quan tâm xem xét, là dấu hiệu để thẩm tra, kiểm tra

6 Ban hành Luật biểu tình

Cần sớm ban hành Luật biểu tình, là định chế để mọi công dân được quyền biểu thị sự đồng tình hay không bằng hành động trước một vấn đề chính trị nào

đó của đất nước Luật là cơ sở pháp lý để hoạt động biểu tình trở thành sinh hoạt chính trị bình thường Ngoài thước đo trình độ chất lượng dân trí và dân chủ, nó còn là công cụ pháp lý – chính trị mà người dân dùng để buộc lãnh đạo đất nước phải ra tay thanh lọc sự tha hoá quyền lực

Ngày đăng: 16/08/2017, 15:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w